1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

231 7 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Phát Triển Năng Lực Đọc Hiểu Ngoại Ngữ Cho Sinh Viên Đại Học Ngành Ngôn Ngữ, Văn Học Và Văn Hóa Nước Ngoài
Tác giả Lê Hà Phương
Người hướng dẫn PGS.TS Nguyễn Đức Minh, TS. Trần Văn Hùng
Trường học Viện Khoa Học Giáo Dục Việt Nam
Chuyên ngành Ngôn Ngữ, Văn Học Và Văn Hóa Nước Ngoài
Thể loại Luận Án Tiến Sĩ Khoa Học Giáo Dục
Năm xuất bản 2021
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 231
Dung lượng 9,04 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Thực trạng phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài - Nghiên cứu trường hợp đối với sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Nhậ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

LÊ HÀ PHƯƠNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

HÀ NỘI - 2021

Trang 2

VIỆN KHOA HỌC GIÁO DỤC VIỆT NAM

LÊ HÀ PHƯƠNG

PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ,

VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI

Chuyên ngành: Lý luận và Lịch sử giáo dục

Mã số: 9 14 01 02

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học:

1 PGS.TS Nguyễn Đức Minh

2 TS Trần Văn Hùng

HÀ NỘI - 2021

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất

kì công trình nào khác

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Tác giả luận án

Lê Hà Phương

Trang 4

LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện luận án, tôi đã được nhận rất nhiều sự giúp đỡ quý báu của các tập thể và cá nhân

Tôi xin bày tỏ tình cảm quý trọng và tri ân sâu sắc đến PGS.TS Nguyễn Đức Minh và TS Trần Văn Hùng, những cán bộ hướng dẫn khoa học đã tận tình chỉ bảo, chia sẻ kinh nghiệm nghiên cứu và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện và hoàn thành luận án

Tôi xin trân trọng cảm ơn Ban lãnh đạo Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, Phòng Quản lí khoa học, Đào tạo và Hợp tác quốc tế; các nhà khoa học; các chuyên gia cố vấn của Nhật Bản và Việt Nam đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi được học tập nghiên cứu và giúp tôi hoàn thành tốt nhiệm vụ của một nghiên cứu sinh

Tôi cũng xin được gửi lời cảm ơn chân thành tới các lãnh đạo, giảng viên và sinh viên của trường Đại học Hà Nội, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội, trường Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế đã tạo điều kiện thuận lợi, hỗ trợ và hợp tác trong suốt quá trình khảo sát và thực nghiệm đề tài luận án

Xin trân trọng cảm ơn Ban chủ nhiệm Khoa tiếng Nhật, Bộ môn Thực hành tiếng, cùng các thầy, cô và anh chị em đồng nghiệp đã luôn ủng hộ, chia sẻ công việc cũng như động viên tinh thần trong suốt quá trình viết luận án

Lời sau cùng, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới những người thân trong gia đình và những người bạn đã luôn động viên, khích lệ, chia sẻ để giúp tôi có thêm niềm tin, động lực để vượt qua mọi khó khăn và hoàn thành luận án

Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn tất cả sự giúp đỡ quý báu này!

Hà Nội, ngày tháng năm 2021

Tác giả luận án

Lê Hà Phương

Trang 5

MỤC LỤC LỜI CAM ĐOAN I LỜI CẢM ƠN II MỤC LỤC III DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VI DANH MỤC CÁC BẢNG VII DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ X

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu 3

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu 3

4 Giả thuyết khoa học 3

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu 4

7 Luận điểm bảo vệ 7

8 Những đóng góp mới của luận án 7

9 Cấu trúc của luận án .8

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU NGOẠI NGỮ 9

CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ 9

VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI 9

1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 9

1.1.1 Một số nghiên cứu về Đọc hiểu và Năng lực đọc hiểu 9

1.1.2 Một số nghiên cứu về năng lực đọc hiểu ngoại ngữ 13

1.1.3 Nghiên cứu về phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ 15

1.1.4 Một số nhận định 16

1.2 Năng lực đọc hiểu ngoại ngữ của SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 18

1.2.1 Đặc điểm sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 18

1.2.2 Khái niệm năng lực đọc hiểu ngoại ngữ 18 1.2.3 Khung năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn

Trang 6

1.3 Phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học Ngành ngôn

ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 36

1.3.1 Khái niệm Phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ 36

1.3.2 Mục tiêu phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học Ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 37

1.3.3 Nguyên tắc phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 38

1.3.4 Nội dung phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 39

1.3.5 Các con đường phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 40

1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ 52

1.4.1 Yếu tố chủ quan 52

1.4.2 Yếu tố khách quan 53

Kết luận chương 1 55

CHƯƠNG 2 CƠ SỞ THỰC TIỄN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI 56

2.1 Kinh nghiệm quốc tế về dạy học phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ 56

2.1.1 Ngôn ngữ thuộc hệ Ấn-Âu 56

2.1.2 Ngôn ngữ hệ Hán-Tạng 59

2.1.3 Ngôn ngữ hệ Nhật Bản 60

2.2 Thực trạng phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài - Nghiên cứu trường hợp đối với sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ Nhật 61

2.2.1 Khái quát về khảo sát thực trạng 61

2.2.2 Kết quả khảo sát thực trạng 68

2.2.3 Đánh giá chung về thực trạng 87

Kết luận chương 2 90

CHƯƠNG 3 BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC CHUYÊN NGÀNH NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA NƯỚC NGOÀI VÀ THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 92

3.1 Nguyên tắc đề xuất biện pháp 92

3.1.1 Đảm bảo đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra của đại học chuyên ngữ 92

3.1.2 Đảm bảo phù hợp với chương trình đào tạo, chương trình môn học 92

3.1.3 Đảm bảo tính hiệu quả và khả thi 92

Trang 7

3.1.4 Đảm bảo tính phát triển 93

3.1.5 Đảm bảo tính hệ thống 93

3.2 Biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 93

3.2.1 Biện pháp 1: Xây dựng khung năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 93

3.2.2 Biện pháp 2: Thiết kế qui trình dạy học phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 97

3.2.3 Biện pháp 3: Thiết kế hoạt động đọc đa dạng nhằm phát huy năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 107

3.2.4 Biện pháp 4: Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài 111

3.2.5 Mối quan hệ giữa các biện pháp 129

3.3 Thực nghiệm sư phạm 130

3.3.1 Khảo nghiệm các biện pháp 130

3.3.2 Thực nghiệm các biện pháp 133

Kết luận chương 3 154

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 155

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC CỦA TÁC GIẢ 160

ĐÃ CÔNG BỐ LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN 160

TÀI LIỆU THAM KHẢO 161

PHỤ LỤC 173

Trang 8

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

1 Bộ GD&ĐT Bộ Giáo dục và Đào tạo

3 CBQL Cán bộ quản lí

4 CEFR Common European Framework of Reference for

Languages - Khung tham chiếu chung Châu Âu

7 ĐHH Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế

8 ĐHNN Đại học ngoại ngữ

9 ĐHQGHN Đại học Quốc gia - Hà Nội

10 EJU Examination for Japanese University Admission

Kì thi du học Nhật Bản

12 JF Japan Foundation - Quỹ giao lưu quốc tế Nhật Bản

13 JLPT Japan language proficiency test

Kì thi năng lực tiếng Nhật

14 KNLNNVN Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1 Các cấp độ năng lực đọc hiểu theo CEFR 27 Bảng 1.2 Các hình thức đọc hiểu tiếng Nhật của JLPT 28 Bảng 1.3 Các thành tố của năng lực đọc hiểu theo EJU 30 Bảng 1.4 Đặc tả tổng quát cho kĩ năng đọc hiểu ngoại ngữ 31 Bảng 1.5 Phân loại theo chức năng/ nhiệm vụ của đọc hiểu ngoại

Bảng 2.8 Nhận thức của GV và SV về sự cần thiết phát triển năng

lực đọc hiểu tiếng Nhật cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ Nhật

74

Bảng 2.9 Nhận thức của GV và SV về bản chất của phát triển

năng lực đọc hiểu tiếng Nhật cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ Nhật

75

Bảng 2.10 Nhận thức của GV và SV về mục tiêu của phát triển

năng lực đọc hiểu tiếng Nhật cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ Nhật

76

Bảng 2.11 Thực trạng việc thực hiện các nội dung phát triển năng 78

Trang 10

Tên các bảng Trang Nhật

Bảng 2.12 Thực trạng việc sử dụng các con đường phát triển

NLĐH tiếng Nhật cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ Nhật

80

Bảng 2.13 Thực trạng thực hiện qui trình dạy học đọc hiểu tiếng

Nhật để phát triển năng lực đọc hiểu tiếng Nhật cho SV

Bảng 2.15 Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình phát

triển năng lực đọc hiểu tiếng Nhật cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

85

Bảng 3.1 Khung năng lực đọc hiểu ngoại ngữ của SV ĐH ngành

Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

Bảng 3.7 Kết quả khảo nghiệm tính khả thi của các biện pháp

phát triển NLĐH ngoại ngữ cho cho SV ĐH ngành NN, VH&VHNN

131

Bảng 3.8 Kết quả HSTQ giữa mức độ khả thi và mức độ cần thiết

của các biện pháp phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành NN, VH&VHNN

131

Bảng 3.10 Tiến trình đánh giá NLĐH tiếng Nhật 137

Trang 11

Tên các bảng Trang Bảng 3.11 Kết quả kiểm định năng lực của lớp thực nghiệm (NB2) 142 Bảng 3.12 Kết quả phân tích Paired Samples T-Test của lớp thực

Trang 12

DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ, HÌNH VẼ

Hình 1.1 Mô hình năng lực đọc hiểu tiếng Nhật của Shinrai 23 Hình 1.2 Cấu trúc năng lực đọc hiểu ngoại ngữ 26 Hình 1.3 Mô hình tự đánh giá mức độ đọc hiểu tiếng Nhật JLPT-Can do 29

Sơ đồ 3.1 Qui trình dạy học đọc hiểu ngoại ngữ theo hướng phát triển

Biểu đồ 3.4 Mức độ hứng thú của SV khi tham gia thực nghiệm các BP

phát triển NLĐH tiếng Nhật

148

Trang 13

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa hiện nay, Việt Nam có thêm nhiều cơ hội hơn để giao lưu quốc tế, mở cửa thị trường và đón nhận những thành tựu mới nhất Vì thế, ngoại ngữ lại càng trở nên quan trọng và cần thiết hơn bao giờ hết Việc hiểu biết ít nhất một ngoại ngữ (tiếng nước ngoài) là điều cần thiết đối với tất cả những ai muốn tìm tòi, học hỏi kiến thức mới Tuy nhiên, nếu chỉ hiểu biết một ngoại ngữ mà không sử dụng thành thạo được ngoại ngữ đó cũng sẽ dẫn đến những hạn chế, tồn tại nhất định Việc sử dụng thành thạo một ngoại ngữ có thể giúp sinh viên tìm được một việc làm ổn định sau khi tốt nghiệp Điều này cũng dễ hiểu khi trong các yêu cầu việc làm hiện nay nhất định phải có yếu tố ngoại ngữ Vai trò của ngoại ngữ vì thế được đề cao, và trong các chính sách đào tạo và phát triển ngoại ngữ của Nhà nước luôn đề cập đến vấn đề này

Tại Việt Nam, ngoài tiếng Anh là ngoại ngữ chính được đưa vào giảng dạy phổ thông bởi tính chất phổ biến toàn cầu của nó thì trong bối cảnh hiện nay việc biết thêm các ngoại ngữ mới khác đang có xu hướng tăng lên Đặc biệt, sau khi có chính sách

mở cửa kêu gọi đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, bên cạnh các doanh nghiệp châu Âu, châu Mỹ vốn đã lựa chọn Việt Nam là điểm đến đầu tư từ rất lâu thì các doanh nghiệp của châu Á như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng đang triển khai mở rộng thị trường tại đây Ngoài ra, các hiệp định và chính sách về giao lưu văn hóa giữa hai nước Việt Nam và một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc cũng khiến số lượng người Việt Nam học tiếng Nhật, tiếng Hàn cũng ngày một đông hơn Điều này đã dẫn đến nhu cầu tăng cường về chất lượng nguồn nhân lực thông thạo ngoại ngữ đáp ứng yêu cầu công việc, đặc biệt là năng lực đọc hiểu ngoại ngữ và năng lực giao tiếp bằng ngoại ngữ đóng vai trò rất quan trọng, tác động trực tiếp đến hiệu quả và năng suất công việc

Để đánh giá năng lực ngoại ngữ nói chung thì cần phải xét trên nhiều yếu tố như Kiến thức ngôn ngữ (ngữ âm, từ vựng, ngữ pháp ); kiến thức văn hóa – xã hội; kĩ năng ngôn ngữ (nghe, nói, đọc, viết) và thái độ (ý thức, động lực) của người học ngoại ngữ Trong đó, đọc hiểu ngoại ngữ được đánh giá là kỹ năng rất quan trọng đối với người học bởi chịu sự ảnh hưởng khá nhiều từ cách thức đọc hiểu bằng tiếng mẹ kết

Trang 14

Vì thế, có thể xem đọc hiểu ngoại ngữ là năng lực quan trọng, là yếu tố không thể thiếu để học ngoại ngữ tốt Có thể chứng minh tầm quan trọng của đọc hiểu qua hàng loạt công trình nghiên cứu về hoạt động đọc đặc biệt trong giai đoạn từ những thập niên 70 của thế kỉ XX trở lại đây như K.Goodman (1967), Smith (1971), Anderson & Cziko (1978), Stanovich (1980), Block (1986), Barnett (1988) (dẫn theo [91]) Các công trình nghiên cứu này đều quan tâm và khẳng định đọc là hoạt động quan trọng của con người Đọc để tiếp thu tri thức, để phát triển con người cả về tâm hồn và thể chất Tại Việt Nam, các vấn đề về “đọc hiểu” và “đọc hiểu văn bản” cũng nhận được nhiều sự quan tâm, chú ý của các nhà nghiên cứu, nhất là khi coi chủ thể hoạt động trong dạy học là học sinh và hoạt động chủ đạo là đọc hiểu văn bản Có thể kể tên những tác giả tiêu biểu cho nghiên cứu về vấn đề này như: Trần Đình Sử, Đỗ Ngọc Thống, Nguyễn Thị Hạnh, Hoàng Hòa Bình Tác giả Trần Đình Sử khẳng định

“Trong các khâu đọc đó, đọc hiểu là khâu cơ bản nhất, nó bắt đầu từ hiểu từ, hiểu câu, hiểu đoạn, hiểu liên kết, hiểu nghĩa toàn bài Có hiểu đúng thì mới nói chuyện hiểu sáng tạo Muốn hiểu đúng đầu tiên phải tôn trọng tính chỉnh thể toàn vẹn, tính liên kết, đích của văn bản.”[35]

Dạy học đọc hiểu ngoại ngữ so với dạy học đọc hiểu tiếng Việt cho người Việt Nam có sự khác biệt lớn về đặc trưng loại hình ngôn ngữ, cấu trúc ngữ pháp, cấu trúc bài đọc hiểu và điều này cũng gây không ít khó khăn cho người Việt Nam trong quá trình thụ đắc ngôn ngữ thứ hai Ngoài ra, thực trạng dạy học phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ (NLĐHNN) hiện nay chưa được quan tâm đúng mức Việc dạy học ngoại ngữ trình độ Đại học (ĐH) hiện nay vẫn mang nặng tính thông báo-tái hiện, duy trì cách dạy một chiều, áp đặt từ phía giảng viên (GV) đối với sinh viên (SV), không khí lớp học không sôi nổi và các hoạt động trong giờ đọc hiểu chủ yếu là hoạt động riêng lẻ từng cá nhân Các điều kiện để SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài (gọi cách khác là những sinh viên chuyên ngữ) phát triển NLĐHNN chưa đảm bảo, chủ yếu vẫn còn lệ thuộc nhiều vào một số giáo trình cơ bản Bên cạnh đó, Nhà trường cũng như đội ngũ GV dạy ngoại ngữ chưa xây dựng được các biện pháp dạy học có hiệu quả nhằm phát triển NLĐHNN cho SV

Vì vậy, nghiên cứu đề tài “Phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài” có tính cấp thiết và có ý nghĩa cả về lý luận cũng như thực tiễn

Trang 15

2 Mục đích nghiên cứu

Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, đề xuất một số biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên Đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu

3.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình phát triển năng lực ngoại ngữ của sinh viên Đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Quá trình phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên Đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

4 Giả thuyết khoa học

Các trường đại học ngoại ngữ hiện nay đã bước đầu quan tâm đến mục tiêu phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho SV, tuy nhiên quá trình thực hiện lại cho thấy nhiều hạn chế Nếu đề xuất được biện pháp dạy học đọc hiểu ngoại ngữ theo các tiêu chí rõ ràng với qui trình hợp lý; kết hợp với sử dụng một số hoạt động đọc hiểu ngoại ngữ được thiết kế đa dạng gắn với mục tiêu chương trình đào tạo và các đặc điểm của sinh viên thì sẽ phát triển được năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài; góp phần phát triển lí luận dạy học ngoại ngữ và nâng cao chất lượng giảng dạy ngoại ngữ

5 Nhiệm vụ và phạm vi nghiên cứu

5.1 Nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.1 Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

5.1.2 Nghiên cứu cơ sở thực tiễn của dạy học đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

5.1.3 Đề xuất biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

5.1.4 Thực nghiệm sư phạm để đánh giá sự cần thiết, tính khả thi của các biện pháp dạy học nhằm phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài và kiểm chứng giả thuyết khoa học của đề

Trang 16

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Địa điểm khảo sát : Các trường Đại học đào tạo ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài gồm Trường Đại học Hà Nội, trường Đại học ngoại ngữ - Đại học Quốc Gia Hà Nội, trường Đại học ngoại ngữ - Đại học Huế

Số lượng khách thể khảo sát thực trạng : 283 SV năm thứ nhất và năm thứ hai ngành Ngôn ngữ Nhật ; 68 GV, cán bộ quản lý (CBQL) và các chuyên gia (Việt Nam

và Nhật Bản)

Địa điểm khảo nghiệm : Các khoa ngoại ngữ gồm tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Pháp, tiếng Trung, tiếng Đức và tiếng Nhật thuộc 3 trường ĐH gồm Đại học Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ - Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Ngoại ngữ - Đại học Huế Giới hạn nội dung nghiên cứu thực trạng và thực nghiệm : Luận án lựa chọn và tiến hành nghiên cứu trường hợp đối với ngành Ngôn ngữ Nhật Địa điểm thực nghiệm tại Khoa tiếng Nhật, Trường Đại học Hà Nội với đối tượng SV năm thứ hai

6 Phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

6.1 Phương pháp tiếp cận

6.1.1 Tiếp cận hệ thống, tổng thể

Đọc hiểu là một trong các phần không thể tách rời của học ngôn ngữ nói chung

và ngoại ngữ nói riêng gồm nghe, nói, đọc, viết Vì vậy nghiên cứu đọc hiểu cần xem xét trong mối tương quan với các nội dung khác của ngôn ngữ Quá trình dạy học đọc hiểu ngoại ngữ tại các trường đại học là một hệ thống các thành tố có quan hệ chặt chẽ với nhau như : mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, GV,

SV, môi trường và kết quả đào tạo Do đó, dạy học phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài phải được tiếp cận trong hệ thống các mối quan hệ của cấu trúc quá trình đào tạo

6.1.2 Tiếp cận lịch sử - logic

Nghiên cứu kế thừa những thành quả cũng như những hạn chế của các nghiên cứu đi trước về vấn đề đọc hiểu ngoại ngữ, dạy học phát triển NLĐHNN cho SV để đề xuất các biện pháp nhằm phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

6.1.3 Tiếp cận thực tiễn

Tiếp cận theo những yêu cầu từ thực tiễn về NL ngoại ngữ của SV ĐH sau khi tốt nghiệp và thực tiễn dạy học nhằm phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn

Trang 17

ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài Thiết lập mối quan hệ gắn kết giữa thực tiễn dạy học phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài với yêu cầu của các cơ sở tiếp nhận SV sau khi tốt nghiệp

6.1.4 Tiếp cận hoạt động

Tiếp cận theo quan điểm dạy học hiện đại, cụ thể là lí luận dạy học phát triển

NL Nghiên cứu xác định hệ thống NL cần có ở mỗi SV, bám sát qui trình dạy học phát triển NLĐHNN, chú ý tới các giai đoạn dạy học để hình thành và phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

kế thừa những ưu điểm của các nghiên cứu đi trước, luận án sẽ đề xuất xây dựng các biện pháp phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài đáp ứng yêu cầu chuẩn đầu ra đối với lao động giỏi ngoại ngữ

6.1.6 Tiếp cận năng lực

Phát triển năng lực cho người học là yêu cầu chung hiện nay của xã hội đối với quá trình giáo dục và đào tạo Phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài là hướng vào phát triển ở SV những NLĐHNN đáp ứng yêu cầu về nghề nghiệp của SV sau khi tốt nghiệp bằng cách chỉ rõ những NLĐHNN cần hình thành và đề xuất được những biện pháp dạy học, tổ chức các hoạt động đọc hiểu ngoại ngữ đa dạng nhằm phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

6.2 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết

6.2.1 Hồi cứu tư liệu

Tìm, tập hợp và phân loại các tư liệu liên quan đến đề tài nghiên cứu Phân tích lịch sử - logic để tổng quan tư liệu lịch sử trong nghiên cứu về NLĐH, hệ thống hóa các quan điểm có liên quan đến NLĐHNN và phát triển NLĐHNN

Trang 18

Tìm hiểu kinh nghiệm quốc tế về dạy học phát triển NLĐHNN cũng như cách xây dựng khung NLĐHNN, khung đánh giá NLĐHNN, so sánh và chọn lọc những thành tựu lí luận và kinh nghiệm giáo dục phù hợp với tư tưởng của đề tài

6.2.2 Khái quát hóa lí thuyết

Xác định hệ thống khái niệm và quan điểm, xây dựng khung lí thuyết, đường lối phương pháp luận liên quan đến phát triển NLĐHNN

6.3 Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

6.3.1 Sử dụng phiếu hỏi

Xây dựng bộ phiếu hỏi để tiến hành khảo sát thực tế tại các trường có đào tạo ngoại ngữ nói chung và ngành Ngôn ngữ Nhật nói riêng với đối tượng là SV và GV Mục đích của việc này là để tìm hiểu về thực trạng dạy học đọc hiểu ngoại ngữ và thực trạng phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài hiện nay

6.3.2 Phương pháp chuyên gia

Tổng hợp các ý kiến chuyên gia tâm lý, giáo dục, ngôn ngữ đặc biệt là liên quan đến giáo dục ngoại ngữ để xem xét, đánh giá, nhận định về tính khả thi và hiệu quả của việc xây dựng các biện pháp dạy học nhằm hướng tới phát triển NLĐHNN cho SV

ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

6.3.3 Phương pháp đàm thoại

Tiến hành trao đổi trực tiếp với các GV, SV ở một số trường Đại học Ngoại ngữ

để tìm hiểu về thực trạng tiến hành tổ chức dạy học đọc hiểu ngoại ngữ hiện nay và các biện pháp nhằm phát triển NLĐHNN cho SV

6.3.4 Phương pháp quan sát sư phạm

Dự giờ các tiết giảng, đặc biệt là giờ học đọc hiểu ngoại ngữ để quan sát và tìm hiểu thực trạng dạy học đọc hiểu ngoại ngữ tại các trường ĐH có đào tạo Ngành ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài (nghiên cứu trường hợp đối với ngành Ngôn ngữ Nhật)

6.3.5 Phương pháp thực nghiệm sư phạm:

Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm định tính khả thi và sự cần thiết của việc áp dụng các biện pháp sư phạm nhằm phát triển NLĐHNN cho SV (nghiên cứu trường hợp đối với ngành Ngôn ngữ Nhật)

6.4 Sử dụng thống kê toán học

Thu nhận thông tin và xử lý dữ liệu bằng phần mềm SPSS

Trang 19

7 Luận điểm bảo vệ

7.1 Cấu trúc năng lực đọc hiểu ngoại ngữ của SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học

và văn hóa nước ngoài được xác định bởi bốn thành tố, đó là NL sử dụng kiến thức nền; NL sử dụng kiến thức ngoại ngữ; NL lí giải nội dung văn bản đọc hiểu và NL phản hồi Mỗi thành tố lại được xác định bởi các tiêu chí và mức độ cụ thể

7.2 Phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài thông qua tổ chức dạy học phát triển NLĐHNN ngay từ giai đoạn thực hành tiếng là con đường hiệu quả và ưu thế nhất

7.3 Thực trạng phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài còn tồn tại những hạn chế nhất định như: Nhận thức về phát triển NLĐHNN của GV và SV chưa đầy đủ ; GV chưa thực hiện đúng theo qui trình dạy học phát triển năng lực đọc hiểu tiếng Nhật

7.4 Các biện pháp phát triển NLĐHNN cho SV phải hướng tới khắc phục được những hạn chế đã chỉ ra ở thực trạng và phát triển tổng thể/đồng bộ những NL thành phần của NLĐHNN

8 Những đóng góp mới của luận án

8.1 Đóng góp về mặt lí luận

Luận án đã bổ sung, làm sáng tỏ hơn khái niệm về NLĐHNN và phát triển NLĐHNN; xây dựng được khung lí luận về phát triển NLĐHNN (gồm cấu trúc NLĐHNN, khung NLĐHNN, khung đánh giá NLĐHNN, các con đường phát triển NLĐHNN ) cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

Góp phần làm phong phú thêm hệ thống lí luận về dạy học ngoại ngữ nói chung

và phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài nói riêng

8.2 Đóng góp về mặt thực tiễn

Tổng hợp được kinh nghiệm quốc tế về dạy học phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngoại ngữ Phân tích đưa ra thực trạng NLĐHNN và thực trạng phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài hiện nay, trên cơ sở đó xác định một số vấn đề trong phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài Đặc biệt, luận án đã tiến hành khảo sát thực trạng và tổ chức thực nghiệm với đối tượng SV ngành Ngôn ngữ Nhật - một trong

Trang 20

những ngoại ngữ Châu Á, có loại hình ngôn ngữ đặc biệt và được SV Việt Nam lựa chọn theo học nhiều nhất hiện nay

Đề xuất biện pháp phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài có giá trị áp dụng thực tiễn cho các trường ĐH ngoại ngữ Kết quả nghiên cứu của đề tài có thể áp dụng làm tài liệu tham khảo cho các nhà quản

lí giáo dục, các GV, cán bộ nghiên cứu và SV ở các cơ sở giáo dục đại học khi tiến hành dạy học đọc hiểu ngoại ngữ theo hướng phát triển năng lực

9 Cấu trúc của luận án

Ngoài phần mở đầu ; kết luận và khuyến nghị ; danh mục các công trình nghiên cứu ; tài liệu tham khảo và phụ lục ; nội dung luận án được gồm 3 chương:

- Chương 1: Cơ sở lí luận về phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

- Chương 2: Cơ sở thực tiễn về phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

- Chương 3: Biện pháp phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài và thực nghiệm Sư phạm

Trang 21

CHƯƠNG 1

CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC ĐỌC HIỂU NGOẠI NGỮ CHO SINH VIÊN ĐẠI HỌC NGÀNH NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA

NƯỚC NGOÀI 1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề

Những nghiên cứu liên quan đến phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài tập trung vào ba nội dung, đó là: (i) Nghiên cứu về đọc hiểu và NLĐH; (ii) Nghiên cứu về NLĐHNN; (iii) Nghiên cứu về phát triển NLĐHNN cho SV

1.1.1 Một số nghiên cứu về Đọc hiểu và Năng lực đọc hiểu

Đọc là hoạt động quan trọng của con người Đọc để tiếp thu tri thức, để phát triển con người cả về tâm hồn và thể chất Ngày nay, khái niệm “Đọc” được mở rộng hơn, bao gồm cả kĩ năng tư duy và trực quan cần thiết để lĩnh hội thông tin từ các thiết

bị truyền thông như ti vi, máy tính, thiết bị cầm tay Tất cả những tư duy và kĩ năng này được hình thành ngay chính trong môi trường văn hóa xã hội, môi trường học tập nghiên cứu Vì vậy, các quan điểm về “Đọc” cũng như các nghiên cứu về “Đọc hiểu”,

“Năng lực đọc hiểu” nhận được rất nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu ở trong nước và nước ngoài

Các nhà nghiên cứu nước ngoài đã chỉ ra rằng đối với đọc hiểu - hình thức ngôn ngữ tiếp nhận bao giờ cũng diễn ra theo những mức độ cụ thể xác định Các mức độ đó không bắt buộc phải kế tiếp nhau chặt chẽ, song các mức hiểu cao hơn dứt khoát phải bao hàm các mức hiểu thấp hơn và cái đích cuối cùng quan trọng của đọc hiểu là phải tìm ra được (tái tạo lại) ý định và động cơ của người viết Một số tác giả tiêu biểu nghiên cứu về các mức độ của đọc hiểu như A.A Leonchiev (1970); TN.Herman (1985); A.C.Graesser, M.Singer và T.Trabasso (1994); Best, Foyd, Mcnamara (2008); Ceran (2015) cho rằng các mức độ đọc hiểu có thể phân loại theo tốc độ đọc hiểu (đọc nhanh đọc chậm, đọc lướt, đọc kỹ ); phân loại theo đơn vị ngôn ngữ (từ, cụm từ, câu, đoạn văn, tổng thể cả văn bản); phân loại theo cấp độ năng lực ngôn ngữ (sơ cấp, trung cấp, cao cấp)

Đặc biệt, rất nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng, để hoạt động đọc hiểu được thành công, cần có một chiến lược đọc hiểu thật sự hiệu quả Vì thế, khi đề cập đến kĩ năng

Trang 22

Nổi bật là nghiên cứu của Oxford (1990) với phân loại sáu nhóm chiến lược đọc hiểu gồm: Nhóm chiến lược siêu nhận thức; nhóm chiến lược xúc cảm; nhóm chiến lược xã hội; nhóm chiến lược trí nhớ; nhóm chiến lược nhận thức và nhóm chiến lược bù đắp [80] Dựa trên việc phân loại này, một loạt các nghiên cứu đi sau đã tiến hành kiểm chứng đối với nhiều loại ngôn ngữ và đã có những kết quả tương đồng cũng như bổ sung thêm một số chiến lược đặc trưng cho mỗi loại hình ngôn ngữ riêng biệt Theo dòng nghiên cứu này còn có các nghiên cứu của Tenma (1989) đối với đọc hiểu tiếng Anh [97]; Itou (1991), Minaminosono (1997), Hashiguchi (2002) đối với đọc hiểu tiếng Nhật [67, 101, 99]

Đọc hiểu cũng được phân chia thành các kĩ năng đọc hiểu khác nhau như đọc kĩ toàn bộ văn bản; tìm thông tin theo mục đích đọc hiểu; đọc lướt (bỏ qua những chỗ không biết); vận dụng kiến thức nền để lí giải nội dung đọc hiểu; phân loại cấu trúc văn bản để có cách đọc hiểu phù hợp

Chương trình đánh giá học sinh quốc tế (Programme for International Student , gọi tắt là PISA) do Hiệp hội các nước phát triển (OECD) khởi xướng và chỉ đạo bắt đầu từ năm 2000 đã xác định ba năng lực chính cần có của học sinh phổ thông độ tuổi

15 là : NL Đọc hiểu, NL Toán học và NL Khoa học Chính vì vậy, “Đọc hiểu” lúc này được hiểu theo ý nghĩa không chỉ là kĩ năng mà còn là năng lực – năng lực đọc hiểu Năng lực đọc hiểu bắt đầu hình thành từ môn Văn nói chung của học sinh phổ thông các nước Năng lực đọc hiểu được phát triển và hoàn thiện ở mức độ tăng dần qua quá trình học tập, rèn luyện tại môi trường phổ thông; qua việc tiếp xúc với các thể loại văn bản đọc hiểu qua cuộc sống hàng ngày để giải quyết các nhiệm vụ học tập hoặc các nhiệm vụ khác trong đời sống Đặc biệt, khi đã trưởng thành, năng lực đọc hiểu còn trở thành năng lực thiết yếu của mỗi cá nhân bởi trong công việc luôn cần có yếu

tố này [53, 54, 55]

UNESCO quan niệm về NLĐH (reading literacy) là “khả năng nhận biết, thấu hiểu, giải thích, sáng tạo, trao đổi, tính toán và sử dụng những tài liệu viết hoặc in ấn kết hợp với những bối cảnh khác nhau; nó đòi hỏi sự học hỏi liên tục cho phép một cá nhân đạt được mục đích của mình, phát triển kiến thức, tiềm năng và tham gia một cách đầy đủ trong xã hội rộng lớn [39]

Trang 23

OECD đưa ra định nghĩa về Reading literacy như sau: “Đọc hiểu là sự hiểu biết,

sử dụng và phản hồi lại trước một văn bản viết, nhằm đạt được mục đích, phát triển tri thức và tiềm năng cũng như việc tham gia hoạt động của một ai đó trong xã hội” [37] PISA (2009) xác định “Năng lực đọc hiểu là hiểu, sử dụng, phản ánh và liên kết vào các văn bản viết, nhằm đạt được các mục tiêu cá nhân, phát triển kiến thức và tiềm năng cá nhân, và tham gia vào xã hội” [55] Ngoài ra, để giải mã và hiểu được đúng đắn, năng lực đọc hiểu cũng bao gồm cả việc diễn giải và phản ánh, và khả năng sử dụng khả năng đọc hiểu để hoàn thiện mục đích cuộc sống của mỗi cá nhân

Theo Từ điển giáo dục tiếng Nhật, NLĐH được định nghĩa là “sự nhận thức và khả năng tổng hợp ý nghĩa của những điều mà tác giả trình bày trong văn bản thông qua các kí hiệu chữ viết”, trong đó đã nêu lên 19 yếu tố theo mức độ từ thấp đến cao của đọc hiểu ([98], Tr 603)

Dự án SWANs ở bang Victoria (Úc) cho rằng Khả năng đọc hiểu tiếng Anh cơ bản là tạo ra và truyền tải ý nghĩa thông qua các kí hiệu và chữ viết trên văn bản [dẫn theo 28] Ngoài ra, đối với giáo dục đại học, các trường đại học của nước ngoài cũng xác định và xây dựng các NL hoặc nhóm NL cần hình thành cho SV của mình, trong

đó NLĐH cũng được nhấn mạnh là NL cần được chú trọng

Yamaguchi (2011) đã đề xuất xây dựng rubric đánh giá NLĐH tiếng Nhật (với

tư cách là ngôn ngữ thứ nhất) gồm có NLĐH cơ bản và NLĐH nâng cao Đối với NLĐH cơ bản sẽ bao gồm 5 NL là NL chữ Hán, NL từ vựng, NL đọc lưu loát, NL lí giải nội dung, NL bao quát (tổng thể văn bản) Đối với NLĐH nâng cao sẽ bao gồm 3

NL là: NL so sánh - phân tích, NL giải thích và NL tổng hợp vấn đề Mỗi NL sẽ được chia thành 4 mức độ từ dễ đến khó [101]

Bên cạnh đó, tại Việt Nam, nhiều tác giả cũng đã nghiên cứu về NLĐH tiếng Việt trong chương trình Ngữ văn phổ thông như Phạm Thị Thu Hương (2012); Nguyễn Thị Hạnh (2014); Nguyễn Thị Hồng Vân (2015)

Phạm Thị Thu Hương (2012) nhận định “Đọc hiểu văn bản thực chất là quá trình người đọc kiến tạo ý nghĩa của văn bản đó thông qua hệ thống các hoạt động, hành động, thao tác” [24]

Nguyễn Thị Hạnh (2014) đã tổng hợp các quan niệm về đọc hiểu theo lí thuyết giao tiếp và tương tác xã hội, tập trung làm rõ chức năng của đọc hiểu trong việc hình thành năng lực tham gia vào xã hội của người đọc Từ đó rút ra nhận xét sau “Đọc hiểu

Trang 24

là một hoạt động nhận thức Đối tượng của đọc hiểu là ý nghĩa của văn bản Hoạt động đọc hiểu là hoạt động tương tác giữa người đọc và văn bản Mục đích của đọc hiểu là nhằm phát triển tri thức, liên kết cá nhân người đọc với môi trường sống để mỗi người đọc học tập và làm việc chuyên môn, duy trì cuộc sống” [17]

Nguyễn Thị Hồng Vân đưa ra quan niệm “Đọc hiểu là toàn bộ quá trình tiếp xúc trực tiếp với văn bản (gồm quá trình cảm thụ kí hiệu vật chất và nhận ra ý nghĩa của những kí hiệu đó); là quá trình nhận thức, quá trình tư duy (tiếp nhận và phân tích lí giải ý nghĩa của văn bản, phát hiện ra ý nghĩa không có sẵn giữa các dòng văn, đọc ra những biểu tượng, ẩn ý của văn bản và diễn đạt lại bằng lời của người đọc, kiến tạo ý nghĩa văn bản); là quá trình phản hồi, sử dụng văn bản (sự thay đổi nhận thức, tư tưởng, tình cảm của người dọc, tìm ra ý nghĩa lịch sử, giá trị của văn bản trong các thời đại khác nhau)” ([28], Tr 186)

Các tác giả đều nhấn mạnh đến tầm quan trọng của NLĐH môn Ngữ văn của học sinh phổ thông, đồng thời tiến hành thết kế chuẩn đánh giá NLĐH môn Ngữ văn sau 2015 với các bước như: xác định các yếu tố cấu thành NLĐH; biên soạn chuẩn bội dung của NLĐH theo 6 tiêu chí ở 5 giai đoạn (lớp 1, 2, 3; lớp 4 và 5; lớp 6 và 7; lớp 8

và 9; lớp 10,11,12); biên soạn chuẩn thực hiện NLĐH trên cơ sở cụ thể hóa chuẩn nội dung đọc hiểu thành các chỉ số đánh giá

Cũng theo hướng nghiên cứu này, tác giả Nguyễn Thị Ngọc Thúy (2016) đã tiến hành xây dựng chuẩn đánh giá NLĐH đối với một số thể loại văn bản đọc hiểu như văn bản tự sự Các tiêu chí đánh giá năng lực được tác giả đưa ra dựa trên khả năng cụ thể vận dụng tổng hợp kiến thức, kĩ năng và thái độ và định danh các khả năng này thành năng lực bộ phận, bao gồm: Khơi gợi, kích hoạt kiến thức nền; Giải

mã tín hiệu ngôn ngữ; Hiểu cấu trúc của văn bản tự sự; Nắm bắt các chi tiết và ý chính trong văn bản; Tóm tắt; Tổng hợp; Dự đoán; Suy luận; Liên hệ; Hình dung, tưởng tượng; Đặt câu hỏi; Phản hồi và đánh giá; Vận dụng; Kiểm soát quá trình hiểu; Xác định mục đích đọc; Hình thành động cơ, hứng thú với việc đọc [39]

Nguyễn Thị Thanh Lâm (2016) nhấn mạnh về phương pháp dạy học Ngữ văn theo tiếp cận NL Đặc biệt là dạy học Ngữ văn theo khuynh hướng phát triển năng lực đọc - hiểu cho học sinh, từ đó đề ra các biện pháp để đạt được mục đích đó Cụ thể, tác giả đã chỉ ra phương pháp để nâng cao năng lực đọc hiểu văn bản nghệ thuật đó là phương pháp dạy văn học bằng cách nêu vấn đề Lí do mà tác giả đưa ra đó là qua

Trang 25

kinh nghiệm thực tế giảng dạy, hứng thú của học sinh thường gắn liền với cái mới lạ, gây tò mò, kích thích tư duy; chính vì vậy phương pháp nêu vấn đề không chỉ có tác dụng trong việc khơi gợi tính tích cực, chủ động của học sinh, mà còn phá vỡ đi mô hình giảng dạy khuôn mẫu - kinh nghiệm đã tồn tại trong nhà trường phổ thông lâu nay [26]

Ngoài ra, trong bài viết của nhóm tác giả Trần Thị Hoa, Lã Phương Thúy, Lê Thái Hưng đã dựa vào đặc trưng của văn nghị luận để xây dựng những câu hỏi theo tiêu chí, những dạng đề phù hợp và thiết kế bài kiểm tra hoàn thiện để đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh Qua quá trình thực nghiệm và phân tích, nghiên cứu đã đạt được mục tiêu đề ra là bước đầu đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh và nhận thấy năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận có thể đánh giá khoa học bằng bài trắc nghiệm được thiết kế bám sát việc mô tả các cấp độ năng lực đọc hiểu [19]

Như vậy, có thể thấy các nghiên cứu về đọc hiểu đặc biệt trong trong giai đoạn hiện nay rất chú trọng đến vấn đề phát triển và nâng cao năng lực đọc hiểu Bên cạnh việc áp dụng, thử nghiệm và đề xuất các phương pháp nhằm nâng cao hiệu quả đọc hiểu mà các nghiên cứu cũng đã tiến hành thiết kế các dạng bài kiểm tra để có thể đánh giá năng lực đọc hiểu một cách khoa học

1.1.2 Một số nghiên cứu về năng lực đọc hiểu ngoại ngữ

Trong môi trường giảng dạy ngoại ngữ (tiếng nước ngoài), khái niệm đọc hiểu thường được hiểu là Reading comprehension, theo nghĩa hẹp để chỉ “một tập hợp các

kĩ năng tư duy và giải mã nội dung văn bản” [51]

Tenma (1989) quan niệm đọc hiểu ngoại ngữ là sự lí giải nội dung, ý nghĩa văn bản dựa trên ý đồ của người viết thông qua việc đọc văn bản viết (text) [96] Umemura (2003) cũng đồng tình với quan điểm trên khi cho rằng đọc hiểu ngoại ngữ được xem

là một trải nghiệm khi chúng ta gặp gỡ một “đối tượng” nào đó thông qua các con chữ;

và giảng dạy đọc hiểu giống như việc giáo viên cung cấp cho sinh viên những ý niệm của bản thân khi tiếp cận với những cuốn sách hay Đọc hiểu cũng giống như một cuộc gặp gỡ giữa con người với con người, và nếu đó là một cuộc gặp gỡ quan trọng thì nhất định sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến nhân cách của đối phương Điều này cũng giống như khi chúng ta bắt gặp (hay đọc được) một văn bản đọc hiểu, nếu chúng ta cảm nhận được những điều mà tác giả muốn truyền tải thông qua những câu chữ thì chắc chắn

Trang 26

người đọc chúng ta đã được cảm hóa Umeura cũng cho rằng, từ suy nghĩ coi đọc hiểu

là sự lí giải thông qua ngôn ngữ, chúng ta nên thêm vào cách nhìn nhận đọc hiểu là trải nghiệm mới mẻ của bản thân người đọc để quá trình dạy và học kĩ năng đọc hiểu thêm phần hiệu quả [71]

Kế thừa các nghiên cứu liên quan đến đọc hiểu ngôn ngữ thứ nhất, các nghiên cứu về đọc hiểu ngôn ngữ thứ hai (đọc hiểu ngoại ngữ) cũng đã được tiến hành thông qua những nghiên cứu so sánh quá trình đọc hiểu ngôn ngữ thứ nhất và đọc hiểu ngôn ngữ thứ hai (Bernhardt 1991, Grabe 1991, ) Các nội dung nghiên cứu được đề cập chủ yếu là ngôn ngữ học, kiến thức nền, cấu trúc văn bản, tri nhận và siêu tri nhận, mối quan hệ giữa kĩ năng đọc hiểu và kĩ năng viết Kết quả là, các nhà nghiên cứu đều nhận định có sự khác nhau giữa đọc hiểu ngôn ngữ thứ nhất và đọc hiểu ngôn ngữ thứ hai, vì vậy cần tiến hành nghiên cứu về đọc hiểu ngôn ngữ thứ hai một cách độc lập Các nghiên cứu về đọc hiểu ngoại ngữ lúc này được chia thành hai hướng nghiên cứu chính là nghiên cứu về các yếu tố tạo nên nội dung trong văn bản viết (text) và nghiên cứu về quá trình tiếp nhận xử lý văn bản đọc hiểu Theo hướng nghiên cứu thứ nhất, các tác giả cho rằng đọc hiểu ngoại ngữ không đơn thuần là kĩ năng mà

là một NL tổng hợp được tạo nên bởi NL nhận thức về chữ viết, từ vựng; NL về từ vựng và ngữ pháp; NL về cấu trúc văn bản Nói cách khác, NLĐHNN là NL lí giải văn bản thông qua các yếu tố về ngôn ngữ Theo hướng nghiên cứu thứ hai, các tác giả cho rằng NLĐHNN là NL của cả quá trình đọc hiểu và có tác động rất nhiều bởi yếu tố tâm lý Hướng nghiên cứu thứ hai này nhận được nhiều sự đồng tình của các nhà nghiên cứu khác, trong đó có Goodman (1967) và Smith (1971) Các tác giả nhất trí cho rằng người đọc nên vận dụng các tri thức có sẵn để tích cực dự đoán, tưởng tượng

về nội dung của văn bản đọc hiểu, và NLĐH sẽ được hình thành thông qua việc đọc văn bản để kiểm chứng, sửa chữa những nội dung đã dự đoán hay tưởng tượng trước

đó

Carrell (1991) khẳng định NLĐHNN có mối liên hệ mật thiết với yếu tố siêu nhận thức và nhấn mạnh việc cần thiết phải hướng dẫn cho người học hiểu rõ các chiến lược đọc hiểu cũng như áp dụng các chiến lược này trong quá trình đọc hiểu [50] Sang đến những năm đầu của thế kỉ XXI, các nhà nghiên cứu về NLĐHNN lại

có thêm cách nhìn nhận về vấn đề này theo hướng tìm hiểu các yếu tố cấu thành nên NLĐHNN là gì Chẳng hạn như theo nghiên cứu của nhóm tác giả Sakai (2009) đã tiến

Trang 27

hành tìm hiểu các yếu tố cấu thành nên NLĐH và NL nghe hiểu tiếng Nhật của SV Mĩ

và SV Trung Quốc [86] Các tác giả đã chỉ ra rằng các nghiên cứu trước đây chủ yếu nhận định yếu tố cấu thành nên NLĐHNN là kiến thức từ vựng (Horiba & Koumoku 2002) hoặc kiến thức ngữ pháp (Shiotsu & Weir 2007) [dẫn theo 86] Điều này là chưa

đủ vì còn các yếu tố khác nữa như kĩ năng xử lí từ vựng và ngữ pháp trong quá trình đọc văn bản Điều này đã được nhóm nghiên cứu chứng minh là yếu tố quyết định tạo nên NLĐH và NL nghe hiểu Tuy nhiên, đối với SV Trung Quốc thì kĩ năng xử lí từ vựng ảnh hưởng rất nhiều đến cả NLĐH và NL nghe hiểu, thì ngược lại đối với SV Mĩ thì kĩ năng xử lí từ vựng ảnh hưởng nhiều đến NLĐH còn kĩ năng xử lí ngữ pháp ảnh hưởng nhiều đến NL nghe hiểu

Tổ chức giáo dục bang New South Wales, Australia nhận định NLĐHNN là sự hiểu biết về thông tin và sự kiện được nêu trực tiếp trong văn bản Đây được coi là mức độ hiểu biết cơ bản đầu tiên và cơ bản nhất trong việc đọc Người học có thể sử dụng các kỹ năng hiểu biết của bản thân thông qua việc hiểu các từ khóa, đọc lướt, đọc

kĩ để xác định vị trí thông tin hiệu quả hơn [28]

Những nghiên cứu về NLĐHNN trong và ngoài nước mà luận án đã tổng quan được có vai trò rất quan trọng cho việc tiến hành khảo sát tình hình thực tế về NLĐHNN của SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài dưới đây 1.1.3 Nghiên cứu về phát triển năng lực đọc hiểu ngoại ngữ

Sang đến những năm đầu của thế kỉ XXI, phát triển NLĐHNN cho SV mới bắt đầu nhận được sự quan tâm nhiều hơn của các nhà nghiên cứu và chuyên gia giáo dục Đặc biệt là vấn đề cần phải phát triển NLĐHNN cho SV của các khoa Ngoại ngữ tại các trường Đại học trên thế giới Bắt đầu là những nghiên cứu về phát triển NLĐH tiếng Anh cho SV nước ngoài Có thể kể đến các nghiên cứu của Ogino (2012) [75] khi tìm hiểu hình thức dạy học đọc hiểu tiếng Anh của GV người Nhật và phân loại những ưu điểm và nhược điểm của 2 hình thức Đọc mở rộng và đọc chuyên sâu Một số tác giả khác cũng đã tiến hành khảo sát hiệu quả của hình thức đọc mở rộng này trên đối tượng là SV Nhật Bản theo học ngành Ngôn ngữ Tây Ban Nha của tác giả Ezawa (2011) [72]; hay đối tượng SV Indonexia học ngành Ngôn ngữ Anh của nhóm tác giả Syofia Delfi & Hamidah Yamat (2017) [57] Các tác giả đều khẳng định việc áp dụng hình thức đọc mở rộng khiến SV đọc nhiều hơn, tiếp thu lượng kiến thức ngôn ngữ và hiểu biết nhiều hơn, giúp phát triển NLĐHNN cho bản thân

Trang 28

NLĐH tiếng Anh còn được đề cập trong nghiên cứu của nhóm tác giả Nam Phi Beauty B Ntereke & Boitumelo T Ramoroka2 (2017) [47] Nhóm tác giả khẳng định vai trò của NLĐHNN thông qua việc giao cho SV từ năm thứ nhất ngành Nhân văn đọc và nghiên cứu tài liệu chuyên ngành học thuật; đặc biệt nhấn mạnh đến các yếu tố

để một SV có thể đọc thông thạo các văn bản học thuật là kiến thức ngôn ngữ, chiến lược đọc hiểu, nhận thức và siêu nhận thức

Kobayashi (2016) [86] đã tiến hành nghiên cứu về dạy học đọc hiểu tiếng Nhật cho đối tượng là những sinh viên Đài Loan đang theo học khối ngành Ngôn ngữ và văn học Nhật Bản tại quốc gia này Yamaguchi (2011) [102] cũng nhấn mạnh về việc cần hình thành cho SV cấu trúc kiến thức nền trong đọc hiểu tiếng Nhật

Mặc dù còn khá ít ỏi, nhưng tại Việt Nam một số nghiên cứu về phát triển NLĐHNN cho SV Việt Nam cũng đã được thực hiện bởi các tác giả như Nguyễn Thị

Cơ (2009), Nguyễn Thị Thu Đạt (2015) nghiên cứu về đọc hiểu tiếng Nga; Đặng Thị Lan (2009), Hoàng Thị Huyền Trang và Nguyễn Thị Ngọc Anh (2017) nghiên cứu về đọc hiểu tiếng Anh; Nguyễn Thị Huệ (2012), Hoàng Thị Bích (2018) nghiên cứu về đọc hiểu tiếng Pháp Các nghiên cứu này đều đã chỉ ra các các biện pháp nhằm phát triển NLĐHNN cho SV như sử dụng công nghệ thông tin trong quá trình dạy học đọc hiểu văn bản bằng tiếng Pháp; lựa chọn văn bản có nội dung thông tin liên quan đến văn hóa bản địa để dạy học đọc hiểu tiếng Anh; sự cần thiết phải xây dựng khung năng lực đọc hiểu tiếng Nga và đổi mới phương pháp giảng dạy cũng như việc kiểm tra, đánh giá kết quả năng lực đọc hiểu tiếng Nga

Những nghiên cứu về phát triển NLĐHNN đã trình bày ở trên sẽ giúp chúng tôi xây dựng được những biện pháp hiệu quả trong việc phát triển NLĐHNN cho SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

Trang 29

- Đọc hiểu ngoại ngữ chủ yếu được coi là một trong bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết cần được hình thành và phát triển trong quá trình học ngoại ngữ Cách đánh giá khả năng đọc hiểu ngoại ngữ chủ yếu được xét theo khung đánh giá năng lực ngoại ngữ nói chung và ngang hàng với các kĩ năng còn lại Các mức độ của đọc hiểu được đánh giá qua 6 bậc theo khung NLNNVN hoặc lấy mức tương đương theo các cấp độ của các khung đánh giá NL ngoại ngữ quốc tế Ngoài ra, đọc hiểu ngoại ngữ còn được đánh giá theo thể loại văn bản đọc hiểu Các khung NL này được áp dụng đại trà đối với tất cả người học ngoại ngữ nói chung

- Từ những năm đầu của thế kỉ XXI, vấn đề phát triển NLĐHNN bắt đầu nhận được sự chú ý của các nhà nghiên cứu Một số nghiên cứu đã đề cập đến các yếu tố cấu thành nên NLĐHNN và các biện pháp để phát triển NL này cho người học Trong

đó, các nghiên cứu về phát triển NLĐHNN cho SV nước ngoài chủ yếu diễn ra thông qua việc dạy học ĐHNN trên lớp (chú trọng nhiều đến các chiến lược ĐHNN) hoặc thông qua tổ chức các hoạt động đọc hiểu như đọc mở rộng và đọc chuyên sâu Còn vấn đề phát triển NLĐHNN cho SV Việt Nam chủ yếu diễn ra thông qua việc lựa chọn tài liệu đọc hiểu và áp dụng công nghệ thông tin trong dạy học ĐHNN

Tuy nhiên, cho đến thời điểm này, theo những tài liệu mà chúng tôi đã tiếp cận, nghiên cứu thì có một số vấn đề mà các tác giả chưa đề cập tới như:

- Tại Việt Nam, đọc hiểu ngoại ngữ vẫn được coi là một trong bốn kĩ năng nghe, nói, đọc, viết trong quá trình dạy và học ngoại ngữ mà chưa được xem là một năng lực

mà người học ngoại ngữ cần được hình thành và phát triển lâu dài

- Qui trình dạy học đọc hiểu ngoại ngữ chưa được thiết kế theo hướng hình thành

và phát triển NLĐHNN cho SV ĐH nói chung và SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài nói riêng

- Các nghiên cứu nước ngoài chủ yếu tập trung đến việc trang bị kiến thức và rèn luyện kĩ năng đọc hiểu ngoại ngữ chứ chưa đề cập nhiều đến vấn đề vận dụng NLĐHNN trong việc thực hiện các nhiệm vụ học tập cũng như trong cuộc sống thực tiễn

- Chưa đề xuất được các biện pháp phát triển NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài (một ngành đòi hỏi điều kiện về NL ngoại ngữ ở mức cao nhất theo chuẩn đầu ra)

Trang 30

Vì vậy, việc nghiên cứu những vấn đề trên với đối tượng SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài hiện nay là cấp bách và cần thiết

1.2 Năng lực đọc hiểu ngoại ngữ của SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

1.2.1 Đặc điểm sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài Trước hết, SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài có những đặc điểm về tâm sinh lý giống với sinh viên của các trường đại học khác Theo qui định của trường đại học thì lứa tuổi sinh viên hiện đại từ 17 đến 23 tuổi (trừ rất ít ngoại lệ) nghĩa là giai đoạn hai của tuổi thanh niên (từ 18 đến 25 tuổi) Do đó về mặt tâm sinh lý, những sinh viên này đều được coi là ở độ tuổi trưởng thành, có sự phát triển tự ý thức, tự đánh giá và định hướng giá trị

Điểm khác biệt lớn nhất của SV ngành này chính là yếu tố ngoại ngữ vượt trội Ngoài việc tích lũy được cho bản thân một vốn kiến thức hiểu biết nhất định về khoa học, văn hóa, xã hội, nói chung thì các em đã trau dồi được vốn tri thức về ngoại ngữ nhất định ở bậc phổ thông Điểm đầu vào đại học gồm 3 môn Toán, Văn, Ngoại ngữ trong đó môn Ngoại ngữ được tính trọng số điểm là 2 Với mong muốn tiếp tục phát triển năng lực về ngoại ngữ, các em lựa chọn vào học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài (mã số ngành 72202) tại các trường Đại học có đào tạo khối ngành Ngoại ngữ Sau khi vào trường Đại học, SV sẽ tham gia học tiếng nước ngoài thực hành ít nhất hai năm đầu (còn gọi là giai đoạn thực hành tiếng), tiếp đó là học các môn chuyên ngành hoặc định hướng ngành bằng tiếng nước ngoài

Ngoài ra, yêu cầu về mức độ NL ngoại ngữ đối với SV sau khi tốt nghiệp đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài theo qui định của BGD&ĐT là SV ngành này phải đạt mức năng lực ngoại ngữ tối thiểu bậc 5 theo KNLNNVN, bậc cao nhất đối với SV đại học nói chung

Như vậy, có thể nhận thấy yếu tố về năng khiếu ngoại ngữ cũng như nhận thức

về việc sẽ vận dụng ngoại ngữ trong công việc sau khi tốt nghiệp là điểm khác biệt của đối tượng này Điều này cũng giúp cho SV định hình rõ ràng mục đích đọc hiểu ngoại ngữ của bản thân như phục vụ cho nhu cầu về học tập/ nghiên cứu, mở rộng tri thức hay nhu cầu về giải trí

1.2.2 Khái niệm năng lực đọc hiểu ngoại ngữ

- Năng lực

Trang 31

Khái niệm năng lực nhận được nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học và được quan niệm dưới nhiều góc độ khác nhau như: kinh tế, tâm lý học, khả năng thành công trong hoạt động, giáo dục học Trong tiếng Anh, năng lực lần lượt được dùng với những thuật ngữ như : Ability (Khả năng hoặc năng lực làm cái gì về thể chất hoặc tinh thần); Aptitude (Khả năng, kĩ năng tự nhiên, năng khiếu); Capability (Khả năng

mà cá nhân thể hiện khi tham gia một hoạt động nhất định); Efficiency (Trạng thái hay phẩm chất có năng lực, hiệu suất, tính hiệu quả); Skill (Khả năng thực hiện một việc nào đó có hiệu quả); Potentiality (Sức mạnh hoặc tính chất đang có nhưng chưa được phát triển, tiềm năng) Tuy nhiên, thuật ngữ NL trong giáo dục được sử dụng nhiều nhất hiện nay là Competence hoặc Competency nghĩa là “Năng lực hành động, khả năng thực hiện hiệu quả các hành động, các vấn đề liên quan đến một lĩnh vự nhất định dựa trên cơ sở hiểu biết, kĩ năng, kĩ xảo và sự sẵn sàng hành động” Dựa theo quan điểm này, một số khái niệm về NL đã được đưa ra như sau:

“Năng lực là những khả năng nhận thức và kĩ năng vốn có hoặc học được của cá thể nhằm giải quyết các vấn đề xác định, cũng như sự sẵn sàng về động cơ, ý chí, ý thức xã hội và khả năng vận dụng các cách giải quyết vấn đề trong những tình huống thay đổi một cách thành công và có trách nhiệm.” (Weinert, 2001)

“Năng lực là khả năng đáp ứng một cách hiệu quả những yêu cầu phức hợp trong một bối cảnh cụ thể.” (OECD, [55])

“Năng lực là khả năng thực hiện thành công và có trách nhiệm và hiệu quả các nhiệm vụ, giải quyết các vấn đề trong các tình huống xác định cũng như các tình huống thay đổi trên cơ sở huy động tổng hợp các kiến thức, kĩ năng và các thuộc tính tâm lí khác nhau như động cơ, ý chí, quan niệm, giá trị , suy nghĩ thấu đáo và sự sẵn sàng hành động.” (Bernd Meier & Nguyễn Văn Cường, 2012)

“Năng lực là khả năng mà một người cụ thể làm được ở mức độ và chất lượng nhất định của một việc gì đó trong các hoạt động học tập và trong cuộc sống hàng ngày.” (Nguyễn Đức Minh, 2015)

Như vậy, tựu chung lại khái niệm NL theo luận án có thể được hiểu là sự kết hợp của kiến thức, kĩ năng, thái độ của một cá nhân để thực hiện một nhiệm vụ hay một công việc chuyên môn trong thực tiễn có hiệu quả

- Năng lực đọc hiểu ngoại ngữ

Trang 32

Với quan điểm tiếp cận phong phú về NL nêu trên, đối với NL cụ thể của SV cũng

có nhiều quan niệm như mức độ xác nhận khả năng, xác nhận đạt chuẩn Đặc biệt, trong lĩnh vực đọc hiểu, chúng tôi quan tâm nhiều đến những khái niệm sau:

“Đọc hiểu được hiểu là giải mã (decoding), hiểu thấu (comprehension) tư liệu, bao hàm cả việc hiểu (understanding), sử dụng (using) và phản hồi (reflecting) về những thông tin với những mục đích khác nhau.” (OECD, dẫn theo Đỗ Ngọc Thống [44], Tr 49)

“Năng lực đọc hiểu được cấu thành từ những yếu tố cơ bản: tri thức về văn bản, về chiến lược đọc hiểu, kĩ năng thực hiện hành động, thao tác đọc hiểu; sự sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống cần đến đọc hiểu.”( Nguyễn Thị Hạnh, [17] , Tr 89)

“ Năng lực đọc hiểu là sự nhận thức và khả năng tổng hợp ý nghĩa của những điều

mà tác giả trình bày trong văn bản thông qua các kí hiệu chữ viết” (Từ điển Giáo dục tiếng Nhật [106], Tr 3)

“Năng lực đọc hiểu ngoại ngữ là sự kết hợp của năng lực ngôn ngữ tiếng mẹ đẻ, năng lực ngoại ngữ và năng lực siêu nhận thức (Motooka, [126], Tr 32)

“Năng lực đọc hiểu ngoại ngữ là sự vận dụng kiến thức ngôn ngữ bao gồm từ vựng, ngữ pháp, cấu trúc văn bản và kiến thức phi ngôn ngữ như hiểu biết về văn hóa nước ngoài.” (Shimozaki, [??], 2005)

Trên cơ sở này, nghiên cứu xác định khái niệm năng lực đọc hiểu ngoại ngữ là quá trình người đọc vận dụng kết hợp kiến thức, kĩ năng đọc hiểu ngoại ngữ và thái độ của mình khi tiếp xúc trực tiếp với văn bản đọc hiểu được viết bằng tiếng nước ngoài

để thực hiện các nhiệm vụ đọc hiểu ngoại ngữ một cách hiệu quả; đồng thời phát huy được năng lực này trong cuộc sống thực tiễn

1.2.3 Khung năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

1.2.3.1 Cơ sở khoa học để xây dựng Khung năng lực đọc hiểu ngoại ngữ cho sinh viên đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

Khung NLĐHNN cho SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài được xây dựng trên cơ sở: (1) Chuẩn đầu ra đối với SV ĐH ngành Ngôn ngữ, văn học

và văn hóa nước ngoài; (2) Xây dựng chuẩn đánh giá NL theo tiếp cận cấu trúc NL và (3) Kinh nghiệm xây dựng khung NLĐHNN

Trang 33

(1) Chuẩn đầu ra đối với SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài

“Chuẩn đầu ra là quy định về nội dung kiến thức chuyên môn; kỹ năng thực hành, khả năng nhận thức công nghệ và giải quyết vấn đề; công việc mà người học có thể đảm nhận sau khi tốt nghiệp và các yêu cầu đặc thù khác đối với từng trình độ, ngành đào tạo” [6] Chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài là sự cam kết của nhà trường về kiến thức, kĩ năng, thái độ, đáp ứng yêu cầu nghề nghiệp công tác sau khi tốt nghiệp của SV Nội dung chuẩn đầu

ra của chương trình đào tạo SV ĐH “chuyên ngữ” có thể khác nhau ở các trường và các chuyên ngành (định hướng) nhưng thống nhất về mục tiêu và những năng lực cốt lõi mà SV tốt nghiệp phải đạt được, đảm bảo phù với yêu cầu của nhà tuyển dụng như biên phiên dịch; nghiên cứu; giảng dạy ngoại ngữ

Với cách tiếp cận này, SV trong quá trình học sẽ được trang bị đầy đủ 3 yếu tố là kiến thức, kĩ năng và NL tự chủ và trách nhiệm thông qua mỗi bài học, cụ thể:

- Kiến thức: Gồm khối kiến thức chung (hệ thống tri thức khoa học, công nghệ thông tin, ngoại ngữ 2, thể dục thể thao, quân sự); khối kiến thức tiếng; kiến thức ngôn ngữ học; kiến thức theo nhóm ngành và theo định hướng ngành

- Kĩ năng: Gồm nhóm kĩ năng chuyên môn (kĩ năng nghề nghiệp, kĩ năng lập luận

tư duy và giải quyết vấn đề, kĩ năng nghiên cứu, kĩ năng tổ chức ) và nhóm kĩ năng

bổ trợ (kĩ năng làm việc theo nhóm, kĩ năng giao tiếp, kĩ năng sử dụng ngoại ngữ, kĩ năng công nghệ thông tin, kĩ năng quản lí )

- Năng lực tự chủ và trách nhiệm: SV thực hiện các công việc với tư duy, ý thức, tinh thần trách nhiệm, tự chủ, sáng tạo, tự định hướng và thích nghi với nhiều môi trường làm việc khác nhau

Cách tiếp cận theo chuẩn đầu ra này hướng đến việc phát triển các NL cần thiết để

SV đại học ngành Ngôn ngữ, văn học và văn hóa nước ngoài đáp ứng được các yêu cầu công việc rút ngắn thời gian đào tạo tạo và tạo điều kiện để họ nhanh chóng hòa nhập với thực tế nghề nghiệp

(2) Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu ngoại ngữ theo tiếp cận cấu trúc năng lực Năng lực thường gắn liền với những hoạt động cụ thể khác nhau nên đã có nhiều quan điểm về việc mô tả cấu trúc của NL Trong đó có mô hình NL xây dựng theo mục tiêu giáo dục của Unesco (gồm NL chuyên môn; NL phương pháp; NL xã hội và

Trang 34

NL cá thể) ([12], Tr 69); mô hình NL theo OECD (gồm NL chung và NL chuyên môn Trong đó NL chung bao gồm Khả năng hành động độc lập thành công; Khả năng sử dụng công cụ giao tiếp và công cụ tri thức một cách tự chủ; Khả năng hành động thành công trong các nhóm xã hội không đồng nhất Còn NL chuyên môn liên quan đến từng môn học riêng biệt [13])

Mô hình cấu trúc NL mà luận án sử dụng là mô hình ASK của Benjamin Bloom (1956) Đây là mô hình được sử dụng nhiều trong lĩnh vực giáo dục, đánh giá nhân sự, đánh giá năng lực của GV và SV ASK là tên viết tắt của ba chữ cái đầu của các từ Attitude – Skill - Knowledge, trong đó:

+ Knowledge (Kiến thức): Thuộc về NL tư duy, là hiểu biết mà cá nhân có được sau khi trải qua quá trình giáo dục - đào tạo, đọc hiểu, phân tích và ứng dụng

+ Skill (Kĩ năng): Thuộc về kĩ năng thao tác, là khả năng biến kiến thức có được thành hành động cụ thể, hành vi thực tế trong quá trình làm việc của cá nhân

+ Attitude (Thái độ): Thuộc về phạm trù cảm xúc, tình cảm, là cách cá nhân tiếp nhận và phản ứng lại với thực tế, đồng thời thể hiện thái độ và động cơ với công việc đang đảm nhận

Có thể thấy NL là sự kết hợp chặt chẽ của 3 yếu tố kiến thức, kĩ năng và thái độ

Vì vậy, không thể tách rời từng yếu tố ra được Để hình thành và phát triển NL trong quá trình dạy và học, cụ thể trong luận án này là NLĐHNN, nghiên cứu nhận định NLĐHNN bao gồm nhiều NL thành phần tạo nên một hệ thống, hỗ trợ lẫn nhau để thực hiện tích hợp yếu tố đọc hiểu ngoại ngữ vào công việc một cách hiệu quả

Dựa vào kinh nghiệm xây dựng cấu trúc năng lực đọc hiểu của PISA, nhóm nghiên cứu của Iwamoto (2005) [69] đã tiến hành khảo sát NLĐH tiếng Anh - môn ngoại ngữ của học sinh phổ thông Nhật Bản và đã chỉ ra 4 NL cần có trong NLĐH tiếng Anh như sau:

- Năng lực tiếp nhận thông tin cần thiết, khái lược nội dung và các điểm quan trọng sau khi đọc văn bản

- Năng lực phán đoán ý đồ, mục đích của người viết dựa vào những căn cứ lập luận trong văn bản, nắm được cấu trúc và bố cục văn bản, đồng thời biết đưa ra ý kiến hay cảm nghĩ của bản thân về những nội dung đó

Trang 35

- Năng lực tóm tắt ý kiến, quan điểm của bản thân về nội dung thông tin trong văn bản, đồng thời biết cách thể hiện các thông tin muốn truyền đạt thông qua việc nói lại hoặc viết lại nội dung đó

- Năng lực dự đoán ý nghĩa các từ mới, cách triển khai của câu chuyện, vận dụng kiến thức nền và trình bày lại nội dung đã đọc

Nhóm tác giả cũng nhấn mạnh vào việc cần chú trọng đến toàn bộ quá trình dạy học phát triển NLĐH chứ không chỉ quan tâm đến kết quả của việc lĩnh hội kiến thức đọc hiểu

Okiyama (1965) quan niệm “Đọc hiểu là khả năng đọc và hiểu được ý nghĩa nội hàm thông quan mối liên hệ giữa các câu trong văn bản”, và chỉ ra có hai NL thành phần tạo nên NLĐH, đó là: NL tóm tắt tổng thể văn bản đọc hiểu và NL tư duy mang tính lí luận thông qua đọc tổng thể văn bản ([74], Tr 195-196)

Shirai (1985) lại đưa ra

quan điểm cấu trúc NLĐH

tiếng Nhật được xây dựng

Hình 1.1 Mô hình cấu trúc NLĐH theo Shirai (1965)

Theo kết quả nghiên cứu của dự án SWANs tại bang Victoria, Australia [28] về năng lực đọc hiểu tiếng Anh trình độ cơ bản cho học sinh sử dụng tiếng Anh như ngôn ngữ thứ hai, cấu trúc năng lực đọc hiểu được xây dựng bởi 6 thành tố bao gồm:

- Nhận thức/ kiến thức về kí hiệu hoặc chữ cái

Trang 36

Đối với mỗi thành tố, nghiên cứu cũng xây dựng các chỉ số hành vi tương ứng cũng như tiêu chí chất lượng cho từng chỉ số hành vi để thuận tiện trong quá trình đánh giá năng lực đọc hiểu tiếng Anh và khái quát hóa thành đường phát triển năng lực đọc hiểu tiếng Anh cơ bản gồm 6 mức độ từ dễ đến khó

Tại Việt Nam, các tác giả Nguyễn Thị Hạnh, Nguyễn Thị Hồng Vân đã dành nhiều tâm sức để xây dựng cấu trúc NLĐH môn Ngữ văn Mặc dù đây là cấu trúc NLĐH tiếng Việt và giới hạn trong môn học Ngữ văn phổ thông, tuy nhiên nghiên cứu nhận thấy có mối liên hệ giữa cấu trúc NLĐH này với cấu trúc NLĐHNN bởi trước khi tiếp cận với ngôn ngữ thứ hai, SV Việt Nam đã có NLĐH nền sẵn có trong quá trình học phổ thông

Nguyễn Thị Hạnh (2014) cho rằng các yếu tố cấu thành NLĐH bao gồm:

- Tri thức về văn bản, về chiến lược đọc hiểu

- Kĩ năng thực hiện các hành động, thao tác đọc hiểu

- Sự sẵn sàng thực hiện các nhiệm vụ học tập, các nhiệm vụ trong đời sống cần đến đọc hiểu (nhiệm vụ trong từng tình huống cụ thể)

Nguyễn Thị Hồng Vân (2014) nhận định NLĐH được hình thành bởi 4 thành tố là:

- Xác định các thông tin từ văn bản

- Phân tích, kết nối các thông tin

- Phản hồi và đánh giá văn bản

- Vận dụng thông tin từ văn bản vào thực tiễn

Dựa vào những phân tích trên đây, nghiên cứu nhận định cấu trúc năng lực đọc hiểu ở ngôn ngữ thứ nhất (tiếng mẹ đẻ) và ngôn ngữ thứ hai (ngoại ngữ) có những đặc điểm chung về yếu tố tiếp nhận thông tin có sẵn trong văn bản, sau đó người đọc sẽ tiến hành xử lý văn bản này thông qua giải thích, cắt nghĩa Tiếp đến là yếu tố phân tích, đánh giá và phản hồi lại văn bản đọc hiểu Tuy nhiên, đối với đọc hiểu ngoại ngữ, người đọc sẽ tiếp nhận văn bản bằng ngôn ngữ không phải tiếng mẹ đẻ (ngoại ngữ) nên việc lý giải văn bản sẽ phải thêm một bước về xử lý ngôn ngữ Hay nói cách khác, người đọc phải có NL sử dụng kiến thức ngoại ngữ để xử lí việc hiểu văn bản đọc đó Ngoài ra, trước khi tiếp xúc với văn bản đọc hiểu ngoại ngữ, người đọc đã có một số kiến thức nhất định liên quan đến chủ đề, nội dung của văn bản đó (lịch sử, truyền thống văn hóa, phong tục, tập quán - những hiểu biết chung hay còn gọi là kiến thức nền) Những kiến thức này đóng vai trò không nhỏ để tạo nên NLĐH ngoại ngữ chung,

Trang 37

đặc biệt là hỗ trợ cho quá trình lý giải văn bản Vì vậy, NLĐH ngoại ngữ lúc này cần

có thêm một thành tố nữa là NL sử dụng kiến thức nền

Như vậy, NLĐH ngoại ngữ sẽ gồm bốn năng lực thành phần (thành tố) gồm: Năng lực sử dụng kiến thức nền; Năng lực sử dụng kiến thức ngoại ngữ; Năng lực lí giải nội dung đọc hiểu ngoại ngữ và Năng lực phản hồi văn bản đọc hiểu ngoại ngữ (xem Hình 1.2) Cụ thể như sau:

- Năng lực sử dụng kiến thức nền: Việc tận dụng kiến thức nền trong quá trình đọc hiểu vẫn luôn được xem là một chiến lược đọc hiểu hiệu quả, được nhiều nhà nghiên cứu chứng minh là hỗ trợ rất nhiều cho tiến trình lí giải nội dung của văn bản đọc hiểu Ouka Junko (2007) cũng đã nhận định “Kiến thức nền kết hợp với hình thức đọc Topdown là giải pháp để nâng cao năng lực đọc hiểu tiếng Nhật đối với thể loại văn

mô tả, văn giải thích và áp dụng cho đối tượng người học trình độ trung cấp trở lên” [9] Nghiên cứu cũng đưa ra các biện pháp cụ thể để tăng cường kiến thức về cấu trúc văn bản, đó là giáo viên nên cung cấp các nội dung liên quan tới đa văn hóa; tăng cường sử dụng chiến lược đọc hiểu suy đoán nội dung thông qua tiêu đề bài đọc, nhìn tranh ảnh, biểu đồ

- Năng lực sử dụng kiến thức ngoại ngữ: Bao gồm sử dụng kiến thức, kĩ năng ngôn ngữ liên quan đến chữ viết, từ vựng, các biểu hiện câu hay cấu trúc ngữ pháp Mức

độ hiểu biết về kiến thức ngôn ngữ có thể giúp giáo viên nhận diện được trình độ ngoại ngữ của người học và lựa chọn nội dung văn bản đọc hiểu phù hợp với mục tiêu dạy học đề ra Ngoài ra, năng lực sử dụng ngoại ngữ còn bao gồm kiến thức về cấu trúc văn bản, đối với học ngoại ngữ việc nắm bắt, nhận diện được cấu trúc văn bản đọc hiểu của ngoại ngữ đó sẽ giúp cho người học thực hiện hoạt động đọc hiệu quả hơn

- Năng lực lí giải nội dung đọc hiểu: Đây là yếu tố liên quan trực tiếp với hoạt động đọc hiểu ngoại ngữ Nếu như năng lực sử dụng ngoại ngữ đặt ra vấn đề thông qua ngôn ngữ thứ hai, người học “Học cái gì? Hiểu được cái gì? ” thì năng lực lí giải nội dung đọc hiểu sẽ là câu trả lời cho câu hỏi “Làm thế nào để người đọc lĩnh hội văn bản đọc hiểu ngoại ngữ đó?” Ngoài ra, không chỉ dừng lại ở việc giải thích ý nghĩa nội dung văn bản đọc hiểu, mà còn cần phải chú trọng tới bối cảnh, ý đồ và mục đích của người viết dựa vào những lập luận có căn cứ trong văn bản

- Năng lực phản hồi: Biểu đạt lại các nội dung đã đọc là bước cuối cùng trong quá trình đọc hiểu Năng lực biểu đạt thể hiện qua việc mô tả lại nội dung văn bản đọc hiểu

Trang 38

theo quan điểm hoặc ý kiến của bản thân thông qua các hình thức như viết lại, nói lại Ngoài ra, NL phản hồi văn bản còn được thể hiện qua việc vận dụng những tri thức có được thông qua đọc hiểu ngoại ngữ để gải quyết các nhiệm vụ học tập cũng như thực tiễn cuộc sống

Hình 1.2 Cấu trúc năng lực đọc hiểu ngoại ngữ (3) Kinh nghiệm xây dựng khung năng lực đọc hiểu ngoại ngữ

Nghiên cứu tiến hành tìm hiểu kinh nghiệm xây dựng Khung tham chiếu chung Châu Âu CEFR (dùng cho ngôn ngữ Châu Âu); Khung đánh giá năng lực ngoại ngữ JF-Standard và EJU (dùng cho ngôn ngữ Nhật) và Khung năng lực ngoại ngữ 6 bậc dùng cho Việt Nam (gọi tắt là KNLNNVN)

Khung tham chiếu trình độ ngoại ngữ chung Châu Âu (Common European Framework of Reference for Languages, gọi tắt là CEFR) được xây dựng bởi Hội đồng châu Âu trong thập niên 1990 trong một nỗ lực lớn hơn nhằm thúc đẩy sự hợp tác giữa các giáo viên ngôn ngữ tại tất cả các quốc gia châu Âu Hội đồng châu Âu cũng mong muốn hướng dẫn rõ ràng hơn cho các nhà tuyển dụng và tổ chức giáo dục có nhu cầu đánh giá mức độ thông thạo ngôn ngữ của ứng viên Khung tham chiếu được thiết kế

để sử dụng trong cả giảng dạy và đánh giá (tham khảo Phụ lục 14) CEFR được sử dụng rộng rãi trong giảng dạy ngôn ngữ ở châu Âu, cả trong lĩnh vực giáo dục công và trong các trường dạy ngôn ngữ tư nhân Ở nhiều nước, nó đã thay thế các hệ thống phân cấp trước đây được sử dụng trong giảng dạy ngoại ngữ Hầu hết các bộ giáo dục

ở châu Âu có một mục tiêu rõ ràng dựa trên CEFR cho tất cả học sinh tốt nghiệp trung học, chẳng hạn đạt trình độ B2 ở ngoại ngữ đầu tiên, B1 ở ngoại ngữ thứ hai Đối với

Trang 39

những người tìm việc, nhiều người trưởng thành tại châu Âu sử dụng điểm số của một

kỳ thi được tiêu chuẩn hóa như TOEIC để mô tả trình độ tiếng Anh của mình

CEFR chia năng lực đọc hiểu thành 6 cấp độ từ thấp đến cao gồm A1, A2, B1, B2, C1, C2 như bảng 1.1 dưới đây:

Bảng 1.1 Các cấp độ năng lực đọc hiểu theo CEFR Năng

C1 Có khả năng hiểu các loại văn bản dài và phức tạp, nhận biết được các hàm ý Biểu hiện khả năng sử dụng ngôn ngữ một cách tự nhiên, thuần thục mà không gặp phải nhiều khó khăn Vận dụng ngôn ngữ linh hoạt và hiệu quả phục vụ trong các mục đích xã hội, học tập hay công việc Có khả năng hiểu các câu có cấu trúc chặt chẽ, rõ ý về những đề tài phức tạp, sử dụng linh hoạt các thành phần câu, từ nối câu

B2 Có khả năng hiểu các ý chính trong văn bản phức tạp về các chủ đề

cụ thể cũng như trừu tượng, bao gồm những thảo luận về các vấn đề kỹ thuật, văn xuôi đương đại hoặc về chuyên ngành của người học

B1 Có khả năng hiểu những ý chính trong ngôn ngữ thông qua các chủ

đề quen thuộc thường gặp trong công việc, ở trường học hay khu vui chơi… Có khả năng sử dụng các câu liên kết đơn giản trong các chủ đề quen thuộc trong cuộc sống hoặc liên quan đến sở thích cá nhân Có thể đọc hiểu các chủ đề liên quan đến sự kiện, các trải nghiệm, giấc mơ, ước ao hay tham vọng của mình và đưa ra những nguyên nhân, giải thích cho các ý kiến và dự định đó

Sử

dụng

A2 Có khả năng hiểu các văn bản ngắn, đơn giản để tìm thông tin cụ thể,

dự đoán nội dung trong các văn bản như thông báo, thực đơn, thời gian biểu, thư cá nhân…

Trang 40

Để tìm hiểu về Khung NLĐHNN đối với ngôn ngữ châu Á, thuộc hệ chữ tượng hình, nghiên cứu lựa chọn tiếng Nhật, một trong những ngôn ngữ nằm trong hệ thống các ngoại ngữ được sử dụng tại Việt Nam theo KNLNNVN để tìm hiểu về cách xác định NLĐH tiếng Nhật như một ngoại ngữ hiện nay gồm 2 khung NL là JF - Standard

và EJU Cụ thể như sau:

* Năng lực đọc hiểu tiếng Nhật theo JF-Standard (JLPT)

NLĐH tiếng Nhật với tư cách là đọc hiểu ngoại ngữ đã được tập trung nghiên cứu chính thức kể từ khi Kì thi năng lực tiếng Nhật (Japanese Language Proficiency Test, viết tắt là JLPT) được tổ chức lần đầu tiên vào năm 1984 với bốn cấp độ từ thấp đến cao 4 kyu, 3 kyu, 2 kyu, 1 kyu Từ năm 2010 cho đến nay, kì thi đã thay đổi nội dung cấp độ và đề thi với hai tiêu chí là (1) kiểm tra kiến thức về ngôn ngữ tiếng Nhật bao gồm chữ Hán, từ vựng, ngữ pháp và (2) việc áp dụng các kiến thức về ngôn ngữ đó trong giao tiếp thực tế như thế nào Kì thi này gồm ba phân môn thi nhỏ là kiến thức ngôn ngữ (chữ Hán, từ vựng, ngữ pháp); đọc hiểu và nghe hiểu

Quan niệm về NLĐH của JLPT được hình thành bởi ba yếu tố là khả năng sử dụng kiến thức ngôn ngữ; khả năng sử dụng chiến lược đọc hiểu; cách thức tiến hành

và quản lí quá trình đọc hiểu Đặc biệt, việc lựa chọn nội dung văn bản đọc hiểu cũng như các câu hỏi đọc hiểu của JLPT được tiến hành dựa trên các hình thức đọc hiểu (Reading model) của Urquhart & Weir (1998) [68] như bảng mô tả 1.2 dưới đây

Bảng 1.2 Các hình thức đọc hiểu tiếng Nhật của JLPT

Tổng thể bài đọc Từng phần trong bài đọc Đọc nhanh/ đọc

lướt

A Đọc nhanh, đọc lướt toàn

bộ bài đọc hiểu

B Đọc nhanh, đọc lướt một phần nào đó của bài đọc hiểu Đọc kỹ C Đọc kỹ toàn bộ bài đọc

hiểu

D Đọc kỹ một phần nào đó của bài đọc hiểu

Ngày đăng: 19/07/2021, 12:08

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
5. Bernd Meier & Nguyễn Văn Cường (2016) Lí luận dạy học hiện đại, Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, Nhà xuất bản Đại học Sư phạm 6. Hoàng Thị Bích (2018) Nghiên cứu các bài kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu sửdụng tại khoa ngôn ngữ và văn hóa pháp ĐHNN – ĐHQGHN, Luận án tiến sĩ, Đại học ngoại ngữ Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học hiện đại, Cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học
Tác giả: Bernd Meier, Nguyễn Văn Cường
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học Sư phạm
Năm: 2016
7. Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương (2011), “Dạy học dự án – Từ lí luận đến thực tiễn”, Tạp chí Khoa học Sư phạm ĐHSP TP HCM, số 28, trang 3-12 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học dự án – Từ lí luận đến thực tiễn
Tác giả: Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Sư phạm ĐHSP TP HCM
Năm: 2011
8. Trần Đình Bình (2012), “Đánh giá năng lực ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp hành động”, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN 28, trang 90-99 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá năng lực ngoại ngữ theo đường hướng giao tiếp hành động
Tác giả: Trần Đình Bình
Năm: 2012
9. Hoàng Hòa Bình (2015), “Năng lực và cấu trúc của năng lực”, Tạp chí Khoa học giáo dục, số 117, trang 4-7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực và cấu trúc của năng lực
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Nhà XB: Tạp chí Khoa học giáo dục
Năm: 2015
10. Hoàng Hòa Bình (2015), “Năng lực và đánh giá theo năng lực”, Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm TP HCM, số 6 (71), trang 21-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Năng lực và đánh giá theo năng lực
Tác giả: Hoàng Hòa Bình
Năm: 2015
11. Nguyễn Thanh Bình (2010), Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại trong nhà trường trung học phổ thông, Luận án Tiến sĩ Giáo dục, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học đọc hiểu tác phẩm văn chương theo thể loại trong nhà trường trung học phổ thông
Tác giả: Nguyễn Thanh Bình
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2010
12. Đỗ Thị Châu (1999), Nghiên cứu kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh của học sinh lớp 6, Luận án Tiến sĩ Tâm lí học chuyên ngành, Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu kĩ năng đọc hiểu tiếng Anh của học sinh lớp 6
Tác giả: Đỗ Thị Châu
Nhà XB: Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 1999
14. Nguyễn Thị Cơ (2009) Dạy đọc hiểu văn bản văn học trong đào tạo cử nhân tiếng Nga theo tín chỉ, Đề tài NCKH cấp ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy đọc hiểu văn bản văn học trong đào tạo cử nhân tiếng Nga theo tín chỉ
Tác giả: Nguyễn Thị Cơ
Nhà XB: ĐHQGHN
Năm: 2009
15. Trần Trung Dũng (2015) “Tổng quan nghiên cứu vấn đề giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh”, Tạp chí Giáo dục số 362, kì II, 7/2015 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng quan nghiên cứu vấn đề giáo dục theo định hướng phát triển năng lực học sinh
Tác giả: Trần Trung Dũng
Nhà XB: Tạp chí Giáo dục
Năm: 2015
16. Nguyễn Thị Thu Đạt (2015), “Thực trạng dạy và học tiếng nga ở các cơ sở giáo dục của việt nam và các giải pháp đề xuất”, Tạp chí ĐHNN-ĐHQGHN Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực trạng dạy và học tiếng nga ở các cơ sở giáo dục của việt nam và các giải pháp đề xuất
Tác giả: Nguyễn Thị Thu Đạt
Nhà XB: Tạp chí ĐHNN-ĐHQGHN
Năm: 2015
17. Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Bùi Hiền (2001), Từ điển Giáo dục học, Nhà xuất bản từ điển Bách khoa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Giáo dục học
Tác giả: Nguyễn Văn Giao, Nguyễn Hữu Quỳnh, Vũ Văn Tảo, Bùi Hiền
Nhà XB: Nhà xuất bản từ điển Bách khoa
Năm: 2001
19. Nguyễn Thị Hạnh (2014), “Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam”, Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh, Số 56, trang 88-97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng chuẩn năng lực đọc hiểu cho môn ngữ văn của chương trình giáo dục phổ thông sau 2015 ở Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Hạnh
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm TP Hồ Chí Minh
Năm: 2014
20. Phạm Văn Hiền (2018), Phát triển năng lực đánh giá giáo dục cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học, Luận án tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực đánh giá giáo dục cho sinh viên đại học ngành giáo dục tiểu học
Tác giả: Phạm Văn Hiền
Nhà XB: Viện khoa học giáo dục Việt Nam
Năm: 2018
21. Dương Thị Hồng Hiếu (2014), “Bản chất của hoạt động đọc văn và việc dạy học văn bản văn học trong nhà trường”, Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, Số 56, trang 48-56 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản chất của hoạt động đọc văn và việc dạy học văn bản văn học trong nhà trường
Tác giả: Dương Thị Hồng Hiếu
Nhà XB: Tạp chí Khoa học Đại học sư phạm thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 2014
22. Trần Thị Hoa, Lã Phương Thúy, Lê Thái Hưng (2016) “Xây dựng đề kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh lớp 10-trung học phổ thông” Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Tập 32 số1, trang 62-67 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đề kiểm tra đánh giá năng lực đọc hiểu văn bản nghị luận của học sinh lớp 10-trung học phổ thông
Tác giả: Trần Thị Hoa, Lã Phương Thúy, Lê Thái Hưng
Nhà XB: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
Năm: 2016
23. Nguyễn Thị Tím Huế (2018), Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm, Luận án Tiến sĩ khoa học giáo dục, Viện khoa học giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng và sử dụng bài tập trong dạy học giáo dục học theo hướng phát triển năng lực dạy học cho sinh viên cao đẳng sư phạm
Tác giả: Nguyễn Thị Tím Huế
Nhà XB: Viện khoa học giáo dục Việt Nam
Năm: 2018
24. Nguyễn Thị Huệ (2012), Xây dựng đường hướng sư phạm có sử dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực đọc hiểu các văn bản tiếng Pháp chuyên ngành Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng đường hướng sư phạm có sử dụng công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực đọc hiểu các văn bản tiếng Pháp chuyên ngành
Tác giả: Nguyễn Thị Huệ
Năm: 2012
26. Phạm Thị Thu Hương (2012), Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông, NXB Đại học sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đọc hiểu và chiến thuật đọc hiểu văn bản trong nhà trường phổ thông
Tác giả: Phạm Thị Thu Hương
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm Hà Nội
Năm: 2012
29. Trịnh Quốc Lập (2008), “Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam”, Tạp chí Khoa học 10/2008, ISSN 201069-175 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tự học trong hoàn cảnh Việt Nam
Tác giả: Trịnh Quốc Lập
Nhà XB: Tạp chí Khoa học
Năm: 2008
30. Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương (đồng chủ biên), Đặng Xuân Cường, Trịnh Thị Anh Hoa, Nguyễn Thị Hồng Vân (2016), Phương pháp, kĩ thuật xây dựng chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực giải quyết vấn đề, NXB Giáo dục Việt Nam 31. Nguyễn Đức Minh (Chủ biên) (2015), Hướng dẫn đánh giá năng lực của học sinhcuối cấp tiểu học, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp, kĩ thuật xây dựng chuẩn đánh giá năng lực đọc hiểu và năng lực giải quyết vấn đề
Tác giả: Nguyễn Lộc, Nguyễn Thị Lan Phương, Đặng Xuân Cường, Trịnh Thị Anh Hoa, Nguyễn Thị Hồng Vân
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2016

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w