Đề tài nghiên cứu thực tiễn những vấn đề liên quan đến việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Lai Vung đến năm 2020; đánh giá thực trạng công tác huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cụ thể; đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP HCM
Nguyễn Thị Thùy Trang
NGHIÊN CỨU VIỆC HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH VÀ SỰ THAM GIA CỦA NGƯỜI DÂN TRONG XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH
ĐỒNG THÁP GIAI ĐOẠN 2011-2018
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
TP HCM, tháng 01 năm 2019
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác
Đồng Tháp, ngày 08 tháng 01 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Trang
Trang 3Tôi xin chân thành cảm ơn tạp thể cơ quan Ban Tuyên giáo Huyện ủy Lai Vung đã tạo mọi điều kiện thuận lợi về thời gian và công tác để tôi hoàn thành chương trình cao học
Xin cảm ơn Thường trực Huyện ủy, Hội đồng nhân dân, lãnh đạo Ủy ban nhân dân huyện Lai Vung cùng các phòng chuyên môn trực thuộc UBND huyện đã giúp đỡ, cung cấp nhiều thông tin quý báu giúp tôi hoàn thành luận văn này
Đồng Tháp, ngày 07 tháng 01 năm 2019
Tác giả
Nguyễn Thị Thùy Trang
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
DANH MỤC BẢNG BIỂU
DANH MỤC SƠ ĐỒ
TÓM TẮT
CHƯƠNG 1 GIỚI THIỆU CHUNG
1.1 Lý do chọn đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu 3
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu 4
1.6 Kết cấu luận văn 5
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
2.1 Một số vấn đề chung về nông thôn và nông thôn mới ở Việt Nam 7
2.2 Nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới……… 11
2.2.1 Khái niệm về nguồn lực tài chính 11
2.2.2 Vai trò, đặc điểm của nguồn lực tài chính 12
2.2.3 Phân loại nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới … 15
2.2.4 Nguyên tắc huy động nguồn lực tài chính 17
2.2.5 Kế hoạch huy động và sử dụng nguồn lực tài chính… ………… 18
2.2.6 Kiểm tra, giám sát huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính… 22 2.2.7 Chỉ tiêu đánh giá huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính … 23 2.3 Sự tham gia của người dân……… 25
2.3.1 Các nghiên cứu về sự tham gia của người dân……… 25
2.3.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới……… 29
2.4 Quan hệ giữa huy động, sử dụng NLTC và tham gia của người dân… 31
2.5 Kinh nghiệm của một số địa phương ……… 33
CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU……….… 38
3.1 Phương pháp thu thập và xử lý số liệu … 38
3.2 Phương pháp phân tích 40
Trang 54.1 Hiện trạng nông thôn mới huyện Lai Vung ……… ……41
4.2 Đánh giá của người dân về xây dựng nông thôn của huyện ……… 50
4.3 Nguồn lực tài chính được huy động, sử dụng để XD NTM của huyện … 52
4.4 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện…… 66
CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN, GIẢI PHÁP VÀ KIẾN NGHỊ……… 72
5.1 Tóm tắt kết quả nghiên cứu……… 72
5.2 Các hàm ý chính sách… ……… 74
5.3 Kết luận và kiến nghị……… 76
5.4 Hạn chế của nghiên cứu và đề xuất các nghiên cứu tiếp theo………78 Tài liệu tham khảo
Phụ lục 1: tóm tắt 19 tiêu chí nông thôn mới
Phụ lục 2: Kết quả thực hiện bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới của huyện Phụ lục 3: Kết quả các tiêu chí nông thôn mới của các xã đến năm 2018
Phụ lục 4: Bảng câu hỏi
Trang 6DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Diện tích tự nhiên của các xã, thị trấn thuộc huyện Lai Vung……42
Bảng 4.2 So sánh kết quả phát triển kinh tế - xã hội của huyện……… 45
Bảng 4.3 Kết quả thực hiện tiêu chí xã nông thôn mới của huyện………… 50
Bảng 4.4 Đánh giá của người dân về kết quả nông thôn mới……… 52
Bảng 4.5 Bảng tổng hợp huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính………54
Bảng 4.6 Đánh giá của người được phỏng vấn……… 58
Bảng 4.7 Kết quả khảo sát về vướng mắc trong sử dụng vốn……… 60
Bảng 4.8 Kết quả phỏng vấn chuyên gia……….62
Bảng 4.9 Đánh giá của nhóm chuyên gia……… 65
Bảng 4.10 Kết quả khảo sát về tiếp nhận thông tin nông thôn mới……… 66
Bảng 4.11 Thống kê về công tác tuyên truyền……… 67
Bảng 4.12 Nhu cầu nguồn lực tài chính……… 70
Trang 7DANH MỤC HÌNH
Hình 2.1 Thang đo về sự tham gia của người dân theo Sherry R Arnstein …28 Hình 2.2 Các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân……… 30 Hình 4.1 Bản đồ hành chính huyện Lai Vung……… 42 Hình 4.2 Kết quả khảo sát người dân tham gia bàn bạc và ra quyết định… 68
Trang 8
TÓM TẮT
Đề tài “Nghiên cứu việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và
sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai Vung giai đoạn 2011-2018” có mục tiêu:
Nghiên cứu thực tiễn những vấn đề liên quan đến việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Lai Vung đến năm 2020; Đánh giá thực trạng công tác huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cụ thể; Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương
Nghiên cứu của đề tài được thực hiện trên địa bàn 11 xã của huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (gồm các xã Hòa Long, Long Thắng, Long Hậu, Tân Thành, Tân Phước, Vĩnh Thới, Tân Hòa, Định Hòa, Phong Hòa, Hòa Thành và Tân Dương), trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2018
Qua nghiên cứu, tác giả đã xác định xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện còn những trục trặc như:
Nhu cầu nguồn lực đầu tư khá lớn, trong khi việc phân bổ nguồn vốn ngân sách hàng năm từ tỉnh và huyện rất hạn chế, việc huy động sức dân đang gặp nhiều khó khăn do đã liên tục huy động sự đóng góp trong 8 năm liền; Chính quyền chưa biết cách thuyết phục người dân để huy động họ đóng góp, vẫn còn tư tưởng làm thay cho dân, chạy theo thành tích, trông chờ vào sự hỗ trợ của nhà nước; Một số tiêu chí địa phương chưa đủ khả năng thực hiện được
mà phải nhờ sự hỗ trợ của cấp trên như tiêu chí 5 về trường học, tiêu chí 6 về
cơ sở vật chất văn hoá; Mô hình sản xuất được tập trung xây dựng, nhưng việc
tổ chức triển khai nhân rộng chỉ mới dừng lại ở một nhóm nhỏ tham gia; Chính
quyền huyện chưa thường xuyên kiểm tra, hướng dẫn, giải quyết các vướng
Trang 9mắc khó khăn cho các xã Công tác chỉ đạo điều hành của chính quyền cấp xã còn hạn chế, lúng túng, năng lực làm chủ đầu tư công trình ở các xã điểm còn hạn chế, chưa nắm bắt, bao quát được nhiệm vụ của chủ đầu tư trong việc lập quy hoạch
Chủ đầu tư thiếu kiến thức về công tác lập quy hoạch, công tác phối hợp giữa chủ đầu tư và đơn vị tư vấn còn nhiều hạn chế, các xã hầu như “khoán trắng” cho đơn vị tư vấn; Việc công khai quy hoạch ở một số xã chưa chặt chẽ, chưa tuân thủ các bước lấy ý kiến nhân dân, việc công bố công khai trên các phương tiện thông tin đại chúng, bản vẽ quy hoạch chung còn chậm Công tác đánh giá hiện trạng trước khi lập quy hoạch chưa sát với thực tế Công tác xây dựng quy hoạch còn chậm, chất lượng quy hoạch của đơn vị tư vấn chưa đạt yêu cầu, quy hoạch rập khuôn, sao chép, thiếu tính khoa học và thực tiễn trong quy hoạch, đồ án quy hoạch coi nặng quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng, ít quan tâm đến quy hoạch phát triển sản xuất, mối liên kết vùng
Nguồn vốn của ngân sách huyện và nguồn vốn trung ương, tỉnh hỗ trợ có mục tiêu, vốn đóng góp của các nhà mạnh thường quân ngoài huyện
và vốn của người dân nơi thực hiện các công trình là nguồn lực tài chính được huy động, sử dụng để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Có một số nội dung trong các qui hoạch của huyện, xã về kinh tế - xã hội, về phát triển hạ tầng giao thông, về qui hoạch sử dụng đất, về xây dựng nông thôn mới có sự mâu thuẩn, chồng chéo, thiếu thống nhất với nhau
Trên cơ sở tổng hợp đánh giá kết quả đạt được, những mặt còn hạn chế
và nguyên nhân của nó tác giả đề xuất 9 giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân để góp phần đẩy nhanh tiến trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương
Trang 10Nhưng trong thực tế, quá trình huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới trong thời gian qua còn có những bất cập: ngân sách nhà nước cấp cho địa phương còn ít và chậm trong khi có quá nhiều công trình (cầu, đường, trường học, nhà văn hóa và các công trình phúc lợi khác) cần được xây dựng; ở một số nơi có tình trạng lãnh đạo và người dân địa phương có tư tưởng trông chờ vào nguồn ngân sách nhà nước nên thiếu tính chủ động; việc huy động nguồn lực từ các nguồn ngoài ngân sách nhà nước còn ít; nguồn tín dụng khó tiếp cận Những hạn chế này đã ảnh hưởng đến chất lượng, tiến độ xây dựng nông thôn mới của các địa phương
Huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp là một trong những địa phương đã và đang thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới từ
Trang 11năm 2011, đến nay cơ bản đạt được một số kết quả nhất định: Khu vực nông thôn ở nhiều nơi được đổi mới, văn minh hơn, cơ sở hạ tầng thiết yếu ở nông thôn được nâng cao, thu nhập và điều kiện sống của người dân ngày càng được nâng cao Nhưng với đặc thù là một huyện nông nghiệp còn nhiều khó khăn, việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính trên địa bàn huyện Lai Vung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đặt ra cho xây dựng nông thôn mới theo kế hoạch Vấn đề đặt ra ở đây có phải là do việc phân bổ, huy động và sử dụng nguồn lực tài chính chưa đồng đều giữa các địa bàn với nhau? Hay là do nguồn vốn đầu tư công còn ít, khả năng huy động sự đóng góp từ người dân tại chỗ chưa nhiều? Việc ban hành các chính sách, qui định về xây dựng nông thôn mới đã thật sự phù hợp với nhu cầu, mong muốn của nhân dân? Chính quyền các cấp xây dựng
đề án, kế hoạch về nông thôn mới đã thật sự sát với thực tiễn của từng địa phương? Và trong thực tế có hay không tình trạng một số địa phương chưa có sự quyết tâm cao, sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới từng lúc, từng nơi thiếu tự giác, thụ động, trông chờ? Để làm sáng tỏ các vấn đề trên, cần thiết phải nghiên cứu một cách có hệ thống để tìm ra những giải pháp tích cực, khả thi góp phần nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính và cải thiện sự tham gia của người dân trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Do đó, “nghiên cứu việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai
Vung giai đoạn 2011-2018” được chọn làm đề tài của luận văn nhằm tìm ra giải
pháp đẩy mạnh tiến độ và nâng cao chất lượng chương trình mục tiêu quốc gia
về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai Vung hiện nay và những năm
về sau
1.2 Mục tiêu nghiên cứu:
Nghiên cứu thực tiễn những vấn đề liên quan đến việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới tại huyện Lai Vung đến năm 2020; Đánh giá thực trạng công tác huy động, sử dụng các nguồn lực tài
Trang 12chính trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện, từ đó chỉ ra những kết quả đạt được, hạn chế và nguyên nhân cụ thể; Đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính để đẩy nhanh quá trình xây dựng nông thôn mới tại địa phương
Đồng thời, đề tài cũng nghiên cứu thực trạng về sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện Lai Vung Thông qua phân tích thực trạng sẽ đưa ra những kiến nghị giúp tăng cường sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới cho từng cấp chính quyền ở địa phương
1.3 Câu hỏi nghiên cứu
Đánh giá của người dân về xây dựng nông thôn mới của huyện Lai Vung như thế nào?
Những nguồn lực tài chính nào được huy động và sử dụng để thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai Vung?
Tại sao cần có sự tham gia của người dân trong thực hiện xây dựng nông thôn mới?
Làm thế nào để tăng khả năng huy động, sử dụng nguồn lực tài chính và cải thiện sự tham gia của người dân trên địa bàn vào quá trình xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới?
1.4 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các vấn đề lý thuyết và thực tiễn về huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính, sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng nông thôn mới của địa phương cấp huyện
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được thực hiện trên địa bàn 11 xã của huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp (gồm các xã Hòa Long, Long Thắng, Long Hậu, Tân
Trang 13Thành, Tân Phước, Vĩnh Thới, Tân Hòa, Định Hòa, Phong Hòa, Hòa Thành và Tân Dương), trong khoảng thời gian từ năm 2011 đến năm 2018
1.5 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài nghiên cứu
Phân tích làm sáng tỏ các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới, từ đó xác định được các yếu tố tác động cần thiết nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính, cải thiện sự tham gia của cộng đồng dân cư, đẩy mạnh vai trò chủ thể của người dân, huy động mạnh hơn nữa nội lực trong Nhân dân vào quá trình xây dựng nông thôn mới, làm cơ sở để
đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới tại địa phương hiện nay
1.6 Kết cấu luận văn
Chương một là phần giới thiệu chung, gồm trình bày lí do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, ý nghĩa ngiên cứu và kết cấu luận văn; Chương hai là phần lí luận và thực tiễn, trình bày một số vấn đề chung về nông thôn và việc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam, nghiên cứu về nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới, lí thuyết về sự tham gia của người dân, mối quan hệ giữa việc huy động, sử dụng nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới, kinh nghiệm về việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới của một số địa phương; Chương ba nói về phương pháp nghiên cứu, tập trung vào các phương pháp thu thập và xử lí số liệu và phương pháp phân tích; Chương bốn nêu thực trạng việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Lai Vung Chương này tập trung làm rõ các vấn đề về hiện trạng nông thôn của huyện trước khi triển khai xây dựng nông thôn mới, thực trạng xây dựng nông thôn mới của huyện giai đoạn 2011-2018, kết quả việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện giai đoạn
Trang 142011-2018, tình trạng nguồn lực tài chính còn thiếu và sự ảnh hưởng của người dân đối với việc xây dựng nông thôn mới của huyện, đồng thời đánh giá chung kết quả việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới Từ đó có sự phân tích các thành tựu, hạn chế và nguyên nhân trong việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và
sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới cũng như đưa ra dự báo các yếu tố tác động, ảnh hưởng đến việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới trong thời gian tới; Chương năm trình bày tóm tắt kết quả nghiên cứu, các giải pháp để nâng cao khả năng huy động, hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới tại huyện, kết luận và kiến nghị Đồng thời bài viết cũng trình bày về những hạn chế của nghiên cứu
và đề xuất hướng nghiên cứu tiếp theo
Trang 15CHƯƠNG 2
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Chương 2 trình bày những vấn đề về nông thôn và xây dựng nông thôn mới cùng việc phân tích các nguồn lực tài chính cũng như sự tham gia của người dân vào quá trình xây dựng nông thôn mới Phần này gồm các nội dung: (1) Một
số vấn đề chung về nông thôn và việc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam; (2) Nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới; (3) Sự tham gia của người dân; (4) Mối quan hệ giữa việc huy động, sử dụng nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới và (5) Kinh nghiệm về việc huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới của một số địa phương
2.1 Một số vấn đề chung về nông thôn và việc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam
2.1.1 Khái niệm về nông thôn và nông thôn mới
Trên thế giới hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau về nông thôn, theo
Từ điển Bách khoa Việt Nam (2002): “Nông thôn là phần lãnh thổ của một nước hay một đơn vị hành chính nằm ngoài lãnh thổ đô thị, có môi trường tự nhiên, hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống khác biệt với thành thị và dân cư chủ yếu làm nông nghiệp”; Theo thông tư số 54/2009/TT-BNNPTNT ngày 21/8/2009 của Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì: "Nông thôn là phần lãnh thổ không thuộc nội thành, nội thị các thành phố, thị xã, thị trấn được quản lý bởi cấp hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã"; Theo Nguyễn Mậu Thái (2015): “Nông thôn là vùng sinh sống của tập hợp cư dân, trong đó
có nhiều nông dân với sản xuất nông nghiệp chiếm tỷ trọng lớn”
Vậy, hiểu một cách chung nhất thì nông thôn là địa bàn sinh sống chủ yếu của người nông dân gắn với hoạt động sản xuất nông nghiệp là chính và
được quản lý bởi chính quyền cấp xã
Trang 16Về vai trò của nông thôn trong phát triển kinh tế - xã hội, theo Ngân hàng thế giới (1998) thì: “Phát triển nông thôn là một chiến lược nhằm cải thiện các điều kiện sống kinh tế và xã hội của một nhóm người cụ thể - người nghèo ở vùng nông thôn Nó giúp những người nghèo nhất trong những người dân sống
ở các vùng nông thôn được hưởng lợi ích từ sự phát triển” Theo Nguyễn Quế Hương (2013) thì “Phát triển nông thôn là một quá trình cải thiện có chủ ý một cách bền vững về kinh tế, xã hội, văn hóa và môi trường, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân nông thôn và có sự hỗ trợ tích cực của Nhà nước
và các tổ chức khác
Ở Việt Nam, về mặt chính sách, cho đến năm 2007, vẫn chưa có chính sách cụ thể đối với nông thôn Chính sách phát triển nông thôn nằm trong khuôn khổ chính sách nông nghiệp Khái niệm “phát triển nông thôn” xuất hiện trong lĩnh vực chính sách của Việt Nam sau năm 2007, khi nghị quyết số 26 - NQ/TƯ ngày 05/8/2008 hội nghị lần thứ bảy ban chấp hành trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có nêu “Nông thôn mới là khu vực nông thôn có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa” Lúc này khái niệm về “nông thôn mới” đã bắt xuất hiện và được Vũ Trọng Khải (2015) định nghĩa như sau:
“Nông thôn mới là tổng thể những đặc điểm, cấu trúc tạo thành một kiểu tổ chức nông thôn theo tiêu chí mới, đáp ứng yêu cầu mới đặt ra cho nông thôn trong điều kiện hiện nay, là kiểu nông thôn được xây dựng so với mô hình nông thôn
cũ ở tính tiên tiến về mọi mặt Nông thôn mới là nông thôn văn minh, hiện đại nhưng vẫn giữ nét đẹp của truyền thống Việt Nam”
Về tổng quan, nông thôn mới ở nước ta hiện nay gồm năm nội dung cơ bản: (1) Thứ nhất, đó là làng xã văn minh, sạch đẹp, có hạ tầng hiện đại; (2) Thứ
Trang 17hai, sản xuất phát triển bền vững theo hướng kinh tế hàng hóa; (3) Thứ ba, đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn ngày càng được nâng cao; (4) Thứ tư, bản sắc văn hóa dân tộc ở nông thôn được giữ gìn và phát triển; (5) Thứ năm, xã hội có an ninh tốt, được quản lý dân chủ Năm nội dung này được
cụ thể hóa bằng 19 tiêu chí nông thôn mới (phụ lục 1)
2.1.2 Những yêu cầu và nguyên tắc cần thiết để xây dựng nông thôn mới Yêu cầu khi xây dựng nông thôn mới
Theo Phạm Tất Thắng (2015), khi tiến hành xây dựng nông thôn mới cần thực hiện các yêu cầu sau:
Thứ nhất, xây dựng nông thôn mới phải đảm bảo phát triển nông thôn bền
vững, bao gồm tất cả các vấn đề gắn với đời sống của người dân và môi trường, không gian sống ở khu vực nông thôn: giáo dục, y tế, nhà cửa, dịch vụ công cộng và cơ sở vật chất, năng lực lãnh đạo, quản lý, bảo tồn phát huy giá trị di sản; các vấn đề phát triển kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững, hệ thống kết cấu hạ tầng hiện đại; bảo tồn các giá trị truyền thống; môi trường được gìn giữ và tái tạo
Thứ hai, xây dựng nông thôn mới gắn với các quy hoạch, kế hoạch, mục
tiêu phát triển kinh tế-xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh); có quy hoạch và chính sách đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch (trên cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các bộ chuyên ngành ban hành); Xây dựng nông thôn mới phải hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội và đây là nội dung trọng yếu của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của địa phương
Thứ ba, cần phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương
Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, các chính sách hỗ trợ và hướng dẫn Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở địa phương bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Trang 18Thứ tư, phải có sự kế thừa và lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc
gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai ở nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ đối với các lĩnh vực cần thiết; có chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
Như vậy, xây dựng nông thôn mới chính là thực hiện chương trình phát triển toàn diện, bền vững nông nghiệp, nông dân và nông thôn nhằm nâng cao đời sống người dân và ổn định xã hội Mục tiêu trọng tâm là nâng cao được đời sống dân cư tại cộng đồng và xây dựng một xã hội nông thôn năng động, văn hoá hiện đại nhưng vẫn bảo tồn được các giá trị văn hoá truyền thống, đồng thời,
ở đó môi trường được bảo vệ và ngày càng được tôn tạo
Các nguyên tắc khi xây dựng nông thôn mới
Nguyên tắc xây dựng nông thôn mới hướng tới thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia được quy định tại quyết định số 800/QĐ - TTg ngày 04/6/2010 của thủ tướng chính phủ về việc phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và quyết định số 1980/QĐ - TTg ngày 17/10/2016 của thủ tướng chính phủ về việc ban hành bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới giai đoạn
2016 – 2020 Theo đó, trong xây dựng nông thôn mới, cần đảm bảo 5 nguyên tắc sau:
Nguyên tắc thứ nhất, xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát
huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
Nguyên tắc thứ hai, phải được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép
chương trình mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn, có bổ sung dự án hỗ trợ
Trang 19đối với các lĩnh vực cần thiết; có cơ chế, chính sách khuyến khích mạnh mẽ đầu
tư của các thành phần kinh tế; huy động đóng góp của các tầng lớp dân cư
Nguyên tắc thứ ba, là được thực hiện gắn với các quy hoạch, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội, đảm bảo an ninh quốc phòng của mỗi địa phương (xã, huyện, tỉnh), có quy hoạch và cơ chế đảm bảo cho phát triển theo quy hoạch trên
cơ sở các tiêu chuẩn kinh tế, kỹ thuật do các bộ chuyên ngành ban hành
Nguyên tắc thứ tư, công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn
lực, phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình,
dự án của Chương trình xây dựng nông thôn mới; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng, thực hiện dân chủ cơ sở ngay từ quá trình lập kế hoạch,
tổ chức, thực hiện và giám sát, đánh giá
Nguyên tắc thứ năm, xây dựng nông thôn mới là nhiệm vụ của cả hệ
thống chính trị và toàn xã hội; cấp ủy đảng, chính quyền đóng vai trò chỉ đạo, điều hành quá trình xây dựng quy hoạch, đề án, kế hoạch và tổ chức thực hiện Mặt trận tổ quốc và các tổ chức chính trị, xã hội vận động mọi tầng lớp nhân dân phát huy vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới
Như vậy, căn cứ theo những yêu cầu và nguyên tắc về xây dựng nông
thôn mới, chúng ta xác định được nội dung xây dựng nông thôn mới, đó là: (1)
Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp nông thôn, tổ chức lại sản xuất và xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp; (2) Tăng cường đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn Về cơ bản, xây dựng và phát triển kết cấu hạ tầng là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa
Đó cũng là yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh, mạnh
và bền vững Xuất phát từ thực trạng kinh tế của nước ta cũng như yêu cầu đẩy mạnh sự nghiệp công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước trong thời kỳ mới, đòi hỏi phải không ngừng phát triển kết cấu hạ tầng, nhất là kết cấu hạ tầng nông thôn làm yếu tố cơ bản cho sự phát triển nhanh và bền vững; (3) Cần khuyến khích hơn nữa các thành phần kinh tế, tổ chức, cá nhân tham gia đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng nông thôn Đổi mới cơ chế, chính sách để
Trang 20huy động mạnh nguồn lực đất đai vào phát triển hạ tầng Có chính sách phù hợp thu hồi đất, đấu giá quyền sử dụng đất để tạo vốn hỗ trợ cho xây dựng công trình
hạ tầng Mở rộng hình thức Nhà nước và nhân dân cùng làm theo hướng Nhà nước đầu tư vốn, người dân đóng góp thêm vốn hoặc nhân công Khuyến khích, vinh danh các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước có nhiều đóng góp cho xây dựng kết cấu hạ tầng ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; (4) Quản lý các vấn
đề xã hội, an ninh và trật tự khu vực nông thôn trên các lĩnh vực: phát triển giáo dục và đào tạo theo hướng nâng cao chất lượng toàn diện, chú trọng công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, thực hiện các tiêu chí về văn hóa xã hội, đảm bảo vệ sinh môi trường, xây dựng môi trường nông thôn ổn định về chính trị, an toàn về trật tự xã hội, tạo thuận lợi cho kinh tế
- xã hội địa phương phát triển ổn định; (5) Huy động các nguồn lực cho xây dựng nông thôn mới là một trong những nội dung quan trọng của công tác quản
lý, qua đó nhằm huy động nguồn lực vật chất, tài chính và cả nguồn lực về tinh thần toàn xã hội để xây dựng nông thôn mới, tạo bước chuyển biến đáng kể về
cơ sở hạ tầng kinh tế xã hội, không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của cư dân nông thôn
2.2 Nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới
2.2.1 Khái niệm về nguồn lực tài chính
Để phát triển kinh tế xã hội của địa phương cần có cả nguồn nhân lực và nguồn lực tài chính Trong hai yếu tố nguồn lực đó, nguồn lực tài chính là yếu
tố quan trọng, không thể thiếu và có tính quyết định cho việc thực hiện mục tiêu phát triển kinh tế - xã hội Vì mọi hoạt động đều dựa trên nguồn tài chính
Có nhiều khái niệm khác nhau về nguồn lực tài chính Chẳng hạn theo Trần Thị Tố Linh (2013): “Nguồn lực tài chính được hiểu là các nguồn tiền tệ hoặc tài sản có thể nhanh chóng chuyển thành tiền trong nền kinh tế, có thể huy động để hình thành nên các quỹ tiền tệ phục vụ mục tiêu phát triển kinh tế-
xã hội của đất nước”; Nguyễn Ngọc Hùng (2006) thì có quan điểm: “nguồn lực
Trang 21tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể kinh tế có thể khai thác, sử dụng dựa trên các quan hệ tài chính, nhằm thực hiện các mục đích nhất định”
Như vậy, nguồn lực tài chính hiểu theo nghĩa rộng bao gồm toàn bộ của cải vật chất do lao động của con người sáng tạo ra được tích lũy lại trong một thời kỳ nhất định Nếu hiểu theo nghĩa hẹp là biểu hiện bằng tiền của các nguồn lực của mỗi tổ chức và cá nhân Nguồn lực tài chính là khả năng tài chính mà các chủ thể trong xã hội có thể khai thác, sử dụng nhằm thực hiện các mục đích của mình, nó có thể tồn tại dưới dạng tiền hoặc tài sản vật chất và phi vật chất
Với cách tiếp cận trên, trong luận văn này, nguồn lực tài chính để xây dựng nông thôn mới bao gồm cả tiền tệ, các nguồn vật lực và các tài sản khác
được quy đổi thành tiền để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
2.2.2 Vai trò, đặc điểm nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực tài chính là cơ sở để đầu tư cho hoạt động sản xuất, đời sống, giáo dục, y tế, giải quyết việc làm, bảo vệ môi trường, xây dựng kết cấu hạ tầng, từ đó nâng cao chất lượng mọi mặt cuộc sống nhân dân
Theo nội dung quyết định số 800/QĐ-TTg ngày 04/6/2010 của thủ tướng chính phủ phê duyệt chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 thì nguồn vốn ngân sách chiếm tỷ trọng lớn nhất, khoảng 40% tổng nguồn vốn thực hiện chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới, tiếp đến là vốn tín dụng (khoảng 30%), vốn từ các doanh nghiệp và các tổ chức kinh tế khác (khoảng 20%) và huy động đóng góp của cộng đồng dân cư (khoảng 10%) Từ yêu cầu trên đòi hỏi trong quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới phải có cơ chế huy động được thực hiện theo hướng đa dạng hóa các nguồn vốn, thông qua: lồng ghép các nguồn vốn của các chương trình mục tiêu quốc gia, các chương trình, dự án hỗ trợ có mục tiêu trên địa bàn; huy động tối đa nguồn lực của địa phương, kêu gọi sự đóng góp của nhân dân; các khoản viện trợ không hoàn lại của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân trong
Trang 22và ngoài nước cho các dự án đầu tư; các nguồn vốn tín dụng; các nguồn vốn hợp pháp khác
Vấn đề huy động và quản lý các nguồn lực đầu tư xây dựng nông thôn mới cần đảm bảo tính cân đối phù hợp, tính hiệu quả trong huy động nguồn lực nói riêng và thu ngân sách ở địa phương nói chung Vai trò của nhà nước ở đây
là tạo lập, huy động mọi nguồn vốn đầu tư, mở rộng hệ thống quỹ tín dụng để phát triển nông nghiệp, nông thôn, xây dựng các quỹ phòng chống thiên tai, quỹ xóa đói giảm nghèo để thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, đáp ứng các tiêu chí của bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới
Trong điều kiện còn nhiều khó khăn, để huy động tối đa nguồn lực cho chương trình, các địa phương cần tranh thủ sự giúp đỡ của các cấp, các ngành,
sự đóng góp của tổ chức, cá nhân, các nguồn vốn trong và ngoài nước; lồng ghép các chương trình dự án; phát huy nội lực bằng các biện pháp như: tăng thu
từ đất, đấu giá quyền sử dụng đất; có giải pháp khuyến khích nhân dân cùng tham gia đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội theo phương châm
“Nhà nước và nhân dân cùng làm”, trong đó xác định rõ cơ chế huy động vốn của các thành phần cùng tham gia, đặc biệt là phát huy nguồn lực tại chỗ, vận động nhân dân hiến kế, tham gia góp đất, góp công, góp kinh phí đầu tư xây dựng hạ tầng nông thôn mới Quan tâm thu hút sự hỗ trợ nguồn lực từ bên ngoài thông qua việc xây dựng, công khai kế hoạch về các dự án cụ thể theo từng năm
để kêu gọi đầu tư, góp phần tạo nguồn lực mạnh mẽ cho xây dựng nông thôn mới
Bên cạnh đó, mục tiêu cốt lõi của chương trình xây dựng nông thôn mới
là tái cơ cấu sản xuất, tăng thu nhập cho người nông dân Sản xuất nông nghiệp theo hướng hàng hóa, các ngành nghề truyền thống được đầu tư; thúc đẩy phát triển kinh tế nông thôn dựa trên tiềm năng, năng lực sẵn có Các ngành nghề thuộc lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn cũng có điều kiện mở rộng, phát triển tại các vùng nhằm tận dụng các nguồn lực tại chỗ như nguyên liệu, nhân công và đất đai Để thực hiện điều đó, một trong những điều kiện cần thiết
Trang 23phải có nguồn lực tài chính Đó là các vốn góp của các bên tham gia sản xuất kinh doanh, sự tài trợ vốn thông qua kênh tín dụng, sự hỗ trợ của ngân sách nhà nước thông qua các chính sách ưu đãi về phát triển nông nghiệp và nông thôn
Theo Tổng cục thống kê (2012, 2018), kết quả điều tra lao động, việc quý
II năm 2018 cho thấy hiện nay tỷ trọng lao động làm việc trong khu vực nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản của nước ta tiếp tục giảm, quý 2 năm 2018 tỷ lệ này là 38,21% so với 38,56% ở quý 1 năm 2018, 40,44% ở quý 2 năm 2017 và lực lượng lao động từ 15 tuổi trở lên đã qua đào tạo có bằng, chứng chỉ từ 3 tháng trở lên quý 2 năm 2018 là 12,04 triệu (báo cáo thống kê, quí II/2018) Muốn phát triển kinh tế nông thôn bền vững thì phải dựa vào nguồn nhân lực của địa phương Vì vậy, đòi hỏi phải đào tạo lao động nông thôn thông qua các chương trình đào tạo thiết thực, đáp ứng được nhu cầu thị trường lao động trong
và ngoài nước, đào tạo nghề cho lao động nông thôn theo đơn đặt hàng của doanh nghiệp, theo yêu cầu của chương trình đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài có thời hạn theo hợp đồng Nguồn lực tài chính để thực hiện vấn đề này thường được thực hiện theo chủ trương “xã hội hoá”, có sự chung tay của nhà nước, các doanh nghiệp và bản thân người lao động Đồng thời, khi kinh tế phát triển, người nông dân sẽ có nhu cầu nâng cao đời sống văn hoá tinh thần, thông qua các hoạt động về giáo dục, y tế, văn hoá, xã hội và các vấn đề khác Các hoạt động đó, vì thế, cũng sẽ được quan tâm đầu tư và phát triển
Như vậy, vai trò của nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới: (1) Là điều kiện cần thiết để đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn; (2) Nguồn lực tài chính cung cấp vốn cho phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất bằng nhiều hình thức khác nhau tùy vào dự án: cho vay với lãi suất ưu đãi thấp hơn ngân hàng thương mại, hỗ trợ vốn ban đầu; (3) Việc phân phối các nguồn lực tài chính là điều kiện khuyến khích, hỗ trợ tích cực cho chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng công nghiệp hóa – hiện đại hóa; (4) Nguồn lực tài chính góp phần quan trọng trong việc đào tạo nghề cho lao động nông thôn, phát triển văn hóa – xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân;
Trang 24(5) Nguồn lực tài chính là công cụ thúc đẩy nông thôn hội nhập kinh tế với các vùng miền của cả nước và hội nhập kinh tế quốc tế thông qua việc làm đường, xây cầu
Muốn xác định được nguồn lực nào là nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, cần xem xét trên các đặc điểm sau: (1) Nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới được huy động từ mọi đối tượng trong toàn xã hội Ban đầu có sự hỗ trợ từ nguồn ngân sách nhà nước, sau đó là có sự tham gia đóng góp của các doanh nghiệp, các tổ chức chính trị - xã hội, các tổ chức tín dụng, từ người dân và một số nguồn ngoài ngân sách khác; (2) Các nguồn lực tài chính huy động để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới được phân bổ và sử dụng một cách công khai, minh bạch, chi tiết, cụ thể cho từng nội dung thực hiện; (3)
Có sự tham gia của người dân trong việc xây dựng các phương án huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực tài chính cho thực hiện chương trình; (4) Khi thực hiện chương trình phải sử dụng lồng ghép nguồn lực với quá trình thực hiện các chương trình mục tiêu khác có triển khai trên địa bàn để nguồn lực được sử dụng, phát huy được hiệu quả tối đa, các chương trình lồng ghép gồm có chương trình nước sạch vệ sinh môi trường, y tế, giáo dục; (5) Kết quả sử dụng các nguồn lực tài chính thực hiện xây dựng nông thôn mới được đánh giá đầy đủ cả về mặt kinh tế và xã hội
2.2.3 Phân loại các nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới rất đa dạng Tùy xuất
xứ và mục đích sử dụng mà có thể phân loại các nguồn lực tài chính thành các loại khác nhau
Nếu phân loại nguồn lực tài chính theo nguồn huy động, thì có (1)
Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước Nguồn vốn ngân sách nhà nước đảm bảo cung cấp nguồn lực tài chính để xây dựng các hạng mục mang tính
“xương sống” của nông thôn mới; (2) Nguồn lực tài chính từ tín dụng, bao
gồm từ tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vay thương mại Đầu
Trang 25tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn mức độ rủi ro cao, tỷ suất sinh lời thấp hơn với lĩnh vực công nghiệp và dịch vụ Do đó, để thu hút nguồn tín dụng đầu
tư vào khu vực nông nghiệp, nông thôn cần phải có sự can thiệp hỗ trợ từ phía nhà nước thông qua chính sách ưu đãi đối với người đi vay và các tổ chức tín dụng thông qua ngân hàng chính sách xã hội; (3) Nguồn lực tài chính từ các doanh nghiệp là nguồn vốn của các doanh nghiệp đầu tư trực tiếp xây dựng các công trình nông thôn mới có khả năng thu hồi vốn theo hình thức riêng lẻ hoặc
liên doanh, liên kết thông qua các hình thức BOT (xây dựng, chuyển giao và kinh doanh; Build- Transfer- Operate), BT (xây dựng, chuyển giao; Build Transfer), PPP (đối tác công tư; Public Private Partnerships) hoặc đầu tư toàn
bộ 100% vốn Ngoài ra, các doanh nghiệp còn có thể hỗ trợ đóng góp cho xây
dựng các công trình cụ thể của địa phương Huy động hiệu quả nguồn vốn này
sẽ có tác động to lớn đến phát triển kinh tế; (4) Nguồn lực tài chính từ cộng đồng dân cư gồm các khoản đóng góp theo nguyên tắc tự nguyện của nhân dân
ở các địa phương cho từng dự án cụ thể và các ủng hộ, đóng góp của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước, đồng thời, người dân đóng góp cho chương trình với tư cách là chủ thể của chương trình, vừa là người tổ chức thực hiện vừa là người thụ hưởng kết quả của chương trình Họ có thể tự đầu tư bằng cách nâng cấp nhà cửa hoặc tự nguyện đóng góp bằng nhiều hình thức cho chương trình xây dựng nông thôn mới như: tiền, góp công và hiến đất
Nếu phân loại nguồn lực tài chính theo xuất xứ: (1) Nguồn lực tài chính
trong nước bao gồm nguồn lực từ khu vực nhà nước và nguồn lực từ khu vực
tư nhân Nguồn lực tài chính từ khu vực nhà nước gồm: nguồn vốn đầu tư từ ngân sách nhà nước, từ các doanh nghiệp nhà nước, từ các tổ chức tài chính trung gian của nhà nước Nguồn lực tài chính từ khu vực tư nhân gồm: nguồn lực từ các doanh nhiệp tư nhân, của các tổ chức tín dụng từ khu vực tư nhân, nguồn vốn tiết kiệm của các hộ gia đình, cá nhân; (2) Nguồn lực tài chính từ nước ngoài gồm: nguồn vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), nguồn vốn
Trang 26đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), nguồn vốn từ các tổ chức phi chính phủ (NGO), nguồn vốn từ cá nhân người nước ngoài
Bài viết phân loại nguồn lực tài chính xây dựng nông thôn mới thành 2 nguồn, đó là: (1) Nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước, bao gồm các khoản đầu tư từ ngân sách nhà nước trung ương và ngân sách địa phương (ngân sách tỉnh, ngân sách huyện, ngân sách xã); (2) Nguồn lực tài chính ngoài ngân sách nhà nước, gồm nguồn vốn tín dụng, nguồn vốn đầu tư của các doanh nghiệp tư nhân trên địa bàn và nguồn đóng góp của dân hay các nguồn
2.2.4 Nguyên tắc huy động nguồn lực tài chính xây dựng nông thôn mới
Theo Hoàng Ngọc Hà (2018) huy động nguồn lực tài chính để thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới cần đảm bảo các nguyên tắc: (1) Phải xây dựng kế hoạch huy động nguồn lực tài chính để thực hiện chương trình mang tính lâu dài để phát triển kinh tế- xã hội của một địa phương; (2) Huy động nguồn lực tài chính để xây dựng nông thôn mới phải gắn với mục tiêu phát triển kinh tế- xã hội ở mỗi địa phương và mục tiêu chung của vùng và cả nước; (3) Huy động tối đa nguồn lực từ địa phương (ngân sách địa phương, các nguồn tín dụng và đầu tư của doanh nghiệp ở địa phương, từ đóng góp của người dân); (4) Thực hiện lồng ghép các nguồn vốn từ các chương trình đang thực hiện ở các địa phương để thực hiện để sử dụng hiệu quả và tiết kiệm nhất
Trang 27các nguồn; (5) Đa dạng hóa hình thức huy động, chẳng hạn như ngày công lao động
2.2.5 Kế hoạch huy động và sử dụng nguồn lực tài chính xây dựng nông thôn mới
Kế hoạch huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới thực chất là lập dự toán ngân sách, là công việc khởi đầu có ý nghĩa quyết định đến toàn bộ các khâu của chu trình quản lý các nguồn lực tài chính
Mục tiêu của lập kế hoạch huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới nhằm: (1) đảm bảo nguồn ngân sách để thực
hiện kế hoạch; (2) Phân bổ các nguồn lực tài chính phù hợp với các chính sách của nhà nước trong từng giai đoạn; (3) Hỗ trợ cho việc thanh, quyết toán ngân sách
Đề án xây dựng nông thôn mới là bản “kế hoạch về mục tiêu, giải pháp, thời gian hoàn thành 19 tiêu chí để đạt xã nông thôn mới, đề án này xác định tổng các nguồn lực tài chính cần thiết cho toàn bộ công việc để thực hiện đạt
19 tiêu chí và nhu cầu nguồn lực tài chính cụ thể cho từng giai đoạn, từng năm, bao gồm: nguồn lực tài chính từ ngân sách hỗ trợ theo các chính sách hiện hành; nguồn lực tài chính từ tín dụng; nguồn lực tài chính từ các hộ kinh doanh
và sản xuất trên địa bàn; đóng góp của dân cư; các nguồn tài trợ khác”
Do đó, việc lập kế hoạch huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng cho xây dựng nông thôn mới ở mỗi cấp chính quyền sẽ có sự khác nhau do bị chi phối bởi thẩm quyền được giao Cụ thể, trên cơ sở các đề án và quy hoạch nông thôn mới cấp xã được phê duyệt, ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp, xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới cấp huyện trình ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt, làm căn cứ phân bổ vốn Ủy ban nhân dân tỉnh trên
cơ sở các đề án xây dựng nông thôn mới cấp huyện, xây dựng đề án xây dựng nông thôn mới cấp tỉnh trình ban chỉ đạo trung ương phê duyệt
Trang 28Về cách thức xây dựng kế hoạch huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính trong xây dựng nông thôn mới là:
- Ban quản lí xã tổ chức tham vấn cộng đồng để xây dựng kế hoạch các nguồn lực tài chính Căn cứ vào qui hoạch và đề án xây dựng nông thôn mới, ban quản lí xã phối hợp trưởng ấp tổ chức họp dân, thông báo nội dung, các bên thụ hưởng, mức vốn hỗ trợ, các thông tin thị trường, định hướng phát triển kinh tế - xã hội của xã để các hộ và tổ chức lựa chọn các lĩnh vực cần phát triển và các nội dung cần hỗ trợ Trên cơ sở tổng hợp công việc xây dựng nông thôn mới trên địa bàn xã, ban quản lí xã lập kế hoạch chi tiết về huy động và
sử dụng các nguồn lực tài chính kèm theo và kế hoạch xây dựng nông thôn mới hàng năm và 5 năm báo cáo ủy ban nhân dân xã để trình ủy ban nhân dân cấp huyện phê duyệt”
- Ủy ban nhân dân cấp huyện tổng hợp kế hoạch hàng năm, 5 năm của các xã, tổ chức thẩm định, phê duyệt và báo cáo ủy ban nhân dân cấp tỉnh Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hàng năm, căn cứ nguồn vốn trung ương giao và nguồn vốn địa phương, phân bổ vốn cho các huyện, xã Ban quản lí xã căn cứ vào nguồn vốn ngân sách nhà nước hỗ trợ hàng năm và các nguồn vốn (vốn tín dụng, vốn doanh nghiệp, đóng góp của cộng đồng dân cư) khác để tổ chức triển khai thực hiện kế hoạch huy động, sử dụng các nguồn lực tài chính và thực hiện kế hoạch xây dựng nông thôn mới theo thứ tự ưu tiên
Bảng 2.1 Nguồn lực tài chính thay đổi theo giai đoạn
Giai đoạn 2011-2015 Giai đoạn 2016-2020
Vốn ngân sách (trung ương và địa
Vốn lồng ghép từ các chương trình hỗ trợ có mục tiêu; các dự
Trang 29Huy động đóng góp của cộng đồng dân cư (khoảng 10%)
Nguồn: Quyết định 1600/QĐ-TTg của thủ tướng chính phủ về phê duyệt chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016-2020, thủ tướng chính phủ ban hành ngày 16 tháng 8 năm 2016
Như vậy, vốn trực tiếp để thực hiện các nội dung của chương trình tăng
từ 17% lên 24% (tăng 5%); tăng nguồn vốn tín dụng từ 30% lên 45% (tăng 15%); giảm nguồn vốn từ các doanh nghiệp, hợp tác xã và các loại hình kinh tế khác từ 20% xuống còn khoảng 15%; giữ nguyên mức độ huy động nguồn lực tài chính từ sự đóng góp của cộng đồng dân cư 10%; bổ sung loại hình huy động nguồn lực tài chính từ vốn lồng ghép các chương trình hỗ trợ có mục tiêu; các dự án vốn ODA thực hiện trên địa bàn là 6%
Cấu trúc và tỷ lệ huy động nguồn lực tài chính thay đổi do: (1) Việt Nam hiện nay là một quốc gia có thu nhập trung bình, cho nên các viện trợ từ bên ngoài giảm; (2) có sự lồng ghép giữa các chương trình mục tiêu quốc gia
Các hình thức huy động gồm có: (1) Huy động nguồn lực tài chính từ ngân sách nhà nước; (2) Huy động nguồn lực tài chính từ tín dụng; (3) Huy động nguồn lực tài chính từ doanh nghiệp bằng các hình thức như đối tác công – tư PPP (Public – Private - Partnership), xây dựng, hoạt động và chuyển giao BOT (Build – Operate – Transfer), xây dựng, chuyển giao và hoạt động (BTO)
Trang 30(Build – Transfer – Operate), xây dựng và chuyển giao BT (Build – Transfer) Trong các hình thức đó, thì hình thức PPP làm giảm áp lực ngân sách; (4) Huy động nguồn lực tài chính từ cộng đồng dân cư (hiến đất, ngày công lao động, vật kiến trúc, tiền, kể cả ý tưởng trên cơ sở tự nguyện)
Sử dụng nguồn lực tài chính xây dựng nông thôn mới
Sử dụng nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới là việc sử dụng một cách hợp lý và có hiệu quả các quỹ đã huy động được trong xã hội để thực hiện các nội dung của chương trình Nói cách khác, chính
là dùng các nguồn lực đã huy động được để xây dựng cơ sở hạ tầng nông thôn, phát triển sản xuất để nâng cao đời sống cho người dân địa phương - là
chủ thể của chương trình xây dựng nông thôn mới
Nguồn lực tài chính được sử dụng như: (1) Xây dựng cơ sở hạ tầng
nông thôn gồm hệ thống giao thông, hệ thống thủy lợi, hệ thống điện, hệ thống thông tin – viễn thông, xây dựng chợ, hệ thống giáo dục - đào tạo, Y tế và chăm sóc sức khỏe dân cư và hệ thống cơ sở hạ tầng văn hóa; (2) Phát triển kinh tế và tổ chức sản xuất, chẳng hạn như cơ giới hoá và hiện đại hoá sản xuất, ứng dụng thành tựu của khoa học công nghệ trong sản xuất (canh tác, bảo quản và chế biến); (3) Phát triển văn hóa xã hội và môi trường không chỉ là nhà văn hóa, công trình phúc lợi công cộng, thể dục thể thao, vui chơi giải trí
và các hoạt động cộng đồng khác; (4) Nâng cao năng lực hệ thống chính trị qua việc cử người đại diện vào hệ thống chính trị công khai, minh bạch
Những yêu cầu khi sử dụng nguồn lực tài chính để thực hiện xây dựng nông thôn mới:
Thứ nhất, do có những nội dung mà ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ một
phần vì vậy các địa phương phải có sự chủ động thực hiện phương án huy động và sử dụng các nguồn vốn để đủ vốn đối ứng Khi phân bổ, sử dụng nguồn lực tài chính cần theo nguyên tắc: (1) Đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng vốn Phân bổ và sử dụng ngân sách
Trang 31nhà nước phải tuân theo quy định của luật ngân sách nhà nước, sử dụng vốn tín dụng phải theo đúng mục đích sử dụng vốn theo hợp đồng đã ký kết; (2) Phân bổ và sử dụng nguồn lực tài chính phải nằm trong kế hoạch đã được phê duyệt, không phân bổ tràn lan, dàn trải và phải phù hợp với nguyện vọng của người dân; (3) Chỉ quyết định phê duyệt các dự án đầu tư khi đã xác định rõ nguồn thực hiện, đảm bảo có đủ vốn để thực hiện; (4) Thường xuyên tổ chức thanh tra, kiểm tra việc sử dụng vốn ở các địa phương để đảm bảo vốn cấp được sử dụng đúng mục đích, hiệu quả, được sử dụng công khai và minh bạch, đúng chế độ (5) Thanh quyết toán vốn đúng, đủ theo qui định
Thứ hai, đối với nguồn ngân sách địa phương, các địa phương chủ động
sử dụng nguồn thu để xây dựng cho các công trình phúc lợi trên địa bàn xã theo quy định hiện hành Cấp tỉnh quy định tăng tỷ lệ vốn thu được từ đấu giá quyền sử dụng đất để giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất trên địa bàn xã để lại cho ngân sách xã thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới Trung ương hỗ trợ cho các địa phương tổng mức vốn và giao cho tỉnh quyết định phân bổ để làm căn cứ chỉ đạo, điều hành cụ thể Cơ chế quản lý tài chính và giám sát việc phân bổ, sử dụng các nguồn lực ở các cấp theo hướng tiếp tục hoàn thiện và thành lập bộ phận chuyên trách thuộc cơ quan giúp việc cho ban Chỉ đạo chương trình ở các cấp
2.2.6 Kiểm tra, giám sát việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới
Bao gồm: (1) Kiểm tra việc chấp hành các quy định về quản lý huy động
các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới Kiểm tra chỉ rõ các
nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới đã được huy động và ưu tiên
từ những nguồn nào, hỗ trợ bao nhiêu từ ngân sách nhà nước Trung ương và
địa phương, nguồn lực tài chính huy động từ người dân, các doanh nghiệp; (2)
Kiểm tra, đánh giá hiệu quả sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới và tình hình thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới
Trang 32Nội dung kiểm tra, đánh giá là: tình hình thực hiện các tiêu chí nông thôn mới,
tình hình giải ngân vốn và tình hình nợ đọng vốn xây dựng nông thôn mới
2.2.7 Chỉ tiêu đánh giá việc huy động và sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới
Đánh giá việc huy động và sử dụng nguồn lực tài chính thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới dựa vào: (1) Tính hợp lý, minh bạch trong sử dụng nguồn lực tài chính huy động được để thực hiện chương trình (theo đánh giá của các đối tượng khảo sát) Với các nguồn hỗ trợ từ ngân sách nhà nước sử dụng theo hướng dẫn của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, nhưng đối với các nguồn huy động từ các đối tượng bên ngoài cần phải công khai, minh bạch khi sử dụng để cộng đồng được biết Khi các đối tượng biết
rõ nguồn vốn họ đóng góp được sử dụng hợp lý, đúng mục đích, công khai, minh bạch sẽ tạo lòng tin để tiếp tục đóng góp trong giai đoạn sau; (2) Tiến độ thanh quyết toán các nguồn vốn thực hiện các công trình theo đánh giá định tính của các đối tượng khảo sát Việc thanh toán các nguồn thực hiện chương trình, đặc biệt là đối với nguồn từ ngân sách nhà nước sẽ thúc đẩy các công trình nhanh được đưa vào hoạt động, mang lại lợi ích kịp thời cho người dân
và các đối tượng khác, đặc biệt các công trình hạ tầng địa phương, từ đó tạo lòng tin với các đối tượng và thu hút được sự tham gia để thực hiện các công trình tiếp theo từ họ; (3) Số vốn bình quân sử dụng cho 1 tiêu chí đạt chuẩn Chỉ tiêu này có thể dùng để đánh giá, so sánh giữa các địa phương, giữa các năm ở một địa phương và là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá tính hiệu quả sử dụng, hiệu lực quản lý các nguồn lực tài chính trong thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới
Các chỉ tiêu đánh giá cụ thể:
Tỷ lệ nguồn lực tài chính huy động thực hiện so với kế hoạch, được xây dựng trên cơ sở dựa vào lịch sử huy động vốn qua các năm để khảo sát tính khả thi huy động vốn; dựa vào các chương trình và các dự án ở địa phương với số vốn mong muốn huy động
Trang 33Tỷ lệ nguồn lực tài chính huy động thực tế so với kế hoạch VHĐtt/VHĐkh; Trong đó, VHĐtt là nguồn lực tài chính huy động thực tế và VHĐkh là nguồn lực tài chính huy động theo kế hoạch; Ý nghĩa của chỉ tiêu này là cung cấp số liệu tổng thể về tỷ lệ nguồn lực tài chính huy động được so với kế hoạch, thông qua
đó, có thể có được thông tin khái quát về thực trạng huy động các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới
Tốc độ tăng trưởng nguồn lực tài chính huy động cho xây dựng nông thôn mới Cách tính chỉ tiêu này: ∆Vhđ = (VHĐn - VHĐn-1) / Vn-1 *100% Trong đó, ∆Vhđ là tốc độ tăng (giảm) nguồn lực tài chính huy động được; VHĐn là nguồn lực tài chính huy động được của năm thứ n; VHĐn-1 là nguồn lực tài chính huy động được của năm trước đó; Ý nghĩa của chỉ tiêu này là cung cấp thông tin cho việc phân tích, đánh giá tốc độ các nguồn lực tài chính huy động cho xây dựng nông thôn mới hàng năm, từ đó xác định xu hướng và kịp thời có những điều chỉnh hoặc đề xuất các giải pháp cần thiết
Tỷ lệ nguồn lực tài chính sử dụng thực tế so với kế hoạch Cách tính chỉ
tiêu này: VSDtt/VSDkh Trong đó, VSDtt là nguồn lực tài chính sử dụng thực tế, VSDkh là nguồn lực tài chính cần sử dụng theo kế hoạch; Ý nghĩa của chỉ tiêu
là cung cấp số liệu tổng thể về tỷ lệ nguồn lực tài chính được sử dụng trong một giai đoạn so với kế hoạch, thông qua đó, có thể có được thông tin khái quát về thực trạng sử dụng các nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới
Tốc độ tăng trưởng nguồn lực tài chính sử dụng cho xây dựng nông thôn mới Cách tính chỉ tiêu: ∆Vsd = (VSDn - VSDn-1) / Vn-1 *100% ∆Vsd.Trong đó,
∆Vsd là tốc độ tăng (giảm) nguồn lực tài chính sử dụng cho xây dựng nông thôn mới, VSDn là nguồn lực tài chính dược sử dụng vào năm thứ n, VSDn-1 là nguồn lực tài chính được sử dụng của năm trước đó Ý nghĩa của chỉ tiêu này là: cung cấp thông tin phục vụ việc phân tích, đánh giá tốc độ tăng hay giảm các nguồn lực tài chính sử dụng cho xây dựng nông thôn mới hàng năm, từ đó
Trang 34xác định xu hướng và kịp thời có những điều chỉnh hoặc đề xuất các giải pháp nếu cần thiết
Mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực tài chính Cách tính chỉ tiêu này là
M = VHĐtt/VNCnc (%) Trong đó, M là mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực tài chính trong một giai đoạn, VHĐtt là nguồn lực tài chính huy động được trên thực tế, VNCnc là nhu cầu nguồn lực tài chính trong giai đoạn; Ý nghĩa của chỉ tiêu: Chỉ tiêu này phản ánh mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực tài chính cho xây dựng nông thôn mới trong một giai đoạn nhất định Mức độ đáp ứng nhu cầu nguồn lực tài chính càng cao chứng tỏ việc huy động nguồn lực tài chính
càng đạt hiệu quả
2.3 Sự tham gia của người dân
2.3.1 Các nghiên cứu về sự tham gia của người dân
Một trong những yếu tố tác động ảnh hưởng đến hiệu quả của các chương trình, chính sách đó là phát huy vai trò tham gia của người dân vào quá trình xây dựng, ban hành, thực hiện các chủ trương, chính sách đó Quá trình tham gia của người dân sẽ làm tăng tính hiệu quả, tính khả thi của chính sách; góp phần giải quyết các xung đột giữa người dân và nhà nước, tránh được sự độc đoán của nhà nước khi đưa ra các chính sách; góp phần nâng cao nhận thức của người dân về quá trình chính sách và vai trò, trách nhiệm của họ đối với đời sống cộng đồng; góp phần thực hiện dân chủ một cách đầy đủ hơn Sự tham gia của người dân được tiếp cận với nhiều góc độ khác nhau tùy thuộc vào hoạt động, mức độ mà người dân tham gia
Theo André, Pierre (2012) cho rằng: “Sự tham gia của người dân là một quá trình mà trong đó những người dân thường tham gia trên cơ sở tự nguyện hoặc bắt buột và hành động một mình hoặc trong một nhóm với mục tiêu ảnh hưởng đến quyết định sẽ tác động đến cộng đồng của họ Sự tham gia này có thể diễn ra bên trong hoặc bên ngoài khuôn khổ thể chế và nó có thể được tổ chức bởi thành viên của các tổ chức xã hội hay người ra quyết định” Đồng thời
Trang 35André, Pierre đã chia thành 6 cấp độ tham gia của người dân gồm: (1) Tham gia thụ động (Passive participation) là làm theo chỉ định; (2) Tham gia thông qua việc cung cấp thông tin (Participation as contributors) tức là trả lời các câu hỏi điều tra của các nhà nghiên cứu; (3) Tham gia như nhà tư vấn (Participation as consultants) là người dân tham vấn và đưa ra ý kiến về các vấn đề tại địa phương; (4) Tham gia trong việc thực hiện (Participation in implementation) là thành lập nhóm để thực hiện các chương trình hay dự án tại địa phương, tuy nhiên ở cấp độ này họ vẫn không tham dự vào quá trình ra quyết định; (5) Tham gia trong quá trình ra quyết định (Participation in decision - making) là người dân chủ động tham gia vào các quá trình phân tích và lập kế hoạch và ra quyết định; (6) Tham gia tự huy động (Self-mobilization) là người dân tự thực hiện từ đầu mọi công việc, lên ý tưởng, lập kế hoạch, đánh giá và tất cả hoạt động này được thực hiện không có sự hỗ trợ hay định hướng từ bên ngoài
Một quan điểm khác thể hiện mức độ tham gia sâu hơn của người dân theo Heller, Price, Reinharz, và Wandersman (1984): “Sự tham gia của người dân được định nghĩa là quá trình mà các cá nhân được tham gia trong việc ra quyết định liên quan đến thể chế, các chương trình và môi trường có tác động đến đời sống người dân”
Theo Sherry Arnstein (1969) đã mô tả quá trình tham gia của người dân như là một chiếc thang với tám bước: (1) Sự vận động và (2) Liệu pháp: hai bước này chưa tạo ra sự tham gia, chỉ có mục đích đào tạo người tham gia Giả
sử kế hoạch kiến nghị là tốt nhất và phải giành được sự ủng hộ từ cộng đồng thông qua quan hệ công chúng; (3) Cung cấp thông tin, đây là bước quan trọng đầu tiên nhằm thúc đẩy sự tham gia nhưng thường thông tin chỉ mang tính một chiều mà không có phản hồi; (4) Tham vấn tức khảo sát thái độ, tổ chức các cuộc họp khu dân cư và tham khảo ý kiến cộng đồng, thường chỉ là những nghi thức; (5) Động viên, bầu những thành viên xứng đáng vào ủy ban; (6) Hợp tác, hay dàn xếp để phân phối lại quyền lực giữa công dân và nhà cầm quyền Cả hai đều phải có trách nhiệm trong lên kế hoạch và ra quyết định; (7) Ủy quyền, các
Trang 36công dân phải nắm giữ đa số các vị trí trong ủy ban và có quyền quyết định, quần chúng đã có thể chịu trách nhiệm; (8) Người dân quản lý, cộng đồng thực hiện toàn bộ công việc lập kế hoạch, hoạch định chính sách và quản lý một chương trình
Trong quan điểm của Arnstein thì hai bước đầu tiên trong cấc cấp độ tham gia của người dân vào quá trình chính sách là sự “vận động” và “liệu pháp”, biểu hiện cho mức độ “không tham gia” Mục tiêu chính của hai bước này không phải là hỗ trợ người dân tham gia vào việc lập kế hoạch hay triển khai chương trình, mà hỗ trợ những người nắm giữ quyền lực có thể thực hiện giáo dục hoặc tập huấn cho những người không có quyền lực Bước (3) và (4) biểu hiện cho sự tham gia một cách miễn cưỡng, cho phép người tham gia được đưa ra ý kiến và được lắng nghe Tuy nhiên, bản chất của hai cấp độ này là thông tin được truyền
đi một chiều, từ người nắm giữ quyền lực và chuyên gia đến người dân mà không có đường truyền ngược lại, đặc biệt khi thông tin được đưa ra ở những giai đoạn cuối của dự án thì người dân sẽ không có cơ hội tham gia và góp ý kiến cho việc lập kế hoạch và triển khai Bước (5) biểu hiện mức độ tham gia mà tại đó người dân được đưa ra lời khuyên và ý kiến nhưng quyền quyết định vẫn thuộc về chính quyền Hai mức thang tiếp theo biểu hiện sự tăng lên của quyền lực của người dân trong việc ra quyết định Theo đó, người dân có thể đi đến giai đoạn hợp tác, đàm phán, tranh luận và gắn kết vào các thỏa thuận với những người nắm giữ quyền lực Arnstein cũng cho rằng trên thực tế không có một cá nhân hay tổ chức nào có quyền lực kiểm soát một cách tuyệt đối nhưng trong bối cảnh tham gia của người dân thì người dân có quyền yêu cầu và đòi hỏi về mức
độ quyền lực kiểm soát, và nói chung người dân có quyền quản lý và có trách nhiệm với việc hoạch định và thi hành chính sách, và có thể tiến hành những đàm phán cần thiết
Hình 2.1 Thang đo về sự tham gia của người dân theo Sherry R Arnstein (1969), Nguồn: The Citizen’s handbook
Trang 37Nếu như Arnstein đánh giá quá trình tham gia của người dân thông qua mức độ trao quyền từ phía nhà quản lý thì Brager và cộng sự (1987) lại đánh giá
sự tham gia thông qua hành động trực tiếp của công dân Các tác giả đã đưa ra 7 bước tham gia theo thứ tự từ cao xuống thấp như sau: (1) Không tham gia, cộng đồng không có bất kỳ ý kiến nào; (2) Công dân nhận thông tin: nhà chức trách lập kế hoạch và công bố nó, sau đó cộng đồng được triệu tập chỉ với mục đích là tiếp nhận thông tin; (3) Công dân nhận được sự tư vấn: nhà chức trách cố gắng quảng bá một kế hoạch, tìm các cách để người dân chấp thuận bản kế hoạch này; (4) Công dân được đưa ra ý kiến: các nhà chức trách trình bày một bản kế hoạch sau đó chấp nhận chất vấn từ cộng đồng; (5) Kế hoạch phối hợp: các nhà chức trách trình bày kế hoạch dự kiến từ trước và để cho những người bị ảnh hưởng đưa ý kiến nếu muốn thay đổi kế hoạch; (6) Cộng đồng được ủy quyền: các nhà chức trách xác định và trình bày vấn đề với cộng đồng, sau đó yêu cầu cộng đồng thực hiện các quyết định có thể đã được trình bày trong một kế hoạch từ trước; (7) Cộng đồng có quyền kiểm soát: Cộng đồng xác định các vấn đề và
Trang 38thực hiện tất cả các quyết định quan trọng, còn các nhà chức trách có nhiệm vụ sẵn sàng giúp đỡ cộng đồng trong từng bước hoàn thành mục tiêu
Trong nghiên cứu sự tham gia của địa phương về các hoạt động phát triển
ở nông thôn Thái Lan, Antlov, H và các tác giả khác (2004) quan sát thấy sự tham gia của người dân là một quá trình, bao gồm 4 cấp độ tham gia, bao gồm: (1) đóng góp, (2) hưởng lợi, (3) liên quan đến ra quyết định và (4) đánh giá
Ở Việt Nam, trong nghiên cứu của Nguyễn Trung Kiên - Lê Ngọc Hùng
(2012)có một nhận định đáng chú ý rằng, các thuật ngữ như “tư vấn”, “giám sát”, “giám định”, đặc biệt là “phản biện xã hội” với sự tham gia đóng góp ý kiến của cá nhân, tổ chức đối với một vấn đề, chủ trương, chính sách nào đó của nhà nước ngày càng xuất hiện nhiều trong các văn bản pháp lý Đây cũng là một dạng tham gia của người dân
2.3.2 Sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới dựa vào việc huy động cộng đồng để tận dụng các nguồn lực địa phương được coi là một hình thức quan trọng để phát triển
vì cộng đồng hiểu rõ nhất về những khó khăn mà họ phải đối mặt để tìm ra những giải pháp cần thiết giải quyết những khó khăn này Sự sẵn lòng tham gia đóng góp của người dân cho chương trình xây dựng nông thôn mới chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như: khả năng tài chính, kết quả công tác tuyên
truyền vận động, tính công khai, minh bạch trong quá trình huy động
Dựa trên lý thuyết về sự tham gia, chúng ta thấy rằng, người dân cần được cung cấp đầy đủ thông tin để qua đó tham gia vào việc thảo luận, bàn bạc và đưa
ra quyết định cuối cùng về các chương trình, đề án trong chính sách xây dựng nông thôn mới được triển khai trong cộng đồng
Hình 2.2 Các yếu tố tác động đến sự tham gia của người dân
Trang 39(Nguồn của tác giả Phan Văn Tuấn, luận án tiến sĩ - Sự tham gia của người dân qua nghiên cứu chính sách xây dựng nông thôn mới- 2017)
Như vậy, theo các lý thuyết về sự tham gia của người dân thì người dân sẽ tham gia vào những hoạt động có tác động đến đời sống cộng đồng cũng như từng cá nhân, theo những hình thức và mức độ khác nhau Vì thế, khi xem xét các nội dung của chương trình xây dựng nông thôn mới, ta nhận thấy các nội dung này đều liên quan trực tiếp hay gián tiếp đến cộng đồng dân cư nông thôn nên đây là cơ sở để người dân xem xét có tham gia hay không tham gia vào các hoạt động xây dựng nông thôn mới Cụ thể hơn, trong quá trình xây dựng nông thôn mới, người dân là người thụ hưởng những thành quả trong xây dựng nông thôn mới nên chỉ có họ mới là người hiểu rõ nhất nhu cầu của mình Từ những nhu cầu đó, người dân biết cần phải làm gì, làm như thế nào để đạt được mục tiêu đề ra Khi người dân tham gia vào các hoạt động kiểm tra, giám sát và đánh giá các chương trình, đề án trong chính sách xây dựng nông thôn mới vừa thể hiện tinh thần trách nhiệm công dân, vừa có vai trò cảnh báo để ngăn chặn
Trang 40những hiện tượng tiêu cực Do đó, có thể nói sự tham gia của người dân như tất yếu khách quan trong xây dựng nông thôn mới hiện nay
Thực hiện các nội dung xây dựng nông thôn mới, cần chú ý đến tâm lí, tâm trạng, mong mỏi của người dân đang là vấn đề gì, cân nhắc, xem xét trình
độ dân trí của người dân, những hương ước, phong tục, tập quán của vùng miền, địa phương có phù hợp với nội dung thực hiện, điều kiện kinh tế, giới tính, độ tuổi, năng lực tổ chức, thực hiện của chính quyền, các qui định của thể chế đã đầy đủ, phù hợp, việc liên kết xã hội và mạng lưới xã hội của chính quyền và dân cư nơi đó có tốt hay chưa Tất cả những yếu tố này ảnh hưởng trực tiếp đến phương thức tham gia của người dân vào quá trình ra chính sách
Trong thực tế, việc người dân trực tiếp tham gia bàn và ra quyết định
về xây dựng nông thôn mới ở nước ta có lúc, có nơi chưa cao và còn bộc lộ nhiều hạn chế Nguyên nhân là do: (1) Người dân còn e ngại khi thực hiện quyền tham gia do đã quen với cách làm từ trên xuống, quen chấp hành mệnh lệnh, chưa thực sự quan tâm đến đời sống kinh tế, chính trị, xã hội của địa phương; (2) Chính quyền các cấp chưa có nhiều phương thức khuyến khích sự tham gia trực tiếp của người dân nên chưa thu hút được đông đảo người dân tham gia; (3) Trong quá trình lấy ý kiến góp ý chính sách xây dựng nông thôn mới, một số cuộc họp được tổ chức còn mang tính hình thức, mà không có báo cáo, đánh giá về chất lượng của thảo luận hay về thông tin được trao đổi trực tiếp của người dân trong các cuộc họp, người dân có thể có mặt nhưng sự có mặt
đó chỉ mang tính hình thức, thể hiện ở chỗ cán bộ “nói suông” về sự tham gia và cho phép người dân phát biểu nhưng không có hành động nối tiếp trên cơ sở những gì mà người dân đã kiến nghị
2.4 Mối quan hệ giữa việc huy động, sử dụng nguồn lực tài chính và sự tham gia của người dân trong xây dựng nông thôn mới
Để thực hiện các nội dung của chương trình xây dựng nông thôn mới cần phải có các nguồn lực, trong đó quan trọng nhất là nguồn lực tài chính Nếu người dân nhận thức được vai trò chủ thể của mình trong xây dựng nông