Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm góp phần cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng tại VQG của Nước Lào trên cơ sở cộng đồng người dân địa phương. Mời các bạn cùng tham khảo!
TỔNG QUAN VỀ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Khái niệm cơ bản
1.1.1 Khái niệm về cộng đồng
Cộng đồng là một nhóm người sống trong một môi trường có những điểm tương đối giống nhau, có những mối quan hệ nhất định với nhau
Cộng đồng trong khái niệm quản lý rừng cộng đồng (QLRCĐ), được giới hạn là tập hợp của các cá nhân trong một thôn bản gần rừng gắn bó chặt chẽ với nhau qua hoạt động sản xuất, sinh hoạt và đời sống văn hoá xã hội
Cộng đồng dân cư thôn là toàn bộ các hộ gia đình, cá nhân sống trong cùng một thôn, làng, bản, ấp, buôn, phum, sóc hoặc đơn vị tương đương (Luật bảo vệ và phát triển rừng, 2004)
Theo Tô Duy Hợp và cộng sự (2000) thì cộng đồng là một thực thể xã hội có cơ cấu tổ chức (chặt chẽ hoặc không chặt chẽ), là một nhóm người cùng chia sẻ và chịu ràng buộc bởi các đặc điểm và lợi ích chung được thiết lập thông qua tương tác và trao đổi giữa các thành viên
Cộng đồng là những công dân cư trú trong một khu vực địa lý nhất định hợp tác với nhau vì lợi ích chung hoặc chia sẻ những văn hóa chung Cộng đồng có 3 đặc trưng: cùng trong khu vực địa lý, hợp tác với nhau và chia sẻ những giá trị văn hóa chung (Vũ Thị Ngọc Phùng, 2005)
Hoskin (1994) cho rằng: “Sự tham gia là sự thực hiện trồng và quản lý rừng của Nam và Nữ trong cộng đồng với sự hỗ trợ bên ngoài cộng đồng”
FAO (1982) nhấn mạnh rằng sự tham gia của người dân là một quá trình mà qua đó người nghèo nông thôn có khả năng tự tổ chức và tham gia cùng các tổ chức cộng đồng, nhằm tăng cường quyền tự quyết và ảnh hưởng của họ đối với các quyết định phát triển ở địa phương Quá trình này thúc đẩy sự lắng nghe tiếng nói người dân trong các chương trình nông nghiệp và xã hội, từ đó góp phần cải thiện điều kiện sống, tăng cường năng lực địa phương và hướng tới phát triển nông thôn bền vững.
4 chính họ, có khả năng nhận hết nhu cầu của chính mình và tham gia trong thiết kế thực hiện và đánh giá các phương án tại địa phương”
Hội nghị FAO (1983) lại đưa ra khái niệm: “Sự tham gia của người dân như là sự hợp tác chặt chẽ của họ tới mức người”
Sự tham gia của cộng đồng là sự chia sẻ của cộng đồng đối với các hoạt động cụ thể trong việc xác định các mục tiêu, xác định nội dung cụ thể, triển khai tổ chức thực hiện, giám sát đánh giá và vận hành tài nguyên thiên nhiên
Quản lý rừng dựa vào cộng đồng là một mô hình quản lý rừng đang thu hút sự quan tâm ở cả cấp Trung ương và địa phương, nhấn mạnh sự tham gia trực tiếp của người dân và sự trao quyền quản lý cho cộng đồng địa phương Mô hình này kết hợp kiến thức địa phương với khung pháp lý và chính sách hiện hành để nâng cao hiệu quả bảo vệ rừng, tăng sinh kế và bảo tồn đa dạng sinh học Qua đó, người dân được tham gia quyết định về phân vùng, quản lý tài nguyên và chia sẻ lợi ích từ rừng, đồng thời tăng cường giám sát và trách nhiệm cộng đồng trong bảo vệ rừng Tuy có nhiều thành công, CBFM vẫn đối mặt với thách thức về cơ chế tài chính, tính bền vững của mô hình và sự phối hợp giữa các cấp quản lý; vì vậy cần sự liên kết chặt chẽ giữa nhà nước, cộng đồng và các tổ chức liên quan, cũng như đào tạo, đánh giá và nhân rộng mô hình phù hợp với từng địa phương Các bài học kinh nghiệm từ nhiều địa phương cho thấy CBFM có tiềm năng nâng cao hiệu quả quản lý rừng và sinh kế của người dân nếu được triển khai đồng bộ và có sự hỗ trợ liên tục.
Ngãi (2005) cho thấy rừng cộng đồng tồn tại từ lâu đời ở Việt Nam, gắn với sự sinh tồn và tín ngưỡng của các cộng đồng sống dựa vào rừng Trong vài năm gần đây, nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý rừng, một số địa phương đã giao đất, giao rừng cho cộng đồng làng bản, nhóm hộ quản lý và sử dụng ổn định, lâu dài cho mục đích lâm nghiệp, với vai trò của cộng đồng như một chủ rừng Bên cạnh đó, cộng đồng còn tham gia nhận khoán bảo vệ, khoanh nuôi tái sinh và trồng mới rừng cho các tổ chức Nhà nước Thực tiễn ở nhiều nơi cho thấy quản lý rừng dựa vào cộng đồng địa phương sống gần rừng là mô hình có tính khả thi về kinh tế - xã hội và phù hợp với tập quán sản xuất truyền thống của nhiều dân tộc ở Việt Nam.
Quản lý rừng cộng đồng đang trở thành một trong những phương thức quản lý rừng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới và tồn tại song song với các phương thức quản lý khác như quản lý rừng của hệ thống sản xuất kinh doanh lâm nghiệp nhà nước, quản lý rừng tư nhân Trong thực tiễn, có nhiều hình thái biểu hiện khác nhau, đa dạng và phong phú của phương thức quản lý rừng này càng khẳng định vai trò của quản lý rừng cộng đồng như rừng và đất rừng do cộng đồng tự công nhận và quản lý từ lâu đời; rừng và đất rừng sử
Trong lĩnh vực lâm nghiệp, các rừng và đất rừng được giao cho cộng đồng quản lý và sử dụng ổn định lâu dài để phục vụ mục tiêu lâm nghiệp do chính quyền địa phương quyết định; các rừng và đất rừng thuộc sở hữu của các tổ chức nhà nước có thể được khoán cho cộng đồng nhằm bảo vệ, khoanh nuôi và trồng mới theo hợp đồng khoán rừng; đối với hộ gia đình và cá nhân là thành viên, họ liên kết thành các nhóm hộ để quản lý rừng và đất rừng một cách tập thể, nhằm tăng sức mạnh bảo vệ, hỗ trợ và đổi công cho nhau trong các hoạt động lâm nghiệp.
1.1.2 Khái niệm về Vườn Quốc gia
VQG là khu rừng được thành lập để mục đích bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ tài nguyên động vật, thực vật, hệ sinh thái rừng và nguồn tài nguyên có giá trị khác, di tích lịch sử, văn hóa, du lịch, môi trường, giáo dục và nghiên cứu khoa học (Luật Lâm nghiệp Lào, 2007)
Theo định nghĩa của Liên minh Quốc tế Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên (IUCN, 1994) thì vườn quốc gia là: Khu vực tự nhiên của vùng đất và/hoặc vùng biển, được chọn để bảo vệ tình trạng nguyên vẹn sinh thái của một hay nhiều hệ sinh thái cho các thế hệ hiện tại và tương lai, loại bỏ việc khai thác hay chiếm giữ không thân thiện đối với các mục đích của việc chọn lựa khu vực và chuẩn bị cơ sở cho các cơ hội tinh thần, khoa học, giáo dục, giải trí và thăm quan, tất cả các cơ hội đó phải có tính tương thích về văn hóa và môi trường
Theo quyết định số 186/2006/QĐ-TTg ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ Việt Nam, thay thế cho Quyết định số 08/2001/QĐ-TTg ngày 11 tháng 01 năm 2001 về Quy chế quản lý rừng thì vườn quốc gia là một dạng rừng đặc dụng, được xác định trên các tiêu chí sau: Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh thái đặc trưng hoặc
6 đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp Vườn quốc gia được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái Vườn quốc gia được xác lập dựa trên các tiêu chí và chỉ số: về hệ sinh thái đặc trưng; các loài động vật, thực vật đặc hữu; về diện tích tự nhiên của vườn và tỷ lệ diện tích đất nông nghiệp, đất thổ cư so với diện tích tự nhiên của vườn
Quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của người dân
Trong nhiều thập kỷ qua, nhiều công trình nghiên cứu đã nỗ lực thay đổi chiến lược bảo tồn tài nguyên rừng và nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng Một chiến lược bảo tồn được hình thành và khẳng định tính ưu việt: liên kết quản lý Vườn Quốc gia (VQG) và Khu Bảo tồn (KBT) với các hoạt động sinh kế của người dân địa phương Chiến lược này nhấn mạnh sự tham gia bình đẳng của cộng đồng dựa trên nền tảng tôn trọng văn hóa địa phương trong quá trình xây dựng các quyết định.
Nhìn chung, các VQG đều được thiết lập vì mục đích chung của Quốc gia, ít nghĩ đến các nhu cầu và mong muốn của người dân địa phương (Đinh Đức Thuận, 2005) Phương thức quản lý của nhiều VQG chủ yếu bao gồm việc ngăn cấm người dân địa phương xâm nhập vào VQG và khai thác tài nguyên rừng Tại các nước Đông Nam Á, phương thức này tỏ ra không thích hợp vì để duy trì sự đa dạng sinh học thì người dân địa phương bị mất quyền tiếp cận với nguồn tài nguyên rừng, trong khi sự phụ thuộc của họ vào tài nguyên rừng là rất lớn
Các kết quả nghiên cứu trên thế giới đã khẳng định rằng để quản lý thành công cần dựa trên mô hình quản lý gắn bảo tồn đa dạng sinh học với bảo tồn văn hóa của người dân địa phương Tại VQG Kakadu (Australia), người dân địa phương chẳng những được sống với VQG một cách hợp pháp mà họ còn được thừa nhận là chủ hợp pháp của VQG và được tham giam quản lý thông qua các đại diện các đại diện của họ trong ban quản lý (Trần
Các tác giả Dorji, D.C Chavada, B Thinley và Wangchuks (2005) cho rằng rừng chủ yếu là nguồn cung cấp gỗ xây dựng và làm hàng rào, cung cấp củi, nơi chăn thả và chuông trại cho gia súc (Trần Ngọc Thể, 2009)
Chúng cũng cung cấp một phần lớn những yêu cầu về thức ăn gia súc, lợi tức, công ăn việc làm và đóng vai trò quan trọng trong việc bảo vệ đất và nước trên vùng đất dốc (FAO, 1996)
Theo Gadgil và VP Vartok năm 1976 trong tác phẩm: “Những lùm cây thiêng miền Tây dãy Ghats ở Ấn Độ” cho rằng người dân địa phương ở Ấn Độ đã bảo vệ được các đám rừng từ dưới 0,5 ha đến 10 ha dưới dạng lùm cây thiêng để thờ các vị thần của lùm cây Việc thờ cúng tại những lùm cây thiêng đó được hình thành từ các xã hội chuyên về săn bắn và hái lượm Việc lấy ra bất cứ sản phẩm nào đều bị cấm kỵ Với nạn phá rừng ngày càng tăng, những lùm cây đó đã trở thành những di sản còn lại của rừng tự nhiên và do đó đã trở nên quan trọng trong việc thu lượm một số sản phẩm như: Cây thuốc, lá rụng, gỗ khô…Việc khai thác gỗ đã bị cấm nhưng đôi khi vẫn xảy ra tình trạng khai thác gỗ trộm (FAO, 1996)
Những tác giả Apple Gate, G.B và Gilmour, D.A (1987) khi nghiên cứu kinh nghiệm tác nghiệp trong quản lý phát triển rừng ở vùng đồi Nêpan đã nhận thấy mối quan hệ giữa rừng và các hệ canh tác hỗn hợp ở trung du miền núi Họ cho rằng các hệ canh tác phụ thuộc nhiều vào rừng đang bị suy thoái nhanh Sự bền vững lâu dài của các hệ canh tác phụ thuộc vào việc gia tăng diện tích dưới bất cứ dạng che phủ thực vật nào.
Sự tham gia của người dân địa phương tại một số nước khu vực Đông Nam Á vào công tác bảo tồn đa dạng sinh học là một biện pháp cần thiết và thường có hiệu quả Nỗ lực của các cơ quan chính phủ nhằm đưa dân chúng ra khỏi VQG đã không mang lại kết quả như mong muốn trên cả phương diện quản lý TNR và kinh tế xã hội Việc đưa người dân vốn quen sống trên địa bàn của họ đến một nơi mới và khi đó lực lượng khác có thể xâm lấn và khai
9 thác TNR mà không có người bảo vệ Người dân địa phương có nhiều kiến thức cổ truyền về việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên và các thể chế cộng đồng đã tỏ ra có hiệu quả trong việc quản lý các nguồn tài nguyên này
Thái Lan được đánh giá cao trên khu vực và thế giới về thành tựu trong công tác bảo vệ rừng dựa trên cộng đồng thông qua các chương trình quản lý và bảo vệ rừng Ở đây, quyền sử dụng đất được xác lập qua các chương trình cấp đất cho nông dân, bao gồm đất nông nghiệp, đất ở và đất trồng rừng Người nông dân được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và có trách nhiệm quản lý đất, đồng thời không được chặt phá hoặc lạm dụng cây rừng Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp đã tăng cường an toàn đất đai cho người nhận đất Do đó, các biện pháp này đã tác động tích cực đến việc khuyến khích đầu tư và nâng cao sức sản xuất của đất.
Theo chiến lược quốc gia của Philippines về bảo tồn đa dạng sinh học, yếu tố then chốt cho thành công là đảm bảo các cộng đồng địa phương—những người ít bị ảnh hưởng nhất bởi mọi quyết định về chính sách liên quan đến môi trường—tham gia tích cực vào quá trình lập kế hoạch và quản lý bảo tồn Sự tham gia này tăng cường tính thực thi và hiệu quả của các biện pháp bảo tồn, đồng thời gắn kết lợi ích của người dân với mục tiêu bảo vệ hệ sinh thái và nguồn lực tự nhiên.
(Lê Sỹ Trung, 2005; Denr và TCSD, 1994)
Tác giả Peluso (1986) tại Indonesia, đã cho rằng “Các ảnh hưởng qua lại giữa đất và rừng của nhà nước như: Rừng sản xuất, rừng trồng, rừng tự nhiên điều đã được nghiên cứu Sản phẩm là những mặt hàng sinh lời được và khó quản lý đối với các cơ quan Lâm nghiệp nhưng nó có giá trị to lớn đối với người dân địa phương” Kế hoạch hành động đa dạng sinh học ở Indonesia cũng ghi nhận rằng: Việc tăng cường sự tham gia của công chúng, đặc biệt là cộng đồng sinh sống bên trong và phụ thuộc vào các vùng có tính đa dạng sinh học cao, là mục tiêu chính của kế hoạch hành động và là điều kiện tiên quyết đối với việc thực hiện kế hoạch (Lê Sỹ Trung, 2005; Bappenas, 1993)
Trong tài liệu giới thiệu nghiên cứu định hình chi tiết về Làng Ban Pong, tỉnh Sisaket, Thái Lan, Theo Bink Man W (1988) cho thấy các tầng lớp nghèo phải phụ thuộc vào rừng để chăn thả gia súc và khai thác lâm sản như củi đun và hoa quả trong rừng Đây là minh họa thiết yếu cho sự tham gia của người dân địa phương vào quá trình lập kế hoạch và thiết kế các dự án phát triển (FAO, 1996).
Năm 1980, Conklin, H.C Trong lập ATLAT, cung cấp một mô tả chi tiết về các mối tương quan giữa rừng, lương thực và nước, giữa những người xây dựng ruộng bậc thang làm lúa nước và những người làm canh tác nương rẫy
Việt Nam so với các nước trên thế giới và khu vực thì lịch sử thành lập các khu rừng đặc dụng tương đối sớm Từ những năm 1960, Nhà nước Việt Nam đã ban hành rất nhiều văn bản pháp qui, chỉ thị và chính sách liên quan đến bảo vệ rừng Từ những năm 1980, Chính phủ Việt Nam đã bắt đầu có những quan tâm đặc biệt tới phát triển và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường Nhiều văn bản pháp quy liên quan đến các VQG đã được ban hành, nhiều dự án, chuơng trình lớn được thực hiện đã tạo ra nền tảng để nâng cao nhận thức và các hoạt động bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam Tuy nhiên, sự hiểu biết về bảo tồn thiên nhiên nói chung và VQG nói riêng còn rất nhiều bất cập, nhất là đối với các cộng đồng sinh sống ở miền núi và vùng sâu vùng xa (Phạm Văn Dũng, 2011)
MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19 2.1 Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quan
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng tại các Vườn Quốc gia của Lào dựa trên sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương Các phát hiện cho thấy quản lý rừng gắn kết với sinh kế của người dân mang lại lợi ích lâu dài cho hệ sinh thái và nguồn lực rừng, từ đó hình thành các mô hình quản lý bền vững, thích ứng với điều kiện địa phương Đề xuất tập trung vào tăng cường quyền lợi và sự tham gia của cộng đồng, cải thiện hệ thống giám sát và chia sẻ dữ liệu, cũng như nâng cao năng lực cho người dân để nâng cao chất lượng quản lý và bảo vệ tài nguyên rừng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Chương 2 MỤC TIÊU, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở khoa học và thực tiễn để đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý tài nguyên rừng tại Vườn Quốc gia của nước Lào, dựa trên sự tham gia ý nghĩa của cộng đồng địa phương Nghiên cứu nhấn mạnh mối liên hệ giữa khoa học và thực tiễn trong quản trị rừng và cho thấy vai trò then chốt của cộng đồng địa phương trong bảo vệ và sử dụng rừng bền vững Các giải pháp đề xuất tập trung vào tăng cường giám sát tài nguyên rừng, cải thiện quản trị và chia sẻ lợi ích với người dân, nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế gắn với bảo tồn sinh học trong khu vực VQG của Lào.
2.1.2 Mục tiêu cụ thể Đề tài nghiên cứu nhằm đạt được mục tiêu như sau:
- Đánh giá thực trạng công tác quản lý tài nguyên rừng tại VQG Đông Ăm Pham
- Đánh giá vai trò của cộng đồng trong hoạt động quản lý tài nguyên rừng tại VQG Đông Ăm Pham
- Đề xuất giải pháp quản lý tài nguyên rừng bền vững tại VQG Đông Ăm Pham.
2.2 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
2.2.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các hoạt động quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng người dân địa phương nằm trong VQG Đông Ăm Pham, tỉnh Attapeu
Phạm vi không gian của đề tài được xác định bằng việc chọn bốn làng đại diện nằm trong VQG Đông Ăm Pham: Làng Phu Cưa, Làng Phu Nhang, Làng Nặm Suôn và Làng Sôm Boun Các làng này thuộc huyện Phu Vông, tỉnh Attapeu, CHDCND Lào.
Phạm vi nội dung của nghiên cứu tập trung phân tích các hoạt động quản lý tài nguyên rừng có sự tham gia của cộng đồng địa phương tại 4 làng đại diện, nhằm làm rõ cách thức tổ chức và vận hành của các tổ chức cộng đồng, vai trò của họ trong bảo vệ, khai thác và phục hồi rừng cũng như các cơ chế tham gia và phân chia quyền lực giữa cộng đồng và các bên liên quan Nghiên cứu xem xét đặc điểm nổi bật của từng tổ chức cộng đồng, như hình thức tổ chức, nguồn lực, mạng lưới liên kết và khả năng tự quản, đồng thời đánh giá các tác động của sự tham gia này đối với quản trị và bền vững tài nguyên rừng ở địa phương Kết quả mong đợi cung cấp hiểu biết sâu sắc về mối liên hệ giữa quản lý có sự tham gia của cộng đồng với chất lượng rừng, sinh kế của người dân và hiệu quả quản lý khu vực rừng, từ đó gợi ý các yếu tố chính sách và thực hành cần được hỗ trợ để tăng cường sự tham gia và quản trị tài nguyên rừng bền vững.
20 lý, bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, vai trò của người dân trong các hoạt động quản lý tài nguyên rừng, cơ hội và thách thức của cộng đồng tham gia quản lý tài nguyên rừng, những giải pháp chủ yếu khuyến khích và thúc đẩy cộng đồng tham gia vào công tác quản lý, bảo vệ và sử dụng tài nguyên rừng bền vững.
Nội dung nghiên cứu
2.3.1 Nghiên cứu đánh giá đặc điểm hiện trạng tài nguyên rừng và hoạt động quản lý tài nguyên rừng VQG Đông Ăm Pham
Trong nội dung này, một số nội dung cụ thể được tiến hành như sau:
Đặc điểm tài nguyên rừng: tài nguyên thực vật, động vật và tính đa dạng sinh học;
Thực trạng các hoạt động quản lý tài nguyên rừng tại VQG Đông Ăm Pham;
Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý nhà nước
Thực trạng hoạt động khai thác, sử dụng và phát triển quản lý tài nguyên rừng tại khu vực nghiên cứu;
2.3.2 Đánh giá vai trò tham gia của cộng đồng đối với công tác quản lý tài nguyên rừng tại VQG Đông Ăm Pham , tỉnh Attapeu
Vai trò của các tổ chức cộng đồng địa phương liên quan tới VQG Đông Ăm Pham;
Vai trò của người dân trong hoạt động quản lý VQG:
Trong việc Lập quy hoạch hoạt động quản lý VQG và chiến lược phát triển bền vững;
Trong hoạt hoạt động tuần tra bảo vệ rừng, xác định lãnh thổ biên giới lĩnh vực quản lý của từng địa phương;
Sự tham gia thực hiện Luật lệ, chính sách Nhà nước, thông tư, công văn về việc quản lý VQG;
Việc tuyên truyền vận động, luật pháp, chính sách Nhà nước, chia sẻ thông tin về tầm quan trọng việc quản lý VQG;
Trong hoạt động về sự khuyến khích du lịch sinh thái và bảo tồn tài nguyên rừng;
Hoạt động có sự tham gia về việc phát triển ngành du lịch địa phương tại làng quê của mình;
Tham gia trong việc quản lý loài động vật và thực vật rừng;
Tham gia trong việc phòng chống chữa cháy rừng;
Vai trò và ảnh hưởng của các tổ chức
2.3.3 Nghiên cứu c ơ hội và thách thức đối với sự tham gia của cộng đồng trong quản lý tài nguyên rừng tại VQG Đông Ăm Pham Để đánh giá cơ hội và thách thức trong quản lý tài nguyên rừng khu vực nghiên cứu, đề tài lựa chọn một số vấn đề ảnh hưởng đến sự tham gia của cộng đồng địa phương trong hoạt động quản lý tài nguyên rừng:
Sự thay đổi trong chính sách của Nhà nước
Sự thay đổi trong hình thái xã hội, dân số và lối sống
Các sự kiện của địa phương
Sự phân chia lợi ích giữa Ban ngành liên quan và cộng đồng địa phương
2.3.4 Đề xuất giải pháp nâng cao hiệu quả sự tham gia của cộng đồng để quản lý VQG Đông Ăm Pham
Phương pháp nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện dựa trên lý luận về quan điểm bảo tồn và phát triển, nhấn mạnh mối liên hệ giữa bảo tồn tài nguyên và nhu cầu phát triển địa phương Theo Gilmour và Nguyễn Văn Sản (1999), quan điểm này liên kết các mục tiêu bảo tồn với yêu cầu phát triển khu vực và được thể hiện qua ba thành phần chính (cách tiếp cận), nhằm tạo ra sự cân bằng bền vững giữa bảo tồn tài nguyên và phát triển địa phương.
Thứ nhất nếu nhu cầu phát triển cộng đồng tại địa phương đó có thể
22 được đáp ứng bởi các nguồn thay thế khác, thì ảnh hưởng của nó lên tài nguyên sẽ được giảm bớt và tài nguyên được bảo tồn: Cách tiếp cận có giải pháp thay thế sinh kế
Thứ hai nếu cộng đồng rất khó khăn về mặt kinh tế, không thể nào quan tâm đến việc bảo tồn vì những nhu cầu thiết yếu của cộng đồng vẫn còn chưa được đáp ứng thì trước hết cần phải nỗ lực cải thiện nền kinh tế - xã hội của họ đủ tốt để họ có thể quan tâm hơn đến việc bảo tồn tài nguyên: Cách tiếp cận phát triển kinh tế
Thứ ba là cộng đồng địa phương đó cũng đồng ý với việc bảo tồn tài nguyên thiên nhiên nếu như có thể được tham gia một cách tích cực vào việc quy hoạch và quản lý sử dụng tài nguyên và được chia sẽ lợi nhuận từ tài nguyên đó Theo cách này, tài nguyên có thể được bảo tồn trong khi một số nhu cầu cơ bản của người dân địa phương được đáp ứng thông qua việc sử dụng và khai thác tài nguyên một cách hợp lý và bền vững: Cách tiếp cận tham gia quy hoạch
2.4.2.1 Đánh giá đặc điểm hiện trạng và hoạt động quản lý tài nguyên rừng tại VQG
1) Đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng tại VQG Đông Ăm Pham Để đánh giá hiện trạng tài nguyên rừng tại VQG Đông Ăm Pham đề tài sử dụng một nhóm phương pháp, bao gồm việc kế thừa số liệu liên quan đến hiện trạng tài nguyên rừng tại VQG từ các nghiên cứu trước; cách tiếp cận đánh giá nhanh nông thôn RRA ( Rapid Rural Appraisal) Ngoài ra, đề tài sử dụng công cụ đánh giá nhanh có sự tham gia của người dân PRA
(Participatory Rural Appraisal) Cụ thể như sau:
Phương pháp kế thừa số liệu được sử dụng để tổng hợp và kế thừa nguồn dữ liệu từ các tài liệu trong nước và nước ngoài cũng như các tài liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ nhiều nguồn khác nhau như các báo cáo cấp tỉnh, cấp huyện, làng bản và các cơ sở dữ liệu liên quan Quá trình này giúp đảm bảo tính đầy đủ, nhất quán và đáng tin cậy của dữ liệu nghiên cứu bằng cách hệ thống hóa thông tin, đánh giá chất lượng nguồn, loại bỏ trùng lặp và chuẩn hóa các đơn vị đo lường; từ đó cung cấp cơ sở tham chiếu cho phân tích định lượng và định tính, đồng thời tối ưu hóa khả năng áp dụng và tăng tính khả thi của nghiên cứu.
Ban quản lý VQG Các tài liệu liên quan đến điểm nghiên cứu được thu thập tại địa phương gồm: Điều kiện tự nhiên, dân sinh, kinh tế xã hội tại 4 làng nghiên cứu; Báo cáo về công tác quản lý bảo vệ rừng, tình hình giao đất giao rừng;
Hệ thống chính sách về quản lý tài nguyên rừng VQG;
Những tài liệu liên quan được tổng hợp từ các nguồn đáng tin cậy như tài liệu hội thảo về phát triển Vườn Quốc gia (VQG), các báo cáo nghiên cứu về lâm nghiệp cộng đồng tại Lào, cùng với văn bản nghị định, thông tư và các luật pháp, chính sách của Nhà nước, mang lại cơ sở lý thuyết và bằng chứng thực tiễn cho chiến lược quản lý rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển bền vững; đồng thời trở thành tham khảo quan trọng cho quá trình tham vấn, hoạch định và thực thi chính sách ở cấp quốc gia và địa phương.
Liệt kê các số liệu thông tin cần thiết để có thể thu thập, hệ thống hóa theo nội dung hay địa điểm thu thập và dự kiến địa điểm cơ quan cung cấp thông tin;
Liên hệ với các cơ quan cung cấp thông tin;
Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp;
Kiểm tra tính thực tiễn của thông tin thông qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo
Ngoài ra, còn phải thu thập thông tin về hiện trạng diện tích rừng, diễn biến diện tích rừng theo thời gian Đặc điểm tính đa dạng sinh học và các vấn đề suy thoái tài nguyên khi có tác động của người dân địa phương
Thu thập thông tin, số liệu
Hình 2.1 Sơ đồ phương pháp thu thập và xử lý số liệu
Sử dụng công cụ đánh giá nhanh nông thôn RRA ( Rapid Rural Appraisal)
Trong công cụ này chúng ta áp dụng cụ thể như sau:
Xem xét dữ liệu phụ: Đề tài nghiên cứu tài liệu sẵn có liên quan đến VQG để tiết kiệm thời gian và tránh lập lại những gì đã có Những thông tin dữ liệu phụ là những số liệu đã hoặc chưa được công bố mà ta thu thập trước đó, thích hợp với chủ đề và mục tiêu của RRA Nghiên cứu, sau đó xem xét và tóm tắt nhanh số liệu dưới hình thức bảng đơn giản, biểu đồ, ghi chép ngắn ngọn và tìm ra những sai sót
Quan sát trực tiếp là việc theo dõi và ghi nhận trực quan các sự kiện, quá trình và mối quan hệ liên quan trong quá trình khảo sát Quá trình khảo sát gắn liền với việc đặt câu hỏi có mục tiêu và phân tích nguyên nhân của các vấn đề được khảo sát, từ đó hướng tới tìm kiếm các biện pháp khắc phục hiệu quả.
Thông tin ngoại nghiệp Thông tin nội nghiệp
Thư viện Văn phòng, phòng thí nghiệm
Bản QL, Ban ngành liên quan
Tổng hợp thông tin, số liệu
Xử lý thông tin, số liệu
Kết quả và đề xuất
Bản đồ Nghiên cứu thực địa
Phỏng vấn không chính thức là hình thức phỏng vấn thông qua trò chuyện, hỏi chuyện và không có chủ đích chọn mẫu trước Đôi khi đề tài được kết hợp với các chuyến thăm trang trại, đồng ruộng hoặc làng xóm, và không phân chia đối tượng phỏng vấn, tức là phỏng vấn cả nam, nữ, kể cả người già và trẻ em.
Những câu chuyện được kể chứa đựng những thông tin khó thể hiện trên biểu đồ, nhưng lại cho thấy rất rõ điều kiện sống của người nông dân, đặc biệt là những khó khăn và thuận lợi họ gặp phải hàng ngày Việc kết hợp nội dung kể chuyện với dữ liệu thống kê giúp độc giả có cái nhìn toàn diện về thực tế ở nông thôn và tăng tính thuyết phục của bài viết Những chi tiết đời sống thực tế bổ sung cho các bảng số liệu, làm rõ ảnh hưởng của khí hậu, thu nhập và cộng đồng lên chất lượng cuộc sống của người nông dân Đây là yếu tố hữu ích cho SEO khi bài viết tập trung vào các từ khóa liên quan đến điều kiện sống, khó khăn và thuận lợi của người nông dân.
Phương pháp lập biểu đồ: Đề tài sẽ trình bày thông tin qua biểu đồ về VQG, đất đai; Bản đồ về làng xóm, trang trại, vườn nhà; Bản đồ xã hội khu sinh sống trong mỗi làng