1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản việt nam

198 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản việt nam
Tác giả Phạm Quốc Quyết
Trường học nông nghiệp và phát triển nông thôn
Thể loại luận án tiến sĩ
Định dạng
Số trang 198
Dung lượng 1,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đối tượng, phạm vi nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam Phạm vi nghiên cứu Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu về SCT của

Trang 1

của riêng tác giả Các số liệu, kết quả trình bày trong luận án là trung thực, có nguồn gốc, xuất xứ rõ ràng, không trùng lặp với các công trình khoa học đã công bố.

TÁC GIẢ LUẬN ÁN

Phạm Quốc Quyết

Trang 2

Chữ viết đầy đủ

1 Công nghiệp hóa, hiện đại hóa CNH, HĐH

3

4 Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á ASEAN5

7

9

12 Nông nghiệp và Phát triển nông thôn NN&PTNT

14

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết 26

Chương 2 LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA

NÔNG SẢN VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

31

2.1 Một số vấn đề chung về hàng hóa nông sản và sức cạnh tranh của

2.2 Tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến sức cạnh

2.3 Kinh nghiệm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản

ở một số quốc gia và bài học rút ra cho Việt Nam 53

Chương 3 THỰC TRẠNG SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA

3.1 Ưu điểm và hạn chế về sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam 71 3.2 Nguyên nhân ưu điểm, hạn chế và một số vấn đề đặt ra cần

giải quyết nhằm nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông

Chương 4 QUAN ĐIỂM VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO SỨC CẠNH

TRANH CỦA HÀNG HÓA NÔNG SẢN VIỆT NAM

4.1 Quan điểm về nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt

4.2 Giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt

DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ ĐÃ CÔNG BỐ

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ HÌNH

01 Bảng 3.1 Chi phí sản xuất lúa ở Việt Nam so với Thái Lan từ

02 Bảng 3.2 Giá gạo xuất khẩu của các nước xuất khẩu gạo hàng

03 Bảng 3.3 So sánh chi phí sản xuất cà phê của Việt Nam với

04 Bảng 3.4 Giá cà phê xuất khẩu của các nước xuất khẩu cà phê

05 Bảng 3.5 So sánh chi phí sản xuất trung bình một số loại quả

06 Bảng 3.6 So sánh chi phí chăn nuôi lợn Việt Nam với một số

07 Bảng 3.7 So sánh giá thịt lợn hơi trung bình các tháng trong năm

2019 các khu vực trong nước của Việt Nam với Trung Quốc 83

08 Bảng 3.8 So sánh chi phí chăn nuôi gia cầm Việt Nam với một

09 Bảng 3.9 Diện tích, năng suất, sản lượng lúa sản xuất và sản

lượng gạo xuất khẩu Việt Nam từ năm 2011 - 2019 89

10 Bảng 3.10 Diện tích, năng suất, sản lượng sản xuất và sản

lượng xuất khẩu cà phê Việt Nam năm 2011 - 2019 91

11 Bảng 3.11 Kim ngạch và thị phần xuất khẩu rau quả Việt Nam

12 Bảng 3.12 Sản lượng sản xuất, sản lượng xuất khẩu, nhập

khẩu, thị phần thịt lợn hơi xuất khẩu Việt Nam 2011 - 2019 93

13 Bảng 3.13 Sản lượng sản xuất, sản lượng xuất khẩu, nhập

khẩu, thị phần thịt gia cầm xuất khẩu Việt Nam 2011 - 2019 95

Tên hình

14 Hình 3.1 Cơ cấu chất lượng gạo xuất khẩu của Việt Nam so

15 Hình 3.2 Tỷ trọng lao động trong tổng chi phí sản xuất lúa của

Trang 5

MỞ ĐẦU

1 Lý do lựa chọn đề tài luận án

Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hóa thương mại hiện nay,thị trường tiêu thụ hàng hóa đa vượt ra khỏi phạm vi biên giới quốc gia Vấn đềcạnh tranh ở tầm quốc tế của sản phẩm hàng hóa trở thành đề tài nóng bỏng và cấpthiết đối với mọi quốc gia Các nước, một mặt kêu gọi tự do hóa mậu dịch, mặtkhác lại có những chính sách bảo hộ nền sản xuất trong nước, làm cho thương mạiquốc tế bị bóp méo, gây ra sự bất đồng trong các cuộc đàm phán Thực chất củanhững chính sách thương mại này đều nhằm mục đích nâng cao SCT của hàng hóasản xuất trong nước ở trên thị trường nội địa và thị trường quốc tế Lĩnh vực đượcbảo hộ và gây tranh cai nhiều nhất là lĩnh vực nông nghiệp

Việt Nam là một nước nông nghiệp, đa số người dân sống ở nông thôn vàlàm nghề sản xuất nông nghiệp Vì vậy nông nghiệp, nông thôn và nông dân nóichung; sản xuất, xuất khẩu, nâng cao SCT của HHNS nói riêng, luôn là mối quantâm hàng đầu trong các chính sách của Đảng và Nhà nước ta Chiến lược pháttriển kinh tế - xa hội giai đoạn 2010 - 2020, Đảng ta xác định: “Phát triển nôngnghiệp sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnhtranh cao, thân thiện với môi trường, mở rộng xuất khẩu” [41, tr.195-196]

Thực tiễn, trải qua hơn 30 năm đổi mới, nền nông nghiệp Việt Nam nóichung, năng suất, chất lượng và SCT của HHNS nói riêng, đa đạt được nhữngkết quả quan trọng; từ một nước thiếu lương thực nay đa vươn lên trở thànhmột trong các quốc gia xuất khẩu nông sản hàng đầu thế giới Nhiều HHNS

đa trở thành những mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam, tạo nguồn thukhông nhỏ cho nền kinh tế đất nước, góp phần quan trọng vào thành công củacông cuộc xoá đói giảm nghèo, nâng cao đời sống của nông dân, phát triểnnông thôn, làm cơ sở ổn định phát triển kinh tế-xa hội đất nước

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đa đạt được, SCT của một số mặthàng nông sản Việt Nam vẫn còn thấp so với nông sản cùng loại của các nướctrong khu vực và trên thế giới Điều này được biểu hiện cụ thể: chất lượng tuy

Trang 6

đa được cải thiện song vẫn còn ở mức thấp so với các nước có nền nông nghiệpphát triển, chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao của thị trường; chi phí sảnxuất vẫn ở mức cao so với những lợi thế vốn có của đất nước; giá trị gia tăng thấp;sản lượng không ổn định; thị trường xuất khẩu chưa đa dạng, thị phần còn nhỏ nhất

là trên thị trường các nước phát triển Mỹ, EU, Nhật Bản; số sản phẩm có thươnghiệu còn ít, Những hạn chế trên cũng là nguyên nhân dẫn tới hiện tượng “Mất mùađược giá, được mùa rớt giá” thường xuyên diễn ra, gây thất thoát, lang phí cả về vậtchất và tinh thần cho người sản xuất, nhất là bà con nông dân, ảnh hưởng khôngnhỏ đến quá trình phát triển kinh tế đất nước

Trong thời gian tới, Việt Nam tiếp tục hội nhập sâu vào nền kinh tế thếgiới, HHNS Việt Nam sẽ phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt hơn vớiHHNS của các nước trên thế giới, kể cả ở thị trường trong nước Nguy cơ

“Thua trên sân nhà” sẽ xảy ra nếu như chúng ta không có các giải pháp đồng

bộ nhằm nâng cao SCT cho HHNS

Vì vậy, nâng cao SCT của HHNS Việt Nam trên thị trường trong nước

và quốc tế vừa là tất yếu khách quan, vừa là yêu cầu cấp bách trong quá trìnhphát triển kinh tế nhanh, bền vững, những năm trước mắt cũng như lâu dài.Việc tiếp tục nghiên cứu làm sáng tỏ hơn về lý luận và thực tiễn, đề xuấtnhững quan điểm, giải pháp đồng bộ nhằm nâng cao SCT của HHNS ViệtNam trong thời gian tới là một vấn đề hết sức cấp thiết

Xuất phát từ những vấn đề trên, tác giả chọn đề tài “Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam” làm luận án tiến sĩ.

2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu

Làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về SCT của HHNS Việt Nam, trên cơ

sở đó đề xuất các quan điểm và giải pháp nâng cao SCT của HHNS Việt Namtrong thời gian tới

Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích nghiên cứu nêu trên, luận án thực hiện một sốnhiệm vụ chủ yếu sau đây:

Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến SCT của HHNS và

Trang 7

tìm ra khoảng trống khoa học mà đề tài luận án cần tập trung nghiên cứu, giải quyết.

Làm rõ cơ sở lý luận về SCT của HHNS Việt Nam, khảo cứu kinhnghiệm thực tiễn của một số quốc gia về nâng cao SCT của HHNS thời gianqua, rút ra bài học cho Việt Nam có thể tham khảo

Phân tích những ưu điểm, hạn chế; chỉ ra nguyên nhân của những ưuđiểm và hạn chế; rút ra những vấn đề đặt ra cần tập trung giải quyết từ thựctrạng SCT của HHNS Việt Nam để làm cơ sở đề ra quan điểm, giải pháp nângcao SCT của HHNS Việt Nam trong thời gian tới

Đề xuất quan điểm và giải pháp nâng cao SCT của hàng hóa nông sảnViệt Nam thời gian tới

3 Đối tượng, phạm vi nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu

Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam

Phạm vi nghiên cứu

Phạm vi nội dung: Luận án tập trung nghiên cứu về SCT của HHNS

với tư cách là cạnh tranh của sản phẩm ở cấp độ quốc gia Việt Nam, trongmối tương quan so sánh với sản phẩm cùng loại của quốc gia khác dưới góc

độ nghiên cứu của khoa học Kinh tế chính trị Hàng hóa nông sản mà luận án

nghiên cứu là các sản phẩm của nông nghiệp theo nghĩa hẹp (bao gồm trồng

trọt và chăn nuôi, không nghiên cứu lâm sản và thủy sản) Trong đó đi sâunghiên cứu SCT của 5 mặt hàng là gạo, cà phê, rau quả, thịt lợn, thịt và trứnggia cầm Đây là 5 sản phẩm trong số 13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốcgia theo Thông tư 37/2018 của Bộ NN&PTNT, đại diện cho các mặt hàng đa,đang và sẽ có lợi thế cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế

Phạm vi không gian: Luận án nghiên cứu SCT của HHNS Việt Nam trên

thị trường trong nước và thị trường quốc tế (tập trung vào thị trường xuất khẩu

là chủ yếu; đối thủ cạnh tranh là những sản phẩm nông sản cùng loại của cácquốc gia khác đang cạnh tranh với sản phẩm của Việt Nam trên thị trường)

Phạm vi thời gian: Luận án khảo sát từ năm 2011 đến năm 2019.

4 Cơ sở lý luận, thực tiễn và phương pháp nghiên cứu

Trang 8

Cơ sở lý luận

Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận cơ bản của chủ nghĩa Mác Lênin; tư tưởng Hồ Chí Minh; đường lối, quan điểm của Đảng Cộng sản ViệtNam về phát triển kinh tế hàng hóa, nông nghiệp hàng hóa trong nền kinh tếthị trường định hướng xa hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế

Phương pháp nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng của chủ nghĩa Mác - Lênin,luận án sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu của khoa học chuyên ngành;trong đó chú trọng phương pháp trừu tượng hóa khoa học, kết hợp lôgíc và lịch sử,phân tích - tổng hợp, thống kê - so sánh và phương pháp chuyên gia

Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Sử dụng phương pháp này,

luận án không đi sâu vào nghiên cứu hết các nội dung, tiêu chí đánh giá SCTcủa tất cả các mặt hàng nông sản mà chỉ tập trung vào 4 tiêu chí là: chấtlượng, giá cả, thương hiệu và thị phần của 5 nhóm mặt hàng chính là: gạo, càphê, rau quả, thịt lợn, thịt và trứng gia cầm Đây là những nội dung, tiêu chíđánh giá cơ bản về SCT của hàng hóa và những mặt hàng chủ lực đại diện,

mà khi nghiên cứu sẽ phản ánh được tương đối đầy đủ bản chất cốt lõi về SCTcủa HHNS Việt Nam theo phạm vi nghiên cứu Phương pháp này áp dụng ởchương 2 để phân tích làm rõ quan niệm trung tâm của luận án; xác định cácnhân tố ảnh hưởng đến SCT của HHNS; đồng thời, cũng được sử dụng trongkhảo sát, khái quát hóa những kinh nghiệm về nâng cao SCT của HHNS ở cácquốc gia thành những bài học cho Việt Nam có thể tham khảo

Phương pháp kết hợp logic và lịch sử: Được sử dụng ở chương 2 để

Trang 9

xây dựng khung lý luận; sử dụng ở chương 3 để đánh giá thực trạng SCT củaHHNS Việt Nam; sử dụng trong chương 4 để cụ thể hóa các quan điểm thànhcác giải pháp khả thi, phù hợp với thực tiễn SCT của HHNS Việt Nam.

Phương pháp phân tích - tổng hợp: được sử dụng trong chương 1 của luận

án để đánh giá, khái quát hóa các công trình khoa học đa công bố, từ đó rút ranhững vấn đề mà luận án có thể kế thừa, phát triển Phương pháp này, cũng đượcsử dụng trong chương 3 và chương 4, để phân tích thực trạng SCT của HHNS ViệtNam, rút ra những vấn đề cần tập trung giải quyết, làm rõ nội dung quan điểm vàluận giải các giải pháp nâng cao SCT của HHNS Việt Nam thời gian tới

Phương pháp thống kê - so sánh: được sử dụng chủ yếu trong chương 3 của

luận án, nhằm phân tích, tổng hợp, xử lý các số liệu, tư liệu đa thu thập, so sánh sốliệu qua từng năm hoặc so với các quốc gia khác để minh chứng, làm rõ nhữngthành tựu, hạn chế SCT của HHNS Việt Nam từ năm 2011 đến năm 2019

5 Những đóng góp mới của luận án

Luận án được thực hiện thành công sẽ có những đóng góp mới về khoahọc, như:

Đa đưa ra và làm rõ quan niệm, tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnhhưởng đến SCT của HHNS Việt Nam, dưới góc độ tiếp cận của Kinh tế chínhtrị học Mác - Lênin

Phân tích, đánh giá thực trạng SCT của HHNS Việt Nam; xác địnhnguyên nhân và chỉ ra bốn vấn đề bức thiết cần tập trung giải quyết nhằmnâng cao SCT của HHNS Việt Nam trong thời gian tới

Luận án đa đề xuất được hệ thống gồm năm quan điểm và năm giảipháp nâng cao SCT của HHNS Việt Nam trong thời gian tới

6 Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận án

Ý nghĩa lý luận

Luận án bước đầu góp phần bổ sung làm rõ hơn về lý luận SCT củaHHNS Việt Nam, nâng cao hiệu quả quán triệt, thực thi đường lối, chủ trươngcủa Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước về phát triển sản xuất nông

Trang 10

nghiệp hàng hóa nói chung, nâng cao SCT của HHNS nói riêng.

Ý nghĩa thực tiễn

Luận án có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong học tập, giảng dạy vànghiên cứu khoa học ở một số môn học, khối ngành kinh tế chính trị, kinh tếnông nghiệp và những môn học khác liên quan Luận án là những gợi ý khoahọc để các vùng, các địa phương, các nhà quản lý, các chủ thể sản xuất, kinhdoanh HHNS có thể tham khảo

7 Kết cấu của luận án

Luận án bao gồm: Phần mở đầu, 4 chương (10 tiết), kết luận, danh mụccác công trình của tác giả đa công bố, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 11

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU CÓ

LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.1 Các công trình nghiên cứu nước ngoài có liên quan đến đề tài luận án

1.1.1 Các công trình nghiên cứu liên quan đến cạnh tranh, sức cạnh tranh của quốc gia, của ngành, của doanh nghiệp và sản phẩm

Michael E Porter (1980), Competitive Strategy - Techniques for Analyzing Industries and Competitors (Chiến lược cạnh tranh: Kỹ thuật phân tích ngành và đối thủ cạnh tranh) [140] Trong tác phẩm này Michael E.

Porter đa đưa ra những kỹ thuật để phân tích ngành công nghiệp và đối thủcạnh tranh, trong đó đặc biệt Porter đa phân tích làm rõ cơ cấu của ngành,những yếu tố quyết định sức cạnh tranh trong ngành (gồm 5 yếu tố quan trọnglà: Nhà cung cấp, khách hàng, các sản phẩm dịch vụ thay thế, những đối thủtiềm năng và cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành), chu kỳ sống của sảnphẩm, khung phân tích và dự báo sự vận động của ngành Theo MichealPorter: Tiêu chí để đánh giá sức cạnh tranh của nền kinh tế là năng suất sảnxuất của quốc gia, đây cũng là yếu tố chủ yếu của sự phát triển bền vững vàcũng là yếu tố căn bản biểu thị mức thu nhập bình quân đầu người của mỗinước Do vậy mỗi chủ thể trong nền kinh tế muốn nâng cao SCT phải khôngngừng nâng cao năng suất sản xuất, bằng cách liên tục cải tiến và đổi mới

Michael E Porter (1985), Competitive Advantage: Creating and Sustaining Superior Performance (Lợi thế cạnh tranh: Tạo lập và duy trì hiệu suất cao) [141] Trong tác phẩm này, trên cơ sở quan niệm về chuỗi giá trị,

Porter phân tích quá trình tạo nên giá trị và tạo lập lợi thế cạnh tranh của sảnphẩm từ khi sản xuất đến tay người tiêu dùng Theo Porter: Chuỗi giá trị làtổng thể những hoạt động liên quan đến sản xuất, tiêu thụ một sản phẩm hoặcdịch vụ nào đó; tác giả cho rằng, trong chuỗi giá trị bao gồm có 9 hoạt động(5 hoạt động cơ bản và 4 hoạt động bổ trợ) Các hoạt động cơ bản bao gồmmột chuỗi những công việc từ cung cấp nguyên vật liệu đầu vào; gia công sản

Trang 12

phẩm; phân phối sản phẩm; hoạt động bán hàng và các dịch vụ sau bán hàng.Những hoạt động cơ bản đó trực tiếp liên quan đến luồng di chuyển của quátrình tạo ra giá trị sử dụng của sản phẩm và đưa sản phẩm đến với người tiêudùng Các hoạt động bổ trợ bao gồm: Hoạt động quản trị thu mua và kiểmsoát quá trình lưu chuyển vật tư qua chuỗi giá trị; nghiên cứu và phát triển(R&D); Hoạt động quản trị nguồn nhân lực;… Hoạt động bổ trợ tuy khôngtrực tiếp liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng cho sản phẩm, nhưng chúnglại tham gia vào toàn bộ quá trình tạo ra giá trị của các hoạt động cơ bản và cóchức năng trợ giúp cho các hoạt động cơ bản Để tạo ra giá trị gia tăng, đồngthời tạo lợi thế cạnh tranh cho sản phẩm, đòi hỏi doanh nghiệp cần phải tối ưuhóa và tạo lợi thế cạnh tranh ở tất cả các hoạt động trong chuỗi giá trị.

Michael E Porter (1990), The Competitive Advantage of Nations (Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia) [142] Trong cuốn sách này Porter đa

đưa ra mô hình kim cương, đề cập đến các yếu tố ảnh hưởng đến SCT và sựthịnh vượng của một quốc gia như: Điều kiện cầu; sự ngẫu nhiên; vai tròchính phủ; điều kiện yếu tố sản xuất; các ngành công nghiệp hỗ trợ và cácngành công nghiệp có liên quan; chiến lược, cấu trúc và cạnh tranh trongnước của các công ty Ngoài ra cuốn sách cũng bàn về lợi thế của cácdoanh nghiệp, Porter cho rằng một doanh nghiệp có SCT cao thì có thể cónhững ưu thế hơn so với các doanh nghiệp cùng ngành khác, như: Thịphần, quy mô hoạt động, uy tín, hình ảnh doanh nghiệp, chất lượng sảnphẩm, đáp ứng được các yêu cầu của khách hàng, giá thành sản phẩm, hiệuquả của mạng lưới bán hàng, đầu tư cho tiếp thị, năng lực nghiên cứu vàphát triển và năng lực quản lý và điều hành

John H Dunning (1993), “Internationalizing Porter’s diamond”

(Quốc tế hóa mô hình kim cương của Porter) [138] Trong bài báo

Dunning đa mở rộng mô hình kim cương của Porter trong điều kiện toàncầu hóa và hội nhập kinh tế thế giới Tác giả cho rằng mô hình kim cương

đa cũ không còn chính xác cho việc đánh giá SCT của các quốc gia, củangành trong bối cảnh trao đổi thương mại, đầu tư và hợp tác quốc tế Vì

Trang 13

vậy Dunning đa đưa thêm nhân tố đầu tư nước ngoài vào mô hình kimcương của Porter để đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến SCT của quốc gia

và của ngành

Alvin G Wint (2000), Competitiveness in Small Developing Economies: Insights from the Caribbean (Năng lực cạnh tranh trong các nền kinh tế đang phát triển nhỏ: Những hiểu biết từ vùng biển Caribbean) [121] Trong nghiên

cứu này, tác giả đa chỉ ra: Các nền kinh tế nhỏ và đang phát triển đa ý thứcsâu sắc về những thách thức được tạo ra bởi sự hội nhập ngày càng tăngcủa thị trường vốn, lao động, sản phẩm và thông tin Các nhà hoạch địnhchính sách từ các nền kinh tế này, đa tìm kiếm một phản ứng hai chiều đểtham gia vào quá trình hội nhập, đó là: Nỗ lực vận động hành lang ngàycàng tăng cho các nền kinh tế này được điều chỉnh đặc biệt, hoặc côngbằng hơn trong các cuộc đối thoại hội nhập thị trường và cải thiện SCT nềnkinh tế của họ Tác giả đa đi sâu phân tích những cơ hội và thách thức liênquan đến SCT ngày càng tăng ở các nền kinh tế nhỏ, đang phát triển dựatrên nghiên cứu được tiến hành ở vùng biển Caribbean Thông qua đó tácgiả chỉ ra những hoạt động cần thiết để nâng cao SCT như: Điều chỉnhchính sách vĩ mô của chính phủ; cải thiện môi trường đầu tư; thu hút đầu tưtrực tiếp nước ngoài và duy trì tỷ giá hối đoái ổn định, linh hoạt

Bạch Thụ Cường (2002), Bàn về cạnh tranh toàn cầu [34] Đây là công

trình nghiên cứu của Giáo sư Bạch Thụ Cường, Hội trưởng Hội nghiên cứucác tổ chức Thương mại thế giới, do Nhà xuất bản Khoa học xa hội TrungQuốc ấn hành năm 2000 Cuốn sách được Nguyễn Trình và Lưu Thị Thìn dichsang tiếng Việt, được Nhà xuất bản Thông tấn ấn hành năm 2002 Nội dungcuốn sách được chia làm 4 chương Chương 1, tác giả đa khái quát một số vấnđề về cạnh tranh quốc tế trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế Chương 2, tácgiả đa phân tích về sự thay đổi của lý luận cạnh tranh trong điều kiện toàn cầuhóa kinh tế; trong phần này, tác giả đa hệ thống các lý luận canh tranh từ lýluận cạnh tranh cổ điển như: (lý luận cạnh tranh của Adam Smith, John StuartMill, Darwin, của C.Mác và mô hình tâm lý), lý luận cạnh tranh hiện đại (Lý

Trang 14

luận cạnh tranh trường phái cổ điển- mới, trường phái Áo và của MichaelPorter) Từ hệ thống các lý luận về cạnh tranh, tác giả đa phân tích về sự thayđổi quan niệm cạnh tranh trong điều kiện toàn cầu hóa kinh tế Chương 3, tácgiả giới thiệu về tiền đề, biện pháp và mục tiêu của chính sách cạnh tranh, tiếpđó tiến hành phân tích hiệu ứng thực thi chính sách cạnh tranh và quan hệgiữa chính sách cạnh tranh với các chính sách kinh tế khác Chương 4, tác giảtập trung phân tích sự hình thành lý luận cạnh tranh quốc tế và sự lựa chọnchính sánh cạnh tranh ở Trung Quốc.

Ambastha & Momaya (2004), Competitiveness of firms: review of theory, frameworks and models (Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: đánh giá lý thuyết, khuôn khổ và mô hình) [122] Trong nghiên cứu của mình

Ambastha và Momaya đa đưa ra lý thuyết, khung phân tích mô hình để làm rõSCT ở cấp độ doanh nghiệp Theo đó SCT của doanh nghiệp chịu ảnh hưởngcủa các yếu tố đó là: Nguồn lực (tài sản của doanh nghiệp, nguồn nhân lực,cấu trúc, trình độ công nghệ, văn hóa); quy trình (chiến lược, quy trình quản

lý, quy trình tiếp thị, quy trình công nghệ); hiệu suất (chi phí, thị phần, giá cả

và phát triển sản phẩm mới)

Arnis Sauka (2014), Measuring the Competitiveness of Latvian Companies (Đo lường tính cạnh tranh của các công ty Latvia) [123] Ở bài viết

này Sauka đa trình bày kết quả nghiên cứu về SCT của các công ty ở Latvia,tác giả đa xác định 7 nhân tố ảnh hưởng đến SCT ở cấp doanh nghiệp, baogồm: Năng lực tiếp cận các nguồn lực; nguồn lực tài chính; chiến lược kinhdoanh; năng lực làm việc của nhân viên; tác động của môi trường; năng lựckinh doanh so với đối thủ; sử dụng các mạng lưới thông tin liên lạc

BRICS (2017), Innovative Competitiveness Report - Research Series

on the Chinese Dream and China’s Development Path (BRICS Báo cáo cạnh tranh sáng tạo năm - Các nghiên cứu về giấc mơ Trung Quốc và con đường phát triển của Trung Quốc) [128] Báo cáo của Khối các nền kinh tế mới nổi

(BRICS) gồm 3 phần: Phần tổng hợp, phần báo cáo của các quốc gia trongkhối và phần chuyên đề Phần báo cáo tổng hợp đa đưa ra dự đoán 5 năm tới

Trang 15

sẽ chứng kiến 5 quốc gia trong khối tiếp tục cải thiện khả năng cạnh tranhsáng tạo quốc gia Trung Quốc và Nga duy trì đà tăng trưởng mạnh mẽ, Ấn

Độ tăng trưởng với tốc độ vừa phải, Brazil và Nam Phi dần dần tăng tốc Khảnăng cạnh tranh sáng tạo quốc gia của năm quốc gia trong khối sẽ giữ chotăng trưởng ổn định vào năm 2030 Đồng thời trình bày một phân tích toàndiện về tình hình hiện tại, những thành tựu của hợp tác về khoa học công nghệ

và đổi mới sáng tạo (STI: science technology and innovation) giữa TrungQuốc và các nước BRICS khác, đề xuất các lĩnh vực ưu tiên trong hợp tác STInhằm cung cấp đầu vào quyết định, có giá trị cho các quốc gia BRICS để thúcđẩy cải thiện khả năng cạnh tranh quốc gia của họ Phần Báo cáo của cácquốc gia: tập trung phân tích và đưa ra dự đoán về khả năng cạnh tranh sángtạo quốc gia của các nước BRICS dựa trên một cuộc khảo sát về sự phát triểnSTI của họ và sự hợp tác STI trong khuôn khổ BRICS Phần Báo cáo chuyênđề: tập trung vào bốn lĩnh vực liên quan chặt chẽ đến STI như: kinh tế kỹthuật số (bao gồm tài chính, năng lượng và nông nghiệp); phân tích chi tiết vềphát triển STI; tiềm năng của các quốc gia trong khu vực có liên quan và khảnăng cạnh tranh sáng tạo quốc gia của các nước BRICS

Ngoài các công trình nghiên cứu đa nêu trên, có thể nói hiện nay nhữngnghiên cứu lý thuyết và thực tiễn trên thế giới về SCT rất phong phú, nhưnghiên cứu của Ngân hàng thế giới (WB), của Diễn đàn kinh tế thế giới(WEF), Tổ chức Hợp tác và phát triển kinh tế (OECD) Các lý thuyết cạnhtranh hiện đại đều tập trung nghiên cứu về vai trò của cạnh tranh, đề cập vàlượng hóa những tiêu chí đánh giá SCT và những biện pháp nâng cao SCTcho các chủ thể trên thị trường, trong đó cách tiếp cận của WEF và của M.Porter về cạnh tranh và SCT được hầu hết các quốc gia và tổ chức quốc tế thừanhận Theo cách tiếp cận của WEF thì SCT quốc gia được hợp bởi nhiều nhân

tố đó là: Thể chế, chính sách kinh tế vĩ mô, cơ sở hạ tầng, năng suất lao động

và quy mô thị trường… Trong đó, SCT của doanh nghiệp nội địa là một chỉ sốquan trọng để đánh giá SCT quốc gia Vai trò của từng yếu tố phản ánh nhữngđiều kiện thuận lợi, hạn chế cụ thể đến SCT của quốc gia cũng như của doanh

Trang 16

nghiệp và được cho điểm tính theo thang điểm thứ tự số lượng các quốc giađược xem xét trên cơ sở tham khảo ý kiến các tổ chức kinh tế hàng đầu trên thếgiới Tập hợp các chỉ số trên phản ánh kết quả xếp hạng SCT hàng năm của cácnền kinh tế trên thế giới [45, tr.12-13]

1.1.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp và của hàng hóa nông sản

S Sachdev (1993), International Competitiveness and Agricultural Export of India (Khả năng cạnh tranh quốc tế và xuất khẩu nông sản của Ấn Độ) [149] Trong bài báo này, tác giả đa phân tích lợi thế so sánh trong hoạt

động xuất khẩu nông sản, Theo S Sachdev, SCT của các sản phẩm nôngnghiệp chịu tác động của việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên Do đó, không

dễ để định lượng SCT sản phẩm nông sản của các quốc gia S Sachdev đa đisâu phân tích lợi thế so sánh của Ấn Độ về thương mại đối với các sản phẩmnông nghiệp, chỉ ra các loại sản phẩm nông nghiệp mà Ấn độ tập trung sảnxuất, xuất khẩu sẽ có lợi thế và giá trị

Paul Piang Siong Teng (2013), Agricultural Biotechnology and Global Competitiveness (Công nghệ sinh học nông nghiệp và khả năng cạnh trạnh toàn cầu) [146] Cuốn sách tập hợp các báo cáo trình bày tại

Hội nghị kinh doanh nông nghiệp và thực phẩm Châu Á 2013 về công nghệsinh học nông nghiệp và khả năng cạnh tranh toàn cầu Các bài viết tậptrung phân tích làm rõ về: Các xu hướng ứng dụng công nghệ sinh họctrong nông nghiệp; thương mại hóa công nghệ sinh học nông nghiệp; quản

lý rủi ro trong nông nghiệp; tính bền vững của sản xuất nông nghiệp; vaitrò của công nghệ sinh học trong việc nâng cao năng suất xanh và khả năngcạnh tranh của sản phẩm nông nghiệp

A Siva Sankar and K Nirmal Ravi Kumar (2014), Domestic and Export Competitiveness of Major Agrultural Commodities in Andhra Pradesh

- a Case Study (Khả năng cạnh tranh trong nước và xuất khẩu các mặt hàng

nông sản chính ở Andhra Pradesh - một nghiên cứu điển hình) [125] Nội

dung bài báo nhấn mạnh: Tự do hóa thương mại thế giới trong nông nghiệp đa

Trang 17

mở ra khung cảnh tăng trưởng mới; Ấn Độ thực hiện chế độ kinh tế mới nàytừ đầu những năm 90 và đa dẫn đến việc thiết lập lại các mục tiêu trong pháttriển nông nghiệp theo hướng cạnh tranh toàn cầu và định hướng xuấtkhẩu Ấn Độ có lợi thế cạnh tranh đối với một số mặt hàng nông sản xuấtkhẩu như thóc, bông, ớt, nghệ và ngô, vì gần như tự cung tự cấp đầu vào, chiphí nhân công thấp và điều kiện khí hậu nông nghiệp đa dạng Trong thập kỷtới, Ấn Độ có khả năng chứng kiến những thay đổi trong mô hình xuất khẩucác mặt hàng này do cả những hạn chế trong và ngoài nước Một trong nhữnghạn chế bên ngoài quan trọng nhất bao gồm việc trợ giá quá mức của cácnước nhập khẩu làm cho hàng hóa Ấn Độ ít cạnh tranh hơn trên thị trường nộiđịa Bài viết đi sâu phân tích khả năng cạnh tranh cả ở trong nước và xuấtkhẩu các mặt hàng nông sản chính của huyện Guntur ở Andhra Pradesh Đểnâng cao khả năng cạnh tranh của các mặt hàng nông sản trong thời gian tới,

Ấn Độ cần có những chính sách khuyến khích hơn nữa các chủ thể sản xuấtnông nghiệp, thiết lập một mục tiêu mới cho “Cách mạng xuất khẩu nôngnghiệp” Quá trình đó, Ấn Độ vẫn phải phấn đấu nắm giữ một vị trí quantrọng trên thị trường xuất khẩu đối với những hàng hóa nông sản truyền thốngđồng thời phải nghiên cứu phát triển các khu vực mới và hàng hóa mới mà Ấn

Độ có lợi thế như động vật sống, các sản phẩm động vật, rau, hoa quả, câythuốc và nông sản chế biến

Weiming Yao (2015), Impact of Agricultural Modernization, Economic Growth and Industrialization on the International Competitiveness of Agricultural (Tác động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp tới tăng trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp) [155] Trong cuốn sách này, các tác giả đa phân tích thực trạng và tác

động của công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, tới tăng trưởng kinh tế

và khả năng cạnh tranh quốc tế của các sản phẩm nông nghiệp Trung Quốc vàthế giới từ năm 1986 đến 2011 Trên cơ sở đánh giá thực trạng tác giả đa đềxuất các giải pháp nhằm khắc phục sự chậm chạp của qúa trình CNH, HĐHnông nghiệp Trung Quốc đó là: nâng cao trình độ KH&CN trong nông nghiệp;

Trang 18

sử dụng các quy tắc của Tổ chức thương mại thế giới để tạo môi trường thuậnlợi cho sự phát triển nông nghiệp và cải thiện khả năng cạnh tranh quốc tế củacác sản phẩm nông nghiệp; phát triển mạnh công nghiệp chế biến…

Roger D Norton (2017), The Competitiveness of Tropical Agriculture,

A Guide to Competitive Potential with Case Studies (Tính cạnh tranh của nông nghiệp nhiệt đới, hướng dẫn về tiềm năng cạnh tranh với những nghiên cứu điển hình) [147] Cuốn sách đa chỉ ra các tiềm năng về cạnh tranh của

nông nghiệp nhiệt đới Tác giả nhấn mạnh, xuất khẩu trái cây nhiệt đới, quả,hạt và các loại cây trồng có giá trị cao khác đang phát triển rất nhanh từ cácnước đang phát triển Tuy nhiên hoạt động sản xuất, xuất khẩu nông sản ở cácnước đang phát triển thường gặp phải những khó khăn, trở ngại trong chuỗigiá trị như: vấn đề về bảo đảm an toàn thực phẩm, môi trường, mà đặc biệt làcạnh tranh giữa các nước xuất khẩu

Attila Jambor - Suresh Babu (2018), Competitiveness of Global Agriculture: Policy Lessons for Food Security (Tính cạnh tranh của nông nghiệp toàn cầu: Bài học chính sách về an ninh lương thực) [124] Công trình

nghiên cứu về việc kết hợp an ninh lương thực và cạnh tranh nông nghiệptrong đối xử với nhau của các quốc gia Tác giả đa hệ thống các quan niệm về

an ninh lương thực, cạnh tranh nông nghiệp; tiến hành đánh giá về nhữngthách thức an ninh lương thực toàn cầu và khu vực trong bối cảnh hội nhập,cạnh tranh nông nghiệp ngày một gay gắt Tác giả nêu lên các mô hìnhthương mại; cạnh tranh nông nghiệp toàn cầu và sử dụng nó làm cơ sở đểphân tích an ninh lương thực toàn cầu Mặt khác tác giả cũng chỉ ra các quốcgia, khu vực nên tập trung vào nhóm sản phẩm có sức cạnh tranh cao, đồngthời nêu lên các bài học về chính sách phát triển nông nghiệp của một số quốcgia đa thành công, khuyến nghị về giải pháp tăng năng lực cạnh tranh nôngnghiệp quốc gia, khu vực và toàn cầu để đạt được mục tiêu an ninh lươngthực bền vững

1.2 Các công trình nghiên cứu trong nước có liên quan đến đề tài

Trang 19

phân tích những diễn biến về khả năng cạnh tranh của ngành hàng lúa gạo,ngành xi măng và mía đường, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp chủ yếunhằm phát huy có hiệu quả lợi thế cạnh tranh của Việt Nam trong tiến trìnhhội nhập vào thị trường khu vực và thế giới

Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước

ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế [21] Công trình nghiên cứu về

SCT của nền kinh tế Việt Nam, đi sâu phân tích SCT của một số mặt hàngxuất khẩu chủ yếu trong đó có các sản phẩm nông sản như gạo, cà phê, chè,thủy sản Để phân tích SCT của sản phẩm, tác giả đa dựa trên các tiêu chíchính như: chi phí sản xuất, chất lượng và uy tín sản phẩm, giá xuất khẩu,thị trường tiêu thụ

Nguyễn Hữu Thắng (2008), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay [91].

Cuốn sách đa hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu về vấn đề NLCT của doanhnghiệp, từ đó đưa ra khung lý thuyết mới, sử dụng phương pháp toán học đểlượng hóa các tiêu chí và yếu tố cấu thành NLCT của doanh nghiệp trong xuthế hội nhập kinh tế quốc tế; tác giả cuốn sách cũng đa nêu lên các nhân tố tácđộng tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố bên trong

và các yếu tố bên ngoài; đồng thời nhấn mạnh yêu cầu nâng cao năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp Việt Nam trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế

Đỗ Huy Hà (2011), Nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam gắn với tăng cường quốc phòng ở nước ta hiện nay [46] Trong cuốn sách

này, tác giả đa đưa ra các khái niệm về cạnh tranh, sức cạnh tranh và nâng caosức cạnh tranh của doanh nghiệp trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Tác

Trang 20

giả làm rõ mối quan hệ giữa nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp ViệtNam với tăng cường quốc phòng trong hội nhập kinh tế quốc tế, nêu lên các bàihọc quốc tế về vấn đề này Từ thực trạng nâng cao sức cạnh tranh của doanhnghiệp Việt Nam thời gian qua và thực trạng của việc gắn kết, tác động củahoạt động nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam đối với tăngcường quốc phòng, tác giả đa đưa ra các quan điểm, giải pháp nhằm nâng caosức cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam trong hội nhập kinh tế quốc tế gắnvới tăng cường quốc phòng ở nước ta trong trong thời gian tới

Vũ Văn Phúc (2012), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO [79] Cuốn sách là tập hợp, tuyển chọn các bài tham

luận của Hội thảo “Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5năm gia nhập WTO” Nội dung các bài viết phản ánh thực trạng năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp Việt Nam sau 5 năm gia nhập WTO qua nhiềucách tiếp cận khác nhau: Theo ngành, theo lĩnh vực, theo loại hình doanhnghiệp… Thời gian 5 năm gia nhập WTO chưa phải là dài, nhưng cũng đủ đểđánh giá sức mạnh nội lực của các doanh nghiệp trong điều kiện cạnh tranhquốc tế ngày càng gay gắt Các tác giả cũng đưa ra một số giải pháp, kiếnnghị và bài học kinh nghiệm để giúp doanh nghiệp Việt Nam nâng cao NLCTmột cách lành mạnh và bền vững trong thời gian tới

Nguyễn Duy Hùng (2016), Nâng cao năng lực cạnh tranh của các công ty chứng khoán Việt Nam [49] Trong công trình này tác giả đa xác

định hệ thống gồm 7 yếu tố bên trong, tác động đến NLCT của các công tychứng khoán Việt Nam, bao gồm: Tiềm lực tài chính; vốn trí tuệ; trình độcông nghệ; chất lượng sản phẩm; chất lượng dịch vụ; uy tín và hoạt độngxúc tiến thương mại; thương hiệu; mạng lưới hoạt động Tác giả đa lượnghóa được mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố bên trong tới NLCT của cáccông ty chứng khoán Việt Nam Từ đó đưa ra giải pháp tương ứng nhằmnâng cao NLCT cho các công ty chứng khoán Việt Nam trong bối cảnh tự dohoá thị trường chứng khoán…

Phạm Thị Hồng Yến (2017), Cải thiện môi trường kinh doanh nâng

Trang 21

cao năng lực cạnh tranh quốc gia trong hội nhập FTA [119] Nội dung cuốn

sách gồm 3 phần chính Phần 1, tác giả khái quát một số vấn đề lý luận về:môi trường kinh doanh, NLCT quốc gia, chỉ số NLCT toàn cầu, môi trườngkinh doanh và NLCT cấp tỉnh, thành phố Phần 2, tác giả đánh giá thực trạngmôi trương kinh doanh và NLCT của quốc gia Việt Nam, nêu lên một số hạnchế, bất cập cần tập trung bổ sung, hoàn thiện nhằm cải thiện môi trường kinhdoanh và NLCT quốc gia Việt Nam Theo tác giả, các hạn chế, bất cập đóthuộc 4 nhóm yếu tố chính, đó là: thể chế và thực thi thể chế; yếu tố về kinh tếvĩ mô; về tiếp cận các nguồn lực và thị trường; yếu tố về sự phát triển củadoanh nghiệp Phần 3, tác giả đưa ra một số định hướng và giải pháp đẩymạnh cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao NLCT quốc gia một cáchbền vững trong bối cảnh hội nhập AFTA

Phạm Thu Hương (2017), Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhỏ và vừa, nghiên cứu trên địa bàn Thành phố Hà Nội [51] Công trình đa đi sâu phân

tích làm rõ cơ sở lý luận về NLCT của doanh nghiệp nhỏ và vừa, đưa ra kháiniệm, các tiêu chí xác định NLCT và các nhân tố ảnh hưởng đến NLCT của doanhnghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành phố Hà Nội Bằng phương pháp nghiên cứuđịnh tính và định lượng tác giả đa nêu lên thực trạng NLCT của các doanh nghiệpnhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội thông qua các tiêu chí như: Năng lựctài chính, năng lực tổ chức quản lý doanh nghiệp, năng lực tiếp cận và đổi mớicông nghệ, năng lực tạo lập các mối quan hệ, năng lực Marketing, năng lực tổchức dịch vụ Thông qua đánh giá thực trạng, tác giả đa đưa ra một số khuyếnnghị đối với doanh nghiệp và các cơ quan quản lý nhà nước nhằm nâng caoNLCT của doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn Thành phố Hà Nội

Nguyễn Thị Đức Loan (2017), Quản trị chi phí chiến lược (SCM), công

cụ nâng cao năng lực cạnh tranh trong các doanh nghiệp Việt Nam [58] Ở

bài viết này, tác giả nhấn mạnh quản lý chi phí có vai trò đặc biệt hữu íchtrong hoạt động SXKD của doanh nghiệp vì nó cho phép sử dụng có hiệu quảcác nguồn lực, nhất là nguồn lực về tài chính của doanh nghiệp Ngoài ra,việc quản lý chi phí tốt, sẽ giúp cho các nhà quản lý doanh nghiệp thiết lập

Trang 22

được mục đích đó là: Giảm thiểu chi phí và tối đa hóa lợi nhuận Quản lý chiphí là một hoạt động có chức năng như một chiến lược để cắt giảm tất cả cácchi phí không cần thiết, để đạt được mức lợi nhuận cao hơn trong hoạt độngSXKD của doanh nghiệp Bài báo cũng đa chỉ ra, làm cách nào để giảm thiểuviệc chi thừa trong hoạt động SXKD Quản lý chi phí chiến lược tốt sẽ nângcao hiệu quả SXKD, cũng như tối đa hóa lợi nhuận và nâng cao vị thế cạnhtranh trên thị trường của các doanh nghiệp Việt Nam Quản lý chi phí có hiệuquả là giảm việc sử dụng các loại tài nguyên, nguyên liệu đầu vào, giảm chiphí tài sản cố định và chi phí hành chính (việc lập kế hoạch, kiểm soát chitiêu, kiểm soát chi phí, xác định chỉ số lợi nhuận trên từng sản phẩm, nghiêncứu thị trường…) Tác giả khẳng định quản lý chi phí tốt là điều cần thiết đểcạnh tranh về giá của sản phẩm.

1.2.2 Các công trình nghiên cứu liên quan đến sức cạnh tranh của ngành nông nghiệp và của hàng hóa nông sản

Nguyễn Đình Long, Nguyễn Tiến Mạnh (1999), Phát huy lợi thế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam [60] Trong công

trình này các tác giả đa tập trung phân tích làm rõ khái niệm, đặc điểm và tiêuchí về lợi thế cạnh tranh đối với hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam Tácgiả cho rằng, lợi thế cạnh tranh biểu hiện trên các nội dung: chất lượng sảnphẩm, khối lượng sản phẩm, kiểu dáng, mẫu ma, uy tín của sản phẩm, môitrường kinh tế vĩ mô và giá thành sản phẩm Từ đó phân tích lợi thế cạnhtranh của một số nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam như: Lúa gạo, càphê, cao su, chè, điều; đồng thời kiến nghị một số giải pháp nhằm phát huy lợithế của nông sản xuất khẩu Việt Nam

Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000), Khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam: Một sự phân tích sơ bộ trong bối cảnh hội nhập ASEAN và AFTA [11] Công trình đa đề cập đến khả năng cạnh tranh của

một số mặt hàng nông sản Việt Nam như gạo, hạt điều, cà phê, đường, thịtlợn, thông qua các yếu tố như: Chi phí sản xuất và tiếp thị, năng suất, giá cả,kim ngạch xuất khẩu Thông qua phân tích thực trạng, công trình đa khuyến

Trang 23

nghị một số giải pháp để cải thiện khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nôngsản Việt Nam trên thị trường

Nguyễn Đình Long (2001), Nghiên cứu những giải pháp chủ yếu nhằm phát huy lợi thế nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển thị trường xuất khẩu nông sản trong thời gian tới [59] Trong công trình nghiên cứu này, tác

giả đa phân tích làm rõ các quan niệm cơ bản về lợi thế so sánh và lợi thếcạnh tranh Nêu lên những đặc điểm của các mặt hàng nông sản xuất khẩu chủyếu của Việt Nam như: (gạo, cao su, chè, cà phê và điều) từ đó đưa ra 2 nhómtiêu chí đánh giá khả năng cạnh tranh của các mặt hàng trên đó là: nhóm tiêuchí về định tính gồm (chất lượng và độ an toàn trong sử dụng, kiểu dáng, mẫu

ma sản phẩm, quy mô khối lượng, độ phù hợp của thị hiếu và tập quán củangười tiêu dùng, giá thành sản phẩm, ); nhóm tiêu chí về định lượng gồm(mức lợi thế so sánh (RCA), chi phí nguồn lực nội địa (DRC)

Ngô Thị Tuyết Mai (2007), Nâng cao sức cạnh tranh một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế [65] Công trình đa luận giải sâu sắc cơ sở lý luận và thực tiễn của

việc nâng cao sức cạnh tranh của một số mặt hàng nông sản xuất khẩu chủyếu của Việt Nam (Gạo, cà phê, chè, cao su) trong quá trình hội nhập kinh

tế quốc tế, từ đó đưa ra dự báo, định hướng, đề xuất một số quan điểm cơbản và giải pháp chủ yếu, nhằm nâng cao sức cạnh tranh của của một sốmặt hàng nông sản xuất khẩu chủ yếu của Việt Nam trong điều kiện hộinhập kinh tế quốc tế

Lê Hữu Thành (2009), Sức cạnh tranh của hàng nông sản xuất khẩu chủ lực Việt Nam trong điều kiện tự do hóa thương mại [90] Ở công trình

này, tác giả đa đi sâu phân tích thực trạng sức cạnh tranh của hàng nông sảnxuất khẩu Việt Nam Để phân tích vấn đề này, tác giả đa dựa trên các tiêu chínhư: chất lượng và số lượng sản phẩm; giá trị xuất khẩu; uy tín, thương hiệucủa sản phẩm Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng, tác giả đa đề xuấtcác giải pháp nhằm năng cao sức cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của ViệtNam trong điều kiện tự do hóa thương mại

Nguyễn Thu Quỳnh (2011), Vận dụng kinh tế tri thức nhằm nâng cao

Trang 24

sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu Việt Nam [85] Bài báo tập trung phân

tích thực trạng sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu nước ta, qua phân tíchtác giả khẳng định, sức cạnh tranh của nông sản xuất khẩu nước ta vẫn cònthấp, chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế về sản xuất nông nghiệp của ViệtNam, đồng thời chỉ ra một số nguyên nhân đó là: năng suất sản xuất còn thấp;mức độ áp dụng các tiêu chuẩn, quy trình như GAP (Quy trình thực hànhnông nghiệp tốt), SPS (Hiệp định về các biện pháp vệ sinh và kiểm dịch độngthực vật của WTO) chưa đáp ứng theo yêu cầu; nông sản xuất khẩu chủ yếudưới dạng thô và sơ chế; công nghệ xử lý sau thu hoạch còn hạn chế, năng lựcquản lý sản xuất, chế biến chưa đáp ứng yêu cầu, chưa thiết lập được mộtcách vững chắc mối liên kết kinh tế giữa các khâu sản xuất, xuất khẩu, giữakhâu cung ứng vật tư đầu vào và tiêu thụ sản phẩm đầu ra, ; công tác dự báothiếu chính xác; các doanh nghiệp xuất khẩu nông sản quy mô còn nhỏ; Từnhững nguyên nhân nêu trên, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm vận dụngkinh tế tri thức vào sản xuất, chế biến, nâng cao năng suất, chất lượng và SCTcho nông sản xuất khẩu của Việt Nam

Trần Hoa Phượng (2013), Lợi thế xuất khẩu nông sản của Việt Nam sau khi gia nhập WTO [80] Cuốn sách gồm 3 chương: ở chương 1 tác giả trình

bày các lý luận về lợi thế trong quan hệ thương mại quốc tế, những quy địnhcủa WTO về nông sản xuất khẩu và kinh nghiệm phát huy lợi thế trong xuấtkhẩu nông sản sau khi gia nhập WTO của một số nước Chương 2, tác giả đađề cập đến 3 nội dung: Các nhân tố ảnh hưởng đến lợi thế hàng nông sản xuấtkhẩu của Việt Nam (điều kiện tự nhiên, nguồn nhân lực, khoa học và côngnghệ, vốn, cơ chế chính sách); thực trạng phát triển lợi thế của Việt Namtrong xuất khẩu nông sản sau khi gia nhập WTO (về sản lượng, năng suất, chiphí sản xuất và giá trị xuất khẩu; thị phần xuất khẩu, thị trường tiêu thụ; chấtlượng nông sản, lợi thế cạnh tranh); đánh giá lợi thế xuất khẩu nông sản củaViệt Nam sau khi gia nhập WTO (những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội vàthách thức, nguyên nhân) Chương 3, tác giả đưa ra các dự báo về xu hướngphát triển một số mặt hàng nông sản chủ yếu và quan điểm cơ bản về phát huy

Trang 25

lợi thế trong xuất khẩu nông sản sau khi gia nhập WTO

Phạm Thành Công (2013), Định hướng phát triển thương hiệu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay [28].

Bài viết phân tích và đánh giá thực trạng về khả năng cạnh tranh và khả năng pháttriển thương hiệu hàng nông sản Việt Nam trong giai đoạn từ năm 2008 đến năm

2012, nhấn mạnh vai trò của thương hiệu trong vấn đề nâng cao năng lực cạnhtranh hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam, từ đó đề xuất định hướng nhằmtừng bước phát triển thương hiệu nông sản Việt Nam trong giai đoạn tiếp theo

Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (2018), Kinh tế Việt Nam với Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP): Nâng cao năng lực cạnh tranh nhìn từ nông nghiệp [78] Nội dung

bài viết nhận định: Việt Nam tham gia (CPTPP) là hội nhập với những “gakhổng lồ” đặt ra đòi hỏi về năng lực cạnh tranh hơn là những lợi thế mà doanhnghiệp có được Để các thị trường chấp nhận nông sản Việt Nam, không chỉdựa vào tính lạ, mà bài toán đặt ra là cần phải nâng cao chất lượng, giá trịdinh dưỡng sản phẩm, bao bì sản phẩm… Bài viết đề xuất cần nâng cao sứccạnh tranh trên cả ba cấp độ: Cấp độ quốc gia, cấp độ doanh nghiệp và cấp

độ sản phẩm Cùng với đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm, doanh nghiệpcần nắm chắc thông tin về thị trường như: triển vọng, tính cạnh tranh sảnphẩm, nhan mác, bao bì, phù hợp với tôn giáo, văn hóa của các nước nhậpkhẩu Mọi thông tin đó cần được các Tuỳ viên Sứ quán hỗ trợ cung cấp chodoanh nghiệp

Ngoài ra, có thể nói còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khác đa đượccông bố, đề cập đến cơ sở lý luận, thực trạng và giải pháp, nhằm nâng cao sứccạnh tranh của nền kinh tế, của các doanh nghiệp Việt Nam nói chung, củangành nông nghiệp và của hàng hóa nông sản Việt Nam nói riêng; các bài viếtđược đăng tải trên nhiều báo và tạp chí khác nhau, nhất là các tạp chí kinh tế

1.3 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học đa công bố và những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

1.3.1 Khái quát kết quả nghiên cứu của các công trình

Trang 26

khoa học đã công bố

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến SCT củahàng hóa nông sản, nghiên cứu sinh rút ra một số vấn đề chủ yếu sau:

Một là, về lý luận sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam.

Các công trình đa đề cập đến nhiều khía cạnh như: quan niệm, vai trò củacạnh tranh, SCT của hàng hóa nói chung, SCT của HHNS nói riêng; quanniệm, đặc điểm của HHNS; sự cần thiết phải nâng cao SCT của HHNS trongđiều kiện hội nhập; phân tích, làm rõ lý luận về cạnh tranh, SCT và sức cạnhtranh của HHNS; xây dựng cơ sở lý luận cho nâng cao SCT của HHNS ở một

số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam Đây là những tư liệu quan trọng, giúpcho tác giả luận án hiểu sâu sắc thêm về cạnh tranh, SCT, về hàng hóa nôngsản; gợi mở ra hướng nghiên cứu mới, đồng thời kế thừa, phát triển có chọn lọcđể tác giả hoàn thành công trình luận án của mình

Hai là, về thực trạng sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản

Các công trình đa có sự khảo sát, đánh giá khái quát về SCT của HHNScủa một số quốc gia trên thế giới và ở Việt Nam Đặc biệt, có một số đề tài,hội thảo khoa học do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Côngthương tổ chức, đa đánh giá những ưu điểm và hạn chế về SCT của HHNSViệt Nam Thông qua đó, giúp cho nghiên cứu sinh có thêm tư liệu để phântích, đánh giá một cách khách quan và toàn diện về SCT của HHNS ViệtNam trong thời gian qua, chỉ ra những mâu thẫn từ thực trạng cần giải quyết;đồng thời làm cơ sở để đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao SCT củaHHNS Việt Nam trong thời gian tới

Ba là, về giải pháp nâng cao sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam

Dưới những góc độ tiếp cận khác nhau, các công trình đa đề xuất một sốquan điểm, phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao SCT của các sảnphẩm nông sản Việt Nam, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập kinh tếquốc tế Các quan điểm, giải pháp mà các công trình đưa ra đều tập trungvào khâu đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách của nhà nước; quy hoạch

Trang 27

vùng sản xuất tập trung; nâng cao chất lượng nông sản; xây dựng thươnghiệu; phát triển thị trường,…Tuy nhiên, các quan điểm, giải pháp mà cáccông trình đề cập, chưa mang tính đồng bộ, hệ thống và đa lạc hậu so với

sự vận động phát triển của thực tiễn

Như vậy, qua tổng quan các công trình khoa học đa công bố, chothấy: bằng những cách tiếp cận khác nhau, các tác giả đa đề cập đến nhữngmặt, những khía cạnh khác nhau về cạnh tranh nói chung, cạnh tranh củangành nông nghiệp và của HHNS nói riêng Tuy nhiên, chưa có công trìnhnào nghiên cứu một cách có hệ thống, toàn diện, đầy đủ và cập nhật dướigóc độ khoa học kinh tế chính trị về SCT của hàng hóa nông sản Việt Nam,đặc biệt là các mặt hàng (Gạo, cà phê, rau quả, thịt lợn, thịt và trứng gia

cầm) Do vậy, đề tài “Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam”

mà tác giả nghiên cứu là một công trình khoa học độc lập, đảm bảo tínhcấp thiết, có tính thực tiễn cao và không trùng lặp với các công trình khoahọc đa được công bố

1.3.2 Những vấn đề đặt ra luận án cần tập trung giải quyết

Qua tổng quan tình hình nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án, cóthể thấy: các công trình mặc dù đa đạt được những giá trị khoa học nhất định,nhưng vẫn còn những khoảng trống về mặt lý luận và thực tiễn, đòi hỏi luận

án phải trả lời những câu hỏi sau:

Một là, dưới góc độ nghiên cứu của khoa học Kinh tế chính trị thì SCT

của HHNS Việt Nam trong điều kiện mới hiện nay được hiểu như thế nào? Đểđánh giá SCT của HHNS Việt Nam cần phải dựa trên những tiêu chí gì? Sứccạnh tranh của HHNS Việt Nam chịu sự ảnh hưởng của những nhân tố nào?Để nâng cao SCT của HHNS trong những năm tới, đáp ứng yêu cầu phát triểncủa ngành nông nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, Việt Nam cần học tậpnhững kinh nghiệm gì của các nước trên thế giới?

Đây là khung lý luận cơ bản của luận án, có vai trò hết sức quan trọng,nhằm đảm bảo cho nghiên cứu sinh thực hiện được đúng mục đích, nhiệm vụ

Trang 28

của luận án Thực hiện vấn đề này, trước hết nghiên cứu sinh cần phải kế thừacác quan niệm về cạnh tranh, SCT của hàng hóa của một số tác giả, trong cáccông trình khoa học đa công bố, để xây dựng quan niệm SCT của HHNS ViệtNam, dưới góc độ nghiên cứu của khoa học Kinh tế chính trị Đặc biệt, luận

án cần làm rõ các tiêu chí đánh giá và các nhân tố ảnh hưởng đến SCT củaHHNS Việt Nam, để từ đó có căn cứ cụ thể, làm cơ sở lý luận cho việc khảosát, đánh giá thực trạng và đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao SCTcủa HHNS Việt Nam trong thời gian tới Đồng thời luận án tập trung khảocứu kinh nghiệm về nâng cao SCT của hàng nông sản ở một số nước trên thếgiới, cụ thể là các nước: Thái Lan, Malaysia, Israel, từ đó rút ra những bài họckinh nghiệm cho Việt Nam có thể tham khảo để nâng cao SCT của HHNStrong thời gian tới

Hai là, thực trạng SCT của HHNS Việt Nam thời gian qua ra sao? Có

những ưu điểm và hạn chế nào? Nguyên nhân của những ưu điểm, hạn chế đó

là gì? Những vấn đề gì cần tập trung giải quyết trong thời gian tới để ViệtNam thực hiện tốt việc nâng cao SCT của HHNS?

Với khung lý luận đa được xây dựng, luận án sẽ khảo sát, đánh giá thựctrạng SCT của HHNS Việt Nam từ năm 2011 - 2019 Quá trình đánh giá thựctrạng không chỉ dừng lại ở việc đưa ra những con số thống kê đơn thuần, mà luận

án sẽ đánh giá một cách khách quan, toàn diện trong đó đi sâu vào 5 nhóm mặthàng chủ lực là gạo, cà phê, rau quả và thịt lợn, thịt và trứng gia cầm để minhchứng Từ đó chỉ rõ nguyên nhân khách quan, chủ quan của những ưu điểm, hạnchế; những vướng mắc cần phải tháo gỡ để thúc đẩy phát triển sản xuất nông sảnhàng hóa nói chung, nâng cao năng suất, chất lượng và SCT cho HHNS nói riêng

Ba là, để nâng cao SCT của HHNS trong thời gian tới, Việt Nam cần

thực hiện những quan điểm, giải pháp nào?

Để nâng cao SCT của HHNS trong thời gian tới, không thể chỉ dựa vàomột vài giải pháp có tính chất riêng lẻ, đơn thuần mà cần phải có hệ thống cácgiải pháp mang tính đồng bộ và toàn diện Vì vậy, trên cơ sở phân tích cáchạn chế về SCT của HHNS Việt Nam những năm qua, tác giả luận án đề

Trang 29

xuất hệ thống quan điểm và giải pháp tương đối chặt chẽ và hoàn chỉnh,nhằm nâng cao SCT của HHNS Việt Nam trong thời gian tới Trong đó đisâu phân tích, làm rõ cơ sở, nội dung, yêu cầu và biện pháp thực hiện củatừng giải pháp, sát với đặc điểm và điều kiện của Việt Nam, nhằm tạo ra sựđột phá trong phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa nói chung, nângcao SCT của HHNS nói riêng Việc đề xuất, phân tích các quan điểm, giảipháp luôn dựa trên những quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng,chính sách, pháp luật của Nhà nước; các nghị quyết, quyết định, quyhoạch, kế hoạch, đề án của Chính phủ, các bộ, ngành liên quan và cấp ủy,chính quyền các địa phương, nhất là về cơ cấu lại nền kinh tế nói chung,chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới và đề án tái cơcấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triểnbền vững nói riêng

Trang 30

Kết luận chương 1

Liên quan đến đề tài luận án, có nhiều công trình nghiên cứu khoa học

đa công bố, bước đầu đa đề cập đến một số nội dung như: cạnh tranh, SCTcủa quốc gia, của doanh nghiệp, của sản phẩm và SCT của HHNS xuất khẩu.Bằng những cách tiếp cận khác nhau, các công trình đa khẳng định vị trí, tầmquan trọng và tính tất yếu của cạnh tranh nói chung, cạnh tranh ở các cấp độnói riêng đối với sự phát triển của các chủ thể trong nền kinh tế thị trường.Đồng thời, đa đi sâu phân tích, luận giải và đưa ra các quan niệm về cạnhtranh, SCT, tiêu chí đánh giá, các nhân tố ảnh hưởng tới SCT ở các cấp độ.Một số công trình nghiên cứu cũng đa đánh giá thực trạng, đề xuất quan điểm,phương hướng, giải pháp nhằm nâng cao SCT cho các chủ thể

Kết quả nghiên cứu của các công trình khoa học có liên quan đến đề tàiluận án đa đạt được nhiều thành tựu to lớn, giúp cho tác giả nhận thức mộtcách đầy đủ, toàn diện, hệ thống về những vấn đề liên quan đến đề tài nghiêncứu Kết quả nghiên cứu của các công trình đa cung cấp cho tác giả phươngpháp tiếp cận dưới góc độ khoa học Kinh tế chính trị về lĩnh vực cạnh tranh,SCT của HHNS, khêu gợi hướng nghiên cứu, xác định rõ những vấn đề đặt racần tiếp tục giải quyết, đồng thời khắc phục được sự trùng lặp với các côngtrình khoa học đa công bố Đây sẽ là cơ sở, tài liệu quý giá để tác giả luận án

kế thừa, tiếp thu những giá trị khoa học, tìm ra hướng đi mới cho mình trongnghiên cứu đề tài luận án

Qua tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan, khẳng định: Đề

tài luận án “Sức cạnh tranh của hàng hóa nông sảnViệt Nam” là một công

trình khoa học độc lập, vừa kế thừa biện chứng những kết quả nghiên cứu đacông bố, vừa có đóng góp mới ở cả phương diện lý luận và thực tiễn

Trang 31

Chương 2

LÝ LUẬN VỀ SỨC CẠNH TRANH CỦA HÀNG HÓA

NÔNG SẢN VIỆT NAM VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN

2.1 Một số vấn đề chung về hàng hóa nông sản và sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam

2.1.1 Quan niệm, đặc điểm về hàng hóa nông sản Việt Nam

2.1.1.1 Quan niệm về hàng hóa nông sản Việt Nam

Quan niệm về hàng hóa

Khi nghiên cứu về hàng hóa C Mác viết: “Hàng hóa trước hết là một vậtnhờ có những thuộc tính của nó mà thỏa man được một loại nhu cầu nào đó củacon người” [63, tr.61] Theo C Mác, hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản đó làgiá trị sử dụng và giá trị; giá trị sử dụng là công dụng của vật phẩm có thể thỏaman nhu cầu náo đó của con người, giá trị của hàng hóa là lao động xa hội thểhiện và vật hóa trong hàng hóa Một sản phẩm muốn trở thành hàng hóa thì nóphải được đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường: “Muốn trở thành hàng hóathì sản phẩm phải được chuyển vào tay những người khác, những người dùngnó làm giá trị sử dụng, bằng con đường trao đổi” [63, tr.70] Tóm lại, luận án

tán thành theo quan niệm Kinh tế học chính trị Mácxit: “Hàng hóa là sản phẩm của lao động có thể thỏa mãn một nhu cầu nào đó của con người thông qua trao đổi mua - bán trên thị trường” [48, tr 118]

Quan niệm về hàng hóa nông sản

Nông sản là một trong những hàng hóa thiết yếu, không thể thiếu đốivới sản xuất và tiêu dùng của con người, nhưng để trả lời cho câu hỏi thế nào

là HHNS và HHNS bao gồm những mặt hàng nào, cho đến nay vẫn còn cónhiều quan niệm khác nhau

Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) quan niệm: hàng hóa được chiathành 2 nhóm chính là nông sản và phi nông sản Nông sản được xác địnhtrong Hiệp định Nông nghiệp là tất cả các sản phẩm được liệt kê từ chương Iđến chương XXIV (trừ cá và sản phẩm cá) và một số sản phẩm thuộc cácchương khác trong hệ thống thuế ma HS (hệ thống hài hòa mô tả và ma hóa

Trang 32

hàng hóa) Theo đó nông sản bao gồm các loại hàng hóa có nguồn gốc từ hoạtđộng nông nghiệp bao gồm: (1) Các sản phẩm nông nghiệp cơ bản như lúagạo, lúa mỳ, bột mỳ, cà phê, hồ tiêu, hạt điều, chè, rau quả tươi, động vậtsống, sữa… (2) Các sản phẩm phái sinh như bánh mỳ, dầu ăn, bơ, thịt… (3)Các sản phẩm chế biến từ sản phẩm nông nghiệp như sản phẩm từ sữa, xúcxích, nước ngọt, bánh kẹo, nước hoa quả, rượu, bia, thuốc lá, da động vậtthô, Các sản phẩm còn lại trong hệ thống thuế ma HS được xem là sảnphẩm phi nông nghiệp (Sản phẩm công nghiệp) [71, tr.19]

Tổ chức lương thực và Nông nghiệp Liên Hiệp quốc (FAO) quan niệm:Hàng nông sản là tập hợp của nhiều nhóm hàng hóa khác nhau bao gồm: (1)Nhóm hàng gồm các sản phẩm nhiệt đới như chè, cà phê, ca cao, hạt tiêu ;(2) Nhóm hàng ngũ cốc như lúa gạo, bột mì, sắn, ngô ; (3) Nhóm hàng thịt vàcác sản phẩm từ thịt như thịt lợn, thịt bò, thịt gia cầm ; (4) Nhóm hàng dầu

mỡ và các sản phẩm từ dầu được chế biến từ hạt có dầu như lạc, đậu tương,hướng dương , và các loại dầu thực vật; (5) Nhóm hàng sữa và các sản phẩmtừ sữa như pho mát, bơ, các sản phẩm chế biến từ sữa, ; (6) Nhóm hàng nôngsản nguyên liệu như cao su thiên nhiên, bông, đay, sợi, ; (7) Nhóm hàng rauquả bao gồm các loại rau, củ, quả [71, tr.19, 20]

Theo quy định tại Khoản 7 Điều 3, Nghị định về cơ chế, chính sáchkhuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp, nông thônthì nông sản được quan niệm: “Nông sản là sản phẩm của các ngành nôngnghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, diêm nghiệp” [24, tr.2] Với quan niệm này thìnông sản là sản phẩm của nông nghiệp theo nghĩa rộng (nông nghiệp theonghĩa rộng bao gồm các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và diêmnghiệp; nông nghiệp theo nghĩa hẹp bao gồm ngành trồng trọt và chăn nuôi)

Theo Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, tại Thông tư số37/2018/TT - BNNPTNT, ngày 25/12/2018, Ban hành danh mục sản phẩmnông nghiệp chủ lực quốc gia thì sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc giabao gồm 13 nhóm sản phẩm: (Gạo, cà phê, cao su, điều, hồ tiêu, chè, rauquả, sắn và sản phẩm từ sắn, thịt lợn, thịt và trứng gia cầm, cá tra, tôm, gỗ

Trang 33

và sản phẩm từ gỗ) [17].

Theo dụng ý của luận án, “Hàng hóa nông sản” mà tác giả nghiên cứu

là những sản phẩm thuộc nhóm hàng nông sản (không nghiên cứu lâm sản vàthủy sản), tức là nghiên cứu sản phẩm của ngành nông nghiệp, không nghiêncứu sản phẩm của ngành lâm nghiệp ngành thủy sản và diêm nghiệp

Như vậy, từ các quan niệm nêu trên và dụng ý nghiên cứu của luận án,

tác giả quan niệm: Hàng hóa nông sản là những sản phẩm của ngành nông nghiệp, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và được đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường.

Quan niệm về hàng hóa nông sản Việt Nam

Từ quan niệm về hàng hóa, HHNS đa nêu trên, tác giả quan niệm:

Hàng hóa nông sản Việt Nam là những sản phẩm của ngành nông nghiệp Việt Nam, có thể thỏa mãn nhu cầu nào đó của con người và được đưa ra trao đổi, mua bán trên thị trường.

Như vậy, HHNS Việt Nam là khái niệm tương đối rộng và phức tạp, baogồm những sản phẩm được thu hoạch trực tiếp (tươi, sống) và những sản phẩm đaqua chế biến của ngành nông nghiệp (bao gồm trồng trọt và chăn nuôi) Với phạm vinghiên cứu của luận án, tác giả chỉ tập trung nghiên cứu 5 mặt hàng chủ lực (trong số

13 sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia, theo Thông tư 37/2018/TT BNNPTNT) là gạo, cà phê, rau quả, thịt lợn, thịt và trứng gia cầm để phân tích, minhchứng Đây là những sản phẩm đa, đang và sẽ có lợi thế cạnh tranh so với sản phẩmcùng loại của các quốc gia khác trên thị trường trong nước và quốc tế

-2.1.1.2 Đặc điểm về hàng hóa nông sản Việt Nam

Hàng hóa nông sản là những sản phẩm thiết yếu với đời sống của conngười Quá trình sản xuất ra HHNS gắn liền với quá trình sinh trưởng và pháttriển của cây trồng, vật nuôi Do vậy, HHNS có một số đặc điểm riêng so vớicác hàng hóa thông thường khác sau đây:

Một là, hàng hóa nông sản có tính thời vụ và phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên

Trang 34

Do các loại cây trồng, vật nuôi sinh trưởng và phát triển theo quy luậtsinh vật, sinh học nhất định; mặt khác, do sự thay đổi về điều kiện thời tiết khíhậu theo mùa, làm cho mỗi loại cây trồng, vật nuôi có sự thích ứng riêng, tạonên những mùa vụ khác nhau trong sản xuất Theo đó quá trình sản xuất, thuhoạch và tiêu thụ nông sản cũng mang tính thời vụ, nhất là sản phẩm trồng trọt.Vào khoảng thời gian chính vụ, HHNS thường dồi dào, phong phú về chủngloại, chất lượng khá đồng đều và giá thành thấp Ngược lại, vào thời gian trái vụthì nông sản khan hiếm, chất lượng không đồng đều và giá thành thường cao

Ngoài ra mọi sự thay đổi về điều kiện tự nhiên đều tác động trực tiếpđến quá trình sinh trưởng và phát triển của cây trồng, vật nuôi Điều kiện tựnhiên thuận lợi (mưa thuận, gió hòa) thì cây trồng sinh trưởng và phát triểnbình thường, cho sản lượng thu hoạch cao, chất lượng tốt Ngược lại, nếu điềukiện tự nhiên không thuận lợi (nắng nóng, giá rét kéo dài, hạn hán hoặc baolụt) sẽ làm sụt giảm về năng suất và sản lượng cây trồng

Hai là, hàng hóa nông sản có tính tươi sống

Nông sản là sản phẩm của quá trình sinh trưởng, phát triển của cây trồng,vật nuôi vì vậy nó có đặc tính tươi sống, dễ bị hư hỏng, ẩm mốc, biến chấttrước tác động của điều kiện tự nhiên và thời gian Chính vì vậy việc bảo quảnhàng hóa nông sản sẽ khó khăn, đặc biệt là bảo quản trong thời gian dài

Ba là, hàng hóa nông sản có tính vùng miền, đa dạng chủng loại

Hàng hóa nông sản được sản xuất ra từ các vùng địa phương khácnhau, với các đặc điểm về điều kiện tự nhiên, thời tiết, khí hậu, thổ nhưỡngkhác nhau; mỗi vùng, mỗi hộ, mỗi trang trại có phương thức sản xuất khácnhau, giống cây trồng, vật nuôi khác nhau, đa tạo nên nhiều chủng loại HHNSkhác nhau Điều này dẫn đến chất lượng của HHNS không có tính đồng đều,quản lý chất lượng thường gặp nhiều khó khăn

Bốn là, chất lượng của hàng hóa nông sản ảnh hưởng trực tiếp đến sức của khỏe người tiêu dùng

Trang 35

Nông sản là loại hàng hóa thiết yếu được con người sử dụng trực tiếplàm lương thực, thực phẩm và đồ uống Do vậy chất lượng hàng hóa nông sảnluôn là tiêu chí đầu tiên được người tiêu dùng quan tâm khi quyết định lựachọn mua hàng Xa hội càng phát triển, đời sống con người được nâng lên,kéo theo là yêu cầu ngày càng khắt khe về chất lượng, về vệ sinh an toàn thựcphẩm, kiểm dịch, truy xuất nguồn góc, bảo vệ môi trường

2.1.2 Quan niệm về sức cạnh tranh của hàng hóa nông sản Việt Nam

2.1.2.1 Quan niệm về cạnh tranh kinh tế

“Cạnh tranh” là cụm từ được sử dụng từ rất lâu và trở nên phổ biến chođến ngày nay, thuật ngữ “cạnh tranh” được sử dụng trong tất cả các lĩnh vựccủa đời sống xa hội như chính trị, kinh tế, văn hóa, quân sự Cạnh tranhtrong lĩnh vực kinh tế là một trong những quy luật của kinh tế thị trường,trong bối cảnh toàn cầu hóa kinh tế như hiện nay, cạnh tranh bước vào mộtthời kỳ mới cả về phương thức, cường độ và nội dung Chính vì vậy vấn đềcạnh tranh được nhiều tác giả nghiên cứu, trình bày dưới nhiều góc độ khácnhau ở những giai đoạn phát triển khác nhau của nền kinh tế xa hội

Khi nghiên cứu về cạnh tranh, Adam Smith cho rằng “cạnh tranh làhành vi luôn tồn tại trong con người, trong xa hội, đặc biệt trong những gì liênquan đến tư lợi của người ta Môi trường tự do giúp các cá nhân có quyền cạnhtranh trong sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ Hơn nữa, cạnh tranh sẽ đemđến một nền kinh tế thịnh vượng và có khả năng tự điều chỉnh” [120, tr.1201].Theo quan niệm này, tự do cạnh tranh sẽ tạo ra sự chèn ép lẫn nhau giữa các

cá nhân, buộc mỗi cá nhân phải nỗ lực cố gắng làm tốt công việc của mình.Nếu chỉ đưa ra mục đích lớn lao nhưng không có động cơ thúc đẩy thực hiệnthì không thể tạo ra được sự cố gắng nào Như vậy cạnh tranh có thể khơi dậy

sự nỗ lực của con người, làm tăng của cải của nền kinh tế

Mặc dù không trình bày thành học thuyết riêng về cạnh tranh, nhưngtrong học thuyết giá trị, giá trị thặng dư và lý luận về tư bản, C Mác đa đưa ranhững nghiên cứu về cạnh tranh Theo C Mác, điều kiện cho sự ra đời và tồn

Trang 36

tại của cạnh tranh là: phân công lao động xa hội và tính chất tư nhân của laođộng sản xuất C Mác viết: “sự phân công lao động trong xa hội đặtnhững người sản xuất hàng hóa độc lập đối diện với nhau, những ngườinày không thừa nhận một uy lực nào khác ngoài uy lực cạnh tranh,ngoài sự cưỡng chế mà áp lực của những lợi ích giữa họ với nhau đagây ra đối với họ” [63, tr.517] Theo C.Mác: cạnh tranh là sự ganh đua giữanhững người sản xuất và lưu thông hàng hóa bằng những hình thức và thủđoạn khác nhau, nhằm giành giật cho mình những điều kiện sản xuất và kinhdoanh có lợi nhất, động lực của cạnh tranh là lợi nhuận tối đa.

Để phân tích rõ hơn về cạnh tranh, “C Mác đa phân chia cạnh tranhthành 2 loại: cạnh tranh trong nội bộ ngành và cạnh tranh giữa các ngành,tức là cạnh tranh giữa những hàng hóa cùng loại và cạnh tranh giữa các hànghóa khác loại” [48, tr.238] Cạnh tranh trong nội bộ ngành là cạnh tranh giữacác các xí nghiệp trong cùng một ngành, sản xuất cùng một loại hàng hóa,nhằm mục đích giành ưu thế trong sản xuất và tiêu thụ hàng hóa để thu đượclợi nhuận siêu ngạch Cạnh tranh trong nội bộ ngành được thực hiện thôngqua các biện pháp: cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất, nâng cao chấtlượng hàng hóa, cải tiến mẫu ma… làm cho giá trị cá biệt của hàng hóa sảnxuất ra thấp hơn giá trị xa hội để thu được lợi nhuận siêu ngạch Kết quả củacạnh tranh trong nội bộ ngành dẫn đến hình thành giá trị xa hội của hànghóa, tức là giá trị thị trường của hàng hóa

Cạnh tranh giữa các ngành là cạnh tranh giữa các xí nghiệp tư bản kinhdoanh trong các ngành sản xuất khác nhau, nhằm mục đích tìm nơi đầu tư cólợi hơn Biện pháp cạnh tranh giữa các ngành là các xí nghiệp tư bản chuyểndịch dòng vốn đầu tư từ ngành có tỷ suất lợi nhuận thấp sang ngành có có tỷsuất lợi nhuận cao hơn Kết quả của cạnh tranh giữa các ngành là hình thànhlợi nhuận bình quân và giá cả sản xuất Giá cả sản xuất là cơ sở của giá cảhàng hóa trên thị trường [64, tr.263-303]

Như vậy cạnh tranh giữa các nhà tư bản diễn ra dưới ba góc độ: cạnhtranh giá thành thông qua nâng cao năng suất lao động giữa các nhà tư bản,

Trang 37

nhằm thu được giá trị thặng dư siêu ngạch; cạnh tranh chất lượng thông quanâng cao giá trị sử dụng hàng hóa; cạnh tranh giữa các ngành thông qua việcgia tăng tính lưu động của tư bản nhằm chia nhau giá trị thặng dư Cạnh tranhdưới ba góc độ cơ bản này diễn ra xoay quanh việc quyết định giá trị, thựchiện giá trị và phân phối giá trị thặng dư

Theo PGS TS Đỗ Huy Hà, cạnh tranh kinh tế được định nghĩa: “Làquan hệ kinh tế, phương thức giải quyết mâu thuẫn lợi ích kinh tế giữa cácchủ thể, bằng mọi biện pháp, thủ đoạn đấu tranh, ganh đua giành lấy nhữngđiều kiện sản xuất, tiêu thụ có lợi nhất nhằm tối đa hoá lợi nhuận cho mỗi chủthể trong nền kinh tế thị trường” [46, tr.10]

Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, cạnh tranh được định nghĩa là: “Hoạtđộng ganh đua giữa những người sản xuất hàng hóa, giữa các thương nhân, cácnhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, bị chi phối bởi quan hệ cung - cầunhằm giành các điều kiện sản xuất, tiêu thụ, thị trường có lợi nhất” [113, tr.357]

Theo Hội đồng Trung ương chỉ đạo biên soạn giáo trình quốc gia các mônKhoa học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh thì: “Cạnh tranh là sự ganh đua, sựđấu tranh về kinh tế giữa các chủ thể tham gia sản xuất - kinh doanh với nhaunhằm giành những điều kiện thuận lợi trong sản xuất - kinh doanh, tiêu thụ hànghóa và dịch vụ để thu được nhiều lợi ích nhất cho mình” [48, tr.147-147]

Quá trình lanh đạo đổi mới nền kinh tế, Đảng ta đa có sự thay đổi về tưduy, quan niệm và cách thức đối xử với cạnh tranh Trong văn kiện Đại hộiĐảng VIII của Đảng chỉ rõ: “Cơ chế thị trường đòi hỏi phải hình thành mộtmôi trường cạnh tranh lành mạnh, hợp pháp và văn minh Cạnh tranh vì lợiích phát triển đất nước chứ không phải làm phá sản hàng loạt, lang phí cácnguồn lực, thôn tính lẫn nhau” [37, tr.32]

Mặc dù ở những góc độ tiếp cận khác nhau có những quan niệm vàcách diễn đạt khác nhau nhưng đều thống nhất coi cạnh tranh kinh tế là hành

vi của các chủ thể trong nền kinh tế hàng hóa Trên cơ sở kế thừa các quan

niệm, định nghĩa về cạnh tranh, tác giả quan niệm: Cạnh tranh kinh tế là hoạt động ganh đua giữa các chủ thể kinh tế trên thị trường, bằng các hình thức,

Trang 38

biện pháp khác nhau để giành giật cho mình những điều kiện sản xuất và kinh doanh có lợi nhất, nhằm tối đa hóa lợi nhuận, bảo đảm sự tồn tại, phát triển lâu dài cho mỗi chủ thể.

Quan niệm này đa chỉ ra nguồn gốc của cạnh tranh kinh tế gắn liền với

sự ra đời và tồn tại của sản xuất hàng hóa mà trực tiếp là sự độc lập về kinh tếcủa các chủ thể kinh tế Bản chất của cạnh tranh là phản ánh mối quan hệ kinh

tế giữa các chủ thể kinh tế cùng hướng tới mục đích là bảo đảm sự tồn tại vàphát triển của mình Ở các góc độ xem xét khác nhau, cạnh tranh được phânloại khác nhau: Xét ở góc độ chủ thể cạnh tranh có: cạnh tranh giữa người bán

và người mua với nhau, cạnh tranh giữa những người bán hoặc giữa nhữngngười mua với nhau; căn cứ vào mục tiêu kinh tế có: cạnh tranh giữa cácngành và cạnh tranh trong nội bộ ngành; ở góc độ là đối tượng cạnh tranh có:cạnh tranh giành độc quyền, thâu tóm các yếu tố đầu vào, hoặc chi phối thịtrường đầu ra, ; dưới góc độ phương thức hay công cụ cạnh tranh có: cạnhtranh bằng chất lượng, giá cả, tính độc đáo, sự khác biệt của sản phẩm, dịchvụ đi kèm, cạnh tranh bằng tốc độ cung cấp sản phẩm ra thị trường và cạnhtranh bằng cả biện pháp kinh tế, phi kinh tế,…; căn cứ vào cơ cấu thị trườngcó: cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo; xét theo tính chấthành vi có: cạnh tranh lành mạnh và cạnh tranh không lành mạnh và xét ởphạm vi lanh thổ có cạnh tranh trong nước và cạnh tranh quốc tế

Vì động lực của cạnh tranh là lợi nhuận, do vậy mặt hàng nào, ngànhnào và trên thị trường nào sản xuất kinh doanh có lợi nhuận cao thì ở đó thuhút nhiều chủ thể cạnh tranh và tính chất, cường độ cạnh tranh sẽ gay gắt hơn.Nguồn gốc của cạnh tranh kinh tế vốn là tự phát, vì lợi nhuận nên các chủ thểsẵn sàng cạnh tranh bằng mọi biện pháp và thủ đoạn Tuy nhiên trong môitrường hợp tác và cạnh tranh quốc tế, các chủ thể cạnh tranh phải tuân thủtheo luật pháp của quốc gia và các công ước quốc tế

2.1.2.2 Quan niệm về sức cạnh tranh của hàng hóa

Sức cạnh tranh

Cạnh tranh gắn liền với hành vi của các chủ thể SXKD, bao gồm có hành

Trang 39

vi của cá nhân, của doanh nghiệp và của quốc gia Để giành được lợi thế về phíamình trong quá trình cạnh tranh với nhau, các chủ thể phải thực hiện tổng hợpnhiều biện pháp nội lực và ngoại lực nhằm giữ vững và phát triển vị thế củamình trên thị trường Các biện pháp đó thể hiện một sức mạnh của chủ thể vàđược gọi là năng lực cạnh tranh hay là sức cạnh tranh của chủ thể Theo đó, cóthể quan niệm: sức cạnh tranh là sự thể hiện về thực lực và lợi thế của chủ thể sản xuất, kinh doanh hàng hóa so với đối thủ cạnh tranh trong việc đảm bảo thỏa mãn tốt nhất các nhu cầu của khách hàng, nhằm mục đích thu được lợi nhuận ngày càng cao hơn.

Hiện nay, các nghiên cứu thường đề cập đến ba cấp độ của SCT là:SCT của quốc gia, SCT của doanh nghiệp và SCT của sản phẩm (hay củamột ngành):

Sức cạnh tranh quốc gia

Theo Uỷ ban cạnh tranh công nghiệp Mỹ thì: cạnh tranh đối với mộtquốc gia là mức độ cạnh tranh trong điều kiện thị trường tự do và công bằngtrên phạm vi toàn thế giới, một quốc gia có thể sản xuất các hàng hóa và dịchvụ không những đáp ứng được nhu cầu khách hàng trong nước mà còn đápứng nhu cầu của khách hàng trên thị trường thế giới, đồng thời duy trì và mởrộng được thu nhập thực tế của nhân dân ở quốc gia đó [65, tr.13]

Theo Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF): Sức cạnh tranh quốc gia là khảnăng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống,nghĩa là đạt được mức tăng trưởng kinh tế cao xác định sự thay đổi tổng sảnphẩm quốc nội trên đầu người theo thời gian [154]

Như vậy, sức cạnh tranh quốc gia có thể hiểu là: việc xây dựng một môi trường kinh tế chung, đảm bảo phân bố hiệu quả các nguồn lực, đạt và duy trì mức tăng trưởng cao, bền vững

Sức cạnh tranh của doanh nghiệp

Theo Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD): “sức cạnh tranhcủa doanh nghiệp là sức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng

Trang 40

các yếu tố sản xuất có hiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vữngtrong điều kiện cạnh tranh quốc tế” [34, tr.132].

Theo tác giả Đỗ Thế Tùng, thì: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làthế và lực của doanh nghiệp so với các đối thủ trên thị trường trong việc cungcấp các sản phẩm và dịch vụ đáp ứng nhu cầu có khả năng thanh toán của kháchhàng, nhờ đó mà chiếm lĩnh được thị phần nhất định và thu được khoản lợinhuận tương ứng [93, tr.20]

Từ các quan niệm nêu trên cho thấy: một doanh nghiệp muốn có một vịtrí vững chắc và thị trường ngày càng được mở rộng thì cần có một tiềm lực đủmạnh để có thể cạnh tranh trên thị trường, đó chính là sức cạnh tranh của doanh

nghiệp Do vậy, sức cạnh tranh của doanh nghiệp có thể hiểu: là tổng hợp năng lực nắm giữ và nâng cao thị phần của chủ thể trong sản xuất, kinh doanh hàng hoá, là trình độ sản xuất ra sản phẩm đáp ứng được nhu cầu của thị trường

Để đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp, người ta dựa vào các tiêuchí như: thị phần, doanh thu, lợi nhuận và tỷ suất lợi nhuận, thu nhập bìnhquân, phương pháp quản lý, bảo vệ môi trường, uy tín của doanh nghiệp đốivới xa hội, tài sản của doanh nghiệp nhất là tài sản vô hình, tỷ lệ công nhânlành nghề, tỷ lệ đội ngũ quản lý giỏi, nghiên cứu và sáng tạo,…

Sức cạnh tranh của sản phẩm (hàng hóa)

Theo C Mác, hàng hóa có hai thuộc tính cơ bản đó là giá trị sử dụng vàgiá trị Khi xem xét đánh giá về SCT của hàng hóa người ta thường dựa vàohai thuộc tính đó Một sản phẩm được coi là có SCT khi nó đáp ứng được nhucầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, bao bì,thương hiệu, tính độc đáo so với sản phẩm cùng loại trên thị trường Trongđiều kiện hội nhập, tự do hóa thương mại, SCT của hàng hóa có vị trí hết sứcquan trọng vì nó đảm bảo cho hàng hóa đó có thể chiến thắng các đối thủcạnh tranh ở trên thị trường trong nước và vươn ra chiếm lĩnh thị trường thế

giới Từ những phân tích nêu trên, tác giả quan niệm: Sức cạnh tranh của hàng hóa là khả năng đáp ứng nhu cầu của khách hàng về chất lượng, giá cả, tính năng, kiểu dáng, bao bì, thương hiệu, tính độc đáo của hàng hóa đó so với hàng hóa cùng loại trên thị trường.

Ngày đăng: 19/07/2021, 09:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Lê Hữu Ảnh (2017), Nghiên cứu đề xuất chính sách, giải pháp thúc đẩy phát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩm trong trồng trọt, lâm nghiệp và thủy sản, Báo cáo đề tài nghiên cứu khoa học, Học viện Nông nghiệp Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu đề xuất chính sách, giải pháp thúc đẩyphát triển các hình thức hợp tác, liên kết sản xuất - tiêu thụ sản phẩmtrong trồng trọt, lâm nghiệp và thủy sản
Tác giả: Lê Hữu Ảnh
Năm: 2017
2. Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam (2020), Dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dự thảo cácvăn kiện trình Đại hội XIII của Đảng
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam
Năm: 2020
3. Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương (2019), Tổng điều tra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, Tổ chức thực hiện và kết quả sơ bộ, Nxb Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tổng điềutra dân số và nhà ở thời điểm 0 giờ ngày 01 tháng 4 năm 2019, Tổchức thực hiện và kết quả sơ bộ
Tác giả: Ban chỉ đạo Tổng điều tra dân số và nhà ở trung ương
Nhà XB: Nxb Thống kê
Năm: 2019
5. Phạm Thị Thanh Bình (2018), Nghiên cứu so sánh chính sách nông nghiệp ở Trung Quốc, Thái Lan, Israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, Nxb Khoa học xa hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nghiên cứu so sánh chính sách nông nghiệpở Trung Quốc, Thái Lan, Israel và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
Tác giả: Phạm Thị Thanh Bình
Nhà XB: Nxb Khoa học xa hội
Năm: 2018
6. Bộ Công Thương (2006), Chính sách và giải pháp nâng cao giá trị gia tăng hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chính sách và giải pháp nâng cao giá trị giatăng hàng nông sản xuất khẩu của Việt Nam hiện nay
Tác giả: Bộ Công Thương
Năm: 2006
7. Bộ Công thương (2019), Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2018, Nxb Công Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2018
Tác giả: Bộ Công thương
Nhà XB: NxbCông Thương
Năm: 2019
8. Bộ Công thương (2020), Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2019, Nxb Công Thương, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo xuất nhập khẩu Việt Nam 2019
Tác giả: Bộ Công thương
Nhà XB: NxbCông Thương
Năm: 2020
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2008), Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác - Lênin
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2008
10. Bộ Ngoại giao (2020), “Một số thông tin về địa lý Việt Nam”, Cổng thông tin điện tử Chính phủ, ngày 21/4/2020 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số thông tin về địa lý Việt Nam”, "Cổng thôngtin điện tử Chính phủ
Tác giả: Bộ Ngoại giao
Năm: 2020
11. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2000), Khả năng cạnh tranh của ngành nông nghiệp Việt Nam: Một sự phân tích sơ bộ trong bối cảnh hội nhập ASEAN và AFTA, Báo cáo dự án Hợp tác kỹ thuật TCP/VTE/8821, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng cạnh tranh củangành nông nghiệp Việt Nam: Một sự phân tích sơ bộ trong bối cảnhhội nhập ASEAN và AFTA
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2000
12. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2002), Sổ tay các cam kết hội nhập kinh tế quốc tế Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay các cam kết hộinhập kinh tế quốc tế Ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Nhà XB: NxbNông nghiệp
Năm: 2002
13. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2005), Khả năng cạnh tranh nông sản Việt Nam trong hội nhập AFTA, Quỹ nghiên cứu IAE-MISPA Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khả năng cạnh tranh nôngsản Việt Nam trong hội nhập AFTA
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2005
14. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2006), Thương hiệu và nhãn hiệu hàng nông sản Việt Nam, tài liệu hội thảo ngày 18/8/2006, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thương hiệu và nhãnhiệu hàng nông sản Việt Nam
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2006
15. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2012), Quyết định số 824/QĐ - BNN-TT Về việc phê duyệt đề án phát triển ngành trồng trọt đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 824/QĐ -BNN-TT Về việc phê duyệt đề án phát triển ngành trồng trọt đến năm2020, tầm nhìn đến năm 2030
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2012
16. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2013), Chương trình và kếhoạch hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng giá trị gia tăng và phát triển bền vững, ngày 18 tháng 6/2013 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình và kế"hoạch hành động thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theohướng giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2013
17. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2014), Quyết định số 984/QĐ - BNN-CN Về việc phê duyệt đề án Tái cơ cấu ngành chăn nuôi theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quyết định số 984/QĐ -BNN-CN Về việc phê duyệt đề án Tái cơ cấu ngành chăn nuôi theohướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2014
18. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2018), Thông tư số 37/2018/TT- BNNPTNT, ngày 25/12/2018, Ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp chủ lực quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thông tư số 37/2018/TT-BNNPTNT, ngày 25/12/2018, Ban hành danh mục sản phẩm nôngnghiệp chủ lực quốc gia
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2018
19. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Trung tâm Thông tin và Thống kê, Báo cáo kết quả thực hiện sản xuất, kinh doanh ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn (các năm 2011, 2013, 2015, 2017, 2018, 2019), Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo kết quả thực hiện sản xuất, kinh doanh ngành nông nghiệp và pháttriển nông thôn (
20. Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (2019), Báo cáo Tổng kết Đề án“Phát triển sản xuất giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi vàgiống thủy sản đến năm 2020”, ngày 24/6/2019, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Tổng kết Đề án"“Phát triển sản xuất giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và"giống thủy sản đến năm 2020”
Tác giả: Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
Năm: 2019
21. Chu Văn Cấp (2003), Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước ta trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế nước tatrong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Tác giả: Chu Văn Cấp
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2003

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w