Hiện nay, tình hình thừa cân - béo phì đang tăng lên với một tốc độbáo động không những ở các nớc phát triển mà ở cả các nớc đang phát triển.. Theo đó, ngời dân ở các nơi lệ thuộc vào ch
Trang 1Bộ giáo dục và đào tạo
Trờng đại học vinh
………o0o………
Trần thị thành
nghiên cứu Thực trạng và một số chỉ số sinh học ở ngời thừa cân – béo phì độ béo phì độ tuổi 45 - 65 tại Thành phố Vinh – béo phì độ Nghệ An
Chuyên ngành Sinh học Thực nghiệm
- béo phì, bệnh cao huyết áp và tiểu đờng [14], [23], [73]
ở các nớc phát triển gần 50% dân số bị thừa cân và béo phì [37], [54]
Đứng đầu là Mỹ, hiện nay có 30% ngời trởng thành bị béo phì Vùng đất nôngnghiệp của nớc ý 70% dân số đều có số cân nặng quá mức bình thờng Tại đảo
Trang 2thuộc Tân Ghinê độ tuổi 30 - 70 có tỷ lệ đàn ông béo phì chiếm 50%, phụ nữbéo phì chiếm 70% [23], [64].
ở Việt Nam, tình trạng thừa cân - béo phì cũng có xu hớng gia tăng trong vòng
10 năm lại đây, đặc biệt là ngời lớn tuổi và trẻ em độ tuổi đi học [16], [19]
Thừa cân – béo phì gây nên nhiều tác hại lớn nh cao huyết áp, các bệnh
về tim mạch, tiểu đờng, ung th và suy nhợc thần kinh Những bệnh này thờngxuất hiện cùng một lúc và làm tăng nguy cơ giảm tuổi thọ của ngời bệnh [14],[50], [25] Ngoài ra, bệnh béo phì làm tăng gánh nặng đối với cơ và hệ thống xơngkhớp, ngời béo phì hay bị các chứng bệnh đau lng, đau các khớp gối, khớp háng.Trong đó, tỷ lệ bệnh nhân ở độ tuổi 50 - 70 bị bệnh béo phì, bệnh tim mạch và tăng
đờng huyết đang chiếm vị trí hàng đầu [23], [32], [67] Vì vậy, việc đánh giá một
số chỉ số sinh học cũng nh tìm hiểu một số bệnh liên quan đến thừa cân – béophì có ý nghĩa quan trọng
ở nớc ta, đã có nhiều nghiên cứu về thực trạng thừa cân – béo phì ở một
số thành phố lớn nh Hà Nội, Hồ Chí Minh, Nha Trang [1], [19], [28] Thànhphố Vinh là trung tâm văn hoá, kinh tế của tỉnh Nghệ An Có dân số gần300.000 ngời Trong đó, số ngời độ tuổi từ 45 - 65 chiếm tỷ lệ khoảng 25%dân số Nhng cha có một tác giả nào nghiên cứu tỷ lệ thừa cân – béo phì vàcác chỉ số sinh học cũng nh phân bố bệnh tật ở độ tuổi này Để góp phần trongviệc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng và độ tuổi 45 - 65 nói chung, ngời bị thừa cân
– béo phì nói riêng, chúng tôi tiến hành đề tài “Nghiên cứu thực trạng và một
số chỉ số sinh học ở ngời thừa cân – béo phì độ tuổi 45 - 65 tại Thành phố Vinh – Nghệ An”..
Mục tiêu nghiên cứu:
1 Đánh giá thực trạng thừa cân - béo phì ở độ tuổi 45 - 65 tại thành phốVinh – Nghệ An
2 Xác định một số chỉ tiêu sinh học ở những ngời thừa cân - béo phì độ tuổi
45 – 65 tại thành phố Vinh – Nghệ An
3 Đánh giá thực trạng một số bệnh thờng gặp ở ngời thừa cân - béo phì độ tuổi
45 - 65 tại thành phố Vinh – Nghệ An
Trang 3Chơng i tổng quan
1.1 Tình hình thừa cân - béo phì trên thế giới và ở Việt Nam
1.1.1 Tình hình thừa cân – béo phì trên thế giới
Tổ chức Y tế thế giới (WHO) [67], [77] khẳng định, béo phì là một đại dịchtoàn cầu Hiện nay, tình hình thừa cân - béo phì đang tăng lên với một tốc độbáo động không những ở các nớc phát triển mà ở cả các nớc đang phát triển
theo WHO [76], [77] cho biết, bên cạnh 800 triệu ngời thiếu ăn, hiện cóhơn 1 tỷ ngời trởng thành thừa cân – béo phì, trong số đó có ít nhất 300 triệu ngời
bị béo phì, ở các nớc đang phát triển có 115 triệu ngời Theo dự báo con số này sẽtăng gấp đôi trong 5 năm tới Vì vậy, WHO cảnh báo đó là một “đại dịch mới đốivới loài ngời”
ở Mỹ, hiện nay có 30% ngời trởng thành bị thừa cân - béo phì (khoảng 60 triệungời) tăng gấp 3 lần so với năm 1991 (25 triệu ngời) và 9 triệu thanh thiếu niên từ
6 - 19 tuổi bị thừa cân - béo phì [37], [54]
ở Canada trong những năm 1995 – 2003 xu hớng tăng cân trở nên rất phổbiến, có tới 1/3 tổng số dân bị thừa cân - béo phì và trong 8 năm đó có thêm1,1 triệu ngời trong tổng số 32 triệu dân bị thừa cân - béo phì và con số này
đang tăng lên [76]
Hiện nay, ở úc 76,7% đàn ông và 52% phụ nữ đã bị xếp vào hạng quá mập,không những ở ngời lớn mà cả trẻ em càng ngày càng nhiều ngời bị thừa cân - béophì và có gần 30% trẻ em đang mắc chứng mập phì ở nớc này [62], [70]
Trong khi đó, ở Châu á, tại Trung Quốc tốc độ gia tăng tình trạng thừa cân - béophì đã lên tới 97% trong 10 năm qua Từ giữa năm 1992 – 2002, đã có hơn 60 triệu
Trang 4ngời bị thừa cân - béo phì Đặc biệt, ở những thành phố của Trung Quốc có 12%thanh thiếu niên và 8% trẻ em bị thừa cân - béo phì Tình trạng thừa cân - béo phì cóthể lên đến 20% dân số tại một số thành phố Trong khi đó tỷ lệ này tại một số vùng
đô thị ở Samoa còn vợt hơn 75% [60], [72]
ở Hàn Quốc, tỷ lệ thừa cân - béo phì năm 1995 là 22,2% hiện nay đã lêntới 36% đặc biệt, tỷ lệ béo phì ở trẻ em cả nữ và nam đã tăng gấp đôi tơngứng 15,4% và 15,9% trong 3 năm qua [72], [77]
Tại Châu âu, có tới 1/4 thanh thiếu niên bị thừa cân - béo phì, hằng nămphát hiện 400 000 ca béo phì mới Trong đó, Anh đứng đầu với 23% ngời bị thừacân - béo phì [57], [78] Tại Pháp, cứ 10 ngời có 1 ngời bị thừa cân - béo phì, tỷ lệnày ở trẻ em chiếm 12% Hiện nớc này có tới 5,4 triệu bệnh nhân thừa cân -béo phì, tăng gần 2 lần so với năm 1980 và căn bệnh này càng phát triển rõ rệt[62] Số ngời thừa cân - béo phì ở trẻ em cũng đã lên đến mức báo động với3% trẻ em ở độ tuổi từ 5 – 12 vào năm 2004 [59]
Tại các nớc đang phát triển, tỷ lệ thừa cân – béo phì đang gia tăngvới mức kỷ lục từ 10 năm trở lại đây, thậm chí ở một số nơi nạn đóihoành hành cũng có ngời bị béo phì Namibia hay Zimbabwe có gần 1/4phụ nữ bị béo phì Tại Tunisia số lợng ngời mắc chứng béo phì tăng từ 28%năm 1997 lên 42% năm 2003 [60], [77]
Tại Brazil chỉ trong vòng 15 năm trở lại đây, tỷ lệ ngời thừa cân - béo phìtăng 12% Trong đó, 40% dân chúng ở độ tuổi hơn 20 (khoảng 38,8 triệu ngời)
bị thừa cân và khoảng 16% dân số (10,5 triệu ngời) bị béo phì, đặc biệt phổbiến ở những phụ nữ nông thôn nghèo, chỉ 4% dân số (3,8 triệu ngời) có trọnglợng dới mức bình thờng [54], [64], [78] ở các hòn đảo Caribbean có tới 25%nam và 50% nữ bị mắc bệnh thừa cân - béo phì [77]
Hiện nay, thừa cân - béo phì đã bắt đầu “chinh phục” những vùng đất mà đại
đa số ngời dân sống trong tình trạng thiếu dinh dỡng trầm trọng, triền miên nhNam Phi, tỷ lệ ngời thừa cân - béo phì ở mức 12,1%, trong đó có 29% nam giới và57% nữ giới ở Ai Cập tỷ lệ này là 33% [60], [63], [77], [78]
Tình trạng thừa cân - béo phì cũng tăng đều ở trẻ em Trên thế giới hiện nay có 22triệu trẻ em từ 5 tuổi trở xuống bị thừa cân - béo phì Tại Châu Âu có hơn 14 triệu trẻthừa cân - béo phì [54], [64] Bồ Đào Nha hiện nay có hơn 30% thiếu niên từ 9 - 16tuổi thừa cân - béo phì, tăng gấp 3 lần so với 10 năm trớc (theo [37])
Trong hội nghị Quốc tế lần thứ 10 về thừa cân - béo phì đợc tổ chức tại Sydney(úc) [72], các chuyên gia đã nhận định: thừa cân - béo phì đang là một đại dịchkhông thể xem thờng trên phạm vi toàn thế giới, bởi các thói quen dinh dỡng và nếp
Trang 5sống thụ động tại các nớc phơng Tây giàu có đang lan rộng đến phần còn lại của thếgiới Theo đó, ngời dân ở các nơi lệ thuộc vào chế độ dinh dỡng quá giàu chất đờng,chất béo xấu cũng nh hoạt động thể chất ngày càng giảm thiểu, trong khi đây là mộttrong những nguyên nhân chủ yếu gây ra béo phì và sau đó là các căn bệnh mãn tínhkhó trị nh tiểu đờng typ 2, các bệnh tim mạch, cao huyết áp, tai biến mạch máu não
và một số dạng bệnh ung th [11], [14], [18], [52], [60]
1.1.2 Tình hình thừa cân – béo phì ở Việt Nam
Thừa cân - béo phì là một vấn đề y tế lớn trong một nớc đang phát triển nhnớc ta Khi đời sống kinh tế nâng cao và tỷ lệ đô thị hóa tăng lên thì tỷ lệ thừacân - béo phì cũng tăng lên Tỷ lệ thừa cân - béo phì đã tăng rất nhanh trongvòng 10 năm lại đây [17], [19]
Theo số liệu thống kê của Hà Huy Khôi (2002) [17], [19] cho thấy, trớc năm
1995 hầu nh cha thấy ngời thừa cân – béo phì, nhng sau năm 1995 và đặcbiệt từ sau năm 2000 đến 2001, tỷ lệ ở ngời trởng thành nam giới đã lên10,1%, nữ giới 13,2% Đến năm 2005 tỷ lệ này tăng lên 22,5% ở khu vựcthành phố cao gấp 3 lần ở nông thôn là 6,8% [19], [34] Lê Bạch Mai [34] đãcông bố kết quả điều tra mới nhất trên toàn quốc về tình trạng thừa cân – béophì: tỷ lệ thừa cân - béo phì ở độ tuổi 25 - 64 là 16,3% (cứ 100 ngời có 17 ng-
ời bị thừa cân – béo phì); Béo bụng và tỷ lệ mỡ tăng cao là những đặc điểm
đáng chú ý ở phụ nữ Thừa cân - béo phì đã trở nên rất phổ biến và tăng dầntheo tuổi tác Tỷ lệ thừa cân - béo phì ở phụ nữ cao hơn nam giới là ở nữ 10%
độ tuổi 30 - 40 và tỷ lệ 16,7% ở tuổi 45 trở lên còn ở nam giới thừa cân - béophì ở tuổi 30 - 40 là 6 - 8%, ở tuổi 40 – 44 là 12% [19], [34]
Nhìn chung cả nớc, các khu vực từ miền nam trở vào có tỷ lệ thừa cân –béo phì cao hơn miền Bắc Trong đó,Vùng Đông Nam Bộ (gồm cả Thành phố
Hồ Chí Minh) có tỷ lệ thừa cân – béo phì cao nhất là 13,7% và vùng ĐôngBắc thấp nhất là 9,5% [1], [18] Nguyên nhân là do khu vực Đông Nam Bộ lànơi ngời dân tiêu thụ lợng thịt bình quân cao nhất nớc, trung bình 80gr/ng-ời/ngày, trong khi đó tiêu thụ rau xanh 300 - 500 gr/ngời/ngày thấp hơnkhoảng 3 - 4 lần so với khuyến nghị [16],[19]
Tình trạng thừa cân - béo phì có xu hớng gia tăng và việc dự phòng thừa cân– béo phì ở Việt Nam đang thực sự cấp thiết Trớc thực trạng đó, một sốnghiên cứu về tình hình thừa cân - béo phì ở ngời trởng thành đợc tiến hànhtrên địa bàn Hà Nội tại một số quận nh nghiên cứu của Đỗ Kim Liên (2003)
Trang 6[29], Trần Xuân Ngọc (2002) [36], Phạm Thị Thảo Trang năm 2002 [41] hoặc
đối với một số đối tợng đặc biệt nh các cán bộ đến khám tại bệnh viện HữuNghị nghiên cứu của Trần Đình Toán (1998) [42], cán bộ ngành công an [47] hoặccác bà nội trợ [48] Hoặc một số nghiên cứu trên đối tợng là ngời già nh kết quảnghiên cứu của Trần Đức Thọ, Phạm Thắng (2003) [45]
Các chơng trình điều trị giảm cân xuất hiện nh một số thử nghiệm điều trịbằng giáo dục chế độ ăn kết hợp với tập luyện nh nghiên cứu của Dzoãn Thị T-ờng Vi, Nguyễn Thị Lâm, Từ Ngữ (2002) [49], Lê Bạch Mai (2004) [33], dùngChitosan nghiên cứu của Phan Bích Nga (2003) [35] hoặc một số thuốc đông y
nh nghiên cứu của Nguyễn Minh Hà, Bành Văn Khừu, Bùi Quốc Trị (2002)[19].Tại thành phố Hồ Chí Minh có một số nghiên cứu của Nguyễn Thị KimHng và cộng sự (2002) [10]
Tình trạng thừa cân - béo phì ở trẻ em cũng đang ở mức đáng lo ngại Theo kết quả
điều tra của viện Dinh dỡng 4,9% số trẻ từ 4 - 6 tuổi tại Hà Nội bị thừa cân – béo phì
ở thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ này cao hơn rất nhiều, đó là có 6% trẻ dới 5 tuổi,
đến 22,7% trẻ đang học cấp bị thừa cân – béo phì [19], [46].Tỷ lệ thừa cân của trẻdới 5 tuổi tăng dần qua các năm 1992 - 2,2%, 2002 - 3,6% và 2005 – 6,3% [34]
Năm 2003, tại thành phố Hồ Chí Minh tỷ lệ trẻ béo phì cao nhất 16,1% số học sinhthừa cân - béo phì cao hơn Hà Nội 1,5 lần, hơn Hải Phòng 3 lần [1], [18], [30]
Theo Lê Thuý Tơi (theo [37]) cho biết, cách đây 10 năm trẻ 11 tuổi béo phì có sốcân nặng lớn nhất là 67kg thì nay tại phòng khám và điều trị béo phì Viện Y Dợchọc Dân tộc nhiều trờng hợp trẻ mới 11 tuổi nhng nặng tới 99 - 100 kg Thực tế tạicác phòng khám dinh dỡng, phòng điều trị béo phì ở các bệnh viện đều có số ngờithừa cân – béo phì đến điều trị ngày càng tăng cao [19], [28], [34]
Trớc tình hình đó, Viện Dinh dỡng đã chính thức khai trơng Trung tâm t vấn,phục hồi dinh dỡng và kiểm soát béo phì với hi vọng trung tâm sẽ hoạt động tốt vàhiệu quả trong việc chăm sóc sức khoẻ cộng đồng, chủ yếu tập trung vào:
- Cải thiện chiều cao ngời Việt Nam (ngay từ trong bào thai)
- Đẩy mạnh tuyên truyền rộng rãi và khuyến khích ngời dân thực hiện dinh dỡnghợp lý và hoạt động thể lực đễ dự phòng béo phì và các hậu quả của nó
- Việc kiểm soát thừa cân – béo phì cần đợc coi trọng để từ đó đa ra nhữngchiến lợc hợp lý nhằm giảm thiểu tình trạng này
- Nghiên cứu và đa ra những thực phẩm chức năng để góp phần hạn chế thừa cân– béo phì cũng cần đợc lu ý [34]
Trang 71.2 Tiêu chuẩn xác định thừa cân – béo phì độ béo phì
1.2.1 Định nghĩa thừa cân – béo phì
Thừa cân (Overweght) là tình trạng cân nặng vợt quá cân nặng nên có so với
chiều cao (tỷ lệ cân nặng/chiều cao) [28], [72], [76], [78]
Béo phì (Obesity) là tình trạng tích luỹ mỡ thái quá và không bình thờng một cách cục
bộ hay toàn thể tới mức ảnh hởng xấu đến sức khoẻ [28], [14], [72], [76]
1.2.2 Tiêu chuẩn đánh giá thừa cân – béo phì
Mặc dù có mối tơng quan chặt chẽ giữa thừa cân và béo phì khi đo khối mỡcơ thể nhng ở một số ngời có khối nạc hay cơ vạm vỡ cũng có tỷ lệ cânnặng/chiều cao cao, dù không tăng mỡ [22], [37] Vì vậy, theo Tổ chức Y tếthế giới, thuật ngữ “béo phì” không nên để mô tả tỷ lệ cân nặng/chiều cao đơnthuần, nhng thông thờng tỷ lệ cân nặng/chiều cao cao có thể coi nh một chỉtiêu đánh giá béo phì vì đa số ngời có tỷ lệ cân nặng/chiều cao cao đều là béophì [14], [22], [23] Đối với ngời trởng thành, chiều cao thờng ít thay đổi Vìvậy, phơng pháp thông dụng nhất hiện nay và đợc nhiều tác giả thừa nhận nhất
là đánh giá theo chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index) [22] [27], [52].Chỉ số này cho phép ớc lợng mức độ thừa cân – béo phì Ưu điểm của chỉ sốnày là loại bỏ đợc ảnh hởng của chiều cao so với trọng lợng cơ thể [23], [77],[78]
- Chỉ số BMI đợc tính theo công thức:
BMI = W/(H2)
Trong đó, W(weight) là khối lợng của cơ thể (tính bằng kg).
H(Hight) là chiều cao cơ thể (tính bằng m).
- Phơng pháp xác định mức độ thừa cân – béo phì theo tiêu chuẩn:
Hiện nay tiêu chuẩn xác định thừa cân – béo phì theo BMI là [9], [27], [37]: + BMI <18,5 – Gầy
Trang 8Khối lợng gầy (Lean body mass) gần đồng nghĩa với khối lợng không mỡ (fat free mass) bằng khối lợng toàn bộ cơ thể trừ đi khối lợng mỡ Trong đó,
hệ cơ bắp chiếm 35 - 40% cân nặng cơ thể thuộc khối lợng gầy Các côngtrình nghiên cứu đều khẳng định ở ngời lớn có mối tơng quan giữa khối mỡ vàcân nặng cơ thể, tăng cân tức là khối mỡ tăng lên thì cân nặng cũng tăng [22],[32], [36].Vì vậy, để đánh giá mức độ thừa cân – béo phì vừa kết hợp đánh giáBMI với % vợt cân nặng lý tởng [37], [78]
Theo Phan Thị Kim [22] và nhiều tác giả khác, tiêu chuẩn phân biệt thừa béo phì theo BMI và cân nặng [11], [15], [37],[77], [78]
nặng lý tởng
BMI (Kg/
m 2 ) Thừa cân (Overweght)
Trang 9ý nghĩa dự báo nguy cơ thừa cân – béo phì và các vấn đề sức khoẻ liên quan [32],[52], [67].
Gần đây, với các kỷ thuật đo thành phần cơ thể hiện đại nh đo bằng máy
hấp thụ năng lợng kép sử tia X (DEXA) cho phép xác định chính xác khối
mỡ, khối nạc, khối xơng toàn thân, giúp ích cho chẩn đoán và theo dõi trịbệnh hoặc dùng chỉ số về nhân trắc, dùng khí tan trong mỡ để đo khối mỡ,
dùng kỹ thuật điện trở kháng điện sinh học (Bioelectrical impedance) Tuy
nhiên do giá thành còn cao nên cha đợc phổ biến rộng rãi [23], [37], [78].1.3 Nguyên nhân thừa cân - béo phì
Thừa cân - béo phì là hậu quả của tình trạng mất cân bằng năng lợng, trong
đó năng lợng ăn vào vợt quá năng lợng tiêu hao song song với giảm hoạt độngthể lực trong một lối sống tĩnh tại [18], [51], [64] Một số nghiên cứu cho thấytrên 90% nguyên nhân dẫn đến thừa cân – béo phì do yếu tố bên ngoài (nh ănuống, chế độ vận động, sinh hoạt) và không đến 10% là do yếu tố di truyền,bệnh lý (các bệnh lý về gen, bệnh lý nội tiết) [14], [18], [19], [55]
1.3.1 Khẩu phần và thói quen ăn uống
Theo Nguyễn Công Khẩn [19] chế độ ăn nhiều thức ăn động vật làm tăng
nguy cơ thừa cân – béo phì theo chỉ số BMI từ 2 - 2,6 lần Việc tiêu thụ cácthức ăn động vật, đặc biệt là thịt có chứa nhiều axít no sẽ làm tăng lợngCholesterol và tăng tỷ lệ năng lợng của khẩu phần do chất béo và các chất đạm cungcấp Thói quen ăn uống ngoài gia đình, tăng tiêu thụ thức ăn nhanh, lạm dụng r ợubia cũng là những yếu tố nguy cơ làm tăng thừa cân – béo phì [27], [64]
Khi chế độ ăn cung cấp năng lợng vợt quá nhu cầu, nếp sống làm việc tĩnhtại, ít tiêu hao năng lợng sẽ làm cân nặng cơ thể tăng lên Các nghiên cứu chorằng, chỉ cần ăn d 70 kalo mỗi ngày sẽ dẫn tới tăng cân mặc dù số kalo nàynhỏ nhng không nhận ra dễ dàng nhất là khi ăn những thức ăn giàu năng lợng[17], [27] Các thức ăn giàu chất béo thờng ngon miệng nên ngời ta dễ bị ănquá thừa mà không biết Mỡ có đậm độ năng lợng cao gấp 2 lần đờng, lại cần
ít kalo hơn để dự trữ dới dạng triglyxerit Vì vậy, khẩu phần nhiều mỡ dễ dẫn
đến thừa kalo và tăng cân [34], [62], [64]
Các chất sinh năng lợng có trong thức ăn nh Protit, Lipit, Gluxit khi vào cơthể đều chuyển hoá thành chất béo dự trữ Nh vậy, một khẩu phần không phải ănnhiều chất béo mới gây béo mà ăn quá thừa chất bột, đờng, đồ ngọt đều có thểgây béo [33], [53], [64]
Trang 10Các thói quen nh ăn nhiều cơm (hơn 3 bát/bữa), ăn nhiều vào buổi tối, thích ăn nhữngthức ăn chứa nhiều năng lợng (đờng, mật, thịt mỡ, dầu mỡ…) thích ăn các món ăn xàorán cũng là một yếu tố dẫn tới dễ tăng cân [22], [27], [34]
1.3.2 Hoạt động thể lực
Theo Nguyễn Công Khẩn [19], cho biết, hoạt động thể lực cũng là mộtyếu tố ảnh hởng đến tình trạng gia tăng tỷ lệ thừa cân – béo phì Tình trạngnày thể hiện rõ giữa ba nhóm chính là nông dân, thợ thủ công và ngời làm việcvăn phòng Những ngời làm việc nặng nh nông dân, công nhân có tỷ lệ thừacân - béo phì thấp Những ngời làm nghề thủ công có nguy cơ thừa cân béo phìcao hơn 30% Những ngời làm việc văn phòng có nguy cơ mắc bệnh béo phìcao nhất Ngoài ra, t thế lao động, sử dụng phơng tiện lao động hay việc thamgia thể thao là những yếu tố liên quan đến thể lực Ngời ta cho rằng, việc giảmtiêu thụ năng lợng là kết quả của việc sử dụng máy vi tính, điều khiển từ xa, lò
vi sóng, đi lại bằng ô tô, dẫn đến ít hoạt đông thể lực là yếu tố đóng góp vào sựgia tăng tỷ lệ thừa cân – béo phì [18], [28], [57], [64]
Theo Tổ chức Y tế thế giới – 2001 (theo [29]), cùng với yếu tố ăn uống,
sự gia tăng tỷ lệ thừa cân - béo phì đi song song với sự giảm hoạt động thể lựctrong một lối sống tĩnh tại hơn, thời gian dành cho xem tivi, đọc báo, nóichuyện qua điện thoại, lái xe, ăn uống cao hơn
Những ngời hoạt động thể lực nhiều thờng ăn thức ăn giàu năng lợng, khi họthay đổi lối sống hoạt động nhng vẫn giữ thói quen ăn nhiều cho nên dễ bị béo Điềunày giải thích hiện tợng béo phì ở tuổi trung niên, ở các vận động viên sau khi giảithể và công nhân lao động chân tay có xu hớng béo phì khi về hu Những ngời vận
động tích cực sẽ không bị bệnh béo vì vận động là một ph ơng thức tiêuhao năng lợng Song nếu sau vận động lại ăn uống quá nhiều, v ợt quá mứctiêu hao của năng lợng vận động thì lại càng nhanh béo hơn [16], [18],[27]
1.3.3 Yếu tố di truyền
Theo Mayer J.(1995) [22], [23], [27] nếu cả bố và mẹ đều bị béo phìthì có 80% con họ bị béo phì Nếu một trong 2 ng ời có béo phì thì 40%con họ bị béo phì Ngợc lại nếu cả bố và mẹ bình thờng thì khả năng cáccon bị béo phì chỉ chiếm 7% [23] Yếu tố di truyền có vai trò nhất định
đối với béo phì, những trẻ béo phì thờng hay có cha mẹ béo, tuy vậy nhìntrên đa số cộng đồng yếu tố này không lớn [22], [37], [77]
Trang 111.3.4 Môi trờng xã hội và yếu tố tâm lý
Theo Đào Khang (2003) [11], những khu vực có nền kinh tế kém phát
triển, nghèo nàn thờng ít ngời bị béo phì Những vùng địa lý có khí hậu ánhiệt đới 4 mùa ma nắng nóng, ăn uống hạn chế, phải làm việc nhiều nên
ít ngời bị béo bụng Ngợc lại, ở vùng cận hàn đới, mùa đông rét buốt làmtăng cảm giác đói, khiến ngời ta ăn nhiều, uống rợu nhiều, ít làm việc nên
có nhiều ngời béo Sống ở vùng núi cao, con ngời phải hoạt động nhiềunên ít béo hơn vùng đồng bằng [63], [64]
Bên cạnh đó, phong tục tập quán, ý thức truyền thống dân tộc cũng ảnhhởng đến sự gầy béo của con ngời Những ngời chuyển sống từ phơngNam lên phơng Bắc, từ châu á sang châu âu, châu mỹ đều béo lên rấtnhanh [54], [60], [64], [78]
Một số nghiên cứu cho thấy, những ngời bị chấn thơng tâm lý, nhất lànhững cú sốc cảm xúc (quá buồn chán, quá phấn chấn, quá đau khổ…) dothất tình, sau ly hôn, sau một thất bại trong kinh doanh, trong học tập,trong phấn đấu về danh vọng; sau những thay đổi về nơi sống, cách sống…làm cho ngời ta chán nản, ngồi trầm t một chỗ, ít hoạt động thờng tổ chứcnhững cuộc ăn uống lấp chỗ trống vắng, cho khuây nỗi buồn…Từ đó dẫn đếncơ thể tăng cân nhanh hơn [28], [33]
1.3.5 Yếu tố kinh tế
Theo Nguyễn Công Khẩn [34] cho biết, khi kinh tế phát triển chỉ số dinh ỡng trong bữa ăn của đại đa số gia đình, nhất là ở thành thị đợc cải thiện rấtnhiều Nớc ta mấy năm gần đây, đời sống kinh tế đợc cải thiện nhiều, do đó tỷ
d-lệ ngời thừa cân – béo phì đang có khuynh hớng tăng nhanh, nhất là ở các đôthị ở nớc ta vừa trải qua một thời kỳ nhìn đâu cũng toàn thấy suy dinh dỡng,nên trong suy nghĩ mọi ngời đều thích nhìn những em bé “sổ sữa” bụ bẫm, cổ
- tay - chân đầy ngấn, ngời lớn thì mập có bụng một chút cho sang trọng, pháttớng phát tài… nên dễ mất cảnh giác Theo ông nền kinh tế phát triển đã manglại cho cuộc sống đô thị nhiều thay đổi nh thực phẩm dồi dào, sẵn có, thức ăncông nghiệp tràn lan, phơng thiện máy móc gia đình đa dạng làm giảm hoạt
động chân tay Ngoài ra, đời sống của ngời dân đợc nâng cao, nên đã có một
bộ phận ngời dân ăn uống thoả thích, không kiểm soát đợc bữa ăn của mình.…
Là những yếu tố tác động đến việc gia tăng không cỡng đợc của thừa cân –béo phì
Trang 12Các nớc đang phát triển, tỷ lệ ngời thừa cân - béo phì ở tầng lớp nghèo cònthấp (thiếu ăn, lao động chân tay nặng, phơng tiện đi lại khó khăn) béo phì đợccoi là một đặc điểm giàu có [37], [70], [77].
1.3.6 Thừa cân – béo phì do nguyên nhân bệnh tật
Một số bệnh tật cũng là nguyên nhân dẫn tới thừa cân - béo phì chủ yếu là
các bệnh liên quan đến vùng dới đồi não, nơi có những trung khu điều khiển
sự ăn uống của con ngời [68], [72] Các bệnh não nh bị khối u, viêm nhiễm,thấm dịch, phù nề; các bệnh mạch máu não nh dị thờng mạch máu, u mạchmáu, xuất huyết, tắc mạch, đặc biệt là các chấn thơng sọ não do tai nạn giaothông, do va đập sẽ ảnh hởng không tốt đến các chức năng vùng đồi thị và dới
đồi thị dẫn đến các triệu chứng ăn nhiều, uống nhiều, ít vận động, do đó làmcho cơ thể béo ra Những ngời béo do bệnh não thờng là béo đều toàn thân[52], [56], [76]
Ngoài ra, những ngời có bệnh nội tiết làm cho việc chuyển hoá chất mỡ bịrối loạn; những phụ nữ bị bệnh bộ phận sinh dục (cắt buồng trứng, tử cung…)rất dễ bị phát phì [11], [43], [67], [73]
1.3.7 Thừa cân – béo phì nguyên nhân do ngủ ít
Nếu cơ thể bị mất ngủ thờng xuyên hoặc bận rộn đến mức có rất ít thời gian
để chợp mắt thì có nguy cơ tăng cân [27], [30], [53] Theo Carol Everson(Milwaukee, Mỹ) [54] cho rằng, có mối liên hệ trực tiếp giữa mất ngủ và tăngtrọng: thiếu ngủ sẽ can thiệp vào cơ chế chuyển hoá cơ thể, trong đó leptin –hor môn báo hiệu cảm giác no giảm và ghrelin – hormon báo hiệu cảm giác
đói lại tăng Chính điều này làm cho con ngời cảm giác ăn ngon miệng hơn.Chỉ cần mất ngủ 4 giờ trong 2 đêm liên tiếp, mức leptin đã giảm đến 18%trong khi mức ghrelin lại tăng lên 28% và cơ thể sẽ cảm thấy đói hơn Điềunày, đa đến việc tiêu thụ nhiều thức ăn, nhất là thực phẩm có sẵn chứa nhiềunăng lợng Do đó dễ dấn tới tăng cân nhanh Đặc biệt ở trẻ em ăn, ngủ thiếu điều
độ là yếu tố gây nên thừa cân – béo phì [30], [51], [62]
1.3.8 Thừa cân – béo phì do nguyên nhân thuốc men
Sử dụng những loại thuốc nh: thuốc ngừa thai, thuốc chứa hormôn, thuốctiểu đờng, thuốc chống suy nhợc và thuốc chống cao huyết áp sẽ làm cho cânnặng cơ thể tăng lên dễ dẫn tới thừa cân – béo phì [68], [72]
1.3.9 Thừa cân – béo phì nguyên nhân do m ẹ nhiều tuổi
Một số bằng chứng cho thấy phụ nữ lớn tuổi mới sinh con lần đầu thì đứa trẻthờng có nguy cơ bị thừa cân - béo phì cao hơn Đa số phụ nữ ngày nay sinh
Trang 13con đầu lòng ở tuổi rất muộn, điều này cũng đã góp phần làm tăng tỷ lệ thừacân – béo phì ở trẻ em [6], [30], [64], [68] Việc làm mẹ muộn là một nhân tốnguy cơ của thừa cân - béo phì, vì độ tuổi sinh nở có liên quan đến l ợng mỡcơ thể, đặc biệt là khoảng thời gian giữa hai lần sinh tăng Quy mô gia đìnhgiảm, những đứa con đầu lòng luôn chiếm sự chia sẽ lớn hơn và sự kết hợpgiữa mẹ già - con muộn, đặc biệt là con một nhiều hơn có thể góp phần vàolàm tăng nguy cơ thừa cân - béo phì [7], [30], [68].
Ngoài ra, thừa cân – béo phì còn do một số nguyên nhân khác nh :
- Bỏ thuốc lá: Hút thuốc lá cơ thể sẽ giảm cân Khi bỏ thuốc lá thì cơ thểtăng cân Khi cai thuốc lợng adrenalin hạ xuống, lợng isulin tăng lên, hệthống tim mạch đỡ bị kích thích, sự oxy hoá glucô dễ dàng hơn Nhờ đó,cơ thể lợi đợc khoảng 550 calo/ngày dẫn tới việc tăng cân Trong thời giancai thuốc trung bình cơ thể tăng 3,5 kg trọng lợng Đặc biệt, có ngời tăngtới 10kg [15], [37], [65]
- Giới tính: lợng mỡ trong cơ thể bình thờng chiếm khoảng 12% trọng ợng ở phái nam, 25% ở nữ [27] Nh vậy, trong cơ thể nữ thờng có lợng mỡgấp đôi ở cơ thể nam ở nữ, lợng mỡ d hình thành từ các điểm dới rốn:phần bụng dới, háng, mông và đùi, tạo dáng hình quả lê Trong khi đó pháinam lại là phần trên: bụng trên, ngực, vai, cổ và gáy, tạo dáng hình quả táo[4], [22], [23], [38], [40], [67]
Theo một kết quả điều tra tại Luân Đôn cho thấy theo sự tăng tr ởng củatuổi, số ngời béo phì của nam và nữ đều tăng lên nhng tốc độ của nữ tăngnhanh hơn nam, nhất là sau 50 tuổi vợt hơn hẳn nam giới [15]
- Tuổi tác: tuổi tác cũng liên quan đến sự gầy béo của cơ thể Tuổi “phátphì” thờng vào độ 45 – 50 tuổi trở lên [14], [15] Những ngời ở lứa tuổinày thờng giảm các hoạt động, có nhiều thay đổi trong chu kỳ sinh học,sức đề kháng của cơ thể yếu, có nhiều bệnh tật phát sinh, có nhiều streess
do hoàn cảnh sống Ngoài ra, ở lứa tuổi này các hormôn nữ oestrogenkhông còn đợc sản xuất tốt nh khi còn trẻ, sự thiếu hụt các hormôn nữ ảnhhởng trực tiếp tới quá trình chuyển hoá của cơ thể khiến mỡ bị tích lạinhiều hơn, cơ thể nhanh chóng tăng cân một cách khó kiểm soát [23], [25], [55].Thêm vào đó, ở độ tuổi này đời sống đã có xu h ớng ổn định Nhất là phụnữ sau tuổi 45 thời kỳ tiền mãn kinh, thời gian này phụ nữ th ờng dễ lên
Trang 14cân Do hiện tợng giảm nội tiết tố sinh dục và sự giảm về chức năng trao
đổi chất do tuổi tác [37], [56], [68]
Đối với ngời cao tuổi: nếu với chế độ ăn nh lúc trẻ cùng với cuộc sống nhànnhã đã làm cho các cụ trên 60 tuổi tăng cân Tuy nhiên, ở độ tuổi này, cùngvới sự tăng cân cơ thể có quá trình đang trên đà lão hoá Vì vậy, ở độ tuổi này,
tỷ lệ ngời thừa cân - béo phì không cao so với khi tuổi còn trẻ [15], [37], [38]
1.4 Hậu quả của thừa cân - béo phì
Thừa cân - béo phì ảnh hởng nghiêm trọng đến sức khoẻ và gây những áp lực, ứcchế tâm lý ảnh hởng không nhỏ đến đời sống, sinh hoạt hàng ngày của ngời bệnh[11], [25], [32], [33], [37]
1.4.1 Thừa cân – béo ph ì và bệnh đái tháo đờng
Theo Nguyễn Phúc Nghị [37], thừa cân - béo phì là một trong những yếu tốthuận lợi chính dẫn tới bệnh tiểu đờng không phụ thuộc vào isulin DNID(diabete non insulin dependant)
Đào Khang [11] cho rằng, ngời thừa cân - béo phì có mức độ mắc bệnh đáitháo đờng gấp 6,05 lần so với ngời gầy và gấp 9,78 lần so với ngời bình thờng Cácthống kê cho thấy 70 – 80% trờng hợp bị đái tháo đờng và ở Phơng Tây có 60 -90% bệnh nhân mắc DNID là những ngời thừa cân - béo phì [37], [72], [76]
Những ngời có cân nặng vợt quá mức bình thờng càng lớn thì tỷ lệ mắcbệnh đái tháo đờng càng cao [28], [29], [56] Ngời có độ béo dới 10% thì tỷ lệmắc bệnh đái tháo đờng khoảng 15%; ngời có độ béo 10 - 20% thì tỷ lệ mắcbệnh khoảng 17%; có độ béo 20 – 40% thì tỷ lệ mắc bệnh khoảng 27% vàngời có độ béo trên 40% thì tỷ lệ mắc bệnh 40% [37]
Sự tăng đờng huyết có thể do cơ thể thiếu insulin hay thừa những yếu tố chốnglại hoạt tính của insulin ở ngời béo mức insulin cao hơn ngời bình thờng Lợnginsulin của ngời béo không bị bệnh đái tháo đờng cao gấp 4 lần so với ngời bình th-ờng không bị đái tháo đờng và tế bào β tiết insulin ở họ cũng tăng lên nhiều so vớingời bình thờng [24], [43], [50], [58] ở ngời thừa cân - béo phì tác dụng củainsulin giảm và xuất hiện sự kháng insulin Bởi vì, ở ng ời béo lợng mỡtăng nhiều đã che phủ và làm giảm bớt bề mặt của các tế bào tiếp nhậninsulin Mặt khác chế độ ăn có nhiều chất béo, thói quen sử dụng nhữngthức ăn, uống có nhiều calo kéo dài cũng làm cho cơ thể kém dung nạpglucô và dễ dẫn đến đái tháo đờng [37], [56], [58] Tình trạng kháng insulin vàhội chứng chuyển hoá cũng thờng thấy ở ngời thừa cân - béo phì [37], [67], [73]
Trang 15Theo Hà Huy Khôi [18] và một số tác giả khác [4], [27], [28], [29] chorằng, có mối liên quan chặt chẽ giữa đái tháo đờng không phụ thuộc insulin vàbéo phì Nguy cơ đái tháo đờng không phụ thuộc insulin tăng lên liên tục khiBMI tăng và giảm đi khi cân nặng giảm [24], [43], [58].
1 4.2 Thừa cân – béo ph ì gây ra các bệnh về tim mạch
Nguyễn Phúc Nghị [37] cho rằng, sự d cân làm tăng tần số suy mạch vành:nguy cơ bị tắc nghẽn ở cơ tim sẽ tăng 1,5 lần khi trọng lợng cơ thể nặng thêm
từ 10 - 30% và tăng gấp đôi nếu nặng thêm quá 30%
Bệnh xơ vữa động mạch
Theo Nguyễn Văn Nhận và cs [11], lợng mỡ trong máu của ngời béo tăngcao hơn ngời bình thờng Chính lợng mỡ d thừa có hàm lợng cholesterol caotrong máu, nhất là các cholesterol xấu LDL (Low Density Lypoproteins) đãbám vào thành mạch và tạo nên những mảng xơ cứng Sự hạn chế lu thông củamáu trong những mạch bị xơ vữa đợc giải thích bằng các lý do sau:
- Các mảng xơ vữa bám vào thành mạch máu, làm cho lòng mạch bị hẹp lại và
sự mềm mại đàn hồi của thành mạch bị hạn chế
- Những thành mạch máu xơ vữa dễ bị tổn thơng Chỗ thành mạch bị tổn thơng
sẽ thu hút các tế bào bạch cầu, tiểu cầu đến và tạo nên các ổ huyết khối, cản trở sự
lu thông của mạch máu
- Mặt khác, chính lợng cholesterol trong máu tăng cản trở lu thông máu
Theo Nguyễn Phúc Nghị [37] và Phạm Thị Thảo Trang [43] cho rằng d câncũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc tăng isulin trong máu, làm tăng thêmcác tế bào nhăn ở thành mao mạch, thờng dẫn tới các tai biến mạch vành ở
đàn ông So với ngời bình thờng, ngời béo phì có nguy cơ mắc bệnh mạchvành cao gấp đôi, xơ vữa mạch máu gấp 7 lần, tai biến mạch máu não gấp
13 lần [21], [27], [37], [43]
Cao huyết áp
Nguyễn Phúc Nghị [37] cho rằng, thừa cân - béo phì thờng thấy ở bệnh nhân cao
huyết áp và có thể nó góp phần vào nguyên nhân của tăng huyết áp Thừa cân - béophì làm cho tim phải bơm nhiều máu hơn, để cung cấp nhu cầu của các mô Sự giatăng cung lợng tim có thể dẫn đến tăng huyết áp và còn làm tăng sức cản của mạchmáu ngoại biên.Vì thế, sự phát sinh cao huyết áp ở ngời béo một phần là do độngmạch bị xơ vữa và một phần khác là do tổ chức mỡ của cơ thể tăng cao Lợng mỡ
Trang 16tăng và kéo theo lợng tăng tuần hoàn máu vừa gây cản trở các động mạch ngoại vilàm tim phải tăng cờng co bóp [11], [28], [37].
Tổ chức Y tế thế giới [76] cho rằng, huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trơng
đều tăng khi BMI tăng, ngời béo có nguy cơ bị tăng huyết áp cao hơn ngờibình thờng, nguy cơ này càng cao khi tuổi càng trẻ và thời gian càng kéo dài.Tăng cân nhanh là một yếu tố liên quan đến tăng huyết áp và giảm trọng lợng
sẽ có hiệu quả giảm huyết áp Nếu tăng 7,5 mmHg huyết áp tâm trơng dẫn tớităng 29% nguy cơ bệnh mạch vành và 46% nguy cơ đột quỵ [28], [43], [67].Theo nghiên cứu của Nguyễn Thị Kim Hng và cs [10], Dzoãn Thị Tờng Vi[49] đều cho thấy huyết áp tâm thu và huyết áp tâm trơng có mối liên quan d-
ơng tính với BMI
Theo Nguyễn Phúc Nghị [37] thì việc d cân ở ngời dới 40 tuổi cũngtăng nguy cơ cao huyết áp lên gấp đôi so với ngời bình thờng ở ngờicao tuổi, sự liên quan giữa vấn đề cân nặng và cao huyết áp vẫn đang tồntại nhng nhẹ hơn và chỉ thấy rõ ở phái nam [31] Một số kết quả nghiên cứu chothấy, cứ tăng cân 10 kg thì số tâm thu và tâm trơng cũng tăng lên 2 – 3 mmHg vàvới mỗi kg cân nặng giảm xuống thì huyết áp có thể giảm xuống 0,32 mmHg[10], [48] Số ngời béo tăng huyết áp nhiều gấp 2 – 8 lần so với ngờikhông béo [37], [41], [43]
Các bệnh về tim
Nguyễn Phúc Nghị [37] cho rằng, thể tích máu của ngời thừa cân - béo phì
cao hơn ngời bình thờng Lu lợng máu ở 100g mỡ vào khoảng 2 - 3 ml/phút.Ngời béo phì có nhiều mô mỡ hơn ngời bình thờng nên thể tích lu thông trongmáu là rất quan trọng Để thích nghi cùng với khối lợng máu lớn, tim khôngthể tăng nhịp đập mà chỉ có thể tăng lợng máu lúc vào và ra tim trong thờigian tâm thu và tâm trơng Sự quá tải cả về lợng máu và áp lực lâu ngày sẽ dẫntới sự giản và phì đại tâm thất trái Hiện tợng giản và phì đại tâm thất trái ở ng-
ời béo phì kèm theo cao huyết áp sẽ dẫn tới chứng phì đại đồng tâm của tim.Hiện tợng phì đại tâm thất trái ở ngời béo phì có thể dẫn tới sự rối loạn chứcnăng của bộ phận này, nhất là khi ngời bệnh bị cao huyết áp gây ra bệnh suytim sng huyết Ngoài ra, theo Nguyễn Văn Nhận [11] những ngời béo có caohuyết áp thờng dễ bị suy động mạch vành và xơ cứng động mạch tim Khi cânnặng cơ thể tăng hơn cân nặng tiêu chuẩn 30% thì sớm muộn bệnh tim sẽ phátsinh trong vòng 10 năm
Theo một số tác giả [37], [41], [43], [51], [52] :
Trang 17- Lợng mỡ tích tụ quá nhiều làm cho dung lợng máu tuần hoàn tăng lên
và tim phải tăng thêm gánh nặng
- Lợng mỡ trong máu cao sẽ làm cho mạch máu bị xơ cứng, tế bào cơtim bị lắng đọng mỡ, thành tâm thất dày lên, cơ tim giảm co bóp…
- Lợng đờng và mỡ trong máu cao làm tăng độ dính của máu, dẫn đến
sự lu thông của máu giảm Do máu chậm luân chuyển nên hồng cầu giảmtiếp cận O2, từ đó cơ tim nhanh bị suy yếu do không đợc cung cấp đủ O2
- Ngời béo ít vận động nên tuần hoàn máu động mạch vành giảm, dẫn
đến cơ tim bị suy yếu
Tai biến mạch máu
Sự tăng cân nhanh cũng làm tăng nguy cơ tắc nghẽn mạch, đồng thời làm giảmkhả năng tiêu các sợi huyết ở mạch [31], [59], [60] Đặc biệt là bệnh tai biến mạchmáu não, yếu tố chính gây ra là cao huyết áp, thờng gặp ở những ngời béo phì vớinhững điều bất lợi khác mà họ thờng có sẵn nh: d cân thái quá, bệnh tiểu đờng typ
2, tỷ lệ cao giữa chiều cao và hông [28], [29], [51], [72] Tai biến mạch máu não làmột triệu chứng đáng lo ngại nhất ở nhiều nớc trên thế giới không chỉ vì nó thờnghay xẩy ra mà vì nó dễ dẫn tới tử vong Mỗi năm lại có từ 100 – 200 ngời bị chứngnày trong số 100.000 ngời dân [10], [67], [72]
1.4.3 Thừa cân – béo ph ì và các bệnh xơng khớp
Lớp mỡ d ở ngời thừa cân - béo phì có ích nh một lớp bảo vệ cho các khớp và
x-ơng Mặt khác, thừa cân - béo phì cũng gây ra những điều bất thờng cho bộ xơng vàcác khớp[11], [37], [81] nh sau:
Khi đứng, hai chân của ngời béo phì không đợc thẳng, các khớp đầu gối ờng bị lệch do lớp thịt và mỡ dày ở hai đùi trong đẩy xơng đùi khuỳnh rahai bên một cách bất thờng Bởi vậy, ngời béo phì có nhiều khả năng bịviêm và sng khớp đầu gối gấp 3 lần so với ngời bình thờng Hiện tợng nàycũng hay xẩy ra ở các ngón tay Trọng lợng cơ thể nặng quá khiến cho cộtsống và các khớp xơng khác của cơ thể phải gồng gánh quá sức nên hiện t-ợng đau khớp thờng xẩy ra từ tuổi 50 trở đi, ở nữ nhiều hơn nam Ngoài ra,thoái hoá khớp, đau thắt lng xẩy ra khi trọng lợng cơ thể tăng thì sức nặng
th-đè lên các khớp càng lớn, nhất là vùng lng, khớp háng, khớp gối, cổ chânlàm cho các khớp này sớm bị tổn thơng và lão hoá nhanh Hậu quả là gây
đau đớn và khó khăn trong vận động, sinh hoạt hằng ngày của ng ờibệnh Bên cạnh đó, ngời béo thờng bị đau và giảm hoạt động các khớp xơng
Trang 18cột sống, tứ chi…Trên phim X– quang thấy rõ đầu các khớp xơng sờn, đầugối, mắt cá chân có hiện tợng tăng sinh Xơng bánh chè của ngời béo có hiện tợngnhũ hoá.
Theo Nguyễn Văn Nhận [11] ngời thừa cân – béo phì có hiện tợng lắng đọng axituric(C5H4O3N4) ở các khớp xơng dẫn đến viêm khớp axit uric trong máu ngời thừacân – béo phì cao gấp 3 lần so với ngời bình thờng [11], [50], [60] Ngời có cânnặng vợt tiêu chuẩn càng nhiều thì lợng axit uric trong máu càng cao Nếu tăng axíturic kéo dài có thể gây bệnh gout biểu hiện bằng viêm khớp cấp tính các khớp chủyếu ở chi dới, tái phát nhiều lần [27], [37], [72]
Theo Nguyễn Thị Lâm [27], [28] cho thấy thừa cân - béo phì liên quan với sự hìnhthành bệnh viêm khớp xơng mãn tính và bệnh gout ở phụ nữ béo phì trong và sauthời kỳ tiền mãn kinh, có biểu hiện đau khớp gối Tăng nguy cơ mắc bệnh gout vớibéo phì có thể liên quan với sự tăng axit uric máu
ở ngời thừa cân – béo phì mà ít phơi nắng, ít hoạt động ngoài trời, ít vận động.Tình trạng này kéo dài sẽ làm giảm chất lợng của xơng Nếu có bệnh đái tháo đờng đikèm thì các triệu chứng đau mỏi cơ, xơng khớp càng nghiêm trọng hơn do thoái hoá
khớp và do tổn thơng thần kinh ngoại biên [11], [37], [76]
1.4.4 Thừa cân – béo ph ì và bệnh hô hấp
Sự tích tụ mỡ ở vùng cơ hoành, ở các xơng sờn và ở bụng khiến cho lồng ngựcgiản nở khó khăn Sức căng của thành ngực bị giảm làm cho tiêu hao năng lợng khithở tăng lên khoảng 30% ở trờng hợp béo phì đơn thuần Tỷ lệ này có thể tăng gấp đôihoặc gấp ba khi có thêm sự giảm thông khí ở phế nang Lồng ngực co giản khó làmgiảm thể tích khí dự trữ nên dung tích toàn thể (ở cả lần thở ra và hít vào) đều bị giảm,nhất là ở ngời béo phì, dẫn tới sự giảm oxy trong máu, kích thích ngời bệnh thở gấphơn Nhờ có việc tăng tần số thở (số lần thở) mà lợng khí cacbônic đợc thải ra vẫn ởmức bình thờng và không bị tích nhiều trong máu [37], [72], [76]
Thừa cân – béo phì làm giảm cấu tạo và chức năng hô hấp dẫn tới giảm sinh
lý hô hấp ở ngời thừa cân - béo sự làm việc về hô hấp tăng, chủ yếu là kết quả của
sự gắng sức quá nhiều của lồng ngực do hậu quả của sự tích luỹ tế bào mỡ xungquanh xơng sờn, bụng và cơ hoành Vì vậy, khó thở trong khi ngủ xẩy ra trên 10%
đối với phụ nữ và nam giới có BMI > 30 hoặc hơn [11], [37], [48] có tới 65 75% ngời tắc nghẽn thở trong khi ngủ là ngời thừa cân - béo phì Khó thở khi ngủ
-có ở 77% ngời -có BMI > 40 Khó thở khi ngủ về đêm gây ra buồn ngủ ngày, tăngandritcarbonic huyết, đau đầu buổi sáng, tăng huyết áp phổi và thậm chí giảm dịchnão thất phải (WHO 2001 – theo [27]) Do những nguyên nhân sau đây:
Trang 19- Mỡ tích tụ trong ổ bụng và thành ngực nên hạn chế vận động của cơ hoành vàcác cơ hô hấp thành ngực.
- Mỡ lắng đọng trong thành phế nang và các khí, phế quản nên sự thông khí ởphổi bị giảm
- Mỡ lắng đọng ở cổ, thân lỡi phì to và cuống lỡi sa xuống làm cho đờng hô hấp
bị tắc với những mức độ khác nhau
Do thông khí phổi giảm, trao đổi khí ở phế nang hạn chế nên lợng CO2 trongmáu tăng lên và lợng O2 giảm đi Nếu lợng co2 tăng quá nhiều sẽ làm cho ngờibệnh ngộ độc, tinh thần lơ mơ [11], [27], [37], [76]
Thừa cân - béo phì gây ra chứng ngng thở khi ngủ
Theo Nguyễn Phúc Nghị [37] cho là có gần 50% ngời thừa cân - béo phì bịchứng ngừng thở khi ngủ Chứng này thờng gặp ở đàn ông từ 40–60 tuổi, bị béophì từ mức trung bình tới loạn siêu phì Những đợt ngng thở liên tiếp khi ngủ dễlàm cho huyết áp tăng cao Trờng hợp nặng, hiện tợng cao huyết áp có thể xẩy ra ởvùng phổi
Thừa cân - béo phì gây ra hội chứng Pickwick
Pickwick là hội chứng ngủ gật thờng gặp ở ngời thừa cân - béo phì phái namhơn là nữ (nhiều gấp 4 lần) Có khi họ ngủ gật cả lúc đang đứng, thờng xẩy ra khirỗi rãi không có việc gì làm, nhất là sau khi ăn [37], [72]
1.4.5 Thừa cân – béo ph ì ảnh hởng đến tuổi thọ
Thừa cân - béo phì gây ra nhiều chứng bệnh làm giảm tuổi thọ Nhất là ngời thừacân - béo phì có tỷ lệ mắc bệnh tim, tắc nghẽn mạch máu não cao, những căn bệnh
nh nhồi máu cơ tim, tăng huyết áp…đều rất phổ biến Vì vậy, tuổi thọ của những
đối tợng này giảm khoảng từ 4 đến 8 năm so với ngời bình thờng, cha kể đến nhữngtrờng hợp đột tử [11], [71], [72], [76]
Qua nghiên cứu ngời ta thấy, cứ tăng 1 kg so với trọng lợng cơ thể lý tởng
sẽ bị giảm thọ 8 tháng tuổi và ở tất cả các lứa tuổi, nếu trọng l ợng cơ thể càngtăng thì tuổi thọ càng giảm (theo [37]) Nhóm ngời có cân nặng vợt quá mứcbình quân từ 30 – 40% thì mức tử vong tăng 40%; nếu vợt quá mức trên 40%thì tỷ lệ tử vong tăng tới 90% ở lứa tuổi 45, nếu trọng lợng cơ thể thừa 11kgthì sẽ giảm 1/4 và nếu thừa 23 kg thì sẽ giảm 1/2 cuộc sống còn lại (theo [11]) Ngoài ra thừa cân – béo phì còn là nguyên nhân của một số bệnh nh gannhiễm mỡ, sỏi mật, máu nhiễm mỡ, ung th và rối loạn chuyển hoá, các bệnh về
da, ảnh hởng đến chức năng sinh dục, rối loạn nội tiết, ảnh hởng đến tâm lý vàsinh hoạt [32], [33], [65], [68], [72], [74]
Trang 20Theo kết quả nghiên cứu của nhiều tác giả, bệnh sỏi mật hay gặp ở phụ nữ
và ngời già Tuy nhiên, thừa cân - béo phì làm tăng nguy cơ ở mọi lứa tuổi vàgiới gấp 3 - 4 lần, nguy cơ sẽ cao hơn khi mỡ tập trung quanh bụng [27], [37],[66], [72] ở ngời thừa cân - béo phì, cứ 1kg mỡ thừa làm tăng tổng hợp 20 mgCholesterol/ngày Tình trạng đó làm tăng bài tiết mật, tăng mức bảo hoàcholesterol trong mật cùng với mức cơ động của túi mật giảm dễ dẫn đến bệnhsỏi mật [37] Ngời béo ở mức trung bình (BMI 25 – 32kg/m2) đã có nguy cơ
bị sỏi mật gấp 3 lần ngời bình thờng còn ngời béo phì (BMI > 32kg/m2 ) thì
gấp 6 lần [18], [27]
Các nhà nghiên cứu ở Viện nghiên cứu Ung th Mỹ (AICR) chính thức báo
động “thêm cân nặng thì thêm nguy cơ ung th” Số phụ nữ mắc bệnh ng th vúcao gấp 1,3 – 3,2 lần so với số phụ nữ không béo, nguy cơ ung th thận caogấp 2 - 4 lần, nhất là những phụ nữ béo sau 5 năm mãn kinh trở lên [11], [59],[64] Thừa cân - béo phì có thể gây ra các dạng ung th nêu trên vì các mô mỡvốn tích luỹ mỡ d thừa bao quanh dạ dày sẽ làm tăng khả năng sản sinhhormôn kích dục nữ - là tác nhân gây ung th [11], [72], [77]
Một số nghiên cứu của Hiệp Hội Ung th Mỹ (1959–1972) cho thấy, ở namgiới, nếu trọng lợng cơ thể vợt quá mức bình thờng từ 40% trở lên thì tỷ lệ mắcbệnh ung th đờng ruột tăng rõ rệt, ở nữ giới tỷ lệ ung th túi mật, ống mật chủ, niêm mạc
tử cung, cổ và thân tử cung, buồng trứng tăng cao (theo [11], [37])
Chơng II Đối tợng và phơng pháp nghiên cứu
2.1 Đối tợng nghiên cứu
Nghiên cứu một số chỉ tiêu nh chiều cao đứng, cân nặng và BMI của 32.836ngời độ tuổi 45 - 65 tại thành phố Vinh, phát hiện đợc 3.589 ngời bị thừa cân -béo phì Sau đó tiến hành nghiên cứu một số chỉ số về hình thái, sinh lý và một
số bệnh thờng gặp trên 1.217 ngời thừa cân - béo phì, trong đó có 576 nam và
641 nữ
2.2 Thiết kế nghiên cứu
Dựa vào phơng pháp phân loại thừa cân - béo phì của các tác giả, chúng tôitiến hành đo một số chỉ số nhân trắc học (chiều cao đứng, cân nặng, tính BMI)
để xác định ngời bị thừa cân, béo phì Sau đó tiến hành đo một số chỉ số hình
Trang 21thái, sinh lý ở 1.217 ngời đã xác định bị thừa cân, béo phì Đồng thời tìm hiểumột số bệnh thờng gặp ở 1.217 ngời thừa cân – béo phì đã xác định đợc.
2.3 Phơng pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu một số chỉ số hình thái nh cao đứng, cân nặng, vòng bụng, vòngmông bằng phơng pháp nhân trắc học
+ Chiều cao đứng: Đo bằng thớc gỗ, có độ chia độ tới milimét Chiều cao
đ-ợc ghi theo centimét với 1 số lẻ.
Đo chiều cao đứng ở t thế đứng, ngời đợc đo không mang dày, mang dép;
ót, xơng bả vai, mông và gót dựa vào mặt phẳng đứng, mắt nhìn thẳng Chiềucao đợc tính từ chân đến vị trí cao nhất của đầu Dùng thanh chắn để thẳng góctrên đầu và dọc vị trí chiều cao trên thớc đo thẳng đứng ở vị trí mà thanh chắnchạm vào thớc đo Nếu ngời già có cột sống bị cong, không đứng thẳng đợc đo
ở t thế nằm
+ Cân nặng: sử dụng cân Microtois đã đợc chuẩn hoá (độ cân 0,1 độ)
Trọng lợng cơ thể đợc ghi theo kg với 1 số lẻ.
Yêu cầu đối với ngời cân đứng hoặc ngồi, mặc quần áo nhẹ, không mangdày Đo cùng một cân cho tất cả các đối tợng nghiên cứu
+ Vòng bụng và vòng mông: Đo bằng thớc dây không co giản, kết quả đợc
ghi theo centimét với 1 số lẻ
Vòng bụng: vị trí đo ở trên rốn, đo sau khi đối tợng vừa thở ra.
Vòng mông: đo tại vùng lớn nhất của mông
Trang 22+ Xác định tần số thở bằng cách cầm tay ngời đo đặt lên ngực để đếm.
Đơn vị tính nhịp/phút.
+ Xác định thời gian nhịn thở bằng cách cho đối tợng hít vào thật sâu, sau
đó gắn kẹp mũi và bắt đầu nhịn thở Đo 3 lần, lấy kết quả lần cao nhất Đơn vị tính giây (s).
+ Xác định dung tích sống bằng máy hô hấp kế tự động Autospiropal của
hãng Minato (Nhật Bản) theo phơng pháp thở ra gắng sức Đơn vị tính lít.
- Xác định một số bệnh liên quan đến béo phì bằng phỏng vấn trực tiếp các thông tin
trên phiếu điều tra in sẵn Đối với các bệnh đã đợc khám và đang điều trị (xem phụ lục)
- Phơng pháp xử lý số liệu: số liệu thu đợc xử lý bằng toán thống kê y sinhhọc, dựa trên phần mềm vi tính Epi.info 6.0
3.1 Thực trạng về chiều cao, cân nặng và chỉ số BMI ở độ tuổi 45 - 65 tại thành phố Vinh
Kết quả nghiên cứu về chiều cao đứng, cân nặng và chỉ số BMI ở độ tuổi 45 - 65
Nam (e) 5372 159,8 4,4± 5,1 1146 157,5 4,8± 5,1
Nữ (f) 5870 149,6 4,0± 5,1 1515 148,7 5,1± 5,1
Trang 23Biểu đồ 3.2 So sánh chiều cao của nữ ở các lứa tuổi
Từ kết quả ở bảng 3.1 và biểu đồ 3.1, 3.2 ta thấy:
- Chiều cao đứng ở nam và nữ giảm dần theo tuổi tác; trong từng khoảng tuổi,chiều cao của nam cao hơn nữ, tất cả đặc biệt có ý nghĩa với p < 0.001
- ở các độ tuổi, chiều cao đứng của cả nam và nữ đều cao hơn hằng số sinhhọc, sự khác biệt có ý nghĩa với p < 0.001
Bảng 3.2 Chỉ số cân nặng ở các lứa tuổi từ 45 - 65 tại thành phố vinhKhoảng
tuổi
Giớitính
p1-2
n Cân nặng (1) n Cân nặng (2)45-50
Trang 24Nam (e) 5095 56,6 6,7± 5,1 997 50,0 5,4± 5,1Nữ (f) 5521 48,4 6,2± 5,1 1330 43,6 4,7± 5,1
Biểu đồ 3.4 Chỉ số cân nặng của nữ ở các khoảng tuổi từ 45 - 65.
Từ kết quả ở bảng 3.2 và biểu đồ 3.3, 3.4 ta thấy:
Trang 25- Cân nặng của nam tăng dần từ độ tuổi 45 - 60, sau đó ở độ tuổi 61- 65 chỉ
số cân nặng của nam giảm, còn ở nữ, chỉ số cân nặng tăng từ độ tuổi 45 - 55;cân nặng bắt đầu giảm dần từ độ tuổi 56 đến 65
- Trong từng độ tuổi, chỉ số cân nặng của nam đều cao hơn nữ, sự khác biệt
đặc biệt có ý nghĩa thống kê với p < 0.001
- ở các độ tuổi, cân nặng của cả nam và nữ đều cao hơn hằng số sinh học, sựkhác biệt có ý nghĩa với p < 0.001
Bảng 3.3 Chỉ số BMI ở các khoảng tuổi của độ tuổi 45 - 65
Khoảng tuổi
Nam Nữ
Biểu đồ 3.5 So sánh chỉ số BMI giữa nam và nữ ở các khoảng tuổi
Theo dõi số liệu ở bảng 3.3 và biểu đồ 3.5 cho thấy:
Trang 26- Chỉ số BMI ở nam tăng dần ở độ tuổi 45 - 60, sau đó giảm ở độ tuổi 61 - 65,còn ở nữ BMI tăng dần từ độ tuổi 45 - 55 và giảm ở độ tuổi 56 - 65.
- ở độ tuổi 45 - 50 và 51- 55, chỉ số BMI ở nữ cao hơn nam, nh ng ở độtuổi 56 - 60 và 61- 65, chỉ số BMI của nam lại cao hơn nữ, tất cả đều có
tuổi Giới
tính n
BMI
<18,5 (gầy)
18,5 - 24,9 (vừa)
25 - 29,9 (thừa cân)
≥ 29,9 (béo phì)
≥ 29,9
Trang 27Biểu đồ 3.6 Tỉ lệ các mức BMI của nam và nữ ở các khoảng tuổi
Theo dõi kết quả nghiên cứu ở bảng 3.4 và biểu đồ từ 3.6 - 3.10 cho thấy:
- Đối với mức BMI < 18,5 (gầy): ở độ tuổi 45 -50, 51- 55, 56 - 60 tỉ lệ nam caohơn nữ; nhng ở độ tuổi 61 - 65, tỉ lệ BMI < 18,5 của nữ lại cao hơn nam Chungcho cả độ tuổi từ 45 - 65 thì ở mức BMI < 18,5, nam có tỉ lệ cao hơn nữ
Tỷ lệ BMI < 18,5 ỏ nam giảm dần ở độ tuổi 45 - 60, và tăng ở độ tuổi
61 - 65 nhng ở nữ tỷ lệ này giảm ở độ tuổi 45 - 55, sau đó tăng ở độtuổi 56 - 65 Điều này đợc thấy rõ qua biểu đồ 3.7
%
20.26
12.28 14.46
Biểu đồ 3.7 Tỉ lệ % của nam và nữ có chỉ số BMI < 18,5 (gầy) ở tuổi 45 - 65
- Đối với mức BMI = 18,5 – 24,9 (vừa): ở độ tuổi 45 - 60, tỉ lệ nữ cao hơnnam; nhng ở độ tuổi 61 - 65 thì tỉ lệ nam cao hơn nữ Chung cho cả độ tuổi từ
45 - 65 thì ở mức BMI = 18,5 - 24,9, nữ có tỉ lệ cao hơn nam
Qua biểu đồ 3.8 cho thấy, mức BMI = 18,5 - 24,9 ở nam tỷ lệ này tăng dần ở
độ tuổi 45 - 55 và giảm ở độ tuổi 56 - 65 còn ở nữ giảm dần theo tuổi tác
69.18
74.90 75.55
72.99
76.59 77.92
68.33 76.14
62 64 66 68 70 72 74 76 78 80
Trang 28Biểu đồ 3.8 Tỉ lệ % của nam và nữ có chỉ số BMI = 18,5 - 24,9 (vừa)
ở tuổi 45 - 65
- Đối với mức BMI = 25 – 29,9 (thừa cân): ở độ tuổi 45 - 55, tỉ lệ nam thấp hơnnữ; nhng ở độ tuổi 56 - 60 tỉ lệ nam cao hơn nữ, ở độ tuổi 61 - 65 tỉ lệ của nam và nữxấp xỉ nhau Chung cho cả độ tuổi từ 45 - 65 thì ở mức BMI = 25 – 29,9 nữ có tỉ lệcao hơn nam
Tỷ lệ thừa cân ở nam tăng dần theo tuổi ở độ tuổi 45 - 60 và giảm dần ở độtuổi 61 - 65 nhng ở nữ tỷ lệ này tăng dần ở độ tuổi 45 - 55 sau đó giảm dần ở
độ tuổi 56 - 65 Điều này thể hiện rõ qua biểu đồ 3.9
7.99
9.15
11.74
9.82 9.78 10.44
12.46
8.80
4 6 8 10 12 14
Biểu đồ 3.9 Tỉ lệ % của nam và nữ có chỉ số BMI = 25 - 29,9 (thừa cân)
1.16
1.38
0.96
0.4 0.6 0.8 1.0 1.2 1.4
Biểu đồ 3.10 Tỉ lệ % của nam và nữ có chỉ số BMI > 29,9 (béo phì)
ở tuổi 45 - 65
Trang 29Qua biểu đồ 3.11, 3.12 dới đây cho thấy, nếu tính chung cho cả nam vànữ độ tuổi từ 45 - 65 thì tỉ lệ nam có mức BMI < 18,5 cao hơn nữ; ở mứcBMI = 18,5 - 24,9; mức BMI = 25 - 29,9 và mức BMI > 29,9 thì tỉ lệ namthấp hơn nữ.
0.82%
73.00%
Gầy Bình th ờng Thừa cân Béo phì
Biểu đồ 3.11 Tỉ lệ phân loại thể trạng theo BMI ở nam
chung cho cả độ tuổi 45 - 65
74.64%
13.93%
10.36% 1.08% Gầy
Bình th ờngThừa cânBéo phì
Biểu đồ 3.12 Tỉ lệ phân loại thể trạng theo BMI ở nữ chung cho cả độ tuổi 45 – 65
Bảng 3.5 Thực trạng thừa cân – béo phì độ tuổi 45 - 65
trên một số phờng thuộc thành phố VinhKhoảng
l-Tỷ lệ
%
Số ợng
l-Tỷ lệ
%
Số ợng
l-Tỷ lệ
%45-50
Trang 30Nữ 4050 504 12,46 47 1,16 551 13,6256-60
13.62 12.88
11.82 10.66 10.74
2 4 6 8 10 12 14
Biểu đồ 3.13 So sánh tỉ lệ thừa cân – béo phì ở các khoảng tuổi
của nam và nữ
Bảng số liệu 3.5 và biểu đồ 3.13 cho thấy:
- ở nam tỉ lệ thừa cân - béo phì tăng dần từ độ tuổi 45 lên 60, ở độ tuổi
61-65 tỉ lệ thừa cân – béo phì lại giảm nhng ở nữ tỷ lệ này tăngdần ở độ tuổi
45 - 55 và giảm dần ở độ tuổi 56 - 65
- Trong cùng độ tuổi, tỉ lệ nữ bị thừa cân – béo phì cao hơn nam nhng ở
độ tuổi 56 - 60 tỷ lệ này ở nam cao hơn nữ Tuy nhiên, mức độ chênh lệch
về tỉ lệ thừa cân, béo phì ở nam và nữ độ tuổi 45 - 50 và 51 - 55 nhiều hơn,
độ tuổi 56 - 60 và 61 – 65 ít hơn
- Chung cho cả các độ tuổi, tỉ lệ thừa cân ở nam là 9,61%, ở nữ là 10,36%;
tỉ lệ béo phì ở nam 0,81%, ở nữ 1,07% Thừa cân – béo phì ở nam là10,42%, ở nữ là 11,43% ở độ tuổi 45 - 65, tỉ lệ thừa cân – béo phì chungcho cả hai giới là 10,93%
Trang 31Kết quả nghiên cứu ở bảng số liệu 3.6 và biểu đồ 3.14, 3.15 dới đây cho
ta thấy:
- ở độ tuổi 45 - 60 tỷ lệ thừa cân và béo phì tăng dần theo tuổi, sau đógiảm ở độ tuổi 61 - 65
- Chung cho các khoảng tuổi tỷ lệ thừa cân độ tuổi 45 - 65 là 9,98% và tỷ
lệ béo phì 0,95% Xét riêng tỷ lệ thừa cân, béo phì đều tăng dần theo tuổi ở
độ tuổi từ 45 - 60 và giảm ở độ tuổi 61- 65 Chung cho cả hai giới tỷ lệ thừacân – béo phì đạt cao nhất ở khoảng tuổi 56 - 60 chiếm tỷ lệ 12,32% (với tỉ
lệ thừa cân là 11,09%, tỉ lệ béo phì là 1,23%) và thấp nhất ở độ tuổi 45 - 50 chiếm9,09% (tỉ lệ thừa cân là 8,40% và 0,69% béo phì)
- ở độ tuổi 45 - 60 tỷ lệ chung của thừa cân – béo phì tăng dần theo tuổi tác từ9,09% đến 12,32% nhng ở độ tuổi từ 61 đến 65 tỷ lệ này giảm xuống 10,70%
Bảng 3.6.Thực trạng thừa cân – béo phì phân theo khoảng tuổi
ngời độ tuổi 45 - 65 tại thành phố Vinh
Khoảng
Số ợng
l-Tỷ lệ
%
Số ợng
l-Tỷ lệ
%
Số ợng
0.90
0 2 4 6 8 10 12
Biểu đồ 3.14 So sánh tỉ lệ thừa cân và tỷ lệ béo phì ở các khoảng tuổi
ngời ở độ tuổi 45 - 65.
Trang 3211.81 12.32
10.7
4 6 8 10 12 14
Biểu đồ 3.15 So sánh tỉ lệ thừa cân - tỷ lệ béo phì ở các khoảng tuổi
ngời ở độ tuổi 45 - 65.
3.2 Một số chỉ số sinh học của ng ời thừa cân – béo phì độ béo phì độ tuổi 45 - 65 tại thành phố Vinh
Qua bảng số liệu 3.7 và biểu đồ 3.16 dới đây cho thấy:
- ở những ngời thừa cân – béo phì, trong cùng độ tuổi, chỉ số cân nặng củanam đều cao hơn nữ, tất cả đều khác biệt với p < 0.001 Nam thừa cân – béophì cân nặng tăng dần ở độ tuổi 45 - 60 và giảm ở độ tuổi 61 - 65 còn ở nữcân nặng tăng ở độ tuổi 45 - 55, sau đó giảm dần tuổi 56 đến 65
- Khác với chỉ số cân nặng, trong cùng độ tuổi, chỉ số BMI của nữ lại caohơn nam, sự khác biệt có ý nghĩa so sánh với p < 0.01 - 0.001 Cùng với sựtăng dần của tuổi từ 45 - 60 ở cả nam và nữ đều có BMI tăng và giảm ở tuổi
sự khác biệt có ý nghĩa so sánh với p < 0.01 - 0.001
Bảng 3.7 Một số chỉ số hình thái của ngời thừa cân – béo phì
tại thành phố Vinh
Khoảng
Cânnặng
(kg)
BMI
Vòngbụng
(cm)
Vòngmông
(cm)
WHR
Trang 33± 5,1
95,43 4,80
± 5,1
90,25
± 5,14,33
1,05 0,21
± 5,1
96,86 4,67
± 5,1
91,32
± 5,13,77
1,06 0,25
± 5,1
97,78 5,01
± 5,1
91,87
± 5,14,28
1,06 0,22
± 5,1
99,00 4,32
± 5,1
92,82
± 5,13,96
1,06 0,18
± 5,1
98,91 4,04
± 5,1
92,08
± 5,14,77
1,07 0,19
± 5,1
99,96 5,17
± 5,1
92,96
± 5,14,82
1,07 0,23
± 5,1
95,74 4,76
± 5,1
89,45
± 5,14,74
1,07 0,21
± 5,1
96,65 4,44
± 5,1
90,23
± 5,14,32
1,07 0,20
± 5,1
96,96 4,10
± 5,1
90,91
± 5,14,24
1,06 0,22
± 5,1N÷ (k)
3,7
± 5,1
28,93 2,22
± 5,1
98,11 4,42
± 5,1
91,83
± 5,14,41
1,07 0,21
± 5,1
Trang 3428.32
28.66 28.62
28.45
29.15 29.01
28.89
28.68
27 27.5
28 28.5
29 29.5
Kết quả bảng 3.8 dới đây cho thấy:
- ở các khoảng tuổi của độ tuổi 45 - 65, tần số tim(TS tim) của nữ đềucao hơn nam; còn huyết áp tâm thu (HATT), huyết áp tâm trơng (HATTr),huyết áp hiệu số (HAHS) của nam lại cao hơn nữ, tất cả với p < 0.001 (trừHATTr ở khoảng tuổi 45 - 50 của nam và nữ tơng đơng nhau)
- Độ tuổi 45 - 65 các chỉ số về tần số tim, huyết áp tâm thu, huyết áptâm trơng ở cả nam và nữ đều tăng dần theo tuổi, sự khác biệt có ý nghĩavới p < 0.01- 0.001 (trừ tần số tim của nữ giảm dần theo tuổi với p <0.01) Huyết áp hiệu số giảm dần với sự tăng dần của tuổi từ 45 - 65 ở cảnam và nữ
Bảng 3.8 Một số chỉ tiêu tim mạch của ngời thừa cân – béo phì
độ tuổi 45 - 65
Trang 35± 5,1
84,2 6,3
± 5,1
55,3 5,0
± 5,1
84,4 7,0
± 5,1
53,0 5,1
± 5,1
86,5 7,4
± 5,1
54,3 4,9
± 5,1
85,9 ± 5,16,9
52,3 5,5
± 5,1
89,8 7,6
± 5,1
52,2 5,0
± 5,1
87,6 7,2
± 5,1
51,7 5,2
± 5,1
90,9 7,0
± 5,1
52,7 5,3
± 5,1
89,4 7,2
± 5,1
51,1 5,3
± 5,1
88,2 7,2
± 5,1
54,1 5,1
± 5,1
86,87,0
± 5,1
52,7 5,3