Trong đó, hai chương trình quan trọng là ‘Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của thành phố’ được triển khai thực hiện từ năm 2006 và ‘Chương trình mục tiêu quốc g
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN ĐÓA
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI – TP.HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2010 - 2025
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HỒ CHÍ MINH
NGUYỄN XUÂN ĐÓA
CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI – TP.HỒ CHÍ MINH
GIAI ĐOẠN 2010 - 2025
Chuyên ngành: Kinh tế chính trị
Mã số: 60310102
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS HOÀNG AN QUỐC
Tp.Hồ Chí Minh - Năm 2015
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi –TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2025” là công trình nghiên cứu của chính tác giả Các số liệu, kết quả
nêu trong luận văn là trung thực, có nguồn dẫn rõ ràng, không sao chép từ công trình nghiên cứu khác Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của TS Hoàng An Quốc
Tác giả luận văn
Nguyễn Xuân Đóa
Trang 4MỤC LỤC
Trang Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục chữ viết tắt
Danh mục bảng và biểu đồ
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI 7
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP 7
1.1.1 Những khái niệm cơ bản 7
1.1.1.1 “Cơ cấu kinh tế” và “Cơ cấu kinh tế ngành” 7
1.1.1.2 “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế” và “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế” 8
1.1.1.3 “Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp”và “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp” 10
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 11
1.1.2.1 Đối với cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế 11
1.1.2.2 Đối với cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 13
1.1.3 Những tiêu chí phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế 16
1.1.3.1 Các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành 16
1.1.3.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp 18
1.1.4 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phát triển kinh tế - xã hội 19
Trang 51.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÔNG THÔN MỚI 22
1.2.1 Khung lý luận về nông thôn mới 23
1.2.2 Khái niệm nông thôn mới 26
1.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới 28
1.3 KINH NGHIỆM CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP CỦA MỘT SỐ ĐỊA PHƯƠNG 35
1.3.1 Kinh nghiệm của huyện Hóc Môn, TP.Hồ Chí Minh 35
1.3.2 Kinh nghiệm của huyện Bình Chánh, TP.Hồ Chí Minh 37
1.3.3 Kinh nghiệm của Thị xã Long Khánh, Tỉnh Đồng Nai 38
1.3.4 Những bài học rút ra trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới 40
TÓM TẮT CHƯƠNG 1 42
CHƯƠNG 2 : THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI - TP HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN 2010 – 2015 44
2.1 TÌNH HÌNH PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI CỦA HUYỆN CỦ CHI – TP.HỒ CHÍ MINH 44
2.1.1 Điều kiện tự nhiên và tài nguyên thiên nhiên 44
2.1.2 Tình hình phát triển kinh tế- xã hội 45
2.2 THỰC TRẠNG CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI 47
2.2.1 Quá trình và kết quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Củ Chi 47
2.2.1.1 Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Củ Chi 47
2.2.1.2 Kết quả quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp giai đoạn 2011-2015 60
Trang 62.2.1.3 Những tồn tại, hạn chế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Củ Chi 62
2.2.2 Quá trình và kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi 69
2.2.2.1 Quá trình thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM 69 2.2.2.2 Kết quả thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng NTM trên địa bàn huyện Củ Chi 70 2.2.2.3 Những hạn chế và nguyên nhân 73
2.3 ĐÁNH GIÁ CHUNG VỀ QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI 73 TÓM TẮT CHƯƠNG 2 75 CHƯƠNG 3 : QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI - TP.HỒ CHÍ MINH GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2025 76 3.1 NHỮNG QUAN ĐIỂM CƠ BẢN 76 3.2 PHƯƠNG HƯỚNG, MỤC TIÊU CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CỦ CHI 80 3.2.1 Những định hướng cơ bản 80 3.2.2 Những mục tiêu chủ yếu 81 3.3 GIẢI PHÁP CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
CỦ CHI 83 3.3.1 Hoàn thiện cơ chế, chính sách về phát triển nông nghiệp, nông thôn 83 3.3.2 Tăng cường huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn 86 3.3.3.Tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ trong sản xuất nông nghiệp 88 3.3.4 Đẩy mạnh công tác xúc tiến thương mại, tiêu thụ nông sản 90
Trang 73.3.5 Thu hút đầu tư tư nhân tham gia vào quá trình chuyển dịch CCKTNNN, phát triển nông thôn 91 3.3.6 Các giải pháp thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện trong thời gian tới 92 TÓM TẮT CHƯƠNG 3 94
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT CCKT : Cơ cấu kinh tế
CCKTN : Cơ cấu kinh tế ngành
CCKTNNN : Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
CN – XD : Công nghiệp – Xây dựng
Trang 9Bảng 2.2: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp huyện Củ Chi 49
Bảng 2.3: Tỷ lệ chuyển dịch cơ cấu ngành huyện Củ Chi giai đoạn
Biểu đồ 2.2: Giá trị sản xuất nội bộ ngành nông nghiệp huyện Củ Chi 55
Biểu đồ 2.3: Thu nhập bình quân đầu người ở huyện Củ Chi 60
Biểu đồ 2.4: Giá trị sản xuất các ngành nông nghiệp qua 2 giai đoạn (theo giá so sánh
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Củ Chi là một huyện ngoại thành nằm ở phía Tây Bắc của TP Hồ Chí Minh
có hoạt động kinh tế nông nghiệp khá phát triển Từ năm 2006 đến nay, kinh tế nông nghiệp trên địa bàn huyện tăng trưởng nhanh, chuyển đổi cơ cấu ngành nông nghiệp đạt nhiều kết quả, hạ tầng nông nghiệp, nông thôn dần được hoàn thiện, đời sống vật chất, tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao, đóng góp tich cực vào sự phát triển kinh tế của thành phố Đây là kết quả của nhiều chương trình, kế hoạch phát triển nông nghiệp, nông thôn được thành phố và huyện Củ Chi triển khai trong suốt thời gian qua Trong đó, hai chương trình quan trọng là ‘Chương trình hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp của thành phố’ được triển khai thực hiện từ năm 2006 và ‘Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới’ được áp dụng thí điểm từ năm 2009 tại 2 xã trên địa bàn huyện là xã Tân Thông Hội (xã điểm Trung ương chọn) và xã Thái Mỹ (Thành phố chọn) sau đó mở rộng ra các xã khác
từ năm 2011
Với chương trình xây dựng nông thôn mới, Củ Chi là địa phương đầu tiên của thành phố Hồ Chí Minh đạt huyện nông thôn mới, có 100% xã, thị trấn đạt 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới Thành công của chương trình đã góp phần tích cực vào quá trình chuyển đổi cơ cấu kinh tế nói chung và cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng Cơ cấu cây trồng, vật nuôi trên địa bàn huyện được chuyển đổi đúng định hướng mang lại hiệu quả kinh tế cao, nâng cao thu nhập của người nông dân, thúc đẩy kinh tế - xã hội huyện phát triển vượt bậc góp phần làm thay đổi bộ mặt nông thôn thành phố, đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn
Tuy nhiên, bên cạnh những thành công còn nhiều vấn đề đặt ra cần giải quyết
để thúc đẩy kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện phát triển, đóng góp nhiều hơn vào cơ cấu kinh tế chung của huyện cũng như của thành phố Do đó tác giả đã
chọn đề tài: “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông
Trang 11thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi –TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 - 2025” làm
chủ đề nghiên cứu của luận văn
2 Tổng quan học thuật
Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng đã được nhiều tác giả nghiên cứu
Có thể kể ra một số công trình tiêu biểu đã công bố như:
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp vùng nông thôn ngoại thành TP.Hồ Chí Minh Tác giả: Trương Thị Minh Sâm và cộng sự, 2002 TP.HCM: NXB
Khoa học xã hội Trong tác phẩm này, tác giả đã đề cập tới một số vấn đề lý luận về kinh tế nông nghiệp và sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp; nêu một số đặc điểm, thực trạng và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp ngoại thành thành phố Hồ Chí Minh; đề xuất một số giải pháp góp phần làm chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp TP.Hồ Chí Minh theo hướng hiệu quả
- Chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
trong bối cảnh Việt Nam hội nhập khu vực và thế giới Tác giả Hoàng An Quốc, NXB Thanh Niên 2009 Trong tác phẩm này, tác giả đã khái quát những vấn đề lý luận và kinh nghiệm về chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế trong bối cảnh hội nhập kinh
tế quốc tế cũng như thực trạng và các vấn đề đặt ra trong chuyển đổi cơ cấu ngành kinh tế trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh
- Vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong trong xây dựng nông thôn mới
Tác giả Bùi Tất Thắng, 2011 TC Xã hội học, Số 4 (116), tr.22 – 30 Bài viết đã trình bày và phân tích vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa với các tiêu chí đánh giá khác nhau
- Chương trình nông thôn mới ở Việt Nam một số vấn đề đặt ra và kiến nghị
Tác giả Đỗ Kim Chung, Kim Thị Dung, 2012 TC Phát triển kinh tế, số 262, tr.3-10 Bài viết chỉ ra những bất cập và đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm hoàn thiện chương trình nông thôn mới ở nước ta
- Định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2020 , Tác giả Tô Thị Thùy Trang, Viện Nghiên cứu phát triển thành
Trang 12phố Hồ Chí Minh 2013 Đề tài đã phân tích, đánh giá những điểm mạnh, điểm yếu,
cơ hội và thách thức của vùng nông thôn thành phố Hồ Chí Minh, định hướng phát triển kinh tế - xã hội vùng nông thôn đến năm 2020 gắn với chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm vừa qua, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, 2014, Trung tâm Thông tin
– Tư liệu, Số 6, Tr.1-40 Bài viết trình bày thực trạng tình hình tăng trưởng và chuyển dịch của ngành nông nghiệp Việt Nam trong 10 năm qua, đồng thời phân tích, đánh giá các yếu tố ảnh hưởng đến chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp, chỉ ra các hạn chế và nguyên nhân của cơ cấu ngành nông nghiệp Việt Nam
- Tái cơ cấu ngành nông nghiệp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và
phát triển bền vững trong bối cảnh mới Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung
ương, 2014 Trung tâm Thông tin – Tư liệu, Số 7, Tr.1-30 Bài viết trình bày các bối cảnh trong nước và quốc tế ảnh hưởng đến quá trình tái cơ cấu ngành nông nghiệp, phân tích những cơ hội và thách thức đối với quá trình này Bài viết cũng đề cập đến các quan điểm, mục tiêu, định hướng tái cơ cấu ngành nông nghiệp bên cạnh các đề xuất giải pháp trong thời gian tới
- Báo cáo tổng kết, đánh giá việc thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia giai đoạn 2011 – 2015 Ban chỉ đạo của Thành ủy TP.Hồ Chí Minh về Chương
trình xây dựng nông thôn mới thành phố, tháng 8 năm 2015
Báo cáo tổng kết đã đánh giá nhiều vấn đề có liên quan trong thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới như: Đánh giá việc ban hành các văn bản quy phạm pháp luật; Đánh giá chung về những mặt thuận lợi, hạn chế của tình hình thực hiện chương trình Báo cáo cũng đánh giá chi tiết các kết quả thực hiện các tiêu chí xây dựng nông thôn mới trên địa bàn thành phố và nêu ra các đánh giá chung về kết quả thực hiện, các hạn chế và những nguyên nhân cơ bản
Báo cáo cũng đề cập phương hướng, nhiệm vụ, mục tiêu thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020 với nhiều mục tiêu quan trọng như: 56/56 xã đạt chuẩn nông thôn mới; số tiêu chí đạt chuẩn bình quân chung của
Trang 13toàn thành phố 19 tiêu chí/xã; Xây dựng, phát triển nông nghiệp theo hướng nông nghiệp đô thị, hiện đại, bền vững, có năng suất chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao,…
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu trên đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về cơ cấu và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Tuy nhiên, có thể nói cho đến nay vẫn chưa
có công trình nào đi sâu phân tích về thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, cũng như đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quá trình này trong điều kiện cụ thể của huyện Củ Chi
- TP.HCM
3 Mục tiêu nghiên cứu
- Tổng quan lý luận về cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
- Tổng quan lý luận về cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
- Tổng quan lý luận về nông thôn mới, Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Phân tích, đánh giá hiện trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi trong giai đoạn 2010-2015 Làm rõ các nguyên nhân thành công và những mặt hạn chế, yếu kém trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp cũng như chương trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
- Đề xuất các giải pháp cụ thể để đẩy mạnh việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện Củ Chi theo hướng hiệu quả, bền vững, gắn với thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi
Trang 14Phạm vi nghiên cứu: Về không gian, giới hạn trên địa bàn huyện Củ Chi – TP.Hồ Chí Minh, có sự so sánh với một số địa phương trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam và cả nước Về thời gian, giới hạn trong khoảng thời gian từ năm 2009 đến năm 2015, định hướng đến năm 2020 và 2025
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện dựa trên nền tảng thế giới quan, phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, phương pháp trừu tượng hoá khoa học của chủ nghĩa Mác – Lênin kết hợp phương pháp thống kê, phân tích – so sánh, tổng hợp, vận dụng các quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước về phát triển nông nghiệp, nông thôn để giải quyết các vấn đề nêu ra trong luận văn
Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử: Xem xét, đánh giá một cách khách quan, toàn diện vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi trong các giai đoạn cụ thể, gắn với đối tượng cụ thể
Phương pháp trừu tượng hóa khoa học: Dựa vào thực tiễn chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong quá trình xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi để rút ra những kết luận về thành tựu, hạn chế và đề xuất các giải pháp nhằm đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp trong quá trình xây dựng và phát triển nông thôn mới hiện nay ở nước ta
Phương pháp thống kê: Tập hợp các dữ liệu thống kê về phát triển nông nghiệp, nông thôn trên địa bàn huyện Củ Chi trong giai đoạn từ 2006 – 2015, thể hiện qua các số liệu về: cơ cấu ngành nông nghiệp, giá trị sản xuất ngành nông nghiệp, dân số, lao động, thu nhập bình quân đầu người,…
Phương pháp phân tích – tổng hợp: Dựa trên cơ sở các số liệu thu thập được
về tình hình phát triển nông nghiệp của huyện Củ Chi, tiến hành các phân tích, đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu ngành nông nghiệp trên địa bàn huyện và luận giải các vấn đề nghiên cứu
6 Nguồn thông tin nghiên cứu
Nguồn thông tin phục vụ cho nghiên cứu chủ yếu là các số liệu báo cáo, thống
Trang 15kê từ các phòng ban liên quan ở huyện Củ Chi, Cục Thống kê TP.Hồ Chí Minh, Sở Nông nghiệp TP.Hồ Chí Minh, Chi cục phát triển nông thôn TP.Hồ Chí Minh,… và các tài liệu khác có liên quan đến đề tài
7 Kết cấu của nghiên cứu
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, đề tài được chia làm ba chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới
Chương 2: Thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với
xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Củ Chi – TP.Hồ Chí Minh giai đoạn 2010 – 2015
Chương 3: Quan điểm, phương hướng, mục tiêu và giải pháp chuyển dịch cơ
cấu kinh tế ngành nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện
Củ Chi giai đoạn đến năm 2025
Trang 16CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤUKINH
TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP GẮN VỚI XÂY DỰNG
NÔNG THÔN MỚI
1.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH
TẾ NGÀNH NÔNG NGHIỆP
1.1.1 Những khái niệm cơ bản
1.1.1.1 “Cơ cấu kinh tế” và “Cơ cấu kinh tế ngành”
Theo Từ điển Tiếng Việt : “Cơ cấu kinh tế (CCKT) là tổng thể các ngành, lĩnh vực, bộ phận kinh tế có quan hệ hữu cơ tương đối ổn định hợp thành”.[30,tr.13]
CCKT là một tổng thể kinh tế bao gồm nhiều yếu tố có quan hệ chặt chẽ với nhau, tác động qua lại với nhau trong một khoảng không gian và thời gian nhất định
và trong điều kiện kinh tế – xã hội nhất định
CCKT là một hệ thống động, biến đổi không ngừng theo đà phát triển của lực lượng sản xuất và những nhân tố quy định nó CCKT không chỉ giới hạn ở các quan
hệ giữa các ngành và có tính ổn định mà nó luôn thay đổi phù hợp với yêu cầu phát triển kinh tế trong từng thời kỳ Ứng với mỗi giai đoạn phát triển nhất định được đặc trưng bằng những điều kiện cụ thể nhất định, phải điều chỉnh CCKT cho phù hợp [30, tr.14]
Xét trên tổng thể, CCKT bao gồm cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế… trong đó cơ cấu ngành là then chốt
“Cơ cấu kinh tế ngành” (CCKTN) ngành là quan hệ tỷ lệ gắn bó hữu cơ, vừa nương tựa vào nhau, vừa chế ước lẫn nhau giữa các ngành và các phân ngành cũng như giữa doanh nghiệp trong nội bộ ngành và phân ngành Cơ cấu ngành là bộ phận động nhất trong cơ cấu kinh tế nói chung
CCKTN là một bộ phận cơ bản cấu thành cơ cấu kinh tế của nền kinh tế quốc dân; là quan hệ gắn bó với nhau theo những tỷ lệ nhất định giữa các ngành sản xuất, trong nội bộ nền kinh tế quốc dân cũng như giữa các ngành nghề và các doanh nghiệp
Trang 17trong các ngành; là bộ phận then chốt trong cơ cấu kinh tế, vì cơ cấu kinh tế ngành quyết định trạng thái chung và tỷ lệ đầu vào, đầu ra của nền kinh tế quốc dân
CCKTN biểu hiện mối quan hệ giữa các ngành, hình thành và biến đổi trong quá trình phân công lao động chung của xã hội, nó phản ánh trình độ phân công lao động và trình độ phát triển lực lượng sản xuất của đất nước Do đó cơ cấu ngành phản ánh phần nào trình độ phân công lao động xã hội chung của nền kinh tế và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất
1.1.1.2 “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế” và “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế”
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế là sự thay đổi và phát triển của CCKT từ trạng thái này sang trạng thái khác để phù hợp với trình độ của lực lượng sản xuất và quan
hệ sản xuất
Chuyển dịch CCKT không đơn thuần chỉ là sự thay đổi vị trí mà còn là sự biến đổi cả về lượng và chất trong nội bộ cơ cấu, đó là sự thay đổi về số lượng các ngành hoặc thay đổi về quan hệ tỷ lệ giữa các ngành, các vùng, các thành phần do sự xuất hiện hoặc biến mất một số ngành Trong quá trình phát triển kinh tế, chuyển dịch CCKT theo các xu hướng ngày càng hợp lý hơn và phù hợp hơn tạo đòn bẩy cho kinh
tế phát triển nhanh và ổn định, mạnh
Chuyển dịch CCKT theo hướng CNH, HĐH là quá trình làm biến đổi nền kinh
tế từ chỗ có cơ cấu kinh tế chủ yếu là nông nghiệp lạc hậu sang cơ cấu kinh tế công – nông nghiệp và dịch vụ hiện đại Đó là quá trình làm tăng thêm tốc độ và tỷ trọng của sản xuất công nghiệp trong nền kinh tế, gắn liền với đổi mới căn bản về công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh, hiệu quả cao và bền vững của toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế (CCNKT) là quá trình thay đổi cấu trúc
ngành của một nền kinh tế, xác lập một cấu trúc mới, hợp lý và có hiệu quả hơn Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế dẫn đến sự thay đổi trong tỷ trọng cũng như sự tương tác giữa các ngành hoặc phân ngành đã hình thành trước đó Sự thay đổi này nếu xem xét trong một khoảng thời gian xác định được thể hiện ở những điểm sau:
Trang 18Thứ nhất, sự biến đổi về số lượng và chủng loại ngành trong nền kinh tế do sự
xuất hiện thêm những ngành mới hoặc mất đi của một số ngành đã có
Thứ hai, sự biến đổi về tương quan, tỷ lệ giữa các ngành do sự tăng trưởng
không đồng đều về quy mô và tốc độ giữa các ngành
Thứ ba, sự thay đổi trong quan hệ, tương tác giữa các ngành thể hiện bằng số
lượng các ngành có liên quan lẫn nhau, hay quy mô đầu vào – đầu ra mà ngành này cung cấp cho ngành kia
Quá trình chuyển dịch CCNKT diễn ra thường xuyên, liên tục cùng với sự vận động của nền kinh tế để phù hợp với sự phát triển ngày càng cao của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội Cơ cấu kinh tế ngành thường chuyển dịch theo hướng tăng tỷ trọng ngành dịch vụ, ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản, giảm tỷ trọng ngành nông- lâm – ngư nghiệp nhưng vẫn đảm bảo tăng qui mô Tốc độ tăng của ngành dịch vụ nhanh hơn ngành công nghiệp và xây dựng cơ bản
Chuyển dịch CCNKT là kết quả của sự phân bổ hay di chuyển các nguồn lực như đất đai, tài nguyên thiên nhiên, vốn nguồn nhân lực, công nghệ…vào các ngành phát huy lợi thế so sánh của từng ngành và giữa các ngành tạo ra sức sản xuất hàng hóa với khối lượng lớn, chất lượng cao đáp ứng nhu cầu trong nước và xuất khẩu góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế Khi nguồn lực di chuyển đến một ngành sẽ tác động đến đầu ra của ngành (như sản lượng, năng suất lao động) dẫn đến
sự thay đổi tỷ trọng của ngành so với trước và tất yếu tác động tới tăng trưởng năng suất của tổng thể nền kinh tế Quá trình di chuyển nguồn lực đó cũng làm thay đổi cơ cấu của chính bản thân nó như vốn, lao động giữa các ngành dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành và cơ cấu của chính nguồn lực đó
Chuyển dịch CCNKT không chỉ là một xu hướng tất yếu, mà còn là một yêu cầu nhằm vào các mục tiêu: tăng trưởng, tạo việc làm, tăng thu nhập, tăng tích lũy vốn, công nghệ và sự phát triển con người, làm thay đổi của cơ cấu ngành từ trạng thái này sang trạng thái khác ngày càng hoàn thiện hơn, phù hợp với môi trường và điều kiện phát triển
Trang 191.1.1.3 “Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp”và “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp”
Cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp (CCKTNNN) là một tổng thể bao gồm các mối quan hệ tương tác giữa các yếu tố của lực lượng sản xuất thuộc các lĩnh vực nông lâm ngư nghiệp trong khoảng thời gian và điều kiện kinh tế – xã hội cụ thể CCKTNNN hiểu theo nghĩa hẹp bao gồm trồng trọt, chăn nuôi và dịch vụ nông nghiệp, còn hiểu theo nghĩa rộng bao hàm cả lâm nghiệp và ngư nghiệp
Trong lịch sử phát triển xã hội loài người, một thời gian dài kinh tế nông nghiệp chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi chưa phát triển Ở những nước kém phát triển,
tỷ trọng trồng trọt trong nông nghiệp chiếm tỷ lệ cao, đại bộ phận nông dân chủ yếu tham gia lao động trồng trọt, chỉ số ít là kết hợp chăn nuôi Cùng với sự phát triển của lực lượng sản xuất, khoa học công nghệ và tiến bộ khoa học kĩ thuật đặc biệt là nông nghiệp hiện đại, cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp được cải biến nhanh chóng theo hướng sản xuất hàng hóa, công nghiệp hóa, hiện đại hóa Trong mỗi nhóm ngành lại được chia thành ngành hẹp hơn, chẳng hạn ngành trồng trọt được chia thành ngành trồng cây lương thực, cây công nghiệp, cây ăn quả, cây thực phẩm, …ngành chăn nuôi lại được chia thành ngành chăn nuôi tiểu gia súc, đại gia súc, gia cầm
Chuyển dịch CCKTNNN là sự thay đổi tỷ trọng giữa các ngành và nhóm ngành
trong nội bộ ngành nông nghiệp
Xu hướng chuyển dịch CCKTNNN ở nước ta hiện nay là hướng tới một nền nông nghiệp hàng hóa, sản xuất thâm canh, đa dạng hóa theo hướng sản xuất hàng hóa lớn tạo ra nhiều sản phẩm có giá trị.Trong ngành trồng trọt, xu hướng độc canh cây lương thực được hạn chế dần, thay vào đó là việc trồng những cây có năng suất cao, có giá trị hàng hóa lớn Trong ngành chăn nuôi cũng có sự thay đổi cơ cấu, những vật nuôi có giá trị dinh dưỡng tốt, phù hợp với yêu cầu thị trường được chú trọng phát triển
Cần phân biệt sự khác nhau giữa chuyển dịch cơ cấu ngành và nội bộ ngành theo đặc trưng kinh tế kỹ thuật của chúng để tạo ra hệ thống phân công lao động cho phù hợp, hướng tới xây dựng một cơ cấu ngành đa dạng, hợp lý phát triển các ngành
có nhiều lợi thế theo hướng phục vụ nhu cầu thị trường, đồng thời kết hợp tối ưu giữa
Trang 20cơ cấu ngành với cơ cấu vùng lãnh thổ và cơ cấu thành phần kinh tế
1.1.2 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế, cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
1.1.2.1 Đối với cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế cũng như chuyển dịch cơ cấu kinh
tế bao gồm:
Nhóm nhân tố tác động từ bên trong
Nhân tố thị trường và nhu cầu tiêu dùng của xã hội:
Thị truờng và nhu cầu xã hội là người đặt hàng cho tất cả các ngành, lĩnh vực,
bộ phận trong toàn bộ nền kinh tế Nếu như xã hội không có nhu cầu thì tất nhiên sẽ không có bất kì một quá trình sản xuất nào Cũng như vậy, không có thị trường thì không có kinh tế hàng hoá Thị trường và nhu cầu xã hội còn quy định chất lượng sản phẩm và dịch vụ, nên tác động trực tiếp đến quy mô, trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế, đến xu hướng phát triển và phân công lao động xã hội, đến vị trí, tỉ trọng các ngành, lĩnh vực trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân
Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất:
Lực lượng sản xuất là động lực phát triển của xã hội Nhu cầu xã hội là vô tận
và mỗi ngày một cao Muốn đáp ứng đầy đủ nhu cầu xã hội thì trước hết phải phát triển lực lượng sản xuất
Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu lao động và con người có khả năng sử dụng tư liệu lao động để tác động vào đối tượng lao đọng, tạo ra sản phẩm hàng hoá
và dịch vụ, đáp ứng nhu cầu xã hội
Sự phát triển của lực lượng sản xuất sẽ làm thay đổi quy mô sản xuất, thay đổi công nghê, thiết bị, hình thành các ngành nghề mới, biến đổi lao động giản đơn thành lao động phức tạp, từ ngành này sang ngành khác Sự phát triển đó phá vỡ cân đối cũ, hình thành một cơ cấu kinh tế với một vị trí, tỉ trọng các ngành và lĩnh vực phù hợp hơn, thích ứng được yêu cầu phát triển của lực lượng sản xuất, đáp ứng nhu cầu xã hội Quá trình đó diễn ra một cách khách quan và từng bước tạo ra sự cân đối hợp lý hơn, có khả năn khai thác nguồn lực trong nước và nước ngoài
Trang 21Sự phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng trực tiếp đến sự hình thành cơ cấu kinh tế Lực lượng sản xuất phát triển không ngừng, nên cơ cấu kinh tế luôn luôn thay đổi, song sự biến đổi của cơ cấu kinh tế diễn ra chậm chạp, không mang tính đột biến như chính sách, cơ chế quản lý
Quan điểm chiến lược, mục tiêu phát triển kinh tế của đất nước trong mỗi giai đoạn nhất định
Cơ cấu kinh tế là biểu hiện tóm tắt những nội dung, mục tiêu định hướng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Mặc dù cơ cấu kinh tế mang tính chất khách quan và lịch sử xã hội, nhưng các tính chất đó của cơ cấu kinh tế lại có sự tác động, chi phối của nhà nước Nhà nước tuy không trực tiếp sắp đặt các ngành nghề, quy định các tỉ lệ của cơ cấu kinh tế, nhưng vẫn có sự tác động gián tiếp bằng cách định hướng phát triển, để thực hiện mục tiêu đáp ứng nhu cầu xã hội Định hướng phát triển của nhà nước không chỉ nhằm khuyến khích mọi lực lượng sản xuất xã hội đạt mục tiêu đề ra, mà còn đưa ra các dự án để thu hút mọi thành phần kinh tế tham gia, nếu không đạt được thì nhà nước phải trực tiếp tổ chức sản xuất, đảm bảo sự cân đối giữa các sản phẩm, các ngành, lĩnh vực trong nền kinh tế
Mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế- xã hội là định hướng chung cho mọi thành phần, mọi nhà doanh nghiệp trong cả nước, phấn đầu thực hiện dưới sự điều tiết của nhà nước thông qua hệ thống luật pháp và các quy định, thể chế chính sách của nhà nước Sự điều tiết của nhà nước gián tiếp dẫn dắt các ngành, lĩnh vực và thành phần kinh tế phát triển, đảm bảo tính cân đối, đồng bộ giữa các bộ phận hợp thành nền kinh tế
Cơ chế quản lý ảnh hưởng đến quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Mọi sự hoạt động của nền kinh tế đều có sự điều tiết của nhà nước, song không phải nhà nước can thiệp trực tiếp vào qúa trình sản xuất kinh doanh của các đơn vị kinh tế Nhà nước điều hành thông qua hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế
Những sản phẩm nào, ngành nào cần khuyến khích thì nhà nước giảm thuế, hoặc quy định thuế suất thấp để người sản xuất có lợi nhuận cao, còn đối với những
Trang 22ngành hàng cần hạn chế thì đánh thuế cao, người sản xuất thu được ít lợi nhuận, tất nhiên họ sẽ hạn chế đầu tư phát triển Những ngành hàng hoặc lĩnh vực không ai muốn đầu tư sản xuất, nhưng sản phẩm của nó lại rất cần cho xã hội thì nhà nước tự đầu tư, tự tổ chức sản xuất Nhà nước cũng có thể khuyến khích lao động chuyển đến các nơi có tài nguyên, có nhu cầu lao động thông qua các chính sách kinh tế, xã hội; ngược lại, muốn hạt chế di dân thì phải đầu tư phát triển các thị xã, thị trấn, thị tứ để
có điều kiện sinh hoạt vật chất và tinh thần tương đương như các đô thị lớn
Sự tác động của cơ chế quản lý sẽ thực hiện được cơ cấy sản xuất, cơ cấu dân cư, tạo
ra sự cân đối lực lượng lao động và thu nậhp giữa các vùng và giảm bớt khoảng cách thành thị và nông thôn
Nhóm nhân tố tác động từ bên ngoài
Xu thế chính trị, xã hội trong khu vực và thế giới ảnh hưởng đến sự hình thành
và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Xét đến cùng, chính trị là biểu hiện tập trung của kinh tế Sự biến động về chính trị, xã hội của một nước hay một số nước, nhất là nước lớn, sẽ tác động mạnh đến các hoạt động ngoại thương, thu hút vốn đầu tư, chuyển giao công nghệ của các nước khác trên thế giới và khu vực Do đó, thị trường và nguồn lực nước ngoài cũng thay đổi, buộc các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đảm bảo cho nền kinh tế nước mình ổn định và phát triển
Xu thế toàn cầu hoá kinh tế, quốc tế hoá lực lượng sản xuất
Hai xu thế trên tạo sự phát triển đan xen nhau, khai thác thế mạnh của nhau trong sản xuất và trao đổi hàng hoá, dịch vụ
Các thành tựu của cách mạng khoa học và công nghệ, sự bùng nổ thông tin, tạo điều kiện cho các nhà sản xuất-kinh doanh nắm bắt thông tin, hiểu thị trường và hiểu đối tác mà mình muốn hợp tác Từ đó giúp họ định hướng sản xuất, kinh doanh, thay đổi cơ cấu sản xuất, kinh doanh phù hợp với xu thế hợp tác đan xen vào nhau, khai thác thế mạnh của nhau, cùng nhau phân chia lợi nhuận
1.1.2.2 Đối với cơ cấu kinh tế ngành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Các nhân tố chính ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế ngành, chuyển dịch cơ cấu
Trang 23kinh tế ngành bao gồm:
Các nguồn lực tự nhiên
Tài nguyên thiên nhiên là cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành cơ cấu nền kinh tế của một quốc gia Nguồn tài nguyên thiên nhiên của mỗi quốc gia là lợi thế mà thiên nhiên đã ban tặng cho quốc gia đó Trong nhiều trường hợp nó có thể trở thành “lợi thế tuyệt đối” trong phân công lao động quốc tế của các nền kinh tế Ví
dụ như: các quốc gia thuộc khu vực Châu Á, Châu Mỹ La Tinh… chịu ảnh hưởng rừng mưa nhiệt đới có điều kiện để phát triển kinh tế lâm nghiệp; Khu vực Đông Nam
Á trong đó Việt Nam có quy mô đất đai, địa hình, nguồn nước… phù hợp với các loại hình sản xuất nông nghiệp mà đặc thù là nền nông nghiệp lúa nước “Châu Á gió mùa”; những quốc gia có mỏ khoáng sản có khả năng khai thác kinh tế là điều kiện phát triển mạnh công nghiệp khai mỏ… Vì vậy, có thể thấy tài nguyên thiên nhiên là
cơ sở xuất phát tự nhiên quan trọng để hình thành cơ cấu kinh tế của một quốc gia
Ở góc độ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành theo hướng CNH, HĐH, việc phát triển các ngành sản xuất dựa trên các nguồn tài nguyên thiên nhiên đòi hỏi chúng ta phải có chính sách đúng đắn phù hợp để phát huy lợi thế, kinh tế tăng trưởng, đầu tư
áp dụng khoa học công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất để phát triển một cách bền vững
Nguồn nhân lực
Lao động là một yếu tố sản xuất trực tiếp trong quá trình sản xuất và là nhân
tố quyết định đối với quá trình sản xuất Cơ cấu kinh tế mang tính khách quan và sự chuyển đổi nhanh hay chậm, hợp lý hay không hợp lý là do sự tác động chủ quan của con người Nguồn nhân lực trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế được xem xét
ở hai mặt về số lượng và chất lượng Ở những thời điểm nhất định, việc phân bổ nguồn nhân lực có ý nghĩa rất quan trọng đối với việc hình thành cơ cấu nền kinh tế
So với số lượng thì chất lượng nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng hơn để hình thành
cơ cấu kinh tế trong quá trình CNH, HĐH Thực tiễn và lịch sử cũng đã chứng minh rằng dù các tư liệu lao động có hiện đại tiên tiến và đối tượng lao động có dồi dào
Trang 24đến đâu nhưng nếu không có nguồn nhân lực thì không thể làm sống lại các tư liệu sản xuất vì vậy không thể tạo ra của cải vật chất cho xã hội.
Khoa học và công nghệ
Khoa học và công nghệ là động lực và là thách thức cho việc hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế đối với các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam Tiến bộ công nghệ rất quan trọng đối với tăng trưởng vì nó làm tăng năng suất của tất cả các yếu tố sản xuất Khoa học tiến bộ - công nghệ hiện đại sẽ làm thay đổi vị trí của các ngành trong nền kinh tế quốc dân Nó làm cho các nước đi sau có khả năng phát triển ngay những ngành nghề mới hiện đại, nâng cấp những ngành nghề truyền thống Tư liệu sản xuất và sức lao động là hai nhân tố cơ bản của quá trình sản xuất dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ sẽ dẫn đến sự thay đổi về
tư liệu lao động từ công cụ lao động thủ công sang công cụ lao động máy móc hiện
Trang 25đại Từ đó giảm bớt sức lao động của con người nhưng năng suất lao động, hiệu quả sản xuất cao tạo khả năng mở rộng sản xuất các ngành nghề truyền thống và tạo ra nhu cầu mới dẫn đến sự hình thành các ngành sản xuất kinh doanh mới làm chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế.
Các nhân tố về cơ chế chính sách
Các nhân tố về cơ chế chính sách chủ yếu định hướng mục tiêu phát triển của đất nước Cơ chế chính sách về quản lý kinh tế xã hội của đất nước, các giải pháp thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế ảnh hưởng trực tiếp và không nhỏ đến quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế
Các định hướng mục tiêu phát triển cũng như các chính sách quản lý vĩ mô nền kinh tế quốc dân của nhà nước có vai trò quan trọng đến việc hình thành cơ cấu ngành kinh tế Nếu như các mục tiêu phát triển và các chính sách quản lý đề cao vai trò của thị trường trong quá trình phát triển kinh tế thì sự hình thành cơ cấu kinh tế như mong muốn sẽ chậm, nhất là các ngành, các tổ chức kinh tế hoạt động trong lĩnh vực cung cấp hàng hóa công cộng Ngược lại nếu định hướng mục tiêu, chính sách quản lý vĩ
mô không sát với thực tế khách quan, hoặc sự điều tiết của Nhà nước quá sâu vào các hoạt động kinh tế sẽ dẫn tới việc hình thành cơ cấu ngành kinh tế kém hiệu quả, kìm hãm sự phát triển của nền kinh tế
1.1.3 Những tiêu chí phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Cơ cấu kinh tế phản ánh mối tương quan về lượng và chất giữa các bộ phận hợp thành của nền kinh tế Quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tạo ra sự thay đổi tỷ
lệ về mặt lượng và thay đổi về mặt chất của mối tương quan ấy Mỗi loại cơ cấu kinh
tế có những đặc điểm riêng của nó
1.1.3.1 Các tiêu chí đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành
Đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, những tiêu chí cơ bản phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế vĩ mô bao gồm:
Cơ cấu GDP:
Trong đánh giá chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu GDP giữa các ngành
Trang 26kinh tế là một trong những tiêu chí quan trọng nhất phản ánh xu hướng vận động và mức độ thành công của CNH Tỷ lệ phần trăm GDP của các ngành cấp I (khu vực nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) là một trong những tiêu chí đầu tiên thường dùng
để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế
Trong quá trình CNH, HĐH, xu hướng chung là khu vực nông nghiệp có tỷ lệ phần trăm GDP ngày càng giảm, còn khu vực phi nông nghiệp ngày càng tăng lên
Và trong điều kiện của khoa học công nghiệp hiện đại, khu vực dịch vụ đang trở thành khu vực chiếm tỷ trọng cao nhất, sau đó là công nghiệp và cuối cùng là nông nghiệp Trong cơ cấu ngành kinh tế, các phân ngành (cấp II, cấp III…) thể hiện chất lượng
và mức độ HĐH của nền kinh tế Ví dụ như trong khu vực dịch vụ những lĩnh vực dịch vụ chất lượng cao, gắn với công nghệ hiện đại như bảo hiểm, ngân hàng, viễn thông, hàng không… chiếm tỷ lệ cao sẽ rất khác với những lĩnh vực dịch vụ sinh hoạt dân sự với trình độ thủ công, qui mô nhỏ lẻ Trong khu vực công nghiệp những ngành đòi hỏi kỹ thuật cao, vốn lớn như công nghiệp chế biến hay công nghệ hiện đại như
cơ khí chế tạo, điện tử công nghiệp, dược phẩm chiếm tỷ trọng cao sẽ chứng tỏ nền kinh tế CNH, HĐH hơn so với những ngành công nghiệp khai khoáng, lắp ráp, sơ chế nông sản Trong ngành nông nghiệp, tỷ trọng của ngành chăn nuôi sẽ có xu hướng tăng lên và giảm tỷ trọng của ngành trồng trọt Để đánh giá sát thực hơn sự chuyển dịch cơ cấu ngành của nền kinh tế theo hướng CNH - HĐH, việc phân tích cơ cấu các phân ngành có ý nghĩa rất quan trọng vì cơ cấu phân ngành phản ánh sát hơn khía cạnh chất lượng và mức độ HĐH của nền kinh tế
Cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế:
Trong quá trình CNH, HĐH sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế còn được đánh giá qua chỉ tiêu rất quan trọng là cơ cấu lao động đang làm việc trong nền kinh tế được phân bổ như thế nào vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau Ở góc độ kinh tế vĩ mô, cơ cấu lao động xã hội là chỉ tiêu phản ánh sát thực nhất mức độ thành công về mặt kinh
tế - xã hội của quá trình CNH, HĐH Vì CNH không chỉ đơn thuần là gia tăng tỷ trọng giá trị sản xuất công nghiệp mà là cùng với mức đóng góp vào GDP ngày càng
Trang 27tăng của lĩnh vực công nghiệp phải là quá trình CNH, HĐH đời sống xã hội con người Trong đó cơ sở quan trọng nhất là số lượng con người đang làm việc trong lĩnh vực phi nông nghiệp chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong tổng lực lượng lao động đang làm việc trong nền kinh tế So với cơ cấu GDP, cơ cấu lao động phân theo ngành phản ánh xác thực hơn mức độ chuyển biến sang xã hội công nghiệp của một quốc gia và nó ít bị ảnh hưởng bởi các nhân tố ngoại lai hơn Vì ở một số nền kinh tế, trong khi tỷ trọng lao động phi nông nghiệp còn chiếm tỷ lệ nhỏ nhưng trong cơ cấu GDP lại chiếm tỷ trọng lớn hơn nhiều là do tình trạng chênh lệch về giá giữa sản phẩm công nghiệp, dịch vụ so với sản phẩm nông nghiệp Cho nên cơ cấu GDP giữa các ngành kinh tế đôi khi không phản ánh đúng thực trạng chuyển dịch cơ cấu của nền kinh tế
Cơ cấu kinh tế ngành và cơ cấu lao động luôn có mối quan hệ mật thiết với nhau, sự chuyển dịch của các ngành trong nền kinh tế kéo theo sự thay đổi cơ cấu lao động Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành định hướng cho quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động Sự chuyển dịch cơ cấu lao động diễn ra cao hơn so với sự chuyển dịch
cơ cấu kinh tế ngành Khi cơ cấu lao động chuyển dịch đúng hướng với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành sẽ tạo ra cơ cấu lao động hợp lý, phù hợp với những quy luật, những xu hướng tiến bộ để khai thác và sử dụng đầy đủ, có hiệu quả cao các nguồn lực để tăng trưởng và phát triển Nhà kinh tế học A.Lewis cho rằng nếu như lao động ở khu vực nông nghiệp với năng suất thấp dịch chuyển sang khu vực công nghiệp và dịch vụ với năng suất cao hơn sẽ làm tăng năng suất lao động của toàn nền kinh tế, cơ cấu kinh tế chuyển dịch mạnh và đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
1.1.3.2 Các tiêu chí đánh giá hiệu quả chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả kinh
tế của các hoạt động sản xuất, kinh doanh ngành nông nghiệp Đo lường hiệu quả của quá trình chuyển dịch đó bằng hệ thống chỉ tiêu định lượng bao gồm chỉ tiêu hiệu
Trang 28quả tổng hợp (trực tiếp) và hiệu quả gián tiếp (từng phần)
Các chỉ tiêu hiệu quả kinh tế tổng hợp (trực tiếp):
- Hiệu quả vốn đầu tư cho kinh tế nông nghiệp
- Hiệu quả vốn đầu tư cho các bộ phận cấu thành cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp (ngành trồng trọt, chăn nuôi, dịch vụ nông nghiệp, thủy sản, lâm nghiệp)
Để tính toán các chỉ tiêu trên, cần thiết phải thu thập và tổng hợp các số liệu
về tổng thu nhập, lợi nhuận, giá trị sản xuất và giá trị gia tăng các ngành sản xuất nông nghiệp trên địa bàn Các yếu tố chi phí gồm: chi phí vật chất, vốn đầu tư, vốn đầu tư tăng thêm
So sánh hiệu quả kinh tế tổng hợp thông qua các chỉ tiêu nói trên ở các thời điểm khác nhau với các cơ cấu kinh tế khác nhau sẽ thể hiện hiệu quả của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp Một cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp phù hợp hay không phù hợp sẽ được đo lường chủ yếu qua các chỉ tiêu hiệu quả tổng hợp trực tiếp nói trên, nhất là hiệu quả sử dụng vốn
Các chỉ tiêu hiệu quả gián tiếp:
- Năng suất lao động ngành nông nghiệp
- Năng suất cây trồng, vật nuôi
- Năng suất đất đai
- Thu nhập bình quân đầu người
Việc so sánh các chỉ tiêu hiệu quả gián tiếp, theo không gian và thời gian gắn liền với sự khác nhau về cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp qua các thời kỳ nhất định Các chỉ tiêu này chỉ phản ánh hiệu quả từng phần của chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp
1.1.4 Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phát triển kinh tế - xã hội
Cơ cấu kinh tế hợp lý giúp cho việc thu được mức tăng sản xuất xã hội lớn nhất, giúp phân bố hợp lý lực lượng sản xuất, phát triển các mối quan hệ đối ngoại, đưa nhanh tiến bộ khoa học – công nghệ vào sản xuất Một cơ cấu kinh tế hiệu quả,
Trang 29hợp lý được biểu hiện thông qua:
Cơ cấu kinh tế đó cho phép khai thác tối đa những ưu thế và những thuận lợi
về các nguồn lực chung như: vị thế, đất đai, khí hậu, truyền thống và các tiềm năng vốn có về xã hội, lao động Bảo đảm và tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của mỗi ngành, mỗi vùng và mỗi thành phần kinh tế
Cơ cấu kinh tế đó tạo được những điều kiện thuận lợi cho các ngành kinh tế phát triển với số lượng và chủng loại sản phẩm đặc trưng, đa dạng, phong phú, đảm bảo tiêu dùng của dân cư và xuất khẩu
Tạo tích lũy tối ưu cho nền kinh tế quốc dân, xuất phát từ việc phải tạo được khả năng tích lũy cao ở những ngành, những vùng có nhiều lợi thế so sánh để chúng vừa có khả năng tự bù đắp cho mình, đồng thời có khả năng hỗ trợ cho các ngành, các vùng khác và góp phần làm tăng tích lũy cho toàn bộ nền kinh tế
Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý sẽ ảnh hưởng mạnh mẽ, trực tiếp đến nhịp độ tăng trưởng và quy mô tăng trưởng kinh tế, tạo ra những tiền đề vật chất để phát huy
có hiệu quả hơn nền kinh tế quốc dân Đến lượt nó, sự tăng trưởng kinh tế, tạo điều kiện thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, khai thác và phát huy những nguồn lực trong vùng, trong quốc gia có hiệu quả
Một cơ cấu kinh tế được đánh giá là tối ưu khi đáp ứng được các yêu cầu sau:
- Phản ánh được và đúng các quy luật khách quan bao gồm các quy luật tự nhiên, kinh tế - xã hội, nhất là các quy luật kinh tế như: quy luật quan hệ sản xuất phải phù hợp với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, quy luật lưu thông tiền tệ; các quy luật của tái sản xuất như: quy luật năng suất lao động, quy luật tích lũy, quy luật phân phối tổng sản phẩm xã hội và thu nhập quốc dân
- Đảm bảo khai thác tối đa tiềm năng của đất nước, nhất là đối với những nước chưa qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa với cơ sở vật chất kỹ thuật lạc hậu chậm phát triển, nguồn lực còn rất dồi dào
- Sử dụng ngày càng nhiều lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh giữa các nước, các vùng và các khu vực Vai trò này gắn liền với việc hình thành “cơ cấu kinh tế
Trang 30mở” Ở góc độ vĩ mô, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải gắn với việc xây dựng chiến lược hướng mạnh về xuất khẩu, nhập khẩu thay thế những mặt hàng trong nước sản xuất không hiệu quả; gắn với sự phân công lao động và thương mại quốc tế
- Phản ánh được xu hướng phát triển của cách mạng khoa học công nghệ, xu thế quốc tế hóa, toàn cầu hóa hội nhập kinh tế quốc tế
- Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phải lấy hiệu quả kinh tế - xã hội làm thước đo kết quả cuối cùng của một cơ cấu kinh tế tối ưu
Cơ cấu kinh tế là cơ sở cho những nhân tố quyết định phúc lợi của nhân dân, cách thức thay đổi cơ cấu cho phù hợp với quá trình phát triển của nền kinh tế là một vấn đề quan trọng thu hút sự quan tâm nghiên cứu của các nhà kinh tế Bắt đầu bằng những thay đổi của cơ cấu phát sinh trong quá trình phát triển, sau đó đi sâu vào nghiên cứu nhiều khía cạnh khác của quá trình chuyển đổi cơ cấu có sự can thiệp của Nhà nước và Chính phủ
Cho tới nay, nhiều công trình nghiên cứu đã đưa ra bằng chứng chắc chắn là
có những quy luật phản ánh phương thức thay đổi của cơ cấu kinh tế khi thu nhập bình quân đầu người tăng lên Sự phát triển các ngành kinh tế trong một nền kinh tế chứa đựng một cơ cấu kinh tế nhất định, và ngược lại, việc quyết định đầu tư tập trung các nguồn lực để phát triển mạnh một số ngành kinh tế trong toàn bộ nền kinh tế sẽ ảnh hưởng lớn đến sự phát triển của nền kinh tế Quyết định chọn ngành đúng để đầu
tư nguồn lực sẽ tạo động lực để thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh hơn và ngược lại, sẽ làm giảm tốc độ của nền kinh tế
Tóm lại, quá trình phát triển tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thường được xem xét như một quá trình làm thay đổi thu nhập bình quân đầu người Mặc dù có nhiều thay đổi trong quan niệm về phát triển và tăng trưởng nhưng chỉ tiêu trên vẫn được coi trọng và làm thước đo cho sự phát triển về kinh tế Một xu hướng mang tính quy luật là cùng với sự phát triển của nền kinh tế, cũng diễn ra một quá trình làm thay đổi về cơ cấu kinh tế tức là một sự thay đổi tương đối về vai trò mức đóng góp, tốc
độ phát triển của từng thành phần, từng yếu tố riêng về cấu thành nên toàn bộ nền kinh tế Một trong những cơ cấu kinh tế được quan tâm và nghiên cứu nhiều nhất
Trang 31trong mối liên hệ với quá trình tăng trưởng và phát triển nền kinh tế là cơ cấu ngành
Cơ cấu đó về phần mình lại được thể hiện trong quá trình sản xuất tiêu dùng và ngoại thương Mối quan hệ giữa cơ cấu và sự phát triển kinh tế có vai trò rất quan trọng vì gắn với nó là cả một động thái về sự phân bổ các nguồn lực hạn hẹp của nền kinh tế một cách tối ưu trong những thời điểm nhất định cho các ngành sản xuất khác nhau
Cơ cấu ngành trong quan hệ ngoại thương cũng thể hiện lợi thế tương đối và khả năng cạnh tranh của một quốc gia trong toàn cảnh nền kinh tế thế giới có biến động Quá trình chuyển dịch cơ cấu là một quá trình tất yếu gắn với sự phát triển kinh tế Đồng thời nhịp độ phát triển, tính bền vững của quá trình tăng trưởng lại phụ thuộc vào khả năng chuyển dịch cơ cấu linh hoạt, phù hợp với những điều kiện bên ngoài
và các lợi thế tương đối của một nền kinh tế
1.2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ NÔNG THÔN MỚI
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI (2011)xác định:
“Triển khai chương trình xây dựng nông thôn mới phù hợp với đặc điểm từng
vùng theo các bước đi cụ thể, vững chắc trong từng giai đoạn; giữ gìn và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của nông thôn Việt Nam Đẩy mạnh xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn Tạo môi trường thuận lợi để khai thác mọi khả năng đầu
tư vào nông nghiệp và nông thôn, nhất là đầu tư của các doanh nghiệp nhỏ và vừa, thu hút nhiều lao động Triển khai có hiệu quả chương trình đào tạo nghề cho 1 triệu lao động nông thôn mỗi năm.”
Xây dựng nông thôn mới (NTM) là một cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn
để cộng đồng dân cư ở nông thôn cùng đồng lòng xây dựng địa bàn nông thôn và gia đình của mình khang trang, sạch đẹp, dân chủ, giàu mạnh, văn minh; phát triển sản xuất toàn diện (Nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ) Trong tổng thể phát triển kinh
tế đất nước ta hiện nay thì vấn đề nông nghiệp, nông dân, nông thôn phải được giải quyết đồng bộ gắn với quá trình đẩy mạnh CNH – HĐH CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn là một trong những nhiệm vụ quan trọng hàng đầu và là nhân tố bảo đảm thành công của sự nghiệp CNH – HĐH đất nước
Trong quá trình CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn hiện nay, Chương trình
Trang 32mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình lớn, có ý nghĩa quan trọng giúp hoàn thiện hệ thống cơ sở hạ tầng nông nghiệp, nông thôn tạo tiền
đề cho sự phát triển của ngành nông nghiệp và thay đổi căn bản bộ mặt nông thôn Việt Nam, giúp nông thôn tiến gần hơn với thành thị trong việc nâng cao thu nhập, mức sống, cải thiện an sinh xã hội, tiếp cận với đời sống văn hóa, tinh thần hiện đại Trong chương trình này, mục tiêu nâng cao thu nhập, chuyển đổi mô hình sản xuất được cụ thể hóa thành các tiêu chí rõ ràng, cụ thể trong đó vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế nói chung và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành nông nghiệp nói riêng sẽ là động lực chính để thực hiện thành công các tiêu chí này
1.2.1 Khung lý luận về nông thôn mới
Theo (Trần Tiến Khai, 2014), lý luận về nông thôn mới được xây dựng và phát triển dựa trên các khung phân tích phát triển nông thôn, cơ sở lý thuyết và thực tiễn phát triển nông thôn trên thế giới và điều chỉnh cho phù hợp với bối cảnh riêng của Việt Nam Theo đó, trình độ phát triển nông thôn được đo lường bằng các tiêu chí Các tiêu chí được hiểu là các biến thống kê giúp chuyển dữ liệu thành thông tin phù hợp Các tiêu chí chỉ có ý nghĩa trong phạm vi khung khái niệm đã được xác định và cho những mục tiêu phân tích hoặc quản lý cụ thể Các tiêu chí phát triển nông thôn phải dựa trên các số liệu thống kê được công bố; được thu thập một cách nhất quán;
ở các vùng có thể so sánh với nhau được; sử dụng cùng hệ và đơn vị đo lường và dựa trên các định nghĩa rõ ràng Các tiêu chí cũng nên nhạy cảm với những thay đổi và
xu hướng theo thời gian để có thể chỉ ra thông tin về định hướng chính sách cho tương lai Để thỏa mãn các điều kiện trên, các tiêu chí mô tả phát triển nông thôn thường phải dựa vào các khái niệm phổ biến và các dữ liệu nông thôn
Theo kinh nghiệm của OECD, việc thiết kế và phát triển các tiêu chí phát triển nông thôn phải dựa trên ba nguyên tắc sau đây:
- Có tính thích hợp Để có tính thích hợp, các tiêu chí phải phục vụ cho một
mục tiêu được xác định rõ ràng Vì vậy các mục tiêu phân tích hay mục tiêu chính sách phải được cụ thể hóa để xây dựng các tiêu chí
Trang 33- Tính tin cậy Để có tính tin cậy, các tiêu chí phải có cơ sở khoa học, có nghĩa
là thể hiện được cơ sở lý thuyết mà chúng dựa vào, và phải được đo lường chính xác
- Có tính thực tế Để có tính thực tế, các tiêu chí phải dựa trên dữ liệu thống
kê
World Bank khuyến nghị các nước đang phát triển chọn 5 nhóm chủ đề cho các tiêu chí cơ bản là: 1) dữ liệu kinh tế xã hội cơ bản; 2) tạo ra môi trường cho phát triển nông thôn; 3) tăng trưởng kinh tế cho giảm nghèo nông thôn; 4) quản lý nguồn lực tự nhiên và đa dạng sinh học; và 5) phúc lợi xã hội (giáo dục và chăm sóc sức khỏe) Mỗi chủ đề bao gồm nhiều tiêu chí dựa trên các vấn đề cần xác định
Cũng theo (Trần Tiến Khai, 2014), tác giả Vũ Trọng Khải đã đề xuất 5 nguyên tắc xây dựng nông thôn mới, là:
1 Các nội dung hoạt động cụ thể của Chương trình xây dựng nông thôn mới
ở mỗi địa phương phải hướng tới mục tiêu từng bước nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân một cách bền vững, phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội, tự nhiên của địa phương
2 Phát huy vai trò chủ thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định hướng, ban hành các quy chuẩn, chính sách, cơ chế hỗ trợ, đào tạo cán bộ và hướng dẫn thực hiện Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện
3 Kế thừa và lồng ghép chương trình mục tiêu quốc gia, và các chương trình,
dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông thôn
4 Thực hiện Chương trình xây dựng nông thôn mới phải nằm trong quy hoạch
và kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia và của mỗi vùng, mỗi địa phương,
và được bảo đảm cân đối các nguồn lực (tài chính, lao động, đất đai…) cả bên trong
và bên ngoài
5 Công khai, minh bạch về quản lý, sử dụng các nguồn lực: tăng cường phân cấp, trao quyền cho cấp xã quản lý và tổ chức thực hiện các công trình, dự án của Chương trình xây dựng NTM; phát huy vai trò làm chủ của người dân và cộng đồng,
Trang 34thực hiện dân chủ hóa trong quá trình lập dự án, kế hoạch, tổ chức thực hiện và giám sát, đánh giá các dự án và kế hoạch cụ thể về phát triển nông thôn
Thế giới có nhiều bộ tiêu chí hoặc các chỉ số tổng hợp được xây dựng để đo lường Tuy nhiên, mục tiêu của việc xây dựng bộ tiêu chí đo lường chỉ để nhằm đánh giá sự tiến bộ của tiến trình phát triển nông thôn trên một khu vực không gian lãnh thổ cụ thể theo tiến trình vì bản chất của phát triển nông thôn là một tiến trình liên tục, không ngừng nghỉ, và cột mốc đánh dấu sự phát triển luôn được thay đổi theo hướng nâng cao lên để phù hợp với nhận thức và yêu cầu mới của phát triển Nói cách khác, bộ tiêu chí được dùng để theo dõi kết quả đạt được trong tiến trình, chứ không nhằm vào việc chỉ ra kết quả cuối cùng của phát triển nông thôn Đồng thời,
bộ tiêu chí cũng có thể giúp so sánh trình độ phát triển giữa các vùng nông thôn khác nhau, từ đó giúp đưa ra những định hướng phát triển phù hợp cho những giai đoạn
cụ thể cho từng vùng nông thôn cụ thể
Vì nông thôn là một khái niệm mang tính không gian – lãnh thổ nên tính chất đặc thù, khác biệt và chênh lệch nhau về trình độ phát triển của từng vùng nông thôn
cụ thể được chú ý rất nhiều Do đó, các quốc gia thường thực thi tiến trình phát triển nông thôn dựa trên từng vùng lãnh thổ cụ thể với những đặc trưng kinh tế - xã hội đặc thù chứ không đặt ra mục tiêu phát triển nông thôn giống hệt nhau cho mọi vùng khác biệt nhau Ngoài ra, dựa trên nguyên tắc lấy con người làm trung tâm và phát triển bền vững, phát triển nông thôn dựa trên cộng đồng cũng là hướng tiếp cận mang tính thực tiễn được các tổ chức quốc tế và các quốc gia áp dụng
Từ các trường hợp phát triển nông thôn của quốc gia Hàn Quốc, Nhật Bản, và châu Âu, có thể rút ra được nhiều kinh nghiệm quý giá cho phát triển nông thôn, hoặc xây dựng nông thôn mới ở Việt Nam Về tiếp cận, cần phát triển nông thôn theo vùng, phải xác định phát triển nông thôn là một quá trình dài lâu, nên phải phát triển nông thôn theo phương châm “chậm mà chắc”, làm thí điểm diện hẹp và lựa chọn nơi nào làm tốt để làm hạt nhân phát triển tiếp theo Về phương thức thực hiện, phát triển nông thôn lấy cộng đồng cư dân nông thôn làm chủ tiến trình phát triển, kết hợp với phát huy tối đa vai trò chỉ đạo của Nhà nước Về nội dung, lấy phát triển kinh tế nông
Trang 35thôn, tăng thu nhập cho người nông dân làm cốt lõi, và phải bảo vệ bản sắc nông thôn
Các kết quả tổng quan cơ sở khoa học và kinh nghiệm phát triển nông thôn ở một vài quốc gia trên thế giới là một phần nền tảng quan trọng để xây dựng khung phân tích cho phát triển nông thôn ở Việt Nam cũng như hình thành Bộ tiêu chí xây dựng nông thôn mới
1.2.2 Khái niệm nông thôn mới
Quan điểm phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới của Đảng và Nhà nước Việt Nam được thể hiện rõ trong Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 5 tháng 8 năm
2008 tại Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn của Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam Nghị quyết này thể hiện quan điểm của Trung ương Đảng về mục tiêu tổng quát của phát
triển “nông nghiệp, nông dân, nông thôn” như sau: “Không ngừng nâng cao đời sống
vật chất, tinh thần của dân cư nông thôn, hài hòa giữa các vùng, tạo sự chuyển biến nhanh hơn ở các vùng còn nhiều khó khăn; nông dân được đào tạo có trình độ sản xuất ngang bằng với các nước tiên tiến trong khu vực và đủ bản lĩnh chính trị, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới Xây dựng nền nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất, chất lượng, hiệu quả
và khả năng cạnh tranh cao, đảm bảo vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội hiện đại; cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; dân trí được nâng cao, môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Ðảng được tăng cường Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công nhân - nông dân - trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.” (Nghị
quyết 26-2008/TW)
Trang 36Mục tiêu tổng quát trên đã khái quát được những nội dung cơ bản của nông thôn mới với các đặc điểm:
- Có kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội hiện đại
- Cơ cấu kinh tế và các hình thức tổ chức hợp sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ, trong đó công nghiệp, dịch vụ chiếm tỉ trọng lớn
- Xã hội nông thôn ổn định, đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của người dân được nâng cao, thu nhập tăng, tỉ lệ hộ nghèo thấp
- Vừa mang tính hiện đại nhưng cũng giữ được bản sắc văn hóa dân tộc
- Dân trí được nâng cao, trình độ lao động ngày càng tiến bộ
- Môi trường sinh thái được bảo vệ
- Hệ thống chính trị ở nông thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường Tính chất của “nông thôn mới” tiếp tục được thể hiện ở Quyết định số 800/QĐ-TTg, ngày 04 tháng 6 năm 2010 ban hành về việc phê duyệt Chương trình mục tiêu Quốc gia về xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2010-2020 với mục tiêu chung là
“Xây dựng nông thôn mới có kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội từng bước hiện đại; cơ
cấu kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất hợp lý, gắn nông nghiệp với phát triển nhanh công nghiệp, dịch vụ; gắn phát triển nông thôn với đô thị theo quy hoạch; xã hội nông thôn dân chủ, ổn định, giàu bản sắc văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; an ninh trật tự được giữ vững; đời sống vật chất và tinh thần của người dân ngày càng được nâng cao; theo định hướng xã hội chủ nghĩa”
Ngày 16 tháng 4 năm 2009, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 491/QĐ/TTg về việc ban hành Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới Tại điều 1, đã
xác định “Bộ tiêu chí là căn cứ để xây dựng nội dung Chương trình mục tiêu quốc
gia về xây dựng nông thôn mới; chỉ đạo thí điểm xây dựng mô hình nông thôn mới trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; kiểm tra, đánh giá công nhận
xã, huyện, tỉnh đạt nông thôn mới Bộ tiêu chí sẽ được điều chỉnh phù hợp với điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước và từng thời kỳ”
Trang 37Như vậy, từ Quyết định số 800/QĐ-TTg và Quyết định số 491/QĐ/TTg có thể hiểu rằng “nông thôn mới” là nông thôn đạt được 19 tiêu chí của Bộ tiêu chí quốc gia
về nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là cuộc cách mạng và cuộc vận động lớn để cộng
đồng dân cư ở nông thôn đồng lòng xây dựng thôn, xã, gia đình của mình khang trang, sạch đẹp; phát triển sản xuất toàn diện (nông nghiệp, công nghiệp, dịch vụ); có nếp sống văn hoá, môi trường và an ninh nông thôn được đảm bảo; thu nhập, đời sống vật chất, tinh thần của người dân được nâng cao
Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn Đảng, toàn dân, của
cả hệ thống chính trị Nông thôn mới không chỉ là vấn đề kinh tế - xã hội, mà là vấn
đề kinh tế - chính trị tổng hợp
Xây dựng nông thôn mới giúp cho nông dân có niềm tin, trở nên tích cực, chăm chỉ, đoàn kết giúp đỡ nhau xây dựng nông thôn phát triển giàu đẹp, dân chủ, văn minh
1.2.3 Nội dung xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới là một chương trình tổng thể về phát triển kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng, gồm 11 nội dung sau:
1 Quy hoạch xây dựng nông thôn mới
- Mục tiêu: Đạt tiêu chí số 1 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Quy hoạch sử dụng đất và hạ tầng thiết yếu cho phát triển sản xuất
nông nghiệp hàng hóa, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ;
- Nội dung 2: Quy hoạch phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường; phát triển
các khu dân cư mới và chỉnh trang các khu dân cư hiện có trên địa bàn xã
2 Phát triển hạ tầng kinh tế - xã hội
- Mục tiêu: Đạt tiêu chí 2,3,4,5,6,7,8,9 trong Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông
thôn mới
- Nội dung 1: Hoàn thiện đường giao thông đến trụ sở Ủy ban nhân dân xã và hệ
thống giao thông trên địa bàn xã Đến 2015 có 35% số xã đạt chuẩn (các trục đường
Trang 38xã được nhựa hóa hoặc bê tông hóa) và đến 2020 có 70% số xã đạt chuẩn (các trục đường thôn, xóm cơ bản cứng hóa);
- Nội dung 2: Hoàn thiện hệ thống các công trình đảm bảo cung cấp điện phục vụ
sinh hoạt và sản xuất trên địa bàn xã Đến 2015 có 85% số xã đạt tiêu chí nông thôn mới và năm 2020 là 95% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 3: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn
hóa thể thao trên địa bàn xã Đến 2015 có 30% số xã có nhà văn hóa xã, thôn đạt chuẩn, đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 4: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về y tế trên
địa bàn xã Đến 2015 có 50% số xã đạt chuẩn và đến 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 5: Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ việc chuẩn hóa về giáo
dục trên địa bàn xã Đến 2015 có 45% số xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 75% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 6: Hoàn chỉnh trụ sở xã và các công trình phụ trợ Đến 2015 có 65% số
xã đạt tiêu chí và năm 2020 có 85% số xã đạt chuẩn;
- Nội dung 7: Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã Đến 2015 có 45%
số xã đạt chuẩn (có 50% kênh cấp 3 trở lên được kiên cố hóa) Đến 2020 có 77% số
xã đạt chuẩn (cơ bản cứng hóa hệ thống kênh mương nội đồng theo quy hoạch)
3 Chuyển dịch cơ cấu, phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập
- Mục tiêu: đạt tiêu chí 10, 12 trong Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu sản xuất nông nghiệp theo hướng
phát triển sản xuất hàng hóa, có hiệu quả kinh tế cao;
- Nội dung 2: Tăng cường công tác khuyến nông; đẩy nhanh nghiên cứu ứng dụng
tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp;
- Nội dung 3: Cơ giới hóa nông nghiệp, giảm tổn thất sau thu hoạch trong sản xuất
nông, lâm, ngư nghiệp;
- Nội dung 4: Bảo tồn và phát triển làng nghề truyền thống theo phương châm “mỗi
làng một sản phẩm”, phát triển ngành nghề theo thế mạnh của địa phương;
Trang 39- Nội dung 5: Đẩy mạnh đào tạo nghề cho lao động nông thôn, thúc đẩy đưa công
nghiệp vào nông thôn, giải quyết việc làm và chuyển dịch nhanh cơ cấu lao động nông thôn
4 Giảm nghèo và an sinh xã hội
- Mục tiêu: đạt tiêu chí 11 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Thực hiện có hiệu quả Chương trình giảm nghèo nhanh và bền vững
cho 62 huyện có tỷ lệ hộ nghèo cao (Nghị quyết 30của Chính phủ) theo Bộ tiêu chí quốc gia về nông thôn mới;
- Nội dung 2: Tiếp tục triển khai Chương trình mục tiêu Quốc gia về giảm nghèo;
- Nội dung 3: Thực hiện các chương trình an sinh xã hội
5 Đổi mới và phát triển các hình thức tổ chức sản xuất có hiệu quả ở nông thôn
- Mục tiêu: đạt tiêu chí 13 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Phát triển kinh tế hộ, trang trại, hợp tác xã;
- Nội dung 2: Phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ ở nông thôn;
- Nội dung 3: Xây dựng cơ chế, chính sách thúc đẩy liên kết kinh tế giữa các loại
hình kinh tế ở nông thôn
6 Phát triển giáo dục - đào tạo ở nông thôn
- Mục tiêu: đạt tiêu chí số 5 và 14 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia về giáo dục và đào
tạo, đáp ứng yêu cầu của Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
7 Phát triển y tế, chăm sóc sức khỏe cư dân nông thôn
- Mục tiêu: đạt tiêu chí số 5 và 15 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia trong lĩnh vực về y
tế, đáp ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới
8 Xây dựng đời sống văn hóa, thông tin và truyền thông nông thôn
- Mục tiêu: đạt tiêu chí số 6 và 16 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về văn hóa, đáp
ứng yêu cầu Bộ tiêu chí quốc gia nông thôn mới;
Trang 40- Nội dung 2: Thực hiện thông tin và truyền thông nông thôn, đáp ứng yêu cầu Bộ
tiêu chí quốc gia nông thôn mới
9 Cấp nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn
- Mục tiêu: đạt tiêu chí số 17 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về nước sạch và vệ
sinh môi trường nông thôn;
- Nội dung 2: Xây dựng các công trình bảo vệ môi trường nông thôn trên địa bàn xã,
thôn theo quy hoạch, gồm: xây dựng, cải tạo nâng cấp hệ thống tiêu thoát nước trong thôn, xóm; xây dựng các điểm thu gom, xử lý rác thải ở các xã; chỉnh trang, cải tạo nghĩa trang; cải tạo, xây dựng các ao, hồ sinh thái trong khu dân cư, phát triển cây xanh ở các công trình công cộng…
10 Nâng cao chất lượng tổ chức Đảng, chính quyền, đoàn thể chính trị - xã hội trên địa bàn
- Mục tiêu: đạt tiêu chí số 18 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Tổ chức đào tạo cán bộ đạt chuẩn theo quy định của Bộ Nội vụ, đáp
ứng yêu cầu xây dựng nông thôn mới;
- Nội dung 2: Ban hành chính sách khuyến khích, thu hút cán bộ trẻ đã được đào tạo,
đủ tiêu chuẩn về công tác ở các xã, đặc biệt là các vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn để nhanh chóng chuẩn hóa đội ngũ cán bộ ở các vùng này;
- Nội dung 3: Bổ sung chức năng, nhiệm vụ và cơ chế hoạt động của các tổ chức
trong hệ thống chính trị phù hợp với yêu cầu xây dựng nông thôn mới
11 Giữ vững an ninh, trật tự xã hội nông thôn
- Mục tiêu: đạt tiêu chí số 19 của Bộ tiêu chí Quốc gia xây dựng nông thôn mới
- Nội dung 1: Ban hành nội quy, quy ước làng xóm về trật tự, an ninh; phòng, chống
các tệ nạn xã hội và các hủ tục lạc hậu;
- Nội dung 2: Điều chỉnh và bổ sung chức năng, nhiệm vụ và chính sách tạo điều
kiện cho lượng lực lượng an ninh xã, thôn, xóm hoàn thành nhiệm vụ đảm bảo an ninh, trật tự xã hội trên địa bàn theo yêu cầu xây dựng nông thôn mới