1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với việc xây dựng thành phố hồ chí minh trở thành đô thị

154 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chuyển Dịch Cơ Cấu Kinh Tế Ngành Gắn Với Việc Xây Dựng Thành Phố Hồ Chí Minh Trở Thành Đô Thị Thông Minh Đến Năm 2025
Tác giả Hồ Thị Thanh Huyền
Người hướng dẫn TS. Hoàng An Quốc
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Tế Chính Trị
Thể loại luận văn thạc sĩ
Năm xuất bản 2018
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 154
Dung lượng 2,42 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • 1. bia

  • 2. phu bia

  • 3. loi cam doan

  • 4. Muc luc moi

  • 5. Danh muc cac chu viet tat

  • 6. Danh muc cac bang

  • 7. DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

  • 8. LUAN VAN sau bao ve

  • 9. danh muc tai lieu tham khao

  • 10. Phu luc

Nội dung

Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài

Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Cơ cấu kinh tế (CCKT) và chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) là những vấn đề được nhiều học giả trong và ngoài nước nghiên cứu, đồng thời là chủ đề thảo luận tại nhiều hội thảo và hội nghị cả trong và ngoài nước.

C.Mác đã nêu rõ vấn đề về CDCCKT trong học thuyết phân công lao động xã hội và tái sản xuất xã hội Kinh tế học chính thống phân tích các điều kiện cần thiết cho sự hoạt động hiệu quả của thị trường, coi đây là động lực chính cho sự phát triển kinh tế Đồng thời, nó cũng nhấn mạnh vai trò can thiệp của nhà nước thông qua các chính sách kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo sự ổn định và hoạt động bình thường của thị trường.

W Rostow đã chia quá trình phát triển kinh tế của một quốc gia thành 5 giai đoạn: xã hội truyền thống, chuẩn bị cất cánh, cất cánh, tăng trưởng và mức tiêu dùng cao Học giả Tatyana P Soubbotina, đồng quan điểm với D Bell, đã bổ sung thêm các giai đoạn nông nghiệp, công nghiệp hóa và hậu công nghiệp vào lý thuyết phát triển kinh tế Bà cũng nhấn mạnh tầm quan trọng của cuộc cách mạng tri thức, đặc biệt là vai trò của khoa học, công nghệ và chất xám trong sự phát triển của các quốc gia.

Ngân hàng Thế giới (WB) khẳng định rằng quá trình phát triển kinh tế trải qua các giai đoạn từ nghèo đói đến công nghiệp hóa và phát triển tiêu thụ Sự phát triển kinh tế gắn liền với mối quan hệ chặt chẽ giữa tăng trưởng kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Ngân hàng Thế giới đã thực hiện hai nghiên cứu quan trọng về sự phát triển kinh tế ở Đông Á, bao gồm “Sự thần kỳ của Đông Á” và “Suy ngẫm lại sự thần kỳ của Đông Á” Hai công trình này phân tích các chính sách cơ cấu của các quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan và Singapore Trong “Sự thần kỳ của Đông Á”, WB nhấn mạnh rằng chính sách cơ cấu đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển thần kỳ của khu vực này, cho thấy vai trò lớn của Nhà Nước Ngược lại, trong “Suy ngẫm lại sự thần kỳ của Đông Á”, các tác giả, bao gồm J Stinglirt, người đoạt giải Nobel Kinh tế năm 2002, cho rằng chính sách cơ cấu có ít tác động và sự phát triển chủ yếu do thị trường quyết định.

Theo Dowring (1959), quy mô lớn của khu vực nông nghiệp gây khó khăn cho việc chuyển dịch lao động nông nghiệp sang lĩnh vực phi nông nghiệp Ngược lại, Johnton và Kilby (1975) cho rằng sự chuyển dịch cơ cấu lao động chậm là do nhu cầu của khu vực công nghiệp còn hạn chế và mức lương của người lao động vẫn thấp.

Tình hình nghiên cứu trong nước

Liên quan đến vấn đề nghiên cứu đã có nhiều công trình được công bố trên các góc độ tiếp cận khác nhau:

Luận án Tiến sỹ của nghiên cứu sinh Phạm Thị Nga (2016): “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tỉnh Thái Nguyên theo hướng phát triển bền vững”, Viện Hàn

Tác giả đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) và quan điểm của Đảng cùng chính sách pháp luật của Nhà nước liên quan đến vấn đề này Luận văn phân tích thực trạng CDCCKT ngành tại tỉnh Thái Nguyên, nhấn mạnh những kết quả đạt được, đồng thời chỉ ra hạn chế và nguyên nhân của chúng Dựa trên những phân tích đó, tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thúc đẩy CDCCKT ngành tại Thái Nguyên theo hướng phát triển bền vững.

Luận án Tiến sỹ của Nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Cẩm Vân (2015) tại Đại học Kinh tế Quốc dân đã chỉ ra rằng cơ cấu ngành của khu vực sơ cấp ở Việt Nam chuyển dịch từ nông nghiệp sang khai khoáng và thủy sản, với định hướng xuất khẩu, cho thấy công nghiệp hóa vẫn ở giai đoạn thấp Mặc dù có tín hiệu tích cực trong khu vực chế biến chế tạo, sự chuyển dịch diễn ra chậm, với các ngành thâm dụng tài nguyên và lao động chiếm ưu thế Điều này dẫn đến cơ cấu ngành có hiệu quả và năng lực cạnh tranh thấp, với xu hướng giảm giá trị gia tăng và tăng chi phí trung gian Luận án nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng tỷ trọng vốn và lao động công nghiệp đối với tăng trưởng các ngành phi nông nghiệp Các phát hiện này sẽ hỗ trợ nhà quản lý và hoạch định chính sách nhận diện đặc trưng trong chuyển dịch cơ cấu ngành và tăng trưởng kinh tế, đồng thời gợi ý khuyến nghị về cơ cấu ngành hợp lý Tuy nhiên, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành của thành phố Hồ Chí Minh có những khác biệt so với mô hình chung của cả nước, đặc biệt trong bối cảnh xây dựng thành phố trở thành đô thị thông minh, điều này chưa được đề cập trong luận án.

Một nghiên cứu của GS.TSKH Lê Du Phong và PGS.TS Nguyễn về "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong điều kiện hội nhập với khu vực và thế giới" đã chỉ ra tầm quan trọng của việc điều chỉnh cơ cấu kinh tế để phù hợp với xu hướng hội nhập toàn cầu Nghiên cứu này nhấn mạnh sự cần thiết phải cải cách các ngành kinh tế nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh và thúc đẩy phát triển bền vững.

Thành Độ đã trình bày luận cứ khoa học về chuyển dịch cơ cấu kinh tế (CDCCKT) theo hướng hội nhập, phân tích thực trạng CDCCKT của Việt Nam trong giai đoạn 1991 – 1997, cùng với tình hình CDCCKT ở một số vùng Bài viết cũng đề xuất phương hướng và giải pháp cho CDCCKT tại Việt Nam, nhằm hội nhập hiệu quả với nền kinh tế khu vực và toàn cầu Tuy nhiên, tài liệu này chưa đề cập đến phân tích CDCCKT nói chung và CDCCKT theo ngành cụ thể.

Bài viết “Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế ở Việt Nam - Thông tin chung” của PGS.TS Bùi Tất Thắng, xuất bản năm 2009, khái quát lý luận về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành và tiêu chí đánh giá quá trình này Đề tài tập trung vào việc đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, bao gồm cả sự chuyển dịch giữa các ngành và trong nội bộ từng ngành Bài viết cũng phân tích tác động của các nhân tố mới từ cả thế giới và trong nước đối với xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế Việt Nam trong tương lai.

“Bàn về cải tiến cơ cấu của nền kinh tế Việt Nam” của PGS.TS Ngô

Bài viết của Doãn Vịnh trên tạp chí Kinh tế và Dự báo tháng 1 – 2010 nêu rõ cải tiến cơ cấu kinh tế là quá trình phát huy lợi thế so sánh của quốc gia, nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh và đảm bảo phát triển bền vững Nhà nước và doanh nghiệp là hai chủ thể chính trong việc này, và sự chuẩn bị kỹ lưỡng là cần thiết để đạt được thành công Tác giả cũng phân tích tình trạng cơ cấu kinh tế Việt Nam trong bối cảnh toàn cầu, đồng thời chỉ ra những lợi thế so sánh và khả năng cải tiến của đất nước Luận án Tiến Sĩ của Nguyễn Đình Dương với đề tài "Chuyển dịch cơ cấu kinh tế thủ đô Hà Nội đến năm 2020" tập trung vào lý thuyết chuyển dịch cơ cấu theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong bối cảnh hội nhập quốc tế, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Hà Nội đến năm 2020.

Các công trình nghiên cứu tại thành phố Hồ Chí Minh

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng của Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam đến năm 2020 sẽ tập trung vào việc nâng cao tính cạnh tranh Mục tiêu này nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững và hiệu quả trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu Các chính sách sẽ được triển khai để hỗ trợ các ngành kinh tế chủ lực, đồng thời khuyến khích đổi mới sáng tạo và ứng dụng công nghệ cao.

Tác phẩm của PGS.TS Lương Minh Cừ, PGS.TS Đào Duy Huân và ThS Phạm Đức Hải, xuất bản bởi Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh vào năm 2012, tập trung vào việc nghiên cứu quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế và mô hình tăng trưởng kinh tế của Thành phố.

Hồ Chí Minh và Việt Nam đã trải qua những biến đổi quan trọng trong thời gian qua Tác giả đề xuất các giải pháp nhằm thay đổi mô hình chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế theo hướng cạnh tranh Mục tiêu là phát huy tiềm năng và thế mạnh của nền kinh tế thành phố, nâng cao tính bền vững và hiệu quả, đồng thời duy trì tốc độ tăng trưởng hợp lý, hài hòa với việc bảo vệ môi trường và phát triển an sinh xã hội.

Nghiên cứu của Vương Đức Hoàng Quân (2014) về quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế tại Thành phố Hồ Chí Minh tập trung vào định hướng và chính sách của chính quyền địa phương Bài viết phân tích thực trạng chuyển dịch, nêu rõ thành tựu và hạn chế, cùng với nguyên nhân của các vấn đề tồn tại Dựa trên những phân tích này, nghiên cứu đề xuất các giải pháp nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững cho nền kinh tế thành phố.

Những khoảng trống và hướng nghiên cứu của luận văn

Thành phố Hồ Chí Minh là một trung tâm kinh tế lớn và năng động của Việt Nam, thu hút nhiều nghiên cứu và hội thảo về kinh tế Mặc dù đã có nhiều công trình đề cập đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ nhiều góc độ khác nhau, nhưng vấn đề chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với giải pháp xây dựng Thành phố thành Đô thị thông minh vẫn còn mới mẻ và chưa được nghiên cứu nhiều.

Trong bối cảnh Thành phố Hồ Chí Minh đang đối mặt với nhiều cơ hội và thách thức mới, như sự bùng nổ của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và Nghị quyết 54 của Quốc hội về cơ chế phát triển đặc thù, việc tìm kiếm các giải pháp phù hợp và đột phá là cần thiết để giải quyết những khó khăn hiện tại Điều này sẽ thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng, góp phần hiện thực hóa mục tiêu xây dựng Thành phố trở thành Đô thị thông minh Luận văn sẽ tập trung vào nghiên cứu và hệ thống hóa các vấn đề liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại Thành phố.

Hồ Chí Minh hiện đang đối mặt với nhiều thách thức trong bối cảnh kinh tế chính trị, bao gồm việc thích ứng với cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 và khai thác lợi thế từ các chính sách ưu đãi theo Nghị quyết 54 của Chính phủ Để thực hiện Đề án xây dựng Thành phố trở thành đô thị thông minh vào năm 2025, cần có những giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo định hướng, đảm bảo phát triển bền vững Mục tiêu là thực hiện thành công Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025.”

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Luận văn được xây dựng dựa trên các nguyên lý cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, đồng thời phản ánh quan điểm và đường lối của Đảng và Nhà nước, cũng như các văn kiện và nghị quyết của Đảng bộ và Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương pháp nghiên cứu chính của luận văn là duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, áp dụng để phân tích các vấn đề liên quan đến CDCCKT ngành và phát triển đô thị thông minh Nghiên cứu này diễn ra trong bối cảnh nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và quá trình hội nhập quốc tế tại Việt Nam.

Luận văn áp dụng các phương pháp nghiên cứu đặc thù của kinh tế chính trị và kinh tế học hiện đại như trừu tượng hóa khoa học, logic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, thống kê - mô tả, và so sánh - đối chiếu Những phương pháp này được sử dụng để khảo sát và đánh giá thực trạng chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành tại thành phố Hồ Chí Minh, nhằm xác định điểm mạnh, điểm yếu và lợi thế đặc thù của thành phố, từ đó đề xuất định hướng, mục tiêu và giải pháp phù hợp.

Kết quả, đóng góp của Luận văn

Bài viết này tập trung vào việc hệ thống hóa và làm rõ các vấn đề lý luận cơ bản liên quan đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, đồng thời nhấn mạnh mối liên hệ với việc xây dựng đô thị thông minh tại Việt Nam Việc nghiên cứu này không chỉ góp phần nâng cao nhận thức về tầm quan trọng của chuyển đổi kinh tế mà còn giúp định hình các chiến lược phát triển đô thị bền vững trong bối cảnh hiện đại.

Luận văn này phân tích và đánh giá thực trạng kinh tế, từ đó đề xuất các định hướng và giải pháp nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế Mục tiêu là xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành Đô thị thông minh vào năm 2025.

Kết cấu nội dung của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và phụ lục; luận văn gồm 3 chương, 9 mục

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn về chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với đô thị thông minh

Chương 2 : Thực trạng quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành trên địa bàn Tp Hồ Chí Minh và những vấn đề đặt ra

Chương 3 đề cập đến quan điểm và phương hướng nhằm thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, góp phần xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành đô thị thông minh vào năm 2025 Các giải pháp cụ thể sẽ được triển khai để nâng cao hiệu quả kinh tế, tối ưu hóa nguồn lực và phát triển bền vững, đồng thời tạo ra môi trường thuận lợi cho đổi mới sáng tạo và thu hút đầu tư Mục tiêu cuối cùng là nâng cao chất lượng sống của người dân và phát triển hạ tầng đô thị hiện đại, đáp ứng yêu cầu của một thành phố thông minh.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KINH NGHIỆM THỰC TIỄN VỀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH GẮN VỚI XÂY DỰNG ĐÔ THỊ THÔNG

Cơ cấu kinh tế và cơ cấu kinh tế ngành

Cơ cấu kinh tế là tổng thể các ngành và lĩnh vực kinh tế có mối quan hệ ổn định, tạo thành một hệ thống liên kết chặt chẽ Nó bao gồm nhiều yếu tố tương tác qua lại trong một không gian và thời gian nhất định, được thể hiện qua cả mặt định tính và định lượng, chất lượng và số lượng, nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể của nền kinh tế.

Cơ cấu kinh tế bao gồm nhiều loại khác nhau, mỗi loại đều thể hiện những đặc điểm riêng của các bộ phận trong nền kinh tế và cách mà chúng tương tác với nhau trong quá trình phát triển.

Cơ cấu kinh tế bao gồm các thành phần như cơ cấu thành phần, cơ cấu vùng – lãnh thổ và cơ cấu ngành kinh tế Trong đó, cơ cấu ngành kinh tế, với sự tổ hợp các ngành theo tỷ lệ nhất định, đóng vai trò chủ đạo, phản ánh trình độ phát triển của nền kinh tế Để đạt được tăng trưởng kinh tế bền vững, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế là điều tất yếu.

Cơ cấu kinh tế ngành:

Cơ cấu ngành của nền kinh tế Việt Nam phản ánh tỷ lệ và mối quan hệ ổn định giữa các ngành, tạo thành một chỉnh thể liên kết các lĩnh vực kinh tế theo cấu trúc nhất định Điều này dẫn đến sự hình thành những thuộc tính và chất lượng mới mà không thể có ở từng bộ phận riêng lẻ Cụ thể, cơ cấu ngành bao gồm mối quan hệ về số lượng và chất lượng giữa các ngành trong nền kinh tế Theo hướng dẫn của Liên hiệp quốc, nền kinh tế Việt Nam được phân loại thành ba nhóm ngành lớn: Nông – Lâm – Ngư nghiệp; Công nghiệp, xây dựng; và Thương mại và dịch vụ.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế:

Quá trình chuyển đổi kinh tế là sự thay đổi cấu trúc và mối quan hệ trong nền kinh tế theo một mục tiêu nhất định, nhằm tăng tốc độ và tỷ trọng sản xuất công nghiệp Điều này gắn liền với việc đổi mới công nghệ, tạo nền tảng cho sự tăng trưởng nhanh và hiệu quả cao của toàn bộ nền kinh tế quốc dân, đồng thời phát triển nền kinh tế dịch vụ một cách bền vững.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế và ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ, trong đó tiến bộ khoa học công nghệ thúc đẩy sự thay đổi của cơ cấu kinh tế Ngược lại, những thay đổi này cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc áp dụng và phát triển các tiến bộ khoa học công nghệ.

Quá trình hình thành và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của mỗi quốc gia tuân theo những quy luật chung, nhưng cũng chịu ảnh hưởng bởi các đặc điểm và điều kiện tự nhiên, kinh tế riêng biệt của từng nước.

Cấu trúc kinh tế của mỗi quốc gia phản ánh những xu hướng thay đổi xã hội qua các giai đoạn phát triển khác nhau Để xác định chính sách cơ cấu kinh tế phù hợp, cần phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quá trình hình thành cơ cấu, bao gồm nhiều yếu tố quy định khác nhau Mỗi nhân tố này đều có tác động trực tiếp hoặc gián tiếp đến cơ cấu sản xuất và gắn kết chặt chẽ với nhau, tạo thành một hệ thống tổng thể, từ đó ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế như một sức mạnh tổng hợp.

Những yếu tố ảnh hưởng đến quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế bao gồm:

Thị trường và nhu cầu tiêu dùng đóng vai trò quan trọng trong việc xác định chất lượng và số lượng hàng hóa, dịch vụ Chúng không chỉ ảnh hưởng đến quy mô và trình độ phát triển của các cơ sở kinh tế mà còn định hình xu hướng phát triển và phân công lao động trong xã hội.

Trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ảnh hưởng đến việc hình thành cơ cấu kinh tế, xác định vị trí và tỉ trọng các ngành nghề Sự phát triển này không chỉ đáp ứng yêu cầu của lực lượng sản xuất mà còn phù hợp với nhu cầu xã hội.

Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc định hướng và xây dựng chiến lược quản lý kinh tế vĩ mô, mặc dù không trực tiếp quy định tỷ lệ các ngành nghề Các cơ quan quản lý nhà nước tác động gián tiếp đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế thông qua các chính sách khuyến khích và ưu đãi hỗ trợ, nhằm thúc đẩy sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Yếu tố tiến bộ khoa học và kỹ thuật đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng suất lao động Nhờ vào ứng dụng công nghệ, sản phẩm và dịch vụ có giá trị gia tăng cao được phát triển, từ đó thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế các ngành nghề một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế đang diễn ra mạnh mẽ, dẫn đến sự dịch chuyển vốn, lao động và công nghệ giữa các quốc gia Sự gia nhập của các quốc gia vào các tổ chức và hiệp hội thương mại quốc tế giúp xóa bỏ rào cản thương mại, từ đó hình thành các chuỗi sản xuất liên kết giữa các nước.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành:

Sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội dẫn đến sự thay đổi cơ cấu ngành nghề trong nền kinh tế Khi phân công lao động sâu sắc và chuyên môn hoá cao, một số ngành kinh tế có thể xuất hiện hoặc biến mất Điều này đồng nghĩa với việc cơ cấu kinh tế ngành luôn biến đổi theo từng giai đoạn phát triển, bao gồm cả sự thay đổi về số lượng và tỷ lệ giữa các ngành Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được hiểu là sự thay đổi về số lượng, vị trí, tỷ trọng và mối quan hệ tương tác giữa các ngành nhằm phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất và phân công lao động xã hội.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành không chỉ đơn thuần là thay đổi về số lượng và tỷ trọng giữa các ngành, mà còn bao gồm sự cải thiện về chất lượng bên trong từng ngành Quá trình này nhằm thay thế cơ cấu cũ, không còn phù hợp, bằng một cơ cấu mới hoàn thiện hơn Thực chất, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành là việc điều chỉnh mối quan hệ và tỷ trọng giữa các ngành để phù hợp với các mục tiêu kinh tế - xã hội đã được xác định cho từng giai đoạn phát triển.

Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành được thể hiện rõ nét thông qua hai quá trình:

Chuyển dịch cơ cấu giữa các ngành là sự thay đổi về vị trí và tỷ trọng của các ngành trong nền kinh tế, bao gồm cơ cấu giá trị, cơ cấu vốn và cơ cấu lao động Khi tỷ trọng của một nhóm ngành tăng lên, tỷ trọng của nhóm ngành khác sẽ giảm xuống tương ứng trong tổng giá trị sản phẩm xã hội Quá trình này được xác định qua các chỉ số tổng giá trị sản phẩm xã hội, là tiêu chí quan trọng để đánh giá chính xác sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành.

Quá trình chuyển dịch giữa các ngành luôn đi kèm với sự thay đổi trong nội bộ từng ngành, bao gồm sự thay đổi về vị trí, vai trò và tỷ trọng của các phân ngành Trong ngành nông nghiệp, sự dịch chuyển diễn ra giữa các lĩnh vực nông, lâm, ngư; trong công nghiệp, có sự phân chia giữa công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ, công nghiệp chế biến và công nghiệp khai thác; còn trong dịch vụ và du lịch, sự chuyển dịch xảy ra giữa thương mại, du lịch và các dịch vụ khác Những thay đổi này phản ánh rõ nét quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Cơ cấu kinh tế ngành phản ánh rõ ràng bức tranh tổng thể của nền kinh tế Sự thay đổi trong cơ cấu này luôn bị ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố, bao gồm cả yếu tố bên ngoài và bên trong, cũng như các yếu tố khách quan và chủ quan.

Trước hết, chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành phụ thuộc và chịu ảnh hưởng lớn từ xu thế chính trị - xã hội trong khu vực và thế giới

Chính trị là biểu hiện tập trung của nền kinh tế, và sự biến động về chính trị - xã hội của các quốc gia, đặc biệt là các nước lớn, có ảnh hưởng mạnh mẽ đến hoạt động ngoại thương, thu hút đầu tư, chuyển giao công nghệ và tiếp thu khoa học kỹ thuật từ các quốc gia khác Khi thị trường và nguồn lực từ nước ngoài thay đổi, các quốc gia phải điều chỉnh chiến lược phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành để phù hợp với tình hình mới.

Hai là, xu thế toàn cầu hoá kinh tế và quốc tế hoá lực lượng sản xuất

Những chỉ tiêu phản ánh sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành

Đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, những chỉ tiêu cơ bản phản ánh sự chuyển dịch bao gồm:

(1) Mức độ thay đổi của cơ cấu GDP

Phân tích sự thay đổi tỷ lệ phần trăm GDP của các ngành nông nghiệp, công nghiệp và dịch vụ là tiêu chí quan trọng để đánh giá quá trình chuyển dịch cơ cấu ngành.

(2) Mức độ thay đổi của cơ cấu lao động

Sự chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế có thể được đánh giá thông qua cơ cấu lao động trong nền kinh tế, phản ánh sự phân bổ của lực lượng lao động vào các lĩnh vực sản xuất khác nhau.

(3) Mức độ thay đổi của cơ cấu hàng xuất khẩu

Sự chuyển dịch cơ cấu hàng xuất khẩu từ sản phẩm sử dụng lao động kỹ thuật thấp sang sản phẩm yêu cầu lao động trình độ cao và công nghệ hiện đại, như cơ khí chế tạo, hóa chất và điện tử, là một chỉ số quan trọng để đánh giá thành công của quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế.

Ngoài ba chỉ tiêu chính, còn có nhiều chỉ tiêu khác được sử dụng để đánh giá hiệu quả cơ cấu kinh tế, bao gồm tốc độ tăng trưởng kinh tế, năng suất lao động xã hội, chỉ số ICOR, mức tiêu hao năng lượng trên mỗi đơn vị GDP, số lượng việc làm mới, tỷ lệ thất nghiệp và tốc độ giảm nghèo.

Quá trình hình thành khái niệm “Đô thị thông minh”

Cách mạng công nghiệp 4.0 đang trở thành xu thế phát triển toàn cầu, và "Đô thị thông minh" hay "Thành phố thông minh" là một hệ quả tự nhiên của xu hướng này.

Mặc dù khái niệm thành phố thông minh đã xuất hiện từ lâu, nhưng chỉ khi cuộc cách mạng 4.0 đạt được những thành tựu đáng kể, việc triển khai các thành phố thông minh mới thực sự bùng nổ Các công nghệ chủ đạo của nền công nghiệp 4.0 hiện nay đã trở thành những công cụ quan trọng trong việc xây dựng và phát triển thành phố thông minh.

Những quốc gia đang triển khai xây dựng thành phố thông minh, có thể kể đến như:

Singapore's strategy of fostering a "high-skilled workforce, innovative economy, and distinct global city," known as the Intelligent Nation 2015 (iN2015), is spearheaded by the Infocomm Development Authority (IDA).

Thành phố Barcerlona (Tây Ban Nha) đã tiến hành chiến lược với tên

"CityOS" được xem là nền tảng xây dựng thành phố thông minh hàng đầu thế giới vào năm 2015, nhờ vào công nghệ cảm biến tiên tiến, theo nghiên cứu của Juniper Research.

Thành phố thông minh Amsterdam (Hà Lan) đã bắt đầu khởi động từ năm

Năm 2009, hơn 170 dự án đã được triển khai nhằm ứng dụng công nghệ thiết bị không dây vào đời sống, góp phần giảm thiểu các vấn đề giao thông, ô nhiễm môi trường và lãng phí năng lượng.

Malaysia: Chiến lược “Chính phủ số” - Digital Govement (đến năm 2020

- tất cả mọi thứ, mọi người đều kết nối Internet để truy cập dịch vụ thông minh) - Smart Government (Social-Mobile-BigDataAnalytics, Radical openess, Trust)

Hàn Quốc: Chiến lược U-Korea và Kế hoạch “Seoul thông minh đến 2015”

Trung Quốc: Thành phố Urban Smart 4.0

Liên minh Châu Âu (EU): Các thành phố thông minh tiêu biểu như Stockholm, Copenhagen, Barcelona, Helsinki, London, Vien,…

Hoa Kỳ: Các thành phố thông minh tiêu biểu là Dubuque (bang Iowa),

NY, Chicago, Columbus, Bang Ohio …

Canada: Thành phố Vancouver (Greenest Vancouver city by 2020)

Khái niệm “Đô thị thông minh”

Trên toàn cầu, khái niệm "Đô thị thông minh" được hiểu theo nhiều cách khác nhau Qua các hội thảo quốc tế và trong nước, các chuyên gia đã chỉ ra rằng một thành phố chỉ được coi là thông minh khi đáp ứng ba yếu tố chính: hạ tầng hiệu quả, phát triển bền vững và môi trường sống thân thiện.

Thành phố thông minh là một đô thị sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông để thu thập, truyền, lưu trữ và xử lý dữ liệu lớn, nhằm nâng cao chất lượng cuộc sống cho người dân và quản lý đô thị một cách hiệu quả Mô hình này không chỉ giúp cải thiện các dịch vụ đô thị hiện tại mà còn cho phép dự đoán và chuẩn bị cho các tình huống trong tương lai.

Mục tiêu chính của thành phố thông minh là cải thiện chất lượng dịch vụ cho người dân và tối ưu hóa quản lý đô thị, bao gồm tiết kiệm năng lượng, giảm ô nhiễm và tăng cường an ninh với khả năng dự báo cao Điều này tạo nền tảng cho sự phát triển bền vững về kinh tế, xã hội và môi trường.

Để xây dựng một "thành phố thông minh", nghiên cứu của Giffinger và cộng sự (2007) đã chỉ ra bốn vấn đề trụ cột quan trọng Những vấn đề này bao gồm quản lý hiệu quả, phát triển bền vững, sự tham gia của cộng đồng và ứng dụng công nghệ thông tin Việc tập trung vào những yếu tố này sẽ giúp cải thiện chất lượng cuộc sống và tối ưu hóa các dịch vụ đô thị.

Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025” tập trung vào bốn trụ cột chính: sự biến đổi của ngành công nghiệp, phát triển công dân đô thị, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật và phát triển chính quyền đô thị Nền tảng cốt lõi cho những trụ cột này là Internet of Things (IOT) cùng với sự tích hợp công nghệ thông tin và truyền thông (ICT) Các yếu tố quan trọng bao gồm tòa nhà thông minh, hệ thống giao thông thông minh, quản lý thông minh, chăm sóc sức khỏe thông minh, cơ sở hạ tầng thông minh và các ứng dụng tương tác thông minh.

Tiêu chí đánh giá “Đô thị thông minh”

Trên toàn cầu, chưa có tiêu chuẩn chính thức nào cho thành phố thông minh, nhưng nhiều tổ chức và quốc gia đã xác định các tiêu chí quan trọng để đánh giá, bao gồm: nền kinh tế thông minh, di chuyển thông minh, môi trường thông minh, quản lý đô thị hiện đại, cư dân thông minh và cuộc sống thông minh Trong bối cảnh này, hoạt động quản lý nhà nước thông qua "Chính quyền điện tử" và "Chính quyền thông minh" đóng vai trò chủ đạo trong việc phát triển thành phố thông minh.

Một số mô hình, lý thuyết hiện đại

Mô hình hai khu vực của Arthus Lewis

Lý thuyết phát triển kinh tế của W Arthur Lewis, một nhà kinh tế học người Jamaica và là người đoạt giải Nobel năm 1979, đã được ra đời vào giữa thập niên 1950 Mô hình của ông được John Fei và Gustav Ranis bổ sung và phát triển thêm Theo mô hình Lewis, nền kinh tế chậm phát triển thường tồn tại hai khu vực cơ bản.

Khu vực nông thôn truyền thống tập trung phần lớn dân số và đang đối mặt với tình trạng dư thừa lao động Theo Lewis, lao động trong khu vực này được coi là "dư thừa", nghĩa là việc rút bớt lao động ra khỏi nông nghiệp sẽ không ảnh hưởng đến sản lượng nông nghiệp.

Khu vực thành thị công nghiệp hiện đại đặc trưng bởi năng suất cao, trong đó lao động tăng thêm sẽ làm tăng sản lượng Mô hình này gợi ý sự di chuyển lao động từ khu vực nông thôn sang khu vực công nghiệp, dẫn đến sự gia tăng sản lượng nhờ tỷ lệ đầu tư và tích lũy vốn ngày càng cao Sự phát triển của khu vực công nghiệp đóng vai trò quyết định trong quá trình tăng trưởng kinh tế.

Để phát triển, các quốc gia đang phát triển cần tập trung vào việc mở rộng khu vực công nghiệp hiện đại, trong khi không cần quá chú trọng đến khu vực nông nghiệp truyền thống Sự phát triển của ngành công nghiệp sẽ thu hút lao động dư thừa từ nông nghiệp, giúp chuyển đổi nền kinh tế từ trạng thái nhị nguyên sang một nền kinh tế công nghiệp phát triển.

Mô hình phát triển của Lewis, dù đơn giản và mang lại ý nghĩa thực tiễn cho chính sách chuyển dịch cơ cấu ở các nước đang phát triển, nhưng lại xa rời thực tế do những giả định của nó Cụ thể, mô hình không xem xét khả năng tái đầu tư lợi nhuận vào thiết bị hiện đại tiết kiệm lao động, dẫn đến tình trạng thất nghiệp đồng thời ở cả thành thị và nông thôn Hơn nữa, mô hình giả định rằng lao động là đồng nhất, cho phép lao động nông thôn dễ dàng di chuyển và hòa nhập vào thành phố, điều này thực tế rất khó xảy ra Sự chuyển dịch lao động giữa các khu vực và ngành nghề đòi hỏi thời gian thích nghi và đào tạo.

Lý thuyết tăng trưởng kinh tế ở các nước Châu Á gió mùa của Harry Toshima

Lý thuyết của Harry Toshima, nhà kinh tế học Nhật Bản, chỉ trích lý thuyết tăng trưởng của Arthur Lewis là không phù hợp với các nước Châu Á gió mùa Ông cho rằng việc giữ lại lao động trong nông nghiệp và tăng cường sản xuất trong những tháng nhàn rỗi thông qua tăng vụ, đa dạng hóa cây trồng và chăn nuôi sẽ nâng cao thu nhập cho nông dân, từ đó mở rộng thị trường cho dịch vụ và công nghiệp Điều này giúp sử dụng hiệu quả lực lượng lao động, dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng của tổng sản phẩm quốc gia và GNP tính theo đầu người Toshima khẳng định rằng "nông nghiệp hóa" là con đường phát triển kinh tế tối ưu cho các nước Châu Á gió mùa, hướng tới một xã hội có cơ cấu kinh tế công nông nghiệp – dịch vụ.

Lý thuyết về chuyển dịch cơ cấu của Moise Syrquin

Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu kinh tế của M Syrquin được chia thành ba giai đoạn chính: đầu tiên là sản xuất nông nghiệp, tiếp theo là công nghiệp hóa, và cuối cùng là phát triển nền kinh tế.

Giai đoạn 1 đặc trưng bởi sự chiếm ưu thế của hoạt động khai thác, đặc biệt là nông nghiệp Trong giai đoạn này, tốc độ tăng trưởng kinh tế chung diễn ra chậm do tỷ trọng cao của khu vực nông nghiệp trong tổng giá trị gia tăng (GDP).

Giai đoạn 2 của quá trình công nghiệp hóa đặc trưng bởi sự chuyển dịch quan trọng trong nền kinh tế từ khu vực nông nghiệp sang khu vực chế biến Sự gia tăng vai trò của khu vực chế biến trong đóng góp vào tăng trưởng kinh tế chung là chỉ tiêu chính để đo lường sự thay đổi này.

3 TS Nguyễn Minh Tuấn và TS Nguyễn Hữu Thảo (2009, trang 200)

Giai đoạn 3 của một nền kinh tế phát triển được đặc trưng bởi sự giảm sút tỷ trọng của khu vực công nghiệp trong GDP và lực lượng lao động Trong giai đoạn này, khu vực dịch vụ trở thành lĩnh vực quan trọng nhất, chiếm tỷ trọng lớn nhất trong cả GDP và cơ cấu lao động Nhân tố chủ yếu đóng góp cho tăng trưởng trong giai đoạn này là năng suất tổng hợp (Total Factor Productivity - TFP).

Lý thuyết chuyển dịch cơ cấu của M Syrquin mô tả sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế toàn cầu qua bốn giai đoạn chính: Giai đoạn 1 là sự thống trị của nông nghiệp, tiếp theo là công nghiệp và dịch vụ; Giai đoạn 2 chứng kiến sự chuyển dịch từ công nghiệp sang nông nghiệp và dịch vụ; Giai đoạn 3 là sự nổi bật của công nghiệp, sau đó là dịch vụ và nông nghiệp; cuối cùng, Giai đoạn 4 thể hiện sự ưu tiên của dịch vụ, tiếp theo là công nghiệp và nông nghiệp.

Quan điểm của Đảng – Nhà nước về “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với xây dựng Đô thị thông minh”

tế ngành gắn với xây dựng Đô thị thông minh”

Dựa trên việc đánh giá kết quả đạt được và những hạn chế trong quá trình cơ cấu lại nền kinh tế kết hợp với đổi mới mô hình tăng trưởng, cần xác định các biện pháp hiệu quả để thúc đẩy sự phát triển bền vững trong giai đoạn tới.

Từ năm 2011 đến 2015, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế Để đạt được điều này, cần thực hiện hiệu quả ba đột phá chiến lược: hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới toàn diện giáo dục và đào tạo, và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao Đồng thời, cần xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, và đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đặc biệt là trong lĩnh vực nông nghiệp và nông thôn, nhằm xây dựng nông thôn mới.

“Trên cơ sở quan điểm phát triển đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế

Trong giai đoạn 2011 - 2020, đặc biệt là từ 2016 đến 2020, quan điểm phát triển kinh tế - xã hội tập trung vào việc bảo đảm sự phát triển nhanh và bền vững, dựa trên nền tảng ổn định kinh tế vĩ mô Điều này bao gồm việc nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh, đồng thời phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, chú trọng vào kinh tế tri thức và kinh tế xanh Phát triển kinh tế cần gắn liền với văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường, cũng như chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu Để thực hiện các mục tiêu này, Đảng và Nhà nước đã đề ra nhiều cơ chế, chính sách nhằm thúc đẩy sự phát triển của đô thị thông minh.

Nghị quyết số 05/NQ-TW ngày 01/11/2016 của Hội nghị Trung ương 4 khóa XII nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển đô thị thông minh như một trong những chủ trương lớn nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng suất lao động, từ đó cải thiện sức cạnh tranh của nền kinh tế.

Nghị quyết số 36a/NQ-CP ngày 14/10/2015 của Chính phủ về chính phủ điện tử

Quyết định 1819/QĐ-TTg ngày 26/10/2015 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình quốc gia ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020, yêu cầu triển khai đô thị thông minh tại ít nhất 3 địa điểm theo tiêu chí do Bộ Thông tin và Truyền thông hướng dẫn.

4 Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng

Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 04/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc tăng cường năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4

Dựa trên các chủ trương và đường lối đã nêu, có thể tóm tắt những quan điểm chính của Đảng và Nhà nước về việc “Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với xây dựng Đô thị thông minh” tại Việt Nam như sau:

Một là: Tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, cơ cấu lại nền kinh tế; đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững

Để đạt được sự phát triển nhanh và bền vững, cần tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, tập trung vào phát triển chiều sâu và nâng cao chất lượng tăng trưởng thông qua việc cải thiện năng suất lao động, ứng dụng khoa học - công nghệ, và đổi mới sáng tạo Mô hình tăng trưởng cần chuyển từ phụ thuộc vào xuất khẩu và vốn đầu tư sang phát triển đồng thời cả ba yếu tố: vốn đầu tư, xuất khẩu và thị trường nội địa Động lực chính cho sự đổi mới này là tăng cường nghiên cứu và ứng dụng khoa học - công nghệ Đồng thời, việc thực hiện ba đột phá chiến lược và tái cấu trúc nền kinh tế, bao gồm hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đảm bảo ổn định kinh tế vĩ mô, và cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, là rất quan trọng để thu hút khởi nghiệp và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.

5 Nghị quyết số 05/NQ-TW ngày 01/11/2016 Hội nghị Trung ương 4 khóa XII

Nâng cao khả năng dự báo chính xác xu hướng phát triển kinh tế thông qua việc sử dụng dữ liệu đầu vào đa ngành giúp xây dựng các chính sách phù hợp Việc điều hành tích hợp liên ngành và sử dụng chung dữ liệu tối ưu hóa chi phí và nâng cao hiệu quả ngân sách Đô thị thông minh tạo cơ hội cho phát triển công nghệ cao, đặc biệt trong lĩnh vực vi mạch, hỗ trợ cho các giải pháp IoT, nền tảng của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 Tận dụng dữ liệu mở, các bên liên quan có thể hợp tác xây dựng hệ sinh thái sản phẩm tiện ích, khuyến khích sáng tạo và khởi nghiệp Đồng thời, việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và cải cách hành chính sẽ thúc đẩy phát triển kinh tế theo hướng tri thức tại các thành phố.

Hai là: Ưu tiên phát triển các ngành – lĩnh vực công nghệ cao, hướng đến kinh tế tri thức, kinh tế số

Tập trung vào việc xây dựng nền công nghiệp và thương hiệu quốc gia với tầm nhìn dài hạn, phát triển chọn lọc các ngành công nghiệp chế tạo, chế biến, công nghệ cao, sạch, năng lượng, cơ khí, điện tử, hóa chất và xây dựng Cần rà soát và bổ sung chiến lược phát triển công nghiệp, đảm bảo phân bố hợp lý trên toàn lãnh thổ, phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có hàm lượng khoa học và công nghệ cao, tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu Mục tiêu đạt tốc độ tăng trưởng công nghiệp bình quân 8,0 - 8,5%/năm, với tỉ trọng công nghiệp và xây dựng trong GDP khoảng 40% và công nghiệp chế biến, chế tạo khoảng 25% vào năm 2020.

Phát triển các ngành công nghiệp nền tảng nhằm đáp ứng nhu cầu tư liệu sản xuất cơ bản cho nền kinh tế, bao gồm năng lượng, luyện kim, hóa dầu và hóa chất với công nghệ hiện đại và thân thiện môi trường Khuyến khích doanh nghiệp cơ khí chế tạo và sản phẩm cơ khí trọng điểm, đồng thời phát triển công nghiệp điện tử, công nghệ thông tin và phần mềm Ưu tiên công nghiệp phục vụ nông nghiệp, đặc biệt là chế biến nông sản và sản xuất vật tư, máy móc nông nghiệp Tăng cường phát triển công nghiệp hỗ trợ, liên kết giữa các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp trong nước, hình thành các khu công nghiệp hỗ trợ theo cụm ngành Hỗ trợ phát triển nguồn năng lượng tái tạo, đặc biệt là năng lượng gió và mặt trời.

Ngành xây dựng cần phát triển theo hướng tiên tiến, tiếp cận và làm chủ công nghệ hiện đại nhằm nâng cao năng lực công nghiệp xây lắp Điều này không chỉ đáp ứng nhu cầu xây dựng trong nước mà còn tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế Đồng thời, cần chú trọng phát triển mạnh mẽ ngành công nghiệp vật liệu xây dựng, đặc biệt là vật liệu mới và vật liệu chất lượng cao.

Xây dựng và thực hiện chính sách công nghiệp quốc gia là cần thiết để tạo ra một khuôn khổ chính sách đồng bộ, trọng tâm và đột phá Mục tiêu chính là tăng cường năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh Cần tập trung vào những ngành công nghiệp nền tảng, có lợi thế cạnh tranh và có ý nghĩa chiến lược để thúc đẩy tăng trưởng nhanh và bền vững.

Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển ngành công nghiệp chủ lực, ưu tiên cơ cấu lại và phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo Cần tăng cường năng suất nội bộ, nâng cao hàm lượng công nghệ và tỉ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm Đồng thời, cần chú trọng phát triển công nghiệp sản xuất linh kiện và cụm linh kiện, nhằm thúc đẩy sự tham gia sâu và hiệu quả vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu.

Ba là: Khai thác, phát huy tốt nhất mọi nguồn lực:

Các văn kiện Đại hội Đảng từ khi đổi mới đến nay đều nhất quán trong việc xác định các nguồn lực phát triển kinh tế, bao gồm vốn, tài nguyên thiên nhiên, lao động và khoa học công nghệ.

Kể từ năm 2000, Đảng đã nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát triển nguồn nhân lực, khẳng định rằng mục tiêu và động lực chính của sự phát triển là “vì con người, do con người” Điều này được thể hiện rõ trong báo cáo chính trị tại Đại hội.

Kinh nghiệm chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành gắn với xây dựng đô thị thông

đô thị thông minh ở một số địa phương

1.3.1 Kinh nghiệm của Thành phố Hà Nội

Năm 1991, Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XI đã xác định cơ cấu kinh tế Hà Nội bao gồm công nghiệp, thương mại, du lịch, dịch vụ và nông nghiệp Dựa trên định hướng này, các ngành công nghiệp và thương mại tại Hà Nội đã phát triển mạnh mẽ, đóng góp đáng kể vào nền kinh tế thủ đô Từ năm 1991 đến 1995, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người của Hà Nội đạt 12,52%.

Từ năm 1991 đến năm 1999, GDP bình quân đầu người của Hà Nội tăng từ 470 USD lên 915 USD, gấp 2,07 lần so với mức thu nhập bình quân đầu người của cả nước Năm 2000, GDP của Hà Nội chiếm 7,22% tổng GDP của cả nước và khoảng 41% GDP của vùng đồng bằng sông Hồng.

Nền kinh tế Hà Nội đang gặp phải nhiều thách thức, đặc biệt là ô nhiễm môi trường và mất mỹ quan đô thị do sự phát triển công nghiệp trong thành phố Tốc độ tăng trưởng GDP đã chậm lại vào cuối thập niên 1990, dẫn đến việc Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ XIII vào năm 2000 nhấn mạnh việc phát triển lực lượng sản xuất Từ đó, Hà Nội đã chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp, tạo điều kiện cho ngành dịch vụ phát triển mạnh mẽ hơn.

Tại Đại hội Đảng bộ thành phố Hà Nội lần thứ XVI vào tháng 11/2015, đã ghi nhận trong giai đoạn 2011-2015, cơ cấu kinh tế của thành phố tiếp tục có sự chuyển dịch tích cực, với tỷ trọng ngành dịch vụ đạt 54%, công nghiệp - xây dựng chiếm 41,5% và nông nghiệp chỉ 4,5% Tất cả các nhóm ngành đều có mức tăng trưởng khá, phản ánh sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thành phố.

Năm 2015, Hà Nội đã bắt đầu triển khai đề án xây dựng thành phố thông minh, tập trung vào Chính quyền điện tử và nâng cao hiệu quả quản lý trong các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa và giao thông Mục tiêu là phát triển kinh tế tri thức và tham gia vào các diễn đàn thành phố thông minh toàn cầu Hiện tại, Hà Nội đang tăng tốc xây dựng thành phố thông minh với người dân và doanh nghiệp là trung tâm phục vụ.

2030 trở thành thành phố thông minh phát triển mạnh mẽ, hiện đại xứng tầm với các đô thị lớn trong khu vực và thế giới

Trong Dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của Hà Nội đến năm

2030, UBND thành phố Hà Nội đã đặt ra mục tiêu: “Cơ cấu kinh tế của thủ đô năm

Đến năm 2020, dịch vụ sẽ chiếm 61-62% GDP, trong khi công nghiệp và xây dựng đạt 35-36,5% và nông nghiệp 2,5-3% Đến năm 2030, Hà Nội dự kiến trở thành trung tâm sáng tạo hàng đầu của cả nước, với nhiều lĩnh vực đạt tiêu chuẩn quốc tế Hà Nội cũng sẽ là trung tâm kinh tế, tài chính, dịch vụ và thương mại lớn nhất miền Bắc và thứ hai toàn quốc Với những mục tiêu này, phát triển kinh tế dịch vụ là hướng đi chủ đạo, giúp Hà Nội phát triển nhanh và bền vững, nâng cao vị thế so với các thành phố khác trong khu vực.

1.3.2 Kinh nghiệm của Thành phố Đà Nẵng

Đà Nẵng đã chọn ưu tiên phát triển công nghiệp như một hướng đi đột phá trong giai đoạn đầu để thúc đẩy công nghiệp hóa Để đạt được mục tiêu phát triển kinh tế bền vững, các nhà hoạch định chính sách đã định hướng phát triển thành phố theo mô hình hiện đại và thân thiện với môi trường, trong đó ngành dịch vụ trở thành chủ đạo Giai đoạn 2005-2015 chứng kiến sự tăng trưởng mạnh mẽ của ngành dịch vụ, với tốc độ tăng trưởng bình quân gần 20% mỗi năm, gấp đôi so với giai đoạn 1997-2005.

Từ năm 2005, ngành Dịch vụ đã không chỉ đóng góp đáng kể vào GDP mà còn thúc đẩy sự chuyển dịch lao động mạnh mẽ ra khỏi nông nghiệp Trong giai đoạn này, đầu tư vào ngành dịch vụ đã vượt trội hơn so với các ngành khác, chiếm tới 70% tổng vốn đầu tư Sự chuyển dịch trong các lĩnh vực như Thương mại, Vận tải, Thông tin liên lạc, Khách sạn và Tài chính đã tạo ra giá trị gia tăng cho ngành Dịch vụ, góp phần nâng cao tỷ trọng đóng góp của ngành này vào cơ cấu GDP của thành phố.

Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế ở Đà Nẵng gần đây được các chuyên gia kinh tế đánh giá là quá trình tái cơ cấu nhằm nâng cao sức cạnh tranh trong lĩnh vực dịch vụ, với tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất ước đạt 16% mỗi năm Thành công này chủ yếu nhờ vào việc tập trung phát triển sâu trong ngành Dịch vụ, đặc biệt là du lịch, được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn Năm 2017, Đà Nẵng đón hơn 5 triệu lượt khách du lịch, tăng 22,7% so với năm 2016, trong đó có 1,7 triệu lượt khách quốc tế và 3,3 triệu lượt khách nội địa, với tổng thu từ du lịch đạt hơn 15 ngàn tỷ đồng, tăng 24,4% so với năm trước.

Năm 2012, Đà Nẵng trở thành đô thị đầu tiên tại Việt Nam triển khai xây dựng thành phố thông minh với tổng giá trị tài trợ trên 50 triệu USD Dự án này tập trung vào việc sử dụng giải pháp điều hành trung tâm thông minh nhằm đảm bảo chất lượng nguồn nước cho người dân, cung cấp dịch vụ giao thông công cộng hiệu quả và giảm thiểu tình trạng ách tắc giao thông, đồng thời hoàn thiện mô hình Chính quyền điện tử.

Vào ngày 19/4/2018, UBND thành phố Đà Nẵng và Công ty Cổ phần FPT đã ký kết Biên bản ghi nhớ hợp tác để xây dựng thành phố thông minh trong giai đoạn 2018 – 2020 Thỏa thuận này nhằm hoàn thiện Cổng thông tin Giao thông trực tuyến và Cổng thông tin về Nông nghiệp và nông thôn, giúp chính quyền và người dân kết nối thông tin một cách minh bạch và nhanh chóng.

Đà Nẵng cam kết bảo vệ môi trường và phát triển đô thị hiện đại bằng cách đổi mới mô hình tăng trưởng Đến năm 2020, thành phố hướng tới hình thành mô hình tăng trưởng kinh tế theo chiều sâu, tập trung vào chất lượng và hiệu quả Cơ cấu kinh tế sẽ chuyển dịch nhanh chóng theo hướng “dịch vụ - công nghiệp - nông nghiệp”, nhằm biến Đà Nẵng thành một trong những trung tâm dịch vụ lớn của cả nước và là cửa ngõ giao thương quốc tế, với các ngành công nghệ cao tạo ra giá trị gia tăng lớn, trở thành những ngành kinh tế chủ lực.

1.3.3 Một số bài học rút ra

Từ thực tiễn phát triển kinh tế xã hội và quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các địa phương, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm quan trọng Những bài học này giúp định hướng chiến lược phát triển bền vững và nâng cao hiệu quả trong việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng và cải thiện đời sống người dân.

Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với xây dựng đô thị thông minh phải xuất phát từ đặc thù của mỗi địa phương

Chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế gắn với xây dựng đô thị thông minh là giải pháp then chốt cho phát triển kinh tế - xã hội Địa phương cần nhận thức đúng và hành động theo quy luật khách quan trong quá trình này Dựa trên chủ trương của Đảng, chính quyền địa phương đã áp dụng hiệu quả vào thực tiễn Việc huy động nguồn lực trong và ngoài nước, cùng với sử dụng hiệu quả các nguồn lực, sẽ thúc đẩy tốc độ phát triển kinh tế Các địa phương đang giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp, tăng cường ngành công nghiệp và dịch vụ, đồng thời nâng cao hàm lượng công nghệ trong sản phẩm Họ cũng đang xây dựng lộ trình cụ thể để phát triển thành đô thị thông minh.

Hai là, lựa chọn một số ngành - sản phẩm mũi nhọn đóng vai trò “đầu tàu” để phát triển

Lựa chọn các ngành và sản phẩm phù hợp với từng vùng, địa phương và giai đoạn là cần thiết để phát triển các sản phẩm và ngành mũi nhọn, giúp tạo ra những vùng mạnh làm "đầu tàu" thúc đẩy sự phát triển cho các sản phẩm và ngành khác Điều này sẽ tạo ra nguồn lực lớn để thực hiện Đề án xây dựng thành phố thông minh.

Ba là, tăng cường vai trò quản lý nhà nước đối với quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế gắn với xây dựng đô thị thông minh:

THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU KINH TẾ NGÀNH TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH THEO ĐỊNH HƯỚNG ĐÔ THỊ THÔNG MINH VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

Ngày đăng: 19/07/2021, 08:44

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Tất Thắng, 2006. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam, Nhà Xuất bản khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà Xuất bản khoa học xã hội
3. Đoàn Thị Thu Hà, Nguyễn Thị Ngọc Huyền, 2007. Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội. Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Chính sách kinh tế - xã hội
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
6. Hoàng An Quốc, 2016. Chuyên đề các môn học Lịch sử các học thuyết kinh tế . Nhà xuất bản Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyên đề các môn học Lịch sử các học thuyết kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế Tp.HCM
8. Học viện chính trị Khu vực II, 2017. Tập bài giảng môn học Quản lý kinh tế. Nhà xuất bản Lý luận chính trị Sách, tạp chí
Tiêu đề: 2017. Tập bài giảng môn học Quản lý kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Lý luận chính trị
9. Lê Ngọc Uyển, Nguyễn Ngọc Danh, 2012. Kinh tế phát triển , tóm tắt lý thuyết, trắc nghiệm, bài tập. Nhà xuất bản Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển , tóm tắt lý thuyết, trắc nghiệm, bài tập
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế Tp.HCM
10. Lương Minh Cừ, Đào Duy Huân, Phạm Đức Hải, 2012. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam theo hướng cạnh tranh đến năm 2020. Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế, mô hình tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh và Việt Nam theo hướng cạnh tranh đến năm 2020
Nhà XB: Nhà xuất bản Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh
11. Mai Văn Tân, 2014. Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng tại TP. Hồ Chí Minh. Tạp chí Tài chính, Số 3/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
12. Nguyễn Hồng Sơn, 2010. Hà Nội trong làn sóng phát triển ngành dịch vụ của các đô thị tại khu vực châu Á - Thái Bình Dương. Tạp chí Khoa học ĐHQGHN, Số 26 (2010) trang 135-143 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Khoa học ĐHQGHN
13. Nguyễn Minh Tuấn , Nguyễn Hữu Thảo, 2009. Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế. Nhà xuất bản Đại học quốc gia Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Lịch sử các học thuyết kinh tế
Nhà XB: Nhà xuất bản Đại học quốc gia Tp.HCM
14. Nguyễn Trọng Hoài, 2013. Kinh tế phát triển. Nhà xuất bản Kinh tế Tp.HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế phát triển
Nhà XB: Nhà xuất bản Kinh tế Tp.HCM
16. Phạm Thị Khanh, 2010. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
18. Sở Công Thương TP.HCM, 2014. Thực trạng và đề xuất giải pháp phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ của Việt Nam và TPHCM. Tài liệu hội thảo khoa học Thực trang, định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, trang 65 – 78 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo khoa học Thực trang, định hướng và giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ Việt Nam
23. Trần Anh Tuấn, 2015. Chuyển dịch cơ cấu, đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Tp.HCM giai đoạn 2015 – 2020. Tạp chí Nghiên cứu Phát triển, Số 12 (02/2015) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Phát triển
24. Trần Du Lịch, 2014. Thành phố Hồ Chí Minh - Chuyển dịch đúng hướng, tăng sức cạnh tranh. Tạp chí Đầu tư Tài chính ngày 28/4/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Đầu tư Tài chính
25. Trần Quang Phú, 2014. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Ban Kinh tế phát triển – Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chuyển dịch cơ cấu kinh tế
26. Trương Thị Hiền, 2011. Giải pháp thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, xây dựng mô hình tăng trưởng kinh tế tại TP. Hồ Chí Minh theo hướng cạnh tranh. Tạp chí Phát triển và Hội nhập, số 1 (01/2011) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Phát triển và Hội nhập
33. Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Quyết định số 6179/QĐ-UBND ngày 23 tháng 11 năm 2017 về phê duyệt Đề án “Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh trở thành đô thị thông minh giai đoạn 2017 – 2020, tầm nhìn đến năm 2025
34. Vương Đức Hoàng Quân, 2016. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế TP. Hồ Chí Minh tầm nhìn đến năm 2025. Tạp chí Tài chính, Số tháng 6/2016 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Tài chính
35. Vương Đức Hoàng Quân, 2014. Nhìn lại quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Tạp chí khoa học trường đại học Mở Tp.HCM , Số 6/2014 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí khoa học trường đại học Mở Tp.HCM
2. Bộ Chính trị, Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 22 tháng 3 năm 2018. Nghị quyết về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm