1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

99 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 99
Dung lượng 1,36 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

24 1.3.2.3 Tăng trường kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển 1.4 Kinh nghiệm ở trong và ngoài nước về giải quyết mối quan hệ giữa Chương 2 Phân tích mối quan hệ giữa t

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN VĂN HẢI

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP.HCM

NGUYỄN VĂN HẢI

PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA

TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VÀ CÔNG BẰNG XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU

ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TP.HCM

Chuyên ngành : Kinh tế chính trị

LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ

GS TS NGUYỄN TRỌNG HOÀI

Tp Hồ Chí Minh - Năm 2015

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi tên là: Nguyễn Văn Hải là học viên cao học khóa 23 chuyên ngành Kinh

tế chính trị của Trường Đại học Kinh tế TPHCM Tôi xin cam đoan luận văn cao học với đề tài: “PHÂN TÍCH MỐI QUAN HỆ GIỮA TĂNG TRƯỞNG KINH TẾ VỚI THỰC HIỆN CÔNG BẰNG XÃ HỘI: NGHIÊN CỨU ĐIỂN HÌNH TRÊN ĐỊA BÀN TP HỒ CHÍ MINH” là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các số liệu

và nguồn trích dẫn rõ ràng, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực Luận văn được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS.TS Nguyễn Trọng Hoài

Tác giả luận văn

NGUYỄN VĂN HẢI

Trang 4

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế; Phát triển kinh tế; Chất lượng tăng trưởng kinh

1.1.2.1 Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product - GDP) 8 1.1.2.2 Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product - GNP) 8

1.2.2.4 Tiêu chuẩn “40” của Ngân hàng thế giới 16

1.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 17

1.3.1 Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công

Trang 5

Quan điểm của Simon Kuznets (1901-1985) 17

Quan điểm của Đảng bộ và Chính quyền TP Hồ Chí Minh 20

1.3.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội 21

1.3.2.2 Bất bình đẳng và nghèo đói trong tăng trưởng kinh tế 24 1.3.2.3 Tăng trường kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển

1.4 Kinh nghiệm ở trong và ngoài nước về giải quyết mối quan hệ giữa

Chương 2 Phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công

2.2 Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở TP.HCM

2.2.1 Lao động, việc làm, thu nhập và mức sống của người dân trong quá

Trang 6

2.2.3 Tăng trưởng kinh tế với việc nâng cao phúc lợi xã hội 50

2.2.3.4 Về phong trào xây dựng nhà tình nghĩa, nhà tình thương 53

2.2.4.1 Thực trạng đói nghèo trên địa bàn Thành phố 55 2.2.4.2 Nhận xét công tác xóa đói giảm nghèo Thành phố 56

2.3 Đánh giá việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và

2.3.1 Những thành tựu đạt được trong quá trình thực hiện công bằng xã

2.3.2 Những hạn chế trong thực hiện công bằng xã hội và tăng trưởng

2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế trong quá trình thực hiện công

Chương 3 Gợi ý các giải pháp cải thiện mối quan hệ giữa tăng trưởng

3.1 Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã

3.1.1 Chỉ đạo của Đảng bộ Thành phố về quan hệ giữa tăng trưởng kinh

3.1.2 Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã

3.2 Những định hướng và nhiệm vụ cơ bản để giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên địa bàn Thành phố 65

Trang 7

- Về phát triển đô thị bền vững, xây dựng kết cấu hạ tầng đồng bộ 74

- Phát triển, ứng dụng mạnh mẽ khoa học - công nghệ thật sự là động lực

- Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống tham nhũng, lãng phí 77

3.3.2.2 Nhóm giải pháp về thực hiện công bằng xã hội trong tăng trưởng

- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với tạo công ăn việc làm cho người lao

- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với nâng cao phúc lợi xã hội; thực hiện

- Tăng trưởng kinh tế phải đi đôi với xóa đói giảm nghèo 82

Danh mục tài liệu tham khảo

Trang 8

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1 - Tốc độ tăng trưởng kinh tế TP giai đoạn 2006-2014 34 Bảng 2.2 - Cơ cấu kinh tế TPHCM giai đoạn 2006-2014 (%) 36 Bảng 2.3 - Cơ cấu kinh tế TP.HCM trung bình - 2006-2014 (%) 36

Bảng 2.5 - Vốn đầu tư cho KH-CN, GD-ĐT và Y tế - cứu trợ XH 38 Bảng 2.6 - Việc làm trong giai đoạn 2006-2014 tại TPHCM 40 Bảng 2.7 - Lao động trong doanh nghiệp TP.HCM 41 Bảng 2.8 - Tỷ lệ thất nghiệp ở TP.HCM giai đoạn 2006-2014 42 Bảng 2.9 - GDP bình quân/người ở Thành phố trong - 2006-2014 43 Bảng 2.10- Thu nhập bình quân đầu người/tháng – giá thực tế 43 Bảng 2.11 - Chi tiêu đời sống bình quân đầu người một tháng theo giá

Trang 9

Bảng 2.12 - Thu nhập bình quân đầu người một tháng theo nhóm thu

Bảng 2.14 - Thu nhập bình quân (TNBQ) đầu người một tháng chia theo

khu vực thành thị - nông thôn ở Thành phố giai đoạn 2006-2012 47 Bảng 2.15 - Chi tiêu bình quân đầu người một tháng theo giá thực tế

Bảng 2.16 - Tích lũy bình quân tháng/người giai đoạn 2006-2014 49

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 2.2 - Cơ cấu kinh tế Thành phố - 2006-2014 36 Biểu đồ 2.3 - Cơ cấu kinh tế TPHCM giai đoạn 2006-2014 (tính trung bình) 37 Biểu đồ 2.4 - Vốn đầu tư trên địa bàn Thành phố 37 Biểu đồ 2.5 - Vốn đầu tư cho khoa học-công nghệ, giáo dục-đào tạo và y

Biểu đồ 2.6 - Hệ số Gini của Thành phố giai đoạn 2006-2012 46 Biểu đồ 2.7 - Tỷ lệ chênh lệch chi tiêu giữa thành thị và nông thôn 48 Biểu đồ 2.8 - Tích lũy bình quân tháng/người phân theo thành thị nông thôn 49 Biểu đồ 2.9 - Tích lũy bình quân tháng/người phân theo nhóm thu nhập giai

Trang 10

MỞ ĐẦU

1 Vấn đề nghiên cứu

Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội đã và đang là vấn đề mà nhiều nhà kinh tế trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Đối với nước ta, một quốc gia đang trên con đường hội nhập quốc tế, có nhiều thời cơ cũng như thách thức trong phát triển đất nước thì vấn đề giải quyết một cách hài hòa mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội càng trở nên cấp thiết Quan điểm nhất quán của Đảng ta về việc gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội đã được hoàn thiện qua các kỳ đại hội sau khi đổi mới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ

XI, Đảng ta khẳng định: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân”1, và “…thực hiện tốt tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững”

Giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội không

là vấn đề đơn giản Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội luôn có mối quan hệ biện chứng, gắn bó chặt chẽ với nhau Tăng trưởng kinh tế tạo tiền đề cho quá trình thực hiện công bằng xã hội và một khi công bằng xã hội được thực hiện sẽ tạo điều kiện cho tăng trưởng kinh tế Thực tiễn ở một số nước cho thấy, nếu tuyệt đối hóa

về mặt tăng trưởng kinh tế, thực hiện tăng trưởng kinh tế bằng mọi giá mà không quan tâm giải quyết đến vấn đề công bằng xã hội sẽ để lại nhiều hậu quả nặng nề

và ngược lại nếu quá chú trọng về vấn đề công bằng xã hội mà không quan tâm đến tăng trưởng kinh tế sẽ triệt tiêu động lực phát triển kinh tế, từ đó làm cho xã hội trì trệ, lệ thuộc, bất công tiếp tục xảy ra… Vì vậy, trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội, tất yếu phải gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội trong quá trình phát triển

1

Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011 Văn kiện Đại hội đại biểu lần XI Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc

gia

Trang 11

Nước ta, trải qua gần 30 năm tiến hành đổi mới kinh tế, tốc độ tăng trưởng kinh tế tương đối ổn định, thu nhập bình quân đầu người ngày càng tăng, đời sống nhân dân càng được nâng cao và đất nước đang từng bước thoát nghèo, đó là thành tựu to lớn không thể phủ nhận Việt Nam gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO), bên cạnh những cơ hội lớn thì cũng đặt ra nhiều thách thức, nguy cơ lớn trong đó có vấn đề bất bình đẳng xã hội Đây là một trong những vấn đề bức thiết đòi hỏi phải được quan tâm giải quyết

Thành phố Hồ Chí Minh (Thành phố; TP.HCM), một trung tâm kinh tế, văn hóa, khoa học, là địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá cao trong cả nước, đồng thời thực hiện khá tốt vấn đề công bằng xã hội, như giải quyết xóa đói giảm nghèo, nâng cao mức sống người dân… Song, trong thực tiễn vẫn còn phân hóa giàu - nghèo giữa các nhóm dân cư, giữa thành thị và nông thôn; tăng trưởng nhanh nhưng vẫn còn các khu vực chậm phát triển, đặc biệt những khu vực ngoại ô thành phố có mức sống không ổn định, tỷ lệ người nghèo vẫn chưa giải quyết bền vững…

Vì vậy, cần nghiên cứu, nắm vững cả mặt lý luận và thực tiễn vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, từ đó tìm ra giải pháp nhằm bảo đảm tăng trưởng kinh tế song vẫn thực hiện được công bằng xã hội Có như vậy mới đảm bảo cho Thành phố phát triển bền vững

Xuất phát từ những lý do trên, tác giả chọn vấn đề: “Phân tích mối quan hệ

giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: Nghiên cứu điển hình trên địa bàn

TP Hồ Chí Minh” để làm đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế

2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

- Nghiên cứu khái quát cơ sở lý luận tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; nghiên cứu bài học kinh nghiệm của một số nước trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội và bài học rút ra cho Thành phố

Trang 12

- Phân tích và đánh giá thực trạng kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên địa bàn Thành phố - giai đoạn 2006-2014

- Đề xuất gợi ý một số giải pháp cơ bản giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội trên địa bàn Thành phố trong giai đoạn 2016-

2025

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài

- Đối tượng nghiên cứu: Vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại

TP Hồ Chí Minh

- Thời gian nghiên cứu: Giai đoạn 2006-2025

- Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu khái quát những vấn đề lý luận và thực tiễn về việc kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Thành phố

4 Phương pháp nghiên cứu, nguồn tài liệu

Đề tài thực hiện trên cơ sở lý luận, phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, quan điểm của Đảng ta về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội và các chính sách xã hội Đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu chủ yếu như phương pháp phân tích - tổng hợp, phương pháp thống kê mô tả

Nguồn tài liệu: sách chuyên khảo, giáo trình kinh tế, các bài viết trên tạp chí khoa học - xã hội, hội thảo… xoay quanh vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội Số liệu trong niên giám thống kê tình hình kinh tế xã hội tại Thành phố; các báo cáo về kinh tế xã hội của Cục Thống kê Thành phố, các Nghị quyết, báo cáo của Đảng bộ, Hội đồng nhân dân và Uỷ ban nhân dân TP.Hồ Chí Minh…

5 Tình hình nghiên cứu

Vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội là một trong những đề tài thu

hút quan tâm nghiên cứu của các nhà tư tưởng, nhà lý luận, nhà kinh tế học, như: Lê

Trang 13

Xuân Bá - Nguyễn Thị Tuệ Anh, Tăng trưởng kinh tế Việt Nam (15 năm -

1991-2005); TS Vũ Thị Vinh, Tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo ở Việt Nam hiện nay;

PGS, TS Phạm Thị Ngọc Trầm, Những vấn đề lý luận cơ bản về công bằng xã hội

trong điều kiện nước ta hiện nay; Vũ Thị Ngọc Phùng, Tăng trưởng kinh tế, công bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam; Hoàng Đức Thân, Quan điểm

và giải pháp bảo đảm gắn kết giữa tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta; PGS TS Trần Nguyễn Tuyên, Gắn kết tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội; Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Tỵ, 2010 Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia

Ngoài ra, đã có các luận án, luận văn đề cập rất nhiều về vấn đề này, như luận

án tiến sĩ: Nguyễn Tấn Hùng, Phương pháp phân tích mâu thuẫn và sự vận dụng

nó trong nghiên cứu quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với công bằng xã hội ở nước ta: Chuyên ngành: Chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử,

Viện Triết học, 1999; Nguyễn Xuân Phong, Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và

công bằng xã hội trong giai đoạn hiện nay ở nước ta, luận văn thạc sĩ, Học viện

chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, 2003; Nguyễn Tuấn Anh, Quan hệ giữa tăng

trưởng kinh tế và an sinh xã hội trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ

nghĩa ở Việt Nam hiện nay, luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Khoa học Xã hội và

Nhân văn Đại học Quốc gia Tp Hồ Chí Minh, 2012

Bên cạnh đó, có các bài báo thuộc nhóm nghiên cứu này được đăng tải trong các tạp chí khoa học như: Bùi Quang Bình, 2014 Đổi mới mô hình tăng trưởng

kinh tế Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế Những vấn đề Kinh tế

& Chính trị Thế giới Số 2 tr.74-80 Đinh Sơn Hùng và Mã Văn Tuệ, 2011.Tăng

trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đôi điều lý luận và thực tiễn Bản tin –

Kinh tế và Xã hội Số: quý 3 tr 2-4 TP.HCM: Viện Nghiên cứu và Phát triển

Thành phố Hồ Chí Minh Hoàng Ngọc Hòa, 2006 Quá trình phát triển nhận thức

của Đảng về gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội Lịch sử Đảng,

số 12 - tr.37-42 Lý Thị Huệ, 2014 Mai Ngọc Cường, 2013 Một số vấn đề xã hội

Trang 14

nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công

bằng xã hội ở nước ta: thực trạng và khuyến nghị Kinh tế & Phát triển 2013, số

196 tr.22-27 Nguyễn Hữu Dũng, 2011 Bảo đảm gắn kết chặt chẽ tăng trưởng kinh

tế với tiến bộ và công bằng xã hội trong chiến lược phát triển ở nước ta đến năm

2020 Kinh tế & Phát triển, số 163 tr.9-14 Nhìn một cách khái quát, hầu như các

công trình này đều tiếp tục làm rõ các khái niệm: Tăng trưởng kinh tế; tiến bộ, công bằng xã hội và mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam, từ đó rút ra những bài học kinh nghiệm

Tóm lại, phát triển kinh tế, tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội đã

có nhiều nhà khoa học, nhà kinh tế quan tâm tiếp cận, nghiên cứu dưới nhiều giác độ khác nhau Tuy nhiên, theo tôi, giữa vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

ở một thành phố lớn như thành phố Hồ Chí Minh cho đến nay, vẫn chưa có một công trình nào được đề cập và nghiên cứu một cách đầy đủ và có hệ thống cả về lý luận và thực tiễn Kế thừa các công trình mà các tác giả trên đã nghiên cứu và đề cập, tác giả đi sâu vào nghiên cứu một cách có hệ thống về vấn đề thực hiện tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở thành phố Hồ Chí Minh - lý luận và thực tiễn thông qua đề tài luận văn thạc sĩ kinh tế

6 Ý nghĩa nghiên cứu

- Đề tài góp phần hệ thống hóa và làm sáng tỏ vấn đề lý luận chung về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội, đặc biệt là việc thực hiện vấn đề này ở Thành phố

- Kết quả nghiên cứu của đề tài có ý nghĩa thiết thực cho các cơ quan, ban ngành trong việc giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

7 Kết cấu của nghiên cứu

Gồm có: Mục lục, phần mở đầu, nội dung chính, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo Nội dung chính của đề tài được chia làm ba chương Chương 1, trình

Trang 15

bày cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội; Chương 2, phân tích mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội tại Thành phố giai đoạn 2006-2014; Và Chương 3, đưa ra gợi ý một số giải pháp cơ bản giải quyết mối quan

hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Thành phố trong giai đoạn

2016-2025

Trang 16

Chương 1

Cơ sở lý luận về tăng trưởng kinh tế

và công bằng xã hội

1.1 Lý luận chung về tăng trưởng kinh tế

1.1.1 Tăng trưởng kinh tế; Phát triển kinh tế; Chất lượng tăng trưởng kinh tế

Khái niệm tăng trưởng kinh tế được các tác giả đề cập với nhiều cách khác

nhau, theo quan điểm của kinh tế học, tăng trưởng kinh tế là sự tăng lên về quy mô sản lượng của nền kinh tế trong một thời kỳ nhất định Sự tăng trưởng được so sánh với thời điểm gốc sẽ phản ánh tốc độ tăng trưởng “Tăng trưởng kinh tế dưới dạng khái quát, là sự gia tăng của tổng sản phẩm quốc dân (GNP) hoặc tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trong một thời gian nhất định (thường tính cho một năm)” (Bộ GD&ĐT, 2002)

Phát triển kinh tế, hiểu một cách đầy đủ, thường bao hàm những thay đổi

toàn diện hơn liên quan đến những vấn đề chính trị, văn hóa, xã hội, thể chế Một khái niệm khác thường được đề cập đến trong giai đoạn hiện nay đó là phát triển bền vững Phát triển bền vững là tăng trưởng được duy trì mà không làm giảm trữ

lượng của các nguồn lực hiệu quả (Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2013, trang 19)

Giữa tăng trưởng kinh tế và phát triển kinh tế có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Các chuyên gia của Ngân hàng thế giới cho rằng: Tăng trưởng chưa phải là phát triển, song tăng trưởng lại là một cách cơ bản để có phát triển và không thể nói phát triển kinh tế mà trong đó lại không có tăng trưởng kinh tế

Chất lượng tăng trưởng kinh tế, hiện nay chưa có một khái niệm thống nhất

về chất lượng tăng trưởng Nhìn chung, khái niệm về chất lượng tăng trưởng được hiểu như sau: Chất lượng tăng trưởng bao gồm tăng trưởng kinh tế, phát triển và phát triển bền vững, liên quan đến ba thành tố: kinh tế, xã hội, và môi trường Một

Trang 17

nền kinh tế có chất lượng tăng trưởng tốt khi có tăng trưởng kinh tế cao và ổn định, chất lượng cuộc sống người dân nâng cao, và môi trường được bảo vệ bền vững (Thomas và cộng sự (2000), trích trong Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 58)

1.1.2 Các chỉ tiêu đo tăng trưởng kinh tế

1.1.2.1 Tổng sản phẩm trong nước (Gross Domestic Product - GDP)

Là chỉ tiêu phổ biến được dùng để phản ánh tình hình hoạt động của nền kinh

tế GDP được định nghĩa là giá trị thị trường của toàn bộ hàng hóa và dịch vụ cuối cùng được tạo ra hay sản xuất ra trong phạm vi lãnh thổ một quốc gia trong khoảng thời gian nhất định (thường là một năm)

Đối với các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ở nước ta, tháng 5/2015 Chính phủ có quyết định phê duyệt đề án đổi mới quy trình biên soạn số liệu tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương (Gọi tắt là GRDP) nhằm khắc phục tình trạng chênh lệch số liệu GDP giữa Trung ương và địa phương

1.1.2.2 Tổng sản phẩm quốc dân (Gross National Product - GNP)

Tổng sản phẩm quốc dân - GNP đo lường tổng thu nhập do công dân một nước kiếm được bất kể dịch vụ yếu tố của họ được cung cấp ở nước nào GNP bằng GDP cộng với thu nhập ròng từ nước ngoài Khi GNP thực tính theo đầu người tăng lên, chúng ta có thể kỳ vọng phúc lợi của người dân tăng lên

1.1.2.3 Tốc độ tăng trưởng kinh tế

Tốc độ tăng trưởng hàng năm và tốc độ tăng sản lượng bình quân đầu người

là các chỉ số đo lường tốc độ tăng trưởng kinh tế Nó cho thấy xu hướng của quy mô sản lượng tăng lên hay giảm đi và nếu tăng thì tăng nhanh hay chậm qua các thời kỳ khác nhau Các chỉ tiêu này được tính theo công thức:

Trong đó:

- g tốc độ tăng trưởng của chỉ tiêu X

Trang 18

- X có thể là GDP thực, GNP thực, GDP thực tế bình quân đầu người, hoặc GNP thực tế bình quân đầu người

1.1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế

Muốn đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và liên tục nền kinh tế phải phát huy có hiệu quả những yếu tố cơ bản sau:

(1) Nguồn vốn đầu tư cho sản xuất kinh doanh ngày càng tăng để mở rộng quy mô sản xuất, đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, công nghệ hiện đại để phát triển theo chiều sâu Cần phải có chính sách thu hút vốn trong nhân dân, vốn từ nước ngoài… để đầu tư cho sản xuất kinh doanh

(2) Tăng về số lượng và chất lượng lao động Để phục vụ cho tăng trưởng kinh tế phải tăng về số lượng và đặc biệt là nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Vì vậy, nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực có ý nghĩa hết sức quan trọng, thậm chí là quyết định đối với tăng trưởng kinh tế

(3) Khai thác và sử dụng có hiệu quả nguồn tài nguyên thiên nhiên của quốc gia Đây là yếu tố riêng của mỗi quốc gia và không phải nước nào cũng có trình độ khai thác, sử dụng đúng đắn và có hiệu quả những yếu tố này Do đó cần phải có chính sách khai thác cho phù hợp nhằm đảm bảo phát triển bền vững

(4) Yếu tố dân số có ảnh hưởng đến tăng trưởng kinh tế Dân số đông làm cho tiêu dùng xã hội phục vụ đời sống nhân dân cao dẫn đến đầu tư cho sản xuất làm tăng trưởng kinh tế giảm xuống Ngược lại, nếu mức tăng dân số quá thấp làm thiếu hụt nguồn nhân lực cũng ảnh hướng đến tăng trưởng kinh tế Vì vậy, tăng dân

số một cách hợp lý là một trong những yếu tố góp phần quan trọng vào tăng trưởng kinh tế

(5) Thể chế và tham nhũng Thể chế được xem là nguyên nhân sâu xa, mang tính cơ bản quyết định sự khác nhau về mức độ tăng trưởng và phát triển kinh tế giữa các quốc gia bên cạnh vốn nhân lực, vốn tự nhiên, vốn vật chất và công nghệ (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 212) Theo nghiên cứu của nhiều nhà kinh tế thể

Trang 19

chế có tác động đến vấn đề tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia Thể chế của một quốc gia là yếu tố quyết định trong vấn đề định hướng, điều hành phát triển kinh tế của quốc gia đó Ở các quốc gia đang phát triển, khung thể chế thiếu minh bạch và không hoàn thiện tạo ra nhiều rào cản mang tính độc quyền hơn là cạnh tranh, hạn chế cơ hội hơn là mở rộng chúng, đồng thời khiến cho có ít đầu tư vào giáo dục để tăng năng suất, v.v (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 215)

Tham nhũng là một trong những yếu tố được xem là thất bại của thể chế, tham nhũng tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế bởi vì nó có khả năng bóp méo thị trường và phân bố nguồn lực (Nguyễn Trọng Hoài, 2013, trang 225)

(6) Khoa học - công nghệ: Áp dụng tiến bộ kỹ thuật, sử dụng tư liệu sản xuất tiên tiến, hiện đại, thúc đẩy các hoạt động sáng tạo, nghiên cứu và phát triển sản phẩm mới, cải tiến quy trình sản xuất Vai trò của khoa học - công nghệ ngày nay hết sức to lớn để phát triển kinh tế của mỗi quốc gia, có tác động nhất định đến tốc

độ tăng trưởng kinh tế, cải thiện mọi hoạt động của đời sống xã hội

(7) Đóng góp của TFP (Total Factor Productivity) vào tăng trưởng TFP là chỉ tiêu đo lường năng suất của đồng thời cả “lao động” và “vốn” trong một hoạt động cụ thể hay cho cả nền kinh tế TFP phản ánh sự tiến bộ của khoa học, kỹ thuật

và công nghệ, qua đó sự gia tăng đầu ra không chỉ phụ thuộc vào tăng thêm về số lượng của đầu vào mà còn tuỳ thuộc vào chất lượng các yếu tố đầu vào là lao động

và vốn Tăng TFP giúp cho tăng trưởng bền vững, tăng trưởng có chất lượng cao

(8) Quản trị nhà nước đối với tăng trưởng kinh tế Nhà nước có thể can thiệp với tác động khác nhau lên các yếu tố duy trì nền tảng của tăng trưởng kinh tế Nhà nước thông qua chính sách kinh tế xã hội để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế

1.1.4 Vai trò của tăng trưởng kinh tế

Có tăng trưởng kinh tế mới khắc phục được tình trạng đói nghèo của quốc gia, khắc phục được tình trạng lạc hậu, nâng cao đời sống vật chất tinh thần của người dân, xóa bỏ dần các phong tục tập quán lạc hậu

Trang 20

Tăng trưởng kinh tế là cơ sở để thực hiện các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như nâng cao mức sống nhân dân, giải quyết việc làm, giảm thất nghiệp, cải thiện các mặt an sinh xã hội,…

Tăng trưởng kinh tế cao tạo tiền đề vật chất cho việc củng cố an ninh, quốc phòng, củng cố chính trị, ổn định xã hội

Tăng trưởng kinh tế cũng có mặt trái của nó là làm phân hóa giàu nghèo ngày càng tăng và có thể kéo theo vấn đề tội phạm Nếu quá chú trọng đến tăng trưởng kinh tế với tốc độ nhanh thì dễ dẫn đến không kiểm soát được nguồn tài nguyên và môi trường, dẫn đến cạn kiệt nguồn tài nguyên và môi trường bị xâm hại gây tổn thất lâu dài về sau

Chương trình phát triển của Liên hiệp quốc - UNDP (1996) đã nêu năm loại tăng trưởng kinh tế xấu:

(1) Tăng trưởng kinh tế không lương tâm Là tăng trưởng kinh tế mà thành quả của nó chỉ đem lại lợi ích cho người giàu, còn người nghèo thì ít được hưởng, khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng Đây là loại tăng trưởng có tác động làm gia tăng bất bình đẳng trong thu nhập của dân cư

(2) Tăng trưởng kinh tế không việc làm Là tăng trưởng kinh tế nhưng không

mở rộng cơ hội có thêm việc làm, hoặc phải làm việc nhiều giờ và có thu nhập thấp với những công việc có năng suất thấp, trong khu vực nông nghiệp và khu vực không chính thức Loại tăng trưởng này có tác động làm tăng bất bình đẳng do người lao động không có việc làm và trở nên yếu thế trước các biến đổi xã hội

(3) Tăng trưởng kinh tế không có tiếng nói Tức là tăng trưởng kinh tế không

đi kèm với việc mở rộng nền dân chủ hay việc trao đổi thêm quyền lực cho dân, dập tắt những đòi hỏi được tham gia nhiều hơn của cộng đồng vào các quyết sách liên quan đến đời sống xã hội Loại tăng trưởng này có tác động làm gia tăng bất bình đẳng về vị trí xã hội

Trang 21

(4) Tăng trưởng kinh tế không gốc rễ Là tăng trưởng kinh tế khiến cho nền văn hóa, đời sống tinh thần của con người ngày càng khô héo Tăng trưởng này có tác động làm gia tăng bất bình đẳng về mặt xã hội

(5) Tăng trưởng kinh tế không có tương lai Tăng trưởng kinh tế trong đó thế

hệ hiện nay phung phí những nguồn lực mà các thế hệ trong tương lai cần đến Tăng trưởng có tác động làm gia tăng bất bình đẳng giữa thế hệ hiện tại và thế hệ tương lai

1.2 Lý luận chung về công bằng xã hội

1.2.1 Công bằng xã hội

Công bằng xã hội được xem xét trên nhiều phương diện: kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa, đạo đức… Có nhiều ý kiến khác nhau về công bằng xã hội Có thể nêu

ra vài ý kiến về công bằng xã hội như sau:

Theo các nhà kinh tế, công bằng xã hội được phân biệt thành công bằng ngang và công bằng dọc: Công bằng ngang là đối xử như nhau với người có đóng góp như nhau; Công bằng dọc là đối xử khác nhau với người có khác biệt bẩm sinh hoặc có các điều kiện, hoàn cảnh kinh tế - xã hội khác nhau: sự khác nhau về nghề nghiệp; sự khác nhau về giáo dục đào tạo… Công bằng ngang được thực hiện bởi

cơ chế thị trường còn công bằng dọc cần có sự điều tiết của chính phủ nhằm thu hẹp khoảng cách bất bình đẳng xã hội Kết hợp tốt công bằng dọc và công bằng ngang

sẽ đảm bảo công bằng xã hội thực sự

Theo quan điểm của C Mác và Ph Ăngghen, muốn có công bằng xã hội thực sự thì phải thực hiện được nguyên tắc phân phối theo lao động và điều đó chỉ

có trong chủ nghĩa xã hội Bởi vì, trong xã hội đó, chế độ công hữu mới được thiết lập, cho nên mới có xuất phát điểm bình đẳng trong quan hệ phân phối đảm bảo công bằng xã hội Nguyên tắc phân phối theo lao động được thực hiện là: “Cùng một lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội dưới một hình thức này thì anh ta nhận trở lại của xã hội dưới hình thức khác” (C Mác và Ăngghen, 1995, trang 34), nghĩa là, mỗi một người sản xuất sẽ được nhận trở lại của xã hội một số

Trang 22

lượng vật phẩm tiêu dùng trị giá ngang với số lượng lao động mà anh ta đã cung cấp cho xã hội Như vậy, trong xã hội chủ nghĩa, sức lao động là cái duy nhất mà người

ta cung cấp cho xã hội và những vật phẩm tiêu dùng cá nhân là cái duy nhất mà người ta có quyền sở hữu

Công bằng xã hội hiểu theo nghĩa chung nhất là sự ngang bằng nhau trong mối quan hệ giữa người và người dựa trên nguyên tắc thống nhất giữa nghĩa vụ và quyền lợi, giữa cống hiến và hưởng thụ Hay nói cách khác: Công bằng xã hội được hiểu là sự bình đẳng trong việc tiếp cận và lựa chọn những cơ hội cho mọi người trên các phương diện kinh tế, chính trị, văn hóa và xã hội

1.2.2 Các tiêu chí cơ bản đo lường công bằng xã hội

1.2.2.1 Chỉ số phát triển con người – HDI

Chỉ số HDI là thước đo tổng hợp về sự phát triển của con người trên phương diện sức khỏe, tri thức và thu nhập Ba chỉ tiêu thành phần của HDI phản ánh các khía cạnh khác nhau gồm:

- Một cuộc sống lâu dài và khỏe mạnh, được đo bằng tuổi thọ trung bình từ lúc sinh

- Kiến thức, được đo bằng tỉ lệ người biết chữ và tỉ lệ đi học các cấp giáo dục

- Mức sống đo bằng GDP thực tế đầu người theo sức mua tương đương tính bằng đôla Mỹ

Trước khi tính HDI, cần tính từng chỉ số thành phần trên Qui tắc chung để tính các chỉ số thành phần này là sử dụng các giá trị tối thiểu và tối đa cho từng chỉ

số và áp dụng công thức sau:

Chỉ số các thành phần =

Trang 23

HDI là giá trị trung bình chung của 3 chỉ số thành phần về sức khỏe, tri thức

và thu nhập

1.2.2.2 Đường cong Lorenz

Đường Lorenz do nhà thống kê người Mỹ - Conrad Lorenz xây dựng năm

1905, là biểu đồ biểu thị mối quan hệ giữa các nhóm dân số khác nhau và tỉ lệ thu nhập nhận được khác nhau

Trục hoành thể hiện tỉ lệ % cộng dồn của dân số

Trục tung thể hiện tỉ lệ % cộng dồn của thu nhập mà mỗi phần trăm dân số nhận được

Khoảng cách giữa đường 450

và đường cong Lorenz cho biết mức độ bất bình đẳng trong thu nhập

Đường cong Lorenz

B

A Đường 450

C

D

Trang 24

Các trường hợp có thể xảy ra:

- Công bằng tuyệt đối khi đường cong Lorenz trùng với 450

- Bất bình đẳng tuyệt đối trong phân phối thu nhập khi đường cong Lorenz ở dạng OCD

- Bất bình đẳng trong phân phối thu nhập khi đường cong Lorenz ở dạng hình vẽ và nằm trong khu vực giữa đường 450

Dựa vào đường cong Lorenz để xác định hệ số Gini:

Trong đó:

- : hệ số Gini

- : diện tích hình A (diện tích nằm ngang giữa đường 450 và đường Lorenz)

- : diện tích tam giác nằm dưới đường 450 trừ đi diện tích hình A

Các trường hợp xảy ra đối với Hệ số Gini:

Hệ số Gini = 0: hoàn toàn bình đẳng trong phân phối thu nhập

Hệ số Gini = 1: hoàn toàn bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

0 < Hệ số Gini < 1: xuất hiện tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập

Trang 25

Ngoài ra, hệ số Gini còn được tính bằng công thức sau:

Hệ số Gini =

Trong đó: n : tổng nhóm hộ dân cư

: thu nhập bình quân hộ dân cư

: thu nhập bình quân của các nhóm dân cư giảm dần

Giá trị của hệ số Gini đi từ 0 đến 1 Theo quan điểm của Ngân hàng thế giới,

hệ số Gini tốt nhất thường xoay quanh 0,3

1.2.2.4 Tiêu chuẩn “40” của Ngân hàng thế giới

Năm 2002, WB đề xuất chỉ tiêu đánh giá bất bình đẳng là tiêu chuẩn “40” Tiêu chuẩn này xác định tỉ lệ thu nhập trong tổng thu nhập dân cư của 40% dân số

có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội

Nếu thu nhập của 40% dân số có mức thu nhập thấp nhất trong xã hội:

- lớn hơn 17% tổng thu nhập của xã hội thì tình trạng bất bình đẳng thấp;

- nhỏ hơn 17% và lớn hơn 12% tổng thu nhập của xã hội thì tình trạng bất bình đẳng tương đối;

- nhỏ hơn 12% tổng thu nhập của xã hội thì tình trạng bất bình đẳng cao

1.2.2.5 Hệ số giãn cách

Chỉ tiêu này xác định bởi mức chênh lệch thu nhập của 20% dân số có thu nhập cao nhất với 20% dân số có thu nhập thấp nhất Hệ số chênh lệch (giãn cách) càng lớn thì tình hình bất bình đẳng càng cao

1.2.2.6 Chỉ số nghèo khổ

Là tỉ lệ phần trăm giữa số dân sống dưới mức tối thiểu với tổng dân số Sự nghèo khổ không chỉ là hậu quả của mức thu nhập thấp mà còn là hệ quả của phân phối thu nhập không công bằng

Trang 26

Để xác định mức nghèo khổ, người ta phải đưa ra chuẩn nghèo WB đưa ra chuẩn nghèo tuyệt đối dưới 1 USD/người/ngày (theo sức mua tương đương – PPP) đối với các nước có thu nhập trung bình lớp dưới Đối các nước có thu nhập cao thì chuẩn nghèo tuyệt đối được xác định là 14,40 USD/người/ngày (UNDP - 1997)

Ở Việt Nam, theo Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 30/01/2011 về việc ban hành chuẩn hộ nghèo, hộ cận nghèo áp dụng cho giai đoạn 2011-2015 thì hộ nghèo ở nông thôn là hộ có mức thu nhập bình quân từ 400.000 đồng/người/tháng (4.800.000 đồng/người/năm) trở xuống; hộ nghèo ở thành thị là hộ có mức thu nhập bình quân từ 500.000 đồng/người/tháng (từ 6.000.000 đồng/người/năm) trở xuống

1.3 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

1.3.1 Các quan điểm về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

Quan điểm của Simon Kuznets (1901-1985): Simon Kuznets là nhà kinh tế

học người Mỹ, năm 1955 ông đưa ra mô hình nghiên cứu thực nghiệm nhằm xem xét mối quan hệ giữa thu nhập (GNP/người) và tình trạng bất bình đẳng trong phân phối thu nhập Theo ông, bất bình đẳng là một hệ quả của quá trình tăng trưởng kinh tế Giai đoạn đầu, khi GNP/người tăng thì tình trạng bất bình đẳng tăng, đến giai đoạn trình độ phát triển cao, khi GNP/người tăng thì tình trạng bất bình đẳng lại giảm đi, lúc đó thu nhập và phúc lợi có xu hướng được phân phối công bằng hơn Kuznets đã thể hiện quá trình trên trong mô hình chữ U ngược

Mô hình chữ U ngược của Simon Kuznets

GNP/người Gini

Trang 27

Hạn chế trong mô hình của Simon Kuznets là ông không giải thích được hai vấn đề quan trọng: Một là, nguyên nhân cũng như bản chất cơ bản dẫn đến tình trạng bất bình đẳng Hai là, phạm vi khác biệt giữa các nước về xu thế thay đổi này trong điều kiện họ sử dụng các chính sách khác nhau tác động đến tăng trưởng và bất bình đẳng

Quan điểm của Athur Lewis (1915-1991)

Authur Lewis là nhà kinh tế học người Jamaica, ông nghiên cứu và đưa ra

mô hình nhị nguyên Ông cho rằng, xuất phát từ sự di chuyển lao động giữa hai khu vực nông nghiệp và công nghiệp sẽ tạo động lực thúc đẩy kinh tế tăng trưởng

Theo ông, tình trạng bất bình đẳng sẽ tăng lên trong giai đoạn đầu và sẽ giảm

đi khi nền kinh tế đạt tới một trình độ phát triển cao Trong giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế tồn tại hai khu vực: khu vực công nghiệp với tiền lương cao

và khu vực nông nghiệp với tiền lương thấp Do đó, việc mở rộng qui mô sản xuất khu vực công nghiệp sẽ thu hút một số lượng lớn lao động từ nông nghiệp, và nhà

tư bản chỉ trả lương công nhân ở mức thấp Như vậy, thu nhập của nhà tư bản vừa tăng lên do qui mô sản xuất mở rộng, vừa tăng lên do lao động của công nhân đem lại Giai đoạn sau, bất bình đẳng giảm do khi lao động dư thừa được thu hút hết vào thành thị - công nghiệp và dịch vụ thì lúc này lao động trở nên khan hiếm trong sản xuất Cung lao động giảm, cầu lao động tăng lên đòi hỏi phải tăng tiền lương cho người lao động Điều này sẽ làm cho bất bình đẳng giảm

A Lewis kết luận, bất bình đẳng không chỉ là kết quả của tăng trưởng kinh tế

mà còn là điều kiện cần thiết để tăng trưởng kinh tế Các nhà tư bản và nhóm người

có thu nhập cao sẽ phải nhận được nhiều hơn vì họ là những người sử dụng phần tiết kiệm của mình tạo ra nguồn tích lũy mở rộng sản xuất

Quan điểm của Ngân hàng thế giới

Theo WB, nguyên nhân cơ bản của tình trạng bất bình đẳng là do sự bất công trong vấn đề sở hữu mà đặc biệt là vấn đề sở hữu tư liệu sản xuất Vì vậy, cần phải phân phối lại các thành quả của tăng trưởng kinh tế, sao cho cùng với thời gian, phân phối thu nhập dần dần cải thiện Nó bao gồm phân phối của cải (tài sản) và

Trang 28

phân phối lại từ tăng trưởng kinh tế Ở các nước đang phát triển, chính sách phân phối lại tài sản bao gồm: chính sách cải cách ruộng đất; chính sách nhằm tăng cường cơ hội giáo dục cho nhiều người

Các chính sách tăng trưởng mà không tính đến khía cạnh phân phối thu nhập

và phân phối cơ hội, cũng như không gắn với xóa đói giảm nghèo bền vững sẽ khó duy trì được tăng trưởng kinh tế trong dài hạn Một khi chú trọng đến chất lượng tăng trưởng, thì khía cạnh phân phối và xóa đói giảm nghèo không thể giải quyết chỉ bằng chính sách tái phân phối thu nhập trực tiếp Các biện pháp gián tiếp nhằm tạo cơ hội cho người nghèo có thể tham gia nhiều hơn quá trình tăng trưởng mới là cần thiết Do đó, đầu tư cho giáo dục, y tế và bảo vệ môi trường có tác động tích cực tới việc hình thành vốn con người và vốn tài nguyên Đây là hai yếu tố có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và thu nhập của người nghèo

Quan điểm của C Mác (1818-1883)

Thông qua việc phân tích nền kinh tế tư bản chủ nghĩa đương thời, C Mác

đã thể hiện những tư tưởng về mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng

xã hội

C Mác đưa ra khái niệm tổng sản phẩm xã hội là toàn bộ sản phẩm mà xã hội sản xuất trong năm Về mặt giá trị nó bao gồm C + V + M Trong đó C là giá trị của toàn bộ các tư liệu sản xuất mà xã hội đã sử dụng, V + M là giá trị xã hội mới tạo ra, là thu nhập quốc dân của xã hội

C Mác chỉ ra rằng trong quá trình sản xuất, bằng lao động trừu tượng của mình, người công nhân tạo ra giá trị mới là v+m Người công nhân chỉ nhận được v dưới dạng tiền công, còn nhà tư bản lấy giá trị thặng dư (m) Nguồn gốc của bất bình đẳng này xuất phát từ quan hệ sở hữu, xây dựng chế độ công hữu là giải pháp

cơ bản nhất để giải quyết vấn đề bất bình đẳng trong xã hội

Quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam

Trước khi đổi mới, nước ta thực hiện nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung chỉ với hai hình thức sở hữu cơ bản là sở hữu toàn dân và tập thể về tư liệu sản xuất Cơ

Trang 29

chế quản lý bao cấp của thời kỳ này đã kìm hãm sản xuất, làm giảm năng suất, chất lượng, hiệu quả, gây rối loạn trong phân phối lưu thông

Từ sau đổi mới năm 1986, quan điểm bao trùm, nhất quán gắn tăng trưởng kinh tế và thực hiện công bằng xã hội được Đảng ta khẳng định: “Tăng trưởng kinh

tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người đều có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình”2

Qua các kỳ đại hội tiếp theo, Đảng ta vẫn kiên định quan điểm trên về kết hợp giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Đại hội Đảng lần thứ XI đã kế thừa, bổ sung và phát triển chủ trương, quan điểm về thực hiện kết hợp tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội: “Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân” Và “…thực hiện tốt tiến bộ và công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững” 3

Quan điểm này tiếp tục được khẳng định và tiến thêm một bước là nâng cao chất lượng tăng trưởng: “Phát triển kinh tế nhanh, bền vững, đổi mới mạnh mẽ mô hình tăng trưởng theo hướng phát triển kinh tế tri thức và tăng trưởng xanh, nâng cao chất lượng tăng trưởng và nâng

Trang 30

cao năng lực cạnh tranh, khoa học - công nghệ, tri thức, nguồn nhân lực chất lượng cao và thông tin phải là động lực, yếu tố đầu vào, tạo ra giá trị gia tăng của hàng hóa, dịch vụ Nâng cao sự đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp vào tăng trưởng GRDP”5

Tóm lại, từ các quan điểm trên ta thấy: bất bình đẳng là hệ quả của quá trình tăng trưởng kinh tế, đồng thời là điều kiện cần thiết để tăng trưởng kinh tế; Nguyên nhân cơ bản của bất bình đẳng là do bất công trong sở hữu mà đặc biệt là sở hữu về

tư liệu sản xuất Xây dựng chế độ công hữu là giải pháp cơ bản để giải quyết bất bình đẳng trong xã hội, đồng thời cần phải thực hiện phân phối lại các thành quả của tăng trưởng kinh tế Quan điểm của Đảng ta là: Tăng trưởng kinh tế phải gắn liền với tiến bộ và công bằng xã hội ngay trong từng bước đi và trong suốt quá trình phát triển Công bằng xã hội phải thể hiện ở khâu phân phối hợp lý tư liệu sản xuất lẫn khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho mọi người có cơ hội phát triển và sử dụng tốt năng lực của mình

1.3.2 Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

1.3.2.1 Tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo

Nghèo là một khái niệm có nhiều mặt, không có một khái niệm duy nhất về nghèo Ở Việt Nam, khái niệm về đói nghèo thường được sử dụng là khái niệm được đưa ra tại hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu

Á – Thái Bình Dương tổ chức ở Thái Lan năm 1993: “Nghèo đói là tình trạng một

bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của con người

mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội, phong tục tập quán của từng vùng và những phong tục ấy được xã hội thừa nhận”

Như vậy, có thể hiểu “nghèo là tình trạng thiếu thốn ở nhiều phương diện Chẳng hạn như thu nhập hạn chế, hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để bảo đảm tiêu dùng trong những lúc khó khăn, và dễ bị tổn thương trước những đột biến bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn tới những người

5

Đảng bộ TP.HCM, 2015 Văn kiện đại hội Đảng bộ TPHCM lần X Trang 24

Trang 31

có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị tổn thương trong các mối quan hệ xã hội do không được người khác tôn trọng…” (Nguyễn Trọng Hoài và cộng sự, 2013, trang 115)

Nguyên nhân của nghèo đói rất đa dạng, có những nguyên nhân mang tính khách quan như chiến tranh, thiên tai, dịch bệnh…, cũng có những nguyên nhân mang tính chủ quan từ bản thân người nghèo, như sinh nhiều con, ít học vấn, thiếu

nỗ lực vươn lên trong cuộc sống,…

“Trong tiến trình phát triển, tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo có mối quan

hệ biện chứng Tăng trưởng kinh tế tạo cơ sở, điều kiện (vật chất) để giảm nghèo Ngược lại, giảm nghèo là nhân tố bảo đảm cho sự tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững” (Vũ Thị Vinh, 2014, trang 45)

Có thể nói nguyên nhân đầu tiên của đói nghèo là kinh tế không có sự tăng trưởng Tăng trưởng kinh tế là điều kiện cần để tạo tiền đề vật chất cho sự xóa đói, giảm nghèo Khi thành quả của tăng trưởng được phân phối công bằng, hợp lý thì tăng trưởng nhanh làm cho mức thu nhập tăng lên tạo điều kiện cải thiện chất lượng cuộc sống như kéo dài tuổi thọ, giảm tỉ lệ tử vong ở trẻ em và tình trạng suy dinh dưỡng, giúp cho giáo dục và văn hóa phát triển, tạo công ăn việc làm

Thực vậy, tăng trưởng kinh tế sẽ đem lại nhiều việc làm hơn cho các hộ gia đình nên có quan hệ trực tiếp đến mức sống của họ Những hộ gia đình có nguồn thu thất thường luôn phải chịu áp lực của cảnh nghèo cũng như luôn cảm thấy thiếu

an toàn về mặt kinh tế, nếu mức độ tăng trưởng kinh tế cao và bền vững thì cơ hội

có việc làm ổn định sẽ được đáp ứng, song song đó các chính sách công (chính sách giáo dục, y tế, kết cấu hạ tầng…) được thực hiện và các khoản phúc lợi xã hội đối với họ cũng được cung cấp

Tăng trưởng kinh tế cao và bền vững tạo ra những cơ hội để người nghèo tiếp cận được các cơ hội phát triển sản xuất, kinh doanh và hưởng thụ được từ thành quả của tăng trưởng kinh tế Nhờ có tăng trưởng kinh tế cao, nhà nước có sức mạnh vật chất, tài chính cho các vùng, các địa phương khó khăn phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội cơ bản Người nghèo nhờ đó có cơ hội thoát khỏi đói nghèo Những

Trang 32

chính sách công có thể đến được với người nghèo thông qua những hỗ trợ có mục tiêu và họ cũng có thể tăng được tài sản của mình, đặc biệt là trong giáo dục và y tế Các chương trình mục tiêu và những chính sách phát triển nguồn nhân lực không thể thực hiện được nếu không có tăng trưởng kinh tế bền vững Mặt khác, tăng trưởng kinh tế với chất lượng cao và bền vững, tạo điều kiện nhiều hơn cho phát triển các ngành nghề ở nông thôn và phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nhằm tạo ra nhiều việc làm phi nông nghiệp, tăng thu nhập cho người nghèo

Quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và nghèo đói vừa có tính đồng thuận vừa

có tính mâu thuẫn Trên một phương diện nào đó xét về mặt ngắn hạn khi phân phối một phần thu nhập cho chương trình xóa đói giảm nghèo thì nguồn lực dành cho tăng trưởng kinh tế sẽ bị ảnh hưởng, song xét một cách toàn diện về dài hạn thì kết quả xóa đói giảm nghèo lại tạo tiền đề cho tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững Tuy nhiên, trong mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với giảm nghèo thì giảm nghèo là yếu tố chịu sự chi phối, phụ thuộc vào tăng trưởng kinh tế Trong nền kinh tế, nếu tăng trưởng kinh tế chịu sự tác động của các qui luật kinh tế như: qui luật giá trị, qui luật cung cầu, cạnh tranh, lợi nhuận, năng suất lao động, thì giảm nghèo lại chịu sự tác động của qui luật phân hóa giàu nghèo, vấn đề phân phối thu nhập, lao động, việc làm Trong quá trình vận động, các yếu tố, quy luật tác động lên tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo có thể theo chiều hướng trái ngược nhau Tăng trưởng kinh tế làm cho quy luật phân hóa giàu nghèo diễn ra mạnh mẽ hơn dẫn đến giảm nghèo sẽ khó khăn hơn Hoặc nếu chạy theo lợi nhuận để bảo đảm tăng trưởng kinh tế thì việc đầu tư kết cấu hạ tầng, phát triển giáo dục, y tế sẽ khó thực hiện được Mặt khác, nghèo đói đi liền với lạc hậu, chậm phát triển là trở ngại lớn đối với sự tăng trưởng kinh tế và phát triển

Để tăng tính đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo đòi hỏi nhà nước phải có sự can thiệp trên cở sở tôn trọng các qui luật khách quan Nhà nước có vai trò rất quan trọng đối với việc tăng tính đồng thuận giữa tăng trưởng kinh tế và giảm nghèo bằng cách đưa ra hệ thống các chính sách vĩ mô có vai trò hỗ trợ tiềm lực, hình thành môi trường thuận lợi để người nghèo tiếp cận các nguồn lực phát

Trang 33

triển chung của đất nước Những chính sách này có thể là: Chính sách tài chính; Chính sách tiền tệ; Chính sách tín dụng cho người nghèo; Chính sách y tế, dân số; Chính sách giáo dục dạy nghề; Chính sách an sinh xã hội…

1.3.2.2 Bất bình đẳng và nghèo đói trong tăng trưởng kinh tế

Một khái niệm có liên quan chặt chẽ đến đói nghèo là sự phân hóa trong phân phối, hay thường gọi là bất bình đẳng

Bất bình đẳng và công bằng xã hội:

Về mặt công bằng xã hội, bất bình đẳng có thể được xem như là một dạng nghèo trên phương diện phân phối Thông thường, khi nền kinh tế tăng trưởng nhanh thì bất bình đẳng trong phân phối thu nhập lớn từ đó dẫn đến tình trạng đói nghèo của một bộ phận dân cư trở nên gay gắt Điều này có nghĩa là phân phối thu nhập công bằng hơn có thể làm giảm nhẹ vấn đề nghèo đói

Bất bình đẳng lớn trong phân phối thu nhập có thể dẫn đến tình trạng kinh tế kém hiệu quả Thể hiện ở những nhóm có thu nhập thấp sẽ không có điều kiện để tiết kiệm và đầu tư mặc dù tỉ lệ tiết kiệm trong thu nhập thường cao hơn người giàu Bất bình đẳng cao khiến việc phân bổ các nguồn lực kém hiệu quả Như người ta sẽ đầu tư vào giáo dục bậc cao nhiều hơn là giáo dục cơ bản Ngoài ra, bất bình đẳng chứa đựng những bất ổn xã hội cũng như tính đoàn kết Xã hội có bất bình đẳng cao

có khuynh hướng củng cố quyền lực kinh tế và quyền lực chính trị của nhóm giàu trong khi đó những thứ liên quan đến phúc lợi người nghèo thì khó cải thiện

Bất bình đẳng thu nhập và tăng trưởng kinh tế

Về mặt tăng trưởng kinh tế, quan niệm về bất bình đẳng phức tạp hơn Simon Kuznets - nhà kinh tế học người Mỹ cho rằng bất bình đẳng ở một quốc gia sẽ tăng dần ở giai đoạn đầu của quá trình phát triển kinh tế và chỉ giảm dần khi quốc gia ấy đạt đến một mức phát triển nhất định Luận điểm này được trình bày bằng hình vẽ dưới dạng chữ U ngược Theo hình vẽ, bất bình đẳng có khuynh hướng gia tăng theo sự gia tăng của thu nhập bình quân trong giai đoạn đầu nhưng sau đó giảm dần khi thu nhập tăng cao hơn Kuznet cho rằng bất bình đẳng là cần thiết cho phép

Trang 34

người giàu có thể tiết kiệm để đầu tư nhiều hơn và có thể làm tăng trưởng nhanh hơn

Tuy nhiên, quan điểm của Kuznets có một số người không đồng ý, do mức thu nhập mà tại đó bất bình đẳng bắt đầu giảm xuống chưa được xác định nên ta có thể nhìn thấy nhiều mức bất bình đẳng khác nhau ở cùng một mức thu nhập bình quân đầu người Vì thế họ cho rằng định chế và chính sách phát triển của chính phủ

có vai trò quan trọng trong việc giảm bất bình đẳng hơn là một giai đoạn phát triển hay một mức thu nhập bình quân nào đó Thậm chí nếu quá trình tập trung vốn ban đầu làm gia tăng bất bình đẳng thì chính phủ có thể hạn chế nó bằng các chính sách hợp lý của mình

Giải quyết nghèo đói hay bất bình đẳng thu nhập suy cho cùng cũng là giải quyết vấn đề tăng trưởng kinh tế như thế nào và có đảm bảo bền vững hay không Nghiên cứu tăng trưởng kinh tế mà không giải quyết đồng thời vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng thu nhập thì chắc chắn rằng trong mỗi bước đường của tăng trưởng kinh tế sẽ vấp phải những khó khăn trong thực hiện sự đồng thuận xã hội về mục tiêu tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững, huy động tối đa nguồn lực trong dân, cũng như việc san sẻ những thành quả của tăng trưởng kinh tế, thậm chí khi đó tăng trưởng kinh tế sẽ bị giảm sút và chửng lại

Khi nói đến tăng trưởng kinh tế cũng hàm chứa vấn đề nghèo đói và bất bình đẳng thu nhập bởi tăng trưởng kinh tế tự nó luôn có sẵn câu trả lời cho một loạt các câu hỏi như tăng trưởng kinh tế vì ai, bởi ai, bằng cách nào và ai là người được lợi

từ tăng trưởng kinh tế cũng như việc chia sẻ lợi ích đó được thực hiện như thế nào Chìa khóa để hiểu rõ mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập nằm ở ba vấn đề quan trọng sau:

(1) Những nguyên nhân cơ bản tạo ra sự thay đổi trong bất bình đẳng về thu nhập trong quá trình phát triển

(2) Cả tăng trưởng và bất bình đẳng đều là kết cục của các chính sách kinh tế cũng như của năng lực thể chế và phụ thuộc vào những khuynh hướng cũng như

Trang 35

những cú sốc từ bên ngoài Các nước rất khác biệt về những điều kiện và chính sách khác nhau tác động đến tăng trưởng kinh tế và bất bình đẳng thu nhập

(3) Chính sách kinh tế xã hội cần coi mục tiêu thúc đẩy tăng trưởng và cải thiện bất bình đẳng thu nhập là một mục tiêu chung, nhưng cần chú ý linh hoạt về chính sách đối với những nội dung tăng trưởng và bất bình đẳng thu nhập loại trừ nhau có thể xảy ra trong các trình độ phát triển khác nhau

1.3.2.3 Tăng trường kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển bền vững

Những chính sách xã hội năng động với thể chế hợp lý sẽ tạo điều kiện giữ vững ổn định chính trị, giảm các xung đột lợi ích và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Việc thực hiện các chính sách xã hội chính là đầu tư vào nguồn lực con người Con người vừa là chủ thể sáng tạo, vừa là đối tượng phục vụ của sản xuất Các chính sách xã hội như giáo dục, y tế, bảo hiểm… giúp cho con người có tri thức, có sức khỏe, có cuộc sống yên lành… sẽ làm tăng tính tích cực, sáng tạo, tăng năng suất lao động, từ đó sẽ thúc đẩy tăng trưởng kinh tế Chính sách nâng cao thu nhập không những cải thiện mức sống của những người yếu thế mà còn kích cầu khả năng thanh toán, từ đó đẩy mạnh sản xuất

Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới có lộ trình phát triển kinh tế tương tự như Việt Nam cho nhiều bài học thực tiễn trong việc giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và chính sách xã hội Những nội dung chính sau đây:

(1) Vào thời kỳ đầu của nền kinh tế thị trường, để giải quyết những trở ngại

về thể chế kinh tế theo kế hoạch, cản trở sự phát triển sản xuất, mục tiêu lúc đó được xác định là tập trung giải phóng lực lượng sản xuất Nhưng nếu tập trung quá nhiều vào tăng trưởng GDP, coi nhẹ các vấn đề xã hội sẽ cản trở đa số người hưởng lợi từ tăng trưởng này Mức thu nhập thấp của số đông công chúng dẫn tới làm suy yếu dài hạn nhu cầu trong nước, tác động tiêu cực đến sự phát triển toàn diện của lực lượng lao động Cho nên, phát triển xã hội là điều kiện quan trọng nhất cho tăng trưởng kinh tế và phải nhanh chóng chuyển từ chủ trương ưu tiên phát triển kinh tế

Trang 36

so với phát triển xã hội, sang thực hiện chủ trương phát triển hài hòa giữa kinh tế và

xã hội

(2) Từ trong bối cảnh nghèo khó và chủ nghĩa bình quân chiếm ưu thế, cần khuyến khích những người, những vùng có điều kiện làm giàu trước Nhưng khi kinh tế thị trường đã phát triển, lại xuất hiện những nhóm lợi ích khác nhau được hưởng lợi khác nhau từ thành quả phát triển Tăng trưởng kinh tế đạt được bằng sự tổn thất của một nhóm xã hội và sự tăng tiến của nhóm xã hội khác ít hơn, xuất hiện tình trạng phân chia dân cư thành những nhóm có quyền lực lớn và những nhóm chịu thua thiệt Mặc dù nhóm dân cư ưu thế có qui mô nhỏ hơn nhưng lại thu lợi lớn hơn, họ có quyền lực trong tay và sở hữu những quyền lực mạnh Nhóm quyền lực này không chỉ có thể bảo vệ tốt lợi ích riêng của họ, mà còn phát huy ảnh hưởng đến việc hoạch định chính sách Sự phân cực giàu - nghèo tăng nhanh, khiến cho nhóm bị thiệt thòi cảm thấy tuyệt vọng, làm yếu cơ sở của sự ổn định xã hội Vì thế, cần phải đặt ra mục tiên bình đẳng hơn, công bằng hơn

(3) Khi khu vực tư nhân và khu vực kinh tế hỗn hợp tăng lên, khu vực thuần túy quốc hữu bị thu hẹp lại, thì khoảng cách giàu - nghèo cũng mở rộng Sự chênh lệch thu nhập thực sự giữa dân cư đô thị và nông thôn có khoảng cách lớn Chính phủ phải sử dụng công cụ phân phối lại như là một đòn bẩy để điều tiết phân phối thu nhập quốc dân, làm thu hẹp chênh lệch về thu nhập giữa các tầng lớp dân cư

(4) Tăng trưởng kinh tế nhanh, nhưng nếu xuất hiện sự tụt hậu của văn hóa, chính trị, xã hội sẽ cản trở quá trình cải cách hệ thống kinh tế Bởi sự xuống cấp về đạo đức xã hội, sự thiếu vắng lòng tin và hệ thống an sinh xã hội nghèo nàn tạo ra khó khăn lớn, cản trở phát triển

1.4 Kinh nghiệm ở trong và ngoài nước về giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội

1.4.1 Kinh nghiệm tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

Bà Rịa – Vũng Tàu là một trong những tỉnh đi đầu trong phát triển kinh tế, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước nhờ tận dụng lợi thế so sánh Tốc độ

Trang 37

tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân đầu người trong những năm gần đây khá cao (GDP tăng bình quân gần 13%/năm) Tăng trưởng kinh tế luôn gắn chặt chẽ và hài hòa với công bằng xã hội Bài học kinh nghiệm được rút ra là:

Một là, duy trì tốc độ tăng trưởng khá cao đồng thời nâng cao chất lượng tăng trưởng, chú trọng việc đẩy mạnh thu hút đầu tư, nâng cao năng suất lao động, đầu tư vào tiến bộ công nghệ và đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế

Hai là, thực hiện công bằng xã hội ngay trong từng bước và từng chính sách phát triển Tập trung vào nâng cao chất lượng giáo dục, chăm sóc và bảo vệ sức khỏe nhân dân, bảo đảm an sinh xã hội và xóa đói giảm nghèo, tăng cường kết cấu

hạ tầng và đô thị hóa

Ba là, nâng cao trách nhiệm, hiệu quả của cơ quan công quyền và cán bộ công chức: đảm bảo công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình, tạo điều kiện cho nhân dân tham gia vào quá trình hoạch định và thực hiện chính sách

1.4.2 Kinh nghiệm thành phố Cần Thơ

Trong những năm qua, thành phố Cần Thơ đã đạt được những thành tựu nổi bật trong việc giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội Kinh tế giữ được tốc độ tăng trưởng khá cao (tốc độ tăng GDP giai đoạn 2006-2010

là 15,13%), cơ cấu kinh tế chuyển dịch theo hướng tích cực; chất lượng tăng trưởng, năng lực cạnh tranh từng bước được cải thiện, thu nhập dân cư ngày càng tăng

Cần Thơ không chỉ triển khai các chương trình hỗ trợ giải quyết việc làm mà còn vận động và tạo điều kiện cho công nhân, viên chức, lao động được học tập nâng cao trình độ học vấn và tay nghề Việc nâng cao phúc lợi xã hội (như về giáo dục đào tạo, y tế, công tác đền ơn đáp nghĩa…) cho nhân dân được thực hiện khá tốt Công tác xóa đói giảm nghèo được các quận, huyện vận dụng linh hoạt với nhiều nguồn lực, tạo điều kiện giúp người nghèo từng bước khắc phục khó khăn trong cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, tiến tới xây dựng kinh tế gia đình bền vững; đồng thời hạn chế thấp nhất việc tái nghèo và phát sinh hộ nghèo mới

Trang 38

1.4.3 Kinh nghiệm của Nhật Bản Từ sau Thế chiến thứ II, Nhật Bản đã có

phát triển kinh tế vượt bật, để đạt được thành công đó Nhật Bản đã tiến hành các chính sách sau đây:

- Thứ nhất, thực hiện cuộc cách mạng ruộng đất Nội dung cơ bản của cải

cách ruộng đất là chuyển quyền sở hữu ruộng đất phát canh cho những tá điền đã từng trồng trọt trên mảnh đất đó… Qua cuộc cải cách, tình trạng bất bình đẳng về sở hữu ruộng đất đã giảm bớt, từ đó kích thích tính tích cực của nông dân, nhờ đó tăng thêm thu nhập và mở rộng thị trường trong nước

- Thứ hai, dân chủ hóa lao động Bằng cách ban hành các đạo luật về lao

động, như Luật Công đoàn (1945) nhằm đảm bảo quyền tổ chức công đoàn Cùng với đạo luật, phong trào công đoàn phát triển nhanh chóng, tỉ lệ công nhân tham gia tăng từ 3,2% (1945) lên 46,2% (1950) (Lê Văn Sang và Kim Ngọc, 1999, trang 23); Luật điều chỉnh quan hệ lao động (1946) quy định việc giải quyết tranh chấp lao động;… Cuộc cải cách dân chủ hóa lao động thực sự đóng vai trò quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế ở Nhật Bản vào thời điểm đó

- Thứ ba, khuyến khích phát triển xí nghiệp vừa và nhỏ để tạo nhiều cơ hội

việc làm, toàn dụng cho lao động xã hội Sau chiến tranh thế giới lần II, Nhật Bản

tập trung các nguồn lực cho phát triển kinh tế, lúc này có tới 13,5 triệu người thất nghiệp, chiếm 30-32% tổng số người có khả năng lao động (Lê Bộ Lĩnh, 1998, trang 71) Ngoài ra, Chính phủ Nhật Bản còn hỗ trợ cho các xí nghiệp vừa và nhỏ phát triển bằng các khoản tín dụng ưu đãi và các dịch vụ hỗ trợ đặc biệt

Thứ tư, đầu tư phát triển và sử dụng có hiệu quả nguồn lực Nhật Bản đã cải

cách sâu rộng hệ thống giáo dục các cấp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong nước Chính phủ đầu tư lớn cho giáo dục, như năm 1950, chi 5% thu nhập quốc dân cho giáo dục công cộng, đến năm 1973 là 5,3% và năm 1976 là 6,6% (Lê Văn Sang

và Kim Ngọc, 1999, trang 34)

Thứ năm, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập Nhật Bản đã

thực hiện nhiều chính sách để điều tiết thu nhập, như tạo việc làm, trợ cấp thất

Trang 39

nghiệp,… Các chính sách phân phối công bằng thu nhập của Nhật được thực hiện theo hướng phải tương ứng với trình độ chung của nền kinh tế

- Thứ sáu, xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu quả Nhật Bản sử

dụng một số cơ chế, cách thức quản lý hành chính khách quan, như:

Một là, tuyển mộ và đề bạt phải dựa trên năng lực và phải có tính cạnh tranh cao Hằng năm, cơ quan nhân sự quốc gia mở 3 kỳ thi nhằm tuyển chọn quan chức và viên chức nhà nước Chế độ thi tuyển công khai làm cho quan chức nhà nước có sự tin tưởng, tôn trọng xã hội, góp phần ngăn cản tham nhũng, thiên vị

Hai là, quyền lợi quan chức được đảm bảo ở mức họ không thể bán rẻ vị trí của mình cho nhóm lợi ích riêng biệt nào đó

Ba là, nhiệm kỳ quan chức lãnh đạo ngắn nên tránh về tiêu cực, về đặc quyền, đặc lợi…

Cùng với hệ thống pháp luật hoàn chỉnh làm hạn chế những quyết định thiếu minh bạch của quan chức, những cơ chế trên góp phần xây dựng đội ngũ quan chức

có đủ năng lực và đạo đức để duy trì được chất lượng tăng trưởng kinh tế trong tương đối dài

1.4.4 Kinh nghiệm của Đài Loan Hệ số Gini của Đài Loan thời kỳ

1953-1960 là 0,440, nhưng sau thập niên 1970-1980 hệ số giảm xuống chỉ còn 0,289 (Lê

Bộ Lĩnh, 1998, trang 121) Để đạt được điều này Đài Loan đã sử dụng các chính sách sau:

Thứ nhất, cải cách ruộng đất và bình đẳng trong thu nhập Đài Loan tiến

hành cải cách ruộng đất năm 1949 với mục tiêu là khuyến khích nông dân phát triển sản xuất bằng cách trao đất cho họ Sau cải cách, 92% nông dân có ruộng đất và họ

sử dụng khoảng 90% diện tích canh tác (Lê Bộ Lĩnh, 1998, trang 125) Cải cách ruộng đất tạo ra cơ hội cho một lượng lớn dân cư có thu nhập

Thứ hai, chương trình hỗ trợ nông nghiệp Đài Loan thực hiện hàng loạt

chương trình hỗ trợ phát triển nông nghiệp như kiện toàn tổ chức nông hội, xây

Trang 40

dựng hệ thống công trình thủy lợi,… Các chương trình này có tác dụng lớn trong tăng cường xây dựng nông thôn, cải tiến sản xuất và tiêu thụ nông sản phẩm

Thứ ba, phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ Trong giai đoạn đầu, Đài

Loan kích thích phát triển các doanh nghiệp vừa và nhỏ nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước về hàng hóa tiêu dùng, sử dụng hiệu quả nguồn lao động địa phương Năm 1971, ngành chế tạo máy có tỷ trọng trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ là 95,4% đến năm 1981 tăng lên 98,9% và năm 1989 là ở mức 98,5% (Lê Bộ Lĩnh,

1998, trang 129) Điều quan trọng là chính sách này góp phần làm giảm bất bình đẳng trong phân phối thu nhập ở nông thôn

Thứ tư, phát triển giáo dục và đào tạo nghề Chính quyền Đài Loan đã thực

hiện nhiều chính sách về giáo dục, như nâng cao hệ thống giáo dục bắt buộc từ 6 thành 9 năm, tăng cường giáo dục học nghề cho thanh thiếu niên nhằm đáp ứng nhu cầu nhân công đa ngành nghề của nền kinh tế… Tỷ lệ thanh thiếu niên tham gia học nghề ngày càng cao, năm 1963 chỉ có 40% học sinh trung học phổ thông tham gia học nghề, nhưng đến năm 1980 đã lên tới 70% (Lê Bộ Lĩnh, 1998, trang 138) Như vậy, sự nghiệp giáo dục ở Đài Loan tạo ra được lực lượng lao động trẻ, làm việc có hiệu quả, cải thiện đời sống vật chất người lao động góp phần giảm mức chênh lệch

về tiền lương giữa lao động lành nghề và lao động không lành nghề

1.5 Bài học rút ra cho TP.HCM

Luôn coi trọng giải quyết các vấn đề xã hội như xóa đói, giảm nghèo, phát triển giáo dục, y tế, tạo việc làm… cho người lao động trong quá trình tăng trưởng kinh tế Tăng trưởng kinh tế kết hợp với công bằng xã hội trên cơ sở bảo vệ môi trường Thực hiện tốt các chính sách xã hội, như chính sách trợ cấp cho người nghèo, xây nhà xã hội cho người có thu nhập thấp Hỗ trợ đào tạo nghề cho người

lao động, nhất là người nghèo, người tàn tật… Cùng với đầu tư phát triển và sử

dụng có hiệu quả nguồn lực, thực hiện công bằng xã hội trong phân phối thu nhập

và xây dựng bộ máy nhà nước trong sạch, hiệu quả

Ngày đăng: 19/07/2021, 08:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và đào tạo, 2002. Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh tế chính trị Mác – Lênin
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
2. Bùi Ngọc Thanh, 2011. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. TC Lao động và xã hội, số 411. -tr. 16-19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: TC Lao động và xã hội
3. Bùi Quang Bình, 2014. Đổi mới mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam thời kỳ đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế. Những vấn đề Kinh tế &amp; Chính trị Thế giới.Số 2 tr.74-80 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những vấn đề Kinh tế & Chính trị Thế giới
4. C. Mác và Ph. Ăngghen, 1995. Toàn tập, tập 23. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Toàn tập, tập 23
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
7. Đảng Cộng sản Việt Nam, 1996. Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
8. Đảng Cộng sản Việt Nam, 2011. Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ XI. HN: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện đại hội toàn quốc lần thứ XI
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
12. Đinh Sơn Hùng và Mã Văn Tuệ, 2011.Tăng trưởng kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh đôi điều lý luận và thực tiễn. Bản tin – Kinh tế và Xã hội. Số: quý 3. tr. 2- 4. TP.HCM: Viện Nghiên cứu và Phát triển Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bản tin – Kinh tế và Xã hội
13. Hoàng Đức Thân và Đinh Quang Tỵ, 2010. Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội ở Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản chính trị quốc gia
14. Hoàng Ngọc Hòa, 2006. Quá trình phát triển nhận thức của Đảng về gắn tăng trưởng kinh tế với thực hiện công bằng xã hội. Lịch sử Đảng, số 12. - tr.37-42 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lịch sử Đảng
15. Đổ Phủ Trần Tình, 2010. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Lý thuyết và thực tiễn ở TPHCM. Hà Nội: Nhà xuất bản Lao động xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Lý thuyết và thực tiễn ở TPHCM
Nhà XB: Nhà xuất bản Lao động xã hội
16. Đỗ Thế Tùng, 2013. Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển bền vững - những giải pháp chủ yếu đối với Việt Nam. TP.HCM: Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện chính sách xã hội trong phát triển bền vững - những giải pháp chủ yếu đối với Việt Nam
17. Lê Bộ Lĩnh, 1998. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở một số nước châu Á và Việt Nam
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
18. Lê Văn Sang và Kim Ngọc, 1999. Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “Thần kỳ” và Việt Nam thời kỳ “Đổi mới”. Hà Nội: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội ở Nhật Bản giai đoạn “Thần kỳ” và Việt Nam thời kỳ “Đổi mới”
Nhà XB: Nhà xuất bản Chính trị quốc gia
19. Lê Xuân Bá và Nguyễn Thị Tuệ Anh, 2006. Tăng trưởng kinh tế Việt Nam. 15 năm từ góc độ phân tích đóng góp của các nhân tố sản xuất. Hà Nội: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tăng trưởng kinh tế Việt Nam. "15 năm từ góc độ phân tích đóng góp của các nhân tố sản xuất
Nhà XB: Nhà xuất bản Khoa học và kỹ thuật
20. Lý Thị Huệ, 2014. Gắn tăng trưởng kinh tế với tiến bộ và công bằng xã hội nhằm giảm thiểu sự phân cực giàu nghèo. Quản lí nhà nước, số 222 tr.55-59 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lí nhà nước
21. Mai Ngọc Cường, 2013. Một số vấn đề xã hội nhằm giải quyết mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội ở nước ta: thực trạng và khuyến nghị. Kinh tế &amp; Phát triển 2013, số 196 tr.22-27 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế & Phát triển 2013
22. Nguyễn Công Mỹ, 2012. Lựa chọn mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam giai đoạn 2011-2020. Quản lý Kinh tế, số 45 tr.13-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý Kinh tế
23. Nguyễn Đình Cung, 2012. Mô hình tăng trưởng kinh tế Việt Nam: Thực trạng và lựa chọn cho giai đoạn 2011 – 2016. Tài chính, số 1 tr.46-49 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài chính
24. Nguyễn Hải Hữu, 2006. Đổi mới chính sách trợ giúp xã hội theo hướng bảo đảm hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội. Tạp chí Lao động và Xã hội, số 293. - tr.7-10 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Lao động và Xã hội
25. Nguyễn Hải Hữu, 2007. Công bằng xã hội với chính sách bảo trợ xã hội trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế. Xã hội học. số 1. -tr. 25-32 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w