Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, các ngành công nghiệp đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải là một trong những nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm môi trường ở hầu hết cá
Trang 1BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO ĐẠI HỌC THUỶ SẢN
SƠ BỘ ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CỦA NƯỚC THẢI TỪ KHU CÔNG NGHIỆP SUỐI HIỆP ĐẾN CHẤT LƯỢNG NƯỚC CÁC THUỶ VỰC TIẾP NHẬN - ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP GIẢM THIỂU TÁC ĐỘNG TIÊU CỰC ĐẾN MÔI
Trang 2Lời cảm ơn
Để đạt được kết quả như ngày hôm nay, em xin tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với gia đình, nhất là ba và mẹ em Nếu không có ba mẹ thì chắc việc học của em sẽ không đạt kết quả như ngày hôm nay Những lúc việc học của em khó khăn nhất thì chính ba mẹ là những người luôn bên cạnh em, động viên, khuyến khích và hỗ trợ hết mực cả về vật chất và tinh thần cho em Em rất cảm
ơn ba mẹ đã cho em có một kết quả học tập tốt đẹp như ngày hôm nay Em xin chân thành cảm ơn quý Thầy Cô giáo Trường Đại học Thuỷ sản, các Trường và các Viện nghiên cứu khác cùng các Thầy Cô giáo Khoa Nuôi Trồng Thuỷ sản đã tận tình truyền đạt những kiến thức kinh nghiệm quý báu cho em trong suốt quá trình học tập
Em kính lời cảm ơn Thầy Phạm Văn Thơm và các cô chú Phòng thuỷ địa hoá - Viện Hải Dương Học - Nha Trang đã tận tình giúp đỡ em trong suốt quá trình học tập, thực tập và hoàn thành luận văn này
Em cũng gởi lời cảm ơn đến bạn bè đã ủng hộ giúp đỡ em
Một lần nữa, xin mọi người hãy nhận nơi em lời cảm ơn chân thành nhất
Nha Trang, ngày 29/11/2005
Sinh viên: Lê Tấn Phát
Trang 3
Tóm tắt
Khu công nghiệp (KCN) Suối Hiệp nằm trong địa phận xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà Các ngành sản xuất chính ở KCN là nước giải khát (bia, nước ngọt) , cồn và giấy Do hiệu quả của việc xử lý và quản lý chất thải không cao nên chúng vẫn gây ra những tác động tiêu cực đối với môi trường nước chung quanh
Tại KCN Suối Hiệp, nước thải của từng nhà máy, cơ sở sản xuất đã được
xử lý riêng lẻ và được đưa vào đoạn kênh ngắn từ phìa sau cống ngầm Cầu Đôi đến phía trên cống Cư Thạnh Mặc dù đã qua xử lý nhưng các yếu tố hữu cơ, dinh dưỡng và coliform trong nước thải vẫn chưa đạt tiêu chuẩn nước thải loại A (TCVN 5945-1995) Ngoài ra, trong KCN này và vùng lân cận có 5 nhà máy và
cơ sở sản xuất đưa nước thải trực tiếp vào môi trường (không qua giai đoạn xữ lý) với hàm lượng các chất ô nhiễm cao Nước thải từ KCN đã làm ô nhiễm vực nước chủ yếu từ cống Diên Toàn đến cống Cư Thạnh với các yếu tố dinh dưỡng, TSS, hữu cơ, dầu mỡ và coliform Ngoài ra, trong quá trình nghiên cứu
đã phát hiện thêm điểm ô nhiễm, đó là đập tràn cầu Dứa với sự ô nhiễm của các yếu tố dinh dưỡng, hữu cơ, dầu mỡ và coliform
Để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường cần phải: (1) bắt buộc các cơ sở sản xuất phải xây dựng hệ thống xử lý chất thải; (2) tăng cường công tác thanh tra, kiểm soát hoạt động xử lý và xả thải nước thải tại các cơ sở; (3) cải tạo đoạn kênh từ cống Cư Thạnh đến cống ngầm Cầu Đôi và bầu Mốc cầu Dứa như là hai khu vực xử lý sinh học với bèo lục bình
Trang 4Luận văn gồm các phần sau:
- Mở đầu
- Tổng quan
- Phương pháp nghiên cứu
- Khái quát khu vực nghiên cứu
- Kết quả nghiên cứu và thảo luận
+ Biến động của các thông số khảo sát theo thời gian và không gian
+ Đặc điểm nước thải từ các nhà máy và cơ sở sản xuất trong khu công
nghiệp Suối Hiệp và lân cận
+ Chất lượng nước của các thuỷ vực tiếp nhận
+ Sơ bộ đánh giá ảnh hưởng nước thải từ khu công nghiệp Suối Hiệp đến chất lượng nước thuỷ vực tiếp nhận
- Kết luận và đề xuất
Trang 5Giải thích thuật ngữ và chữ viết tắt
Một số thuật ngữ Môi trường là gì?
"Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và yếu tố vật chất nhân tạo quan hệ mật thiết với nhau, bao quanh con người, có ảnh hưởng tới đời sống, sản xuất,
sự tồn tại, phát triển của con người và thiên nhiên." (Theo Ðiều 1, Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam)
Ô nhiễm môi trường là gì? Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Ô nhiễm môi trường là sự làm thay đổi tính chất của môi trường, vi phạm Tiêu chuẩn môi trường"
Suy thoái môi trường là gì?
"Suy thoái môi trường là sự làm thay đổi chất lượng và số lượng của thành phần môi trường, gây ảnh hưởng xấu cho đời sống của con người và thiên nhiên"
Tiêu chuẩn môi trường là gì? Theo Luật Bảo vệ Môi trường của Việt Nam:
"Tiêu chuẩn môi trường là những chuẩn mức, giới hạn cho phép, được quy định dùng làm căn cứ để quản lý môi trường"
Thế nào là sự phát triển bền vững?
"Phát triển bền vững là sự phát triển nhằm thoả mãn các nhu cầu hiện tại của con người nhưng không tổn hại tới sự thoả mãn các nhu cầu của thế hệ tương lai"
Ô nhiễm nước là gì ? Hiến chương châu Âu về nước đã định nghĩa:
"Ô nhiễm nước là sự biến đổi nói chung do con người đối với chất lượng nước, làm nhiễm bẩn nước và gây nguy hiểm cho con người, cho công nghiệp, nông nghiệp, nuôi cá, nghỉ ngơi, giải trí, cho động vật nuôi và các loài hoang dã"
Quan trắc môi trường là gì?
Quan trắc môi trường là việc theo dõi thường xuyên chất lượng môi trường với các trọng tâm, trọng điểm hợp lý nhằm phục vụ các hoạt động bảo vệ môi trường và phát triển bền vững
Trang 6Các từ viết tắt
- KCN: khu công nghiệp
- TN&MT: tài nguyên và môi trường
- TCVN: tiêu chuẩn Việt Nam
- TCNBVTS: tiêu chuẩn nước bảo vệ thuỷ sản
- TCNM: tiêu chuẩn nước mặt
- T: trạm thu mẫu
- Đợt 1: mẫu thu vào ngày 25/08/2005
- Đợt 2: mẫu thu váo ngày 15/09/2005
- Đợt 3: mẫu thu vào ngày 04/10/2005
- Trạm 1: Cầu Hậu Xương
- DO: oxy hoà tan trong nước (mgo2/L)
- BOD: nhu cầu sinh hoá tiêu thụ oxy trong thời gian 5 ngày (mgo2/L)
- COD: nhu cầu hoá học tiêu thụ oxy (mgo2/L)
Trang 7Mở Đầu
Nguồn gốc chủ yếu mọi biến đổi về môi trường đang xảy ra hiện nay trên thế giới cũng như ở nước ta là do các hoạt động kinh tế và phát triển xã hội của loài người Các hoạt động này, một mặt làm cải thiện chất lượng cuộc sống của con người, mặt khác đang tạo ra hàng loạt các vấn đề như: làm cạn kiệt tài nguyên thiên nhiên, gây ô nhiễm suy thoái chất lượng môi trường khắp mọi nơi trên thế giới Vì vậy, bảo vệ môi trường đã trở thành vấn đề toàn cầu,
là quốc sách của hầu hết các quốc gia
Phát triển kinh tế xã hội là con đường đi lên tất yếu của mỗi nước, nhưng sự phát triển đó phải bền vững, phát triển mạnh mẽ liên tục nền kinh tế, đồng thời với việc lành mạnh hóa quan hệ xã hội và bảo vệ môi trường sống của cộng đồng Do đó, bảo vệ môi trường luôn gắn bó chặt chẽ với “phát triển bền vững”
Trong những năm vừa qua, Việt Nam chúng ta đang trong giai đoạn thực hiện công nghiệp hóa và hiện đại hóa Nền kinh tế thị trường là động lực thúc đẩy sự phát triển của mọi ngành kinh tế, trong đó có ngành công nghiệp Ngành công nghiệp đã tạo ra các sản phẩm có giá trị phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu Tuy nhiên, cũng như nhiều nước trên thế giới, các ngành công nghiệp đã thải ra môi trường một lượng lớn chất thải
là một trong những nguyên nhân gây ra sự ô nhiễm môi trường ở hầu hết các vực nước lân cận các khu công nghiệp ở nước ta
Vấn đề ô nhiễm nguồn nước do các ngành công nghiệp thải trực tiếp ra môi trường chưa được xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu đang là mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý môi trường Nước bị nhiễm bẩn sẽ ảnh hưởng trực tiếp sức khoẻ con người và sự sống của các loài thủy sinh vật
Tại xã Suối Hiệp, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hoà từ những năm
1996 đã hình thành một khu công nghiệp đó là khu công nghiệp Suối Hiệp Tại khu công nghiệp này, sản phẩm sản xuất chính là nước giải khát (bia, nước ngọt…), cồn và giấy Khu công nghiệp đã thu hút đầu tư trong và ngoài nước,
Trang 8giải quyết việc làm cho lao động ở địa phương, tăng giá trị của nguồn nguyên liệu và góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội ở địa phương
Tuy nhiên, hoạt động của khu công nghiệp này đã gây ra nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường xung quanh, chủ yếu là tác động của nước thải Mặc dù, nước thải của hầu hết các cơ sở có xử lý riêng lẻ nhưng do hiệu quả xử lý không đạt yêu cầu và quản lý không chặt chẽ nên chúng vẫn gây ra những tác động tiêu cực cho thủy vực tiếp nhận Trong những năm từ 1998 cho đến nay đã có nhiều đơn khiếu nại của nhân dân địa phương nhưng tình hình gây ô nhiễm môi trường thủy vực nước tiếp nhận xung quanh do khu công nghiệp này vẫn còn tiếp diễn
Xuất phát từ những vấn đề trên, em tiến hành thực hiện đề tài “Sơ bộ
đánh giá ảnh hưởng của nước thải từ khu công nghiệp Suối Hiệp đến chất lượng nước thủy vực tiếp nhận - Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường”
Đề tài được thực hiện nhằm góp phần vào đánh giá hiện trạng chất lượng nước mặt tại thủy vực xung quanh khu công nghiệp, đánh giá tác nhân ảnh hưởng của hoạt động sản xuất từ khu công nghiệp và lân cận đến chất lượng nước mặt, cũng như xác định đặc điểm nước thải của một số nhà máy
và cơ sở sản xuất Từ đó, trên cơ sở phân tích và đánh giá số liệu khảo sát được để kết luận rằng: nhà máy nào là gây ảnh hưởng và không gây ảnh hưởng đến chất lượng nước ở thủy vực tiếp nhận Đồng thời, các kết quả thu được giúp cho các nhà quản lý có thêm cơ sở khoa học để thực hiện công tác giám sát và cải thiện môi trường tốt hơn
Các nội dung chính của đề tài gồm có:
1 Biến động của các thông số khảo sát theo thời gian và không gian
2 Đặc điểm nước thải từ các nhà máy và cơ sở sản xuất trong khu công nghiệp Suối Hiệp và lân cận
3 Chất lượng nước của thủy vực tiếp nhận
4 Sơ bộ đánh giá ảnh hưởng nước thải từ khu công nghiệp Suối Hiệp đến chất lượng nước thủy vực tiếp nhận
5 Đề xuất một số giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường
Trang 9Do bước đầu mới làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, thời gian thực tập và trình độ bản thân còn hạn chế, cho nên báo cáo của em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự đóng góp ý kiến của quý thầy
cô cùng bạn bè để báo cáo này được hoàn thiện hơn
Trang 10Chương 1 TỔNG LUẬN
1 Sơ lược mối quan hệ giữa hoạt động công nghiệp với môi trường nước
Các vực nước có khả năng tự làm sạch thông qua các quá trình biến đổi
lý, hoá và sinh học như: phân hủy, khuếch tán, hấp thụ, lắng lọc hoặc các quá trình trao đổi chất Các quá trình này đạt hiệu quả cao khi môi trường nước có
đủ oxy Vì vậy, quá trình tự làm sạch của nước dễ thực hiện ở dòng chảy hơn là
ở ao hồ nước đọng (vì quá trình khuếch tán các chất gây nhiễm bẩn dễ dàng hơn, tham gia vào các quá trình chuyển hoá, làm giảm chất độc hoặc lắng đọng chất rắn hoặc tiêu diệt các vi khuẩn có hại ) Khi lượng chất thải đưa vào môi trường nước quá nhiều, vượt quá khả năng tự làm sạch thì môi trường nước bị
ô nhiễm Việc nhận biết nước bị ô nhiễm thường căn cứ vào trạng thái hóa học, vật lý và sinh học của nước Hiện nay, các nguồn nước bị ô nhiễm phần lớn là
do tiếp nhận quá nhiều nước thải từ sinh hoạt và nước thải từ các khu công nghiệp, đặc biệt là nước thải không xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu
Trong công nghiệp, nước được sử dụng làm nguyên liệu, dung môi, môi trường phản ứng, tách chất hấp thụ, vận chuyển, đun nóng, làm lạnh sản phẩm
và trang thiết bị, rửa trang thiết bị
Nước thải công nghiệp là nước thải từ các cơ sở sản xuất công nghiệp (chủ yếu là các ngành luyện kim, hoá chất, chế biến dầu mỏ, dệt nhuộm, giấy, thực phẩm, chế tạo máy, sản xuất phân bón, ngành điện tử, khai khoáng [27]), tiểu thủ công nghiệp, kể cả nước thải từ hoạt động giao thông vân tải Nước thải công nghiệp thường chứa các hoá chất độc hại (kim loại nặng như Pb, Hg, Cd, Cr ), chất hữu cơ với hàm lượng cao bao gồm: các chất hữu cơ khó bị phân huỷ sinh học (phenol, các dung môi hữu cơ…) và các chất dễ phân hủy sinh học từ các cơ sở chế biến và sản xuất thực phẩm (rượu, bia, nước ngọt, đường ), nước thải nhà máy bột giấy chứa nhiều chất rắn lơ lửng, chất hữu cơ, màu, phenol với hàm lượng lớn Ngoài ra, các chất dinh dưỡng (nitrat, phosphat, amoni ) và vi sinh vật trong nước thải cũng rất lớn
Trang 11Nước thải công nghiệp không có đặc trưng chung mà phụ thuộc vào đặc điểm của từng ngành sản xuất, mùa vụ, công nghệ và nguồn nguyên liệu đầu vào… Khi nước thải công nghiệp được thải ra môi trường thì các chất ô nhiễm được phân tán, hòa trộn vào môi trường nước các thủy vực tiếp nhận, trôi theo dòng nước, đã làm gia tăng hàm lượng chất hữu cơ, dinh dưỡng, vi sinh, độ axit và ảnh hưởng trực tiếp đến chất lượng nước tại các thủy vực tiếp nhận Ngoài ra, nó còn có thể thấm sâu vào đất
và ảnh hưởng đến nước ngầm Mức độ ảnh hưởng phụ thuộc vào thành phần và lượng của các chất gây nhiễm bẩn có trong nước thải, cũng như các đặc điểm của vực nước tiếp nhận
Sản xuất công nghiệp là nguồn gây ô nhiễm lớn nhất trong số các nguồn nhân tạo Sự phát trển công nghiệp đã tạo ra một lượng khổng lồ các chất thải lỏng, rắn và khí đổ vào môi trường đã làm suy thoái chất lượng môi trường ở hầu hết các quốc gia, đặc biệt là trong trường hợp chất thải không
xử lý hoặc xử lý kém [3] Hoạt động sản xuất công nghiệp luôn được mở rộng quy mô sản xuất Do đó, nhu cầu nước cũng tăng nhanh theo việc gia tăng sản xuất: để luyện 1 tấn thép cần 270 tấnnước, sản xuất 1 tấn NH3 cần1000 tấn nước, sản xuất một tấn giấy báo cần 400 tấn nước, chế tạo 1 tấn đường cần 20 tấnnước [26] Điều cần nhấn mạnh là phấn lớn nước cấp cho công nghiệp sau khi sử dụng đều trở thành nước thải
Chất hữu cơ từ các cơ sở sản xuất là tác nhân gây ô nhiễm phổ biến nhất trong các sông Chúng có nồng độ lớn trong nước thải một số ngành công nghiệp (chế biến thực phẩm, thuộc da, dệt nhuộm ) Ô nhiễm hữu cơ có thể được đánh giá qua các chỉ số: DO, BOD, COD Nước thải công nghiệp có ảnh hưởng đến chất lượng nước các vực nước tiếp nhận Mức độ ảnh hưởng này phụ thuộc vào chất lượng, chế độ thủy văn của vực nước, thành phần và tính chất của nước thải, thời gian và lưu lượng phát thải Ngoài ra, nước thải từ các cơ sở xử lý nhưng không có hệ thống hồ sinh học thì hàm lượng các chất dinh dưỡng trong nước thải cũng còn rất cao
Chất hữu cơ thường gây tác hại lớn đối với nguồn lợi thủy sản vì chúng
có khả năng gây cạn kiệt oxy trong nước do trong quá trình phân huỷ đã sử dụng một lượng lớn oxy hoà tan trong nước Ngoài ra còn tạo ra một lượng lớn
Trang 12chất dinh dưỡng làm tăng khả năng ưu dưỡng và phát triển của sinh vật gây hại trong thủy vực Hiện nay, phần lớn các dòng sông đều bị ô nhiễm ở nhiều mức
độ khác nhau Vì vậy, thiếu nước sạch đã trở thành vấn đề môi trường quan trọng trên thế giới và đang gây căng thẳng trong vấn đề phát triển hiện nay ở hầu hết các quốc gia Chất hữu cơ khó phân hủy thường có hàm lượng nhỏ nhưng có độc tính cao (gây ung thư, độc thần kinh…) như: phenol, methyl thủy ngân, các dung môi…và chúng tồn tại trong môi trường với thời gian khá dài
2 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước do hoạt động công nghiệp trên thế giới
Nền công nghiệp thế giới tăng trưởng ở mức cao đã tạo áp lực lớn cho môi trường, trong đó môi trường nước đã và đang chịu nhiều tác động xấu Vì vậy, quản lý lưu vực sông là một vấn đề đã được thực hiện ở nhiều nước trên thế giới từ nửa cuối của thế kỷ 20 nhằm đối phó với những thách thức về sự khan hiếm nước, sự gia tăng tình trạng ô nhiễm và suy thoái các nguồn tài nguyên và môi trường của các lưu vực sông
Trên thế giới, kể từ sau Hội nghị Dublin và Hội nghị thượng đỉnh về Môi trường và phát triển của thế giới họp tại Rio de Janero (Brazin, 1992), phần lớn các nước trên thế giới đều đang ở trong tiến trình thực hiện quản lý tổng hợp tài nguyên nước Việc này được coi là điều kiện cần thiết để nâng cao hiệu quả sử dụng nước, điều phối và giải quyết tốt các mâu thuẫn trong khai thác và sử dụng tài nguyên nước giữa các vùng, các khu vực thượng hạ lưu của lưu vực sông [33] Việc sử dụng nước có mối liên quan mật thiết với sử dụng đất và ảnh hưởng đến hệ sinh thái lưu vực nên quản lý nước theo lưu vực sông sẽ giúp cho sử dụng và bảo vệ tốt hơn tài nguyên đất và môi trường của lưu vực, quản
lý và giảm nhẹ các tác động tiêu cực của các hoạt động phát triển kinh tế xã hội của con người tới tài nguyên và môi trường sống
Hiện tượng nhiễm bẩn hiện đang xảy ra nhiều nơi Hằng năm, trên thế giới có khoảng 170-200 km3 nước thải công nghiệp được đưa vào các sông suối
và hồ [26] Công nghiệp là hoạt động gây ô nhiễm rất lớn, lượng chất thải gia tăng một cách khủng khiếp trong những thập kỷ vừa qua Người ta đã ước tính được là hiện nay nhân loại đã sử dụng hơn 70000 loại hoá chất khác nhau và
Trang 13mỗi năm có hơn 1000 hoá chất mới được đưa thêm vào Riêng ở Hoa Kỳ, hơn
700 hoá chất đã phát hiện trong nước uống trong tổng số 129 chất được xem là
có độc tính cao Các dòng sông trên thế giới bị nhiễm khoảng 200-400 hoá chất độc Các nước công nghiệp hoá thuộc Bắc Mỹ và châu Âu đang phải đối phó với những vấn đề nhiễm bẩn to lớn Hơn 90% các con sông có hàm lượng nitrat rất cao trong đó có 5% các sông có hàm lượng vượt mức cho phép đến 200 lần Một nửa các hồ ở châu Âu đang bị ưu dưỡng hoá tạo ra một vấn đề nghiêm trọng cho môi trường biển ven bờ Tại các nước đang phát triển 75% chất thải công nghiệp được thải vào nước mặt không qua xử lý [19]
Trong thập niên 60 của thế kỷ trước, ô nhiễm nước lục địa và đại dương gia tăng với nhịp độ đáng lo ngại Mức độ ô nhiễm nước phản ánh trung thực tiến độ phát triển công nghiệp Ta có thể kể ra đây thí dụ tiêu biểu: Anh Quốc, vào đầu thế kỷ 19, sông Tamise rất sạch nhưng nó đã trở thành ống cống lộ thiên vào giữa thế kỷ này Các sông khác cũng có tình trạng tương tự trước khi người ta đưa ra các biện pháp bảo vệ nghiêm ngặt Nước Pháp rộng hơn, công nghiệp phân tán và nhiều sông lớn, nhưng tình trạng cũng không tốt hơn bao nhiêu Dân Paris còn uống nước sông Seine đến cuối thế kỷ 18 Các sông lớn và nước ngầm nhiều nơi không còn dùng làm nước sinh hoạt được nữa, 5 000 km sông của Pháp bị ô nhiễm thường xuyên Sông Rhin chảy qua vùng công nghệp phát triển mạnh với dân số hơn 40 triệu người đang thường xuyên bị ô nhiễm [31]
Từ năm 1977, chương trình Môi trường Liên Hợp Quốc (UNEP), tổ chức khí tượng thế giới (WMO) và tổ chức Y tế Thế giới (WHO) đã thành lập hệ thống quan trắc môi trường toàn cầu (GEMS) Ngày nay GEMS có trên 350 trạm quan trắc trên 240 sông thuôc 50 quốc gia [23]
Từ số liệu hàng trăm trạm quan trắc cho thấy trên thế giới có khoảng 10%
số dòng sông bị ô nhiễm hữu cơ rõ rệt; 50% số dòng sông trên thế giới bị ô nhiễm hữu cơ nhẹ Trong các thập kỷ gần đây, ở các nước phát triển, mức độ ô nhiễm hữu cơ trong sông có phần giảm nhờ có hệ thống xử lý Tại Thụy Điển, tổng tải lượng chất hữu cơ (BOD) từ công nghiệp đưa vào sông đã làm tiêu tốn một lượng oxy là 600000 tấn O2 vào năm 1950 và tăng đến 700000 tấn O2 vào năm
1960, nhưng chỉ còn trên 300000 tấn O2 vào năm 1980 Tuy nhiên tại nhiều quốc
Trang 14gia đang phát triển, tải lượng chất hữu cơ (BOD) đưa vào sông suối ngày càng tăng [23]
Trên thế giới có khoảng 10% số dòng sông có nồng độ nitrat rất cao (9-25 mg/L), vượt nhiều lần so với tiêu chuẩn cho phép của WHO (10 mg/L), khoảng 10% số dòng sông có nồng độ phosphat nằm trong khoảng 0.2-2.0 mg/L tức cao hơn 20-200 lần so với các sông không bị ô nhiễm Nguồn nước giàu các chất dinh dưỡng có khả năng bị ưu dưỡng hoá Hiện nay, trên thế giới có 30-40% số
hồ nước ngọt bị ưu dưỡng hoá Trên 30% trong số 800 hồ ở Tây Ban Nha và nhiều hồ Nam Phi, Úc, Mehico cũng bị ưu dưỡng hoá [23]
Theo Tân Hoa xã, hầu hết nước sông Hoàng Hà (là con sông dài thứ hai Trung Quốc) đang bị ô nhiễm nghiêm trọng và không an toàn cho việc cung cấp nước sinh hoạt và hoạt động bơi lội Gần 3/4 dòng sông cung cấp nước cho 12% của 1.3 tỷ người dân Trung Quốc và 15% tưới tiêu cho nông nghiệp đã bị nhiễm bẩn do chất thải công nghiệp, nông nghiệp và các ngành kinh tế khác Theo báo cáo của chính phủ dựa vào tiêu chuẩn chất lượng nước quốc gia về nước uống thì 72.3% nước sông Hoàng Hà đã bị tụt xuống loại 3 [44]
Ở Malaysia, nước thải từ các nhà máy dầu cọ, cao su… và các khu dân
cư đã làm 42 con sông bị ô nhiễm nghiêm trọng [9]
Các dòng sông nhận khối lượng lớn chất thải từ các nguồn trên nên ô nhiễm vi sinh diễn ra thường xuyên
Theo [23], sông Yamune trước khi chảy qua New Deihi có 7500 Fecal coliform/100ml, sau khi qua thành phố, nồng độ nồng độ Fecal coliform lên tới 24000000/100ml do ảnh hưởng của lưu lượng nước nhận từ các cống rãnh mang nước thải sinh hoạt và nước thải công nghiệp đổ vào sông (200000 m3 trong một ngày)
Vào năm 1997, tại các khu công nghiệp tập trung thuộc khu vực Mỹ La tinh, nước thải từ sinh hoạt và công nghiệp không qua xử lý đã làm cho nguồn nước mặt tại các nơi này ô nhiễm nặng Kết quả là đại dịch (dịch tả) đã xảy ra và đã làm chết
11000 người và làm thiệt hại nền kinh tế của Pêru khoảng 200 triệu USD [13]
Trong 3 tháng đầu năm 2004 tại tỉnh Shanghai và Hồng Kông của Trung Quốc đã có 1547 trường hợp bị bệnh dịch tả và 468 người chết Ngoài ra, tại
Trang 15nhiều khu vực ở phía đông Trung Quốc cũng đã bùng nổ bệnh dịch tả và nguyên nhân gây nên dịch là do nước sông bị ô nhiễm [42]
Theo tiêu chuẩn của WHO tổng vi sinh coliform trong nước uống không được quá 10tb/100ml và fecal colifom không được có trong nước uống Tuy nhiên, chỉ có dưới 10% số trạm quan trắc đạt được tiêu chuẩn này trong tổng số
350 trạm Ô nhiễm nguồn nước do vi sinh là nguyên nhân gây chết 25000 người mỗi ngày [23] Mức độ ô nhiễm do vi sinh ở các dòng sông trên thế giới được thống kê theo bảng sau:
Bảng 1: Mức độ ô nhiễm coliform tại các trạm quan trắc toàn cầu [23]
Số trạm quan trắc Tổng
Coliform/100ml Bắc Mỹ Trung và
Nam Mỹ
Châu Á Châu Âu và
châu Đại Dương
3 Hi ện trạng ô nhiễm môi trường nước do hoạt động công nghiệp ở Việt Nam
3.1 Tài nguyên nước mặt ở việt Nam
Tổng lượng dòng chảy sông ngòi trung bình hàng năm của nước ta bằng khoảng 847 km3, trong đó tổng lượng ngoài vùng chảy vào là 507 km3 (chiếm 60%) và dòng chảy nội địa là 340 km3, chiếm 40% Nếu xét chung cho cả nước, thì tài nguyên nước mặt của nước ta tương đối phong phú, chiếm khoảng 2% tổng lượng dòng chảy của các sông trên thế giới, trong khi đó diện tích đất liền nước ta chỉ chiếm khoảng 1.35% của thế giới Tuy nhiên, một đặc điểm quan
Trang 16trọng của tài nguyên nước mặt là những biến đổi lớn theo thời gian (dao động giữa các năm và phân phối không đều trong năm) và còn phân bố rất không đều theo vị trí địa lý [28]
Tổng lượng dòng chảy năm của sông Mê Kông bằng khoảng 500 km3, chiếm tới 59% tổng lượng dòng chảy năm của các sông trong cả nước, sau đó đến hệ thống sông Hồng 126.5 km3 (14.9%), hệ thống sông Đồng Nai 36.3 km3
(4.3%), sông Mã, sông Cả, sông Thu Bồn có tổng lượng dòng chảy xấp xỉ nhau, khoảng trên dưới 20
km3 (2.3-2.6%), các hệ thống sông Kỳ Cùng, sông Thái Bình và sông Ba cũng xấp xỉ nhau, khoảng 9 km3 (1%), các sông còn lại là 94.5 km3 (11.1%) Có khoảng 70-80% tổng lượng nước sông tập trung vào mùa mưa [28]
Một đặc điểm quan trọng nữa của tài nguyên nước sông nước ta là phần lớn nước sông (khoảng 60%) được hình thành trên phần lưu vực nằm ở nước ngoài, trong đó hệ thống sông Mê Kông chiếm nhiều nhất (447 km3, 88%) Nếu chỉ xét thành phần lượng nước sông được hình thành trong lãnh thổ nước ta, thì
hệ thống sông Hồng có tổng lượng dòng chảy lớn nhất (81.3 km3) chiếm 23.9%, sau đó đến hệ thống sông Mê Kông (53 km3, 15.6%), hệ thống sông Đồng Nai (32.8 km3, 9.6%) [28] Do đó, các chất nhiễm bẩn có thể được mang từ các nước khác đến, làm gia tăng hàm lượng chất nhiễm bẩn trong các sông
3.2 Sự phát triển công nghiệp trong những năm gần đây ở Việt Nam
Trong những năm gần đây, hoạt động công nghiệp đang phát triển với tốc
độ rất nhanh Nhiều ngành nghề công nghiệp trong nước và quốc tế bao gồm cả quy mô lớn, vừa và nhỏ đã và đang được hình thành Cùng với mức tăng trưởng kinh tế cao, tốc độ công nghiệp hoá của cả nước cũng đang ở mức độ chưa từng thấy với mức tăng trưởng trung bình vào các giai đoạn khác nhau như sau: giai đoạn 1976-1980: 2%; 1988: 3.9%; 1995: 4.7%; 1999: 5.2%, có nơi đạt 30-40%/năm, cá biệt tỉnh Đồng Nai có năm đạt 59%/năm [5] [6] Một số ngành có năng lực đáng kể như công nghiệp điện lực, công nghiệp khai thác (than, dầu khí ), công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng vv…
Sự phân bố cơ sở vật chất và kỷ thuật giữa các vùng công nghiệp trong nước chưa đồng bộ Các cơ sở kinh tế lớn tập trung chủ yếu ở Đồng Bằng
Trang 17Sông Hồng và vùng phụ cận, ở Đông Nam Bộ, đặc biệt là TP Hồ Chí Minh và các vùng phụ cận Đây là nguyên nhân chính gây ra hiện tượng ô nhiễm nặng ở nhiều địa phương có tốc độ tăng trưởng công nghiệp cao và nhất là tại các khu công nghiệp tập trung, vấn đề xả thải nước thải công nghiệp vượt quá khả năng
tự làm sạch của môi trường
Hình 1: Một số trung tâm công nghiệp lớn ở Việt Nam [43]
3.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước do hoạt động công nghiệp ở Việt Nam trong những năm gần đây
Từ khi áp dụng chính sách mở cửa, Việt Nam đã đạt được tiến bộ về mọi mặt Tuy nhiên, có mộ qui luật chung là tăng trưởng kinh tế nhanh thường đi kèm với các vấn đề môi trường nghiêm trọng nếu không có giải pháp hữu hiệu ngăn chặn Vì vậy, việc bảo vệ môi trường hiện nay ở nước ta đã trở thành vấn
đề cấp bách, một mối quan tâm của Đảng, cơ quan Nhà nước và của toàn dân Thực tế là cho đến nay các cớ quan chức năng vẫn chưa kiểm soát được một cách có hiệu quả việc thực hiện các biện pháp bảo vệ môi trường ở các nhà máy, các khu công nghiệp
Trang 18Nền công nghiệp ở nước ta chưa phát triển lắm nhưng thường lại là nguồn gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường do trang thiết bị được sử dụng quá cũ, công nghệ lạc hậu và ý thức chấp hành luật pháp chưa cao, các biện pháp quản lý chưa chặt chẽ Theo tính toán hằng năm hoạt động công nghiệp nước ta đã thải khoảng 290000 tấn chất thải độc hại vào môi trường chung quanh (số liệu năm 1998, [17]) Hậu quả là chất lượng của các nguồn nước ngày càng giảm sút [17] Ở nước ta, hiện nay có khoảng 70% tổng lượng nước dùng cho nhu cầu cấp nước sinh hoạt và ăn uống được lấy từ nguồn nước mặt Kết quả quan trắc chất lượng nước các con sông nằm ở các vùng công nghiệp cho thấy là không có nước của con sông nào đạt tiêu chuẩn nước mặt loại A [8] Kết quả quan trắc 4 con sông chảy qua các đô thị chính của Việt Nam cho thấy hai thông số cơ bản là amoni (NH4
+) và nhu cầu oxy sinh hoá (BOD) đều vượt quá tiêu chuẩn nước loại A [16]
Trên toàn quốc, số lượng nước thải sinh hoạt và công nghiệp không được
xữ lý và xả trực tiếp vào sông ngòi được ước tính vào khoảng từ 240 đến 300 triệu m3 một năm Theo ước tính của Ngân hàng Thế giới, số lượng này sẽ tăng lên gấp 10 lần trong vòng 15 năm tới (vào năm 2010) Việc xả nước thải không được xữ lý chất độc đã gây nên tình trạng ô nhiễm nước nghiêm trọng ở các thành phố lớn như Hà Nội, Sài Gòn, Hải Phòng, Việt Trì, và Biên Hòa Theo Báo cáo Hiện Trạng Môi trường Việt Nam 2001, "hầu hết các sông được theo dõi đều bị ô nhiễm các chất N và P, nồng độ các yếu tố này từ 4 đến gần 200 lần cao hơn tiêu chuẩn cho nước loại A (nước sinh hoạt) và từ 2 đến 20 lần cao hơn tiêu chuẩn cho nước loại B Tình trạng ô nhiễm chất hữu cơ trong sông Sài Gòn, Vàm Cỏ Đông và các kênh rạch rất nghiêm trọng, riêng sông Đồng Nai thì cực kỳ nghiêm trọng" "Sông ở các thành phố lớn có BOD cao gấp 2.5 đến 7.5 lần tiêu chuẩn nước uống của Việt Nam và của Cộng đồng Châu Âu, chứng tỏ nước có chứa nhiều chất hữu cơ, nồng độ oxy thường thấp hơn 4 mg/l [35]
3.3.1 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước do hoạt động công nghiệp phía Bắc
Tại khu vực phía Bắc, nguồn cung cấp nước chủ yếu cho vùng kinh tế Bắc Bộ là hệ thống sông Hồng và hệ thống sông Thái Bình Chất lượng nước
Trang 19sông và hồ vào những năm 1998 đã bị suy giảm do ảnh hưởng bởi các hoạt động của con người trong mọi lĩnh vực kinh tế văn hóa và đời sống Nguồn nước thải từ sinh hoạt, nông nghiệp và công nghiệp với các chất cặn lơ lửng hữu cơ, vô cơ và các thành phần khác từ các hoạt động trên hàng ngày và từ nhiều năm nay đổ vào nguồn nước làm cho một số thủy vực bị ô nhiễm Theo
số liệu thống kê của Sở Khoa học Công nghệ và Môi trường thuộc các tỉnh, thành phố trong các vùng kinh tế trọng điểm, hiện nay tổng lượng nước thải công nghiệp từ 24 khu công nghiệp chính thải vào nguồn nước mặt từ 130000-
150000 m3 mỗi ngày Trong đó 9 khu công nghiệp nội thành Hà Nội thải mỗi ngày khoảng 80000 m3 (hằng năm thải khoảng 3600 tấn chất hữu cơ, 317 tấn dầu và hàng chục tấn kim loại nặng, dung môi và các chất độc hại khác [17]) Các khu công nghiệp nội thành Hải Phòng mỗi ngày thải 18000-20000 m3
Nguồn nước thải chủ yếu là của nhà máy hoá chất, phân bón, chế biến lương thực thực phẩm, thuốc lá, dệt, sợi nhuộm với giá trị BOD, COD, tổng lượng cặn lắng, N, P cao (có thể kể giá trị BOD trong nước thải của các nhà máy trên trong khoảng 61-550 mg/L, trung bình 230 mg/L; giá trị COD trong khoảng 84-940 mg/L, trung bình 350 mg/L Hiện nay các nguồn nước mặt ao, hồ và hệ thống sông chính trong vùng (hệ thống sông Hồng, sông Đuống và hệ thống sông Thái Bình) đã có hiện tượng bị ô nhiễm chất chứa nitơ (NH3, NO2-N)vàvi sinh [12] Theo Viện Kỹ thuật Nhiệt đới & Bảo vệ môi trường, lượng NH4
+ vượt TCCP trên các sông Hồng, Cầu, và Thương từ 150-200%; giá trị BOD tại các sông trên vượt TCCP 270-380% [36]
Sông Nhuệ và sông Đáy đi qua 6 tỉnh thành gồm: Hà Nội, Hòa Bình, Hà Tây, Hà Nam, Nam Định, Ninh Bình Theo Thứ trưởng Bộ Tài nguyên-Môi trường Phạm Khôi Nguyên, nước sông Nhuệ đoạn chảy qua Hà Nội đã ô nhiễm nặng nề Nhu cầu ôxy sinh hóa (BOD), amoni (NH4+) vượt quá tiêu chuẩn cho phép Tại nhiều xã của huyện Thanh Trì - nơi sông Tô Lịch và Kim Ngưu hợp lưu đổ vào sông Nhuệ - bị ô nhiễm đến mức cực đại, vượt quá tiêu chuẩn cho phép đối với loại nước loại B hàng chục lần Hệ quả của nguồn nước ô nhiễm là người dân sống tại khu vực này thường mắc các bệnh về mắt, đường ruột, ngoài da [34] Theo kết quả điều tra về bệnh tật do nguồn nước sông Nhuệ của
Trang 20UBND tỉnh Hà Nam, có tới 21% trẻ em dưới 5 tuổi tại xã Hoàng Tây bị mắc bệnh tiêu chảy Tại 2 xã Hoàng Tây, Nhật Tân (huyện Kim Bảng), có tới 86% trẻ
em mắc bệnh giun đũa, 76% mắc bệnh giun tóc và 9% mắc bệnh giun móc Tỷ
lệ mắc các bệnh về mắt, ngoài da và phụ khoa rất cao Sông Đáy cũng bị ô nhiễm nặng dù mức độ ít nghiêm trọng hơn [34]
3.3.2 Hi ện trạng ô nhiễm môi trường nước do hoạt động công nghiệp miền Trung
Khu vực miền Trung tốc độ phát triển công nghiệp tương chậm và quy mô không lớn (trừ một số KCN và khu chế xuất đang hình thành) Tuy nhiên, tình hình ô nhiễm môi trường do hoạt động công nghiệp cũng đang trong tình trạng báo động, nhất là những trung tâm công nghiệp lớn như: Đà Nẵng, Vinh, Quy Nhơn, Khánh Hoà… Các nguồn nước thải từ khu dân cư, từ các trung tâm công nghiệp, khu chế xuất, đất nông nghiệp v.v đã xâm nhập vào nguồn nước mặt, nước ngầm, làm cho chất lượng môi trường nước tại những nơi này xuống cấp nghiêm trọng
Theo [35], sông Hiếu và sông Hương ở Bắc Trung Bộ NH4+ vượt TCCP: 150-180% và BOD vượt TCCP: 200-300% Sông Hàn tại duyên hải Nam Trung
Bộ NH4
+ vượt 140-260% và BOD vượt: 100-200% [35]
Tại TP Ðà Nẵng, là một thành phố lớn khu vực miền trung với tốc độ tăng trưởng kinh tế và công nghiệp tương đối nhanh so với các tỉnh trong khu vực, nhưng cùng với sự phát triển đó vấn đề ô nhiễm môi trường chung quanh một
số khu công nghiệp và nhiều địa bàn dân cư diễn ra ngày càng nghiêm trọng Hiện tại, Ðà Nẵng có năm khu công nghiệp bao gồm: Hòa Khánh, Liên Chiểu, Hòa Cầm, Thọ Quang và An Ðồn [29] Sau nhiều đợt kiểm tra, có sự phối hợp giữa Sở Tài nguyên và Môi trường Ðà Nẵng và Ban quản lý các Khu công nghiệp và chế xuất Ðà Nẵng, đã phát hiện khá nhiều doanh nghiệp có chất thải gây ô nhiễm nặng tại các khu vực này Ðiển hình là Công ty Wei Xern Xin (100% vốn đầu tư của Ðài Loan), Công ty thép Ðà Nẵng, Công ty TNHH chế biến cao-
su Ðà Nẵng, Công ty xi-măng Cosevco, Xưởng cơ khí và tái chế dầu cặn Hương Sơn v.v Ô nhiễm chủ yếu là do nước thải quá bẩn Nước thải công nghiệp ở đây chỉ được xử lý đơn giản, chưa đạt tiêu chuẩn quy định đã được các doanh nghiệp cho đổ về các hồ chính trong khu vực, như Bàu Tràm, Bàu
Trang 21Mạc và tràn ra cả cánh đồng canh tác lúa, hoa màu chung quanh Với khoảng
900 hộ sống dọc theo hai tuyến đường Phan Văn Ðịnh, Hoàng Văn Thái đã và đang bị ô nhiễm nặng do chất thải từ Khu công nghiệp Hòa Khánh gây ra Nước
từ các giếng khoan ở khu vực này không còn dùng được, có hiện tượng đáng lo ngại là hai năm qua, số chị em bị bệnh phụ khoa, sinh non trên địa bàn quận Liên Chiểu, trong đó có phường Hòa Khánh ngày càng nhiều [29]
Theo báo cáo của Sở KHCN&MT Khánh Hoà thì cơ sở hạ tầng công nghiệp đều ở mức trung bình kém (ngoại trừ một số cơ sở có vốn đầu tư lớn), các cơ sở sản xuất chưa thật sự quan tâm đến vấn đề xử lý chất thải sản xuất Hiện tại, Khánh Hoà có 6 cụm công nghiệp: Bình Tân, Suối Hiệp, Hòn Khô, Ninh xuân, Hòn Khói và Suồi Dầu Qua báo hiện trạng môi trường của Sở KHCN&MT Khánh Hoà năm 1999 thì môi trường nước khu vực xung quanh các cụm công nghiệp đều bị ô nhiễm do nước thải từ hoạt động công nghiệp [14] Lưu vực thuộc sông cái Nha Trang có hàm lượng các chất ô nhiễm lớn nhất, đều này phản ánh thực tế của hoạt động công nghiệp và dân sinh tập trung Các giá trị
pH, BOD, DO, hydrocacbon đều nằm trong giới hạn cho phép Những yếu tố thường gây nhiễm bẩn là: TSS, NO3-N, coliform xảy ra tại cống Diên Toàn, cầu Bình Tân, Thanh Minh, Suối Dầu Tất cả nước thải được thải ra ở các lưu vực sông Cái Nha Trang 74%, sông Quán Trường 11%, Vịnh Cam Ranh 7%, kênh Cầu Đôi 4% và một số lưu vực khác [18] Theo kết quả giám sát chất lượng môi trường nước của sở KHCN&MT Khánh Hoà (năm 2004), hầu hết các trạm giám sát qua 4 đợt, thì các yếu tố thường gây ô nhiễm bẩn là TSS, Zn, hydrocacbon
và coliform; các yếu tố BOD và NO3-N có lúc cao hơn mức cho phép ở vài trạm Trong đó tại trạm cống Diên Toàn các yếu tố giám sát đều vượt tiêu chuẩn cho phép [15] Trong những năm gần đây, trên địa bàn Khánh Hoà không ai làm ngơ trước những ảnh hưởng hết sức nghiêm trọng của nước thải công nghiệp không
xử lý làm tổn hại đến chất lượng nước các sông, hồ, nước ngầm bị nhiễm bẩn
đã ảnh hưởng đến sức khoẻ của hàng ngàn cư dân sinh sống khu vực chung quanh các khu công nghiệp Tiêu biểu là nạn ô nhiễm nước đã làm cho thủy sinh vật hàng loạt, điển hình là tại khu công nghiệp Suối Hiệp vào các năm 1997-1998-1999 do hoạt động của nhà máy Đường và nhà máy bia San miguel
Trang 22đã gây nhiều thiệt hại cho nhân dân trong khu vực [14] Hiện nay, tuy tình hình này có chuyển biến theo chiều hướng tốt nhưng nhà máy cồn và một số cơ sở khác thường đổ chất thải ra kênh Cầu Đôi vào ban đêm làm cho môi trường nước ô nhiễm nặng, cá chết hàng loạt và mùi hôi thối bay khắp nơi trong khu vực chung quanh Trong tương lai gần, khi nhiều nhà máy, xí nghiệp tiếp tục xây dựng nhưng việc xử lý nước nếu không được đặt ra một cách nghiêm túc như hiện nay, tình trạng ô nhiễm tăng lên gấp bội lần
3.3.3 Hiện trạng ô nhiễm môi trường nước do hoạt động công nghiệp phía Nam
Tại khu vực phía Nam, đây có thể nói là trung tâm kinh tế mạnh nhất của đất nước với tốc độ tăng tưởng công nghiệp cao Tuy nhiên bên cạnh đó các hoạt động phát triển kinh tế đã làm ô nhiễm các nguồn nước tự nhiên trong vùng
và đang đứng trước những nguy cơ phá hủy hệ thống môi trường tự nhiên ở đây Nguồn cung cấp nước chủ yếu cho vùng kinh tế Nam Bộ là hệ thống sông Cửu Long và hệ thống sông Đồng Nai Nhưng chất lượng nước tại các con sông này trong những năm gần đây, đã bị ô nhiễm nghiêm trọng do ảnh hưởng bởi các hoạt động công nghiệp hoá và hiện đại hoá
Nước thải chưa qua xử lý đổ ra các sông là nguồn gây ô nhiễm chính, mỗi ngày các khu công nghiệp và khu chế xuất ở các khu vực kinh tế trọng điểm phía Nam thải trên 700000 m3 [23], nước thải chứa gần 93 tấn chất thải đổ ra các sông Đồng Nai, Thị Vải và Sài Gòn [35] Khu vực TP HCM và Biên Hoà mỗi năm thải vào môi trường 795.8 tấn dầu, 4591 tấn TSS, 323.2 tấn dung môi, 103 tấn phenol, 65 tấn H2S, 80 tấn axit đã dẫn đến ô nhiễm nặng các lưu vực kênh, rạch và nhất là ở sông Thị Vải đã làm cho chất lượng nước khu vực này xuống cấp nghiêm trọng [17]
Theo [35], sông Sài Gòn ở đồng bằng Cửu Long có chỉ số BOD vượt 400% Sông Thị Vải ô nhiễm hơn, vượt 1000-1500% [36] Ô nhiễm do chất hữu cơ nghiêm trọng trong các kênh rạch ở vùng nội thành TP Hồ Chí Minh, tại các kênh Tân Hoá, Nhiêu Lộc-Thị Nghè vv… giá trị BOD thường từ 50-200 mg/L và giá trị DO chỉ từ 0.1-2.0 mg/L Nồng độ coliform tại Nhà Rồng là 8000-18000 tb/100ml, tại Bình Phước
Trang 23200-là 2000-6000 tb/100ml Nhiều kênh rạch ở TP Hồ Chí Minh, Biên Hoà, TP Vũng Tàu vv… do ô nhiễm dinh dưỡng đã tạo ra hiện tượng ưu dưỡng hoá [23]
Tại thành phố Biên Hòa mọi chất thải của thành phố đều đổ về sông Đồng Nai Nước thải của rượu bia, nước sản xuất cồn lúc màu đen, lúc màu đỏ, rồi màu nâu đều chảy ra cống, mùi hôi thối bay khắp khu vực chung quanh Các hãng xưởng sản xuất này đã liên tục gây ô nhiễm, cả chục năm nay bị phạt hành chính nhiều lần nhưng chất thải lại tiếp tục thải trực tiếp ra môi trường Một nghiên cứu cho biết, nồng độ BOD trên sông Đồng Nai tại Hóa An có thể lên đến 11.5-13.8 mg/L, vượt tiêu chuẩn quy định nguồn loại A từ 2.9-3.4 lần [39]
Hiện trạng ô nhiễm môi trường tại các khu công nghiệp và khu vực xung quanh
ở Bình Dương cũng đang trong trình trạng báo động Một ví dụ điển hình, tại khu phố Thắng Lợi có hơn 30 hộ dân sống bì bõm bên hồ nước thải rộng mênh mông Tại khu vực này là nơi tiếp nhận nhiều nguồn nước thải công nghiệp của thị xã Thủ Dầu 1, một mùi hôi lan toả ra khu vực xung quanh Vào những ngày trời mưa, nước càng dâng cao tràn cả vào nhà dân Đối với một số trẻ em sống ở đây, nhiều trẻ đã bị bệnh đường hô hấp và nhiễm những căn bệnh nấm ngoài da Ngoài ra, nước thải đã tác động trực tiếp đến nguồn nước sinh hoạt của người dân Hầu như tất cả các giếng trong khu này đều bị nhiễm bẩn [28]
Kết quả giám sát chất lượng nước mặt tại các khu vực xung quanh khu công nghiệp năm 1998 ở Cần Thơ của Sở KHCN&MT cho thấy, chất lượng nước mặt trong tại các điểm này tiếp tục suy giảm So với năm 1997, nồng độ các chất ô nhiễm có trong nước mặt đã gia tăng đáng kể, nhất là các chất ô nhiễm hữu cơ (BOD, COD cao hơn TCCP 3-5 lần) và nhóm vi sinh gây bệnh (coliform cao hơn TCCP hàng trăm lần) Chất lượng nước ở hầu hết các sông, kênh, rạch trong toàn tỉnh thuộc loại B, không đạt tiêu chuẩn nước mặt dùng cho sinh hoạt Các chỉ tiêu giám sát đều vượt TCCP (loại A), chỉ có pH và NO3-N là còn nằm trong TCCP Hầu hết các cơ sở đều thải nước vượt tiêu chuẩn hàng chục, hàng trăm thậm chí hàng nghìn lần tuỳ theo từng chỉ tiêu phân tích, do chưa có hệ thống xử lý nước thải [16]
Từ những thực tế nói trên, việc quản lý và bảo vệ môi trường nước ta hiện nay chưa đáp ứng yêu cầu của quá trình phát triển kinh tế-xã hội trong
Trang 24giai đoạn mới Nhìn chung, môi trường nước ta vẫn tiếp tục ô nhiễm và suy thoái, có nơi nghiêm trọng; sự cố môi trường ngày càng gia tăng đặc biệt là các khu công nghiệp tập trung ở hai đầu đất nước và một số khu công nghiệp
ở miền trung đã và đang tác động tiêu cực đến cuộc sống của mỗi chúng ta và nhất là những cư dân sống xung quanh các khu công nghiệp ô nhiễm Và đây chính là một thách thức đối cho sự phát triển nền kinh tế bền vững với tốc độ cao
Trang 25Chương 2 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
1 Địa điểm nghiên cứu: Khu vực nghiên cứu là thủy vực tiếp nhận nguồn nước thải từ khu công nghiệp Suối Hiệp thuộc các xã Suối Hiệp, Diên Toàn (thuộc Huyện Diên Khánh), xã Vĩnh Trung, xã Vĩnh Thái (thuộc Thành phố Nha Trang), được giới hạn bởi các kinh độ 109005 và 109009 , các vĩ độ 12013 và 12015
2 Thời gian nghiên cứu: Thời gian nghiên cứu được tiến hành từ ngày 08/08/2005 đến ngày 19/11/2005
3 Định điểm thu mẫu: Hiện nay, tất cả các nguồn thải từ khu công nghiệp Suối Hiệp và vùng phụ cận đều trực tiếp hoặc gián tiếp đổ vào kênh Cầu Đôi Đoạn Kênh trở thành nơi cung cấp nước cho một số cơ sở sản xuất (trong đó có 5 cơ
sở sản xuất giấy) và tiếp nhận nước thải từ toàn bộ khu công nghiệp Do đó các trạm thu mẫu được bố trí tại điểm trước và sau các nguồn thải Ngoài ra, mẫu chất thải được thu tại cống xả của 4 cơ sở sản xuất (nhà máy bia San miguel, nhà máy cồn, nhà máy nước giải khát Sanest, cơ sở giấy Hiệp Hưng) Sơ đồ các điểm thu mẫu được trình bày trong hình 2
4 Tần suất thu mẫu: Mẫu được thu trong 3 đợt, mỗi đợt cách nhau 15-20 ngày (riêng mẫu nước thải chỉ thu một lần)
5 Các chỉ tiêu phân tích: pH, DO, BOD, TSS, NH3,4, NO2-N, NO3-N, PO4-P, dầu
mỡ và coliform (trong đó dầu mỡ và coliform chỉ phân tích một lần)
6 Thu mẫu: Mẫu nước sông và nước thải được thu bằng xô hoặc bathomet và chứa trong lọ thủy tinh hoặc lọ nhựa PE đã được xử lý trước bằng dung dịch HNO3 PA và nước cất 2 lần và được tráng kỹ bằng nước mẫu tại chỗ trước khi đựng mẫu
7 Xữ lý và bảo quản mẫu:
Sau khi thu, mẫu được đưa về bảo quản ở nhiệt độ -4o
C và được phân tích trong thời gian sớm nhất
8 Phân tích mẫu: Mẫu nước sông và nước thải được phân tích theo các phương pháp tiêu chuẩn mô tả trong Standard Methods for Examination of Water and Wastewater (APHA,1995):
- pH được tại hiện trường bằng máy đo chuyên dùng;
Trang 26- Oxy hoà tan: Chuẩn độ theo phương pháp Winkler;
- BOD: Mẫu phân tích oxy hoà tan được thu vào 2 loạt chai Winkler, hàm lượng oxy hoà tan trong loạt 1 được phân tích ngay, loạt 2 được giữ trong tối ở nhiệt độ
20oC, sau 5 ngày hàm lượng oxy hoà tan được phân tích, hiệu số giữa hàm lượng oxy hoà tan ban đầu và hàm lượng oxy hoà tan sau 5 ngày là trị giá của BOD;
- Vật lơ lững: Phương pháp trọng lượng (dùng màng lọc 0.45 µm);
- Phosphat: Phương pháp xanh molybden;
- Nitrit và nitrat: Nitrit được phân tích bằng phương pháp trắc quan phức màu hồng của nitrit với α-napphthylamine và axit sulfanilic; nitrat được khử thành nitrit qua cột khử Cd mạ đồng và phân tích theo phương pháp trên;
- Ammonia được phân tích bằng phương pháp xanh indophenol;
- Dầu mỡ được chiết bằng tetrachloure carbon và hàm lượng được xác định bằng phương pháp trọng lượng
9 Phương pháp xử lý số liệu: Số liệu dược xử lý theo phương pháp thống kê với phần mềm Excel
10 Phương pháp đánh giá chất lượng nước: Chất lượng nước được đánh giá qua giá trị và nồng độ các tác nhân vật lý, hoá học và sinh học có trong nước
Cơ sở chính là các tiêu chuẩn chất lượng nước hiện ban hành của từng loại thủy vực tiếp nhận để so sánh và đánh giá Tiêu chuẩn được sử dụng chủ yếu
là tiêu chuẩn 1995 và 2000
Trang 27Hình 2: Khu vực khảo sát và vị trí các điểm thu mẫu
Trang 28Sơ đồ khối nghiên cứu
Nội dung
Thu mẫu nước thải Thu mẫu nước Kênh Thu thập số liệu từ
các cấp chính quyền
Điều kiện tự nhiên và
kinh tế-xã hội khu
vực nghiên cứu
pH, BOD, NH3,4, NO2-N, NO3-N, PO4-P, coliform, dầu mỡ
pH, DO, BOD, NH3,4, NO2-N, NO3-N, PO4-
Sơ bộ đánh giá ảnh hưởng của nước thải từ khu công nghiệp Suối Hiệp đến chất lượng nước thủy vực tiếp nhận và
đế xuất một số giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường
Một số nhận định và kiến nghị
Trang 29Chương 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
A KHÁI QUÁT KHU VỰC NGHIÊN CỨU
1 Điều kiện tự nhiên
Khu vực nghiên cứu nằm ở phía đông huyện Diên Khánh và phía Tây thành phố Nha Trang thuộc địa bàn 2 xã Diên Toàn và suối Hiệp, huyện Diên khánh và 2 xã Vĩnh Trung và Vĩnh Trung thành phố Nha Trang, Khánh Hoà, nên mang đầy đủ đặc điểm khí hậu, thủy văn của khu vực Khánh Hoà Tổng diện tích khu vực nghiên cứu 2780 ha, hoạt động kinh tế chủ yếu là sản xuất nông nghiệp với cây lúa nước là đối tượng chính
Là vùng nóng quanh năm, mùa khô hạn kéo dài hơn 8 tháng (từ tháng
1 đến tháng 8), chỉ có 4 tháng mùa mưa lũ (tháng 9 đến tháng 12) Nhiệt độ trung bình khoảng 240C-260C Sự chênh lệch về nhiệt độ không cao (60C-
70C)
Hàng năm có trên 250 ngày nắng, số giờ nắng trong năm khoảng 2400
h-2500 h, lượng mưa biến động từ 1200 mm-2200 mm, trung bình 1700 mm Lượng mưa trong năm phân bố không đều theo các tháng, tập trung khoảng 80% vào mùa mưa còn 20% vào mùa khô Mưa lớn trong mùa mưa lũ nhưng lũ lụt và bão ít xảy ra Do khu vực nghiên cứu nằm trong khu vực miền Trung nên
có đầy đủ gió vùng miền Trung Việt Nam tại khu vực gió phân ra hai mùa rõ rệt Gió mùa hè từ tháng 5 đến tháng 9, hướng gió thịnh hành là Tây Nam và Đông Nam Gió mùa đông hoạt động từ tháng 10 đến tháng 2 năm sau, hướng gió thịnh hành là Đông Bắc Độ ẩm trung bình trong năm tương đối lớn, trung bình 77%-83% Thấp nhất vào tháng 7 và cao nhất vào tháng 10 Các thủy vực nghiên cứu có diện tích bề mặt nhỏ, tốc độ dòng chảy trung bình và độ sâu thấp Tại khu vực nghiên cứu hầu như dòng nước luôn chảy và lưu lượng nước phụ thuộc vào sự hoạt động của trạm bơm Cầu Đôi Trong năm 2004, trạm hoạt động vào các ngày thứ 3, 5 và 7 trong tuần nhưng vào năm 2005 do lượng
Trang 30nước nguồn ít và không ổn định nên trạm bơm hoạt động thất thường; thời tiết năm nay cũng bất thường mùa mưa đến muộn hơn so với mọi năm
2 Điều kiện kinh tế - xã hội
2.1 Dân số
Theo số liệu từ UBND các xã, trong khu vực nghiên cứu có 4744 hộ với
26092 nhân khẩu Tỷ lệ nam/nữ tương đương
2.2 Văn hoá, y tế, xã hội
- Về giáo dục: Tại các xã đều có trường Tiểu học và Trung học cơ sở, hầu hết mọi người đều biết đọc và viết, nhiều gia đình cha mẹ đã ý thức được tầm quan trọng của việc giáo dục cho con em và đã cố gắng cho con ăn học đến đại học Hiện tại cả 4 xã đã hoàn thành mục tiêu phổ cập Trung học cơ sở Tại các địa phương đều có lớp xoá mù chữ
- Y tế: Tại các xã đều có trạm y tế với 1 bác sỹ, 1 y sỹ và 1 y tá Công tác tiêm phòng 6 bệnh và ngừa viêm gan B cho trẻ em đều đạt 100% chỉ tiêu
2.3 Điện, nước và vệ sinh môi trường
- Điện: Hiện nay 100% nhân dân sống tại các xã này đều sử dụng điện
- Cấp thoát nước: Nhân dân tại các xã đa phần là sử dụng nguồn nước giếng, số lượng gia đình sử dụng nước máy tương đối ít và có một số hộ gia đình còn sử dụng nước sông
- Vệ sinh môi trường nông thôn:
+ Tại các xã đều thực hiện dự án nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn với chương trình cho vay vốn để làm nhà vệ sinh và giếng nước góp phần cải thiện vệ sinh môi trường các khu dân cư Ngoài ra, một số gia đình đã sử dụng nước sạch từ nước máy
+ Hệ thống thoát nước công cộng không có, nước thải sinh hoạt và chất thải rắn thường thải trực tiếp ra môi trường