Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi chọn đề tài "Nghiên cứu thành phần loài và một số chỉ tiêu hoá sinh của Rong câu ở Nghệ An và Hà Tĩnh".. Mục tiêu của đề Qua việc điều tra khảo sát s
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tác giả xin chân thành cảm ơnPGS.TS Nguyễn Đình San, đã trực tiếp hướng dẫn tận tình trong suốt quá trìnhthực hiện đề tài Xin chân thành cảm ơn PGS.TS Võ Hành và TS Lê Thị Thuý
Hà đã đóng góp ý kiến và cung cấp thông tin trong thời gian thực hiện đề tài này Xin cảm ơn tập thể cán bộ, kỹ thuật viên PTN Sinh lý – Hóa sinh, Khoa Sinhhọc, Trường Đại học Vinh đã tạo điều kiện cho tác giả trong thời gian làm thựcnghiệm Cảm ơn TS Đàm Đức Tiến, Viện Tài nguyên và Môi trường biển đãtham gia công đoạn giám định mẫu; TS Phạm Quốc Long và tập thể phòng Hoá
- Sinh biển, Viện Hoá Học các Hợp chất Thiên nhiên - Viện Khoa học và Côngnghệ Việt Nam đã tham gia phân tích phổ GC, GC - MS
Xin ghi nhớ công ơn của Ba Mẹ, cũng như sự động viên qúy báu của NCSMai Văn Chung tại Đại học Tổng hợp VACSAVA- BALAN và bè bạn đã dànhcho tác giả
Vinh, tháng 12 năm 2009.
Tác giả
Trịnh Ngọc Tuấn
Trang 2
MỤC LỤC
Trang
1.1 Tình hình nghiên cứu Rong câu trên thế giới và ở Việt Nam 3
1.1.2 Vài nét về tình hình sản xuất Rong câu trên thế giới 51.2 Tình hình nghiên cứu Rong câu ở Việt Nam 5
1.4.5.Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng và phát triểncủa Rong câu
11
CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 142.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu 14
Trang 32.2.3 Định loại mẫu Rong 16
2.2.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu hoá sinh 16
3.2 Thành phần loài Rong câu trong vùng nghiên cứu 25
3.2.2.1 Gracilariopsis bailinae Zhang et Xia (Rong câu cước) 27
3.2.2.2 Gracilaria tenuistipitata Chang & Xia (Rong câu chỉ) 28
3.2.2.3 Gracilaria tenuistipitata var liui Zhang & Xia (Rong câu chỉ 29
3.2.2.4 Hydropuntia changii (Xia et Abbott) Wynne (Rong câu gốc) 30
3.2.2.5 Hydropuntia divergens (Xia et Abbott) Wynne (Rong câu tán) 31
3.2.2.6 Hydropuntia edulis (Gmelin.) Gurgel & Fredericq (Rong câu đá) 32
3.2.2.7 Hydropuntia fisheri (Xia et Abbott) Wynne (Rong câu thái) 33
3.2.2.8 Hydropuntia ramulosa (Chang et Xia) Wynne (Rong câu chổi) 34
3.3.5 Thành phần và hàm lượng axít béo của Rong câu 40
Trang 43.3.5.1 Gracilaria tenuistipitata - Rong câu chỉ 40
3.3.5.2 Gracilaria tenuistipitata var liui - Rong câu chỉ 42
3.3.5.3 Gracilariopsis bailinae - Rong câu cước 44
3.3.5.4 Hydropuntia ramulosa - Rong câu chổi 47
Danh mục công trình đã công bố
Trang 5
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Nhiệt độ (oC) của nước tại các điểm thu mẫu 19
Bảng 3.2 Độ trong (cm) của nước tại các điểm thu mẫu 20
Bảng 3.3 Độ sâu (cm)của nước tại các điểm thu mẫu 20
Bảng 3.4 Độ pH của nước tại các điểm thu mẫu 22
Bảng 3.5 Độ mặn (‰) của nước tại các điểm thu mẫu 24
Bảng 3.6 Hàm lượng oxy hòa tan (mgO2/l) của nước tại các điểm thu
mẫu
24
Bảng 3.7 Danh mục các loài Rong câu ven biển Nghệ An và Hà Tĩnh 25
Bảng 3.7 Đối chiếu tên khoa học theo đúng hệ thống phân loại và
danh pháp hiện nay
26
Bảng 3.8 Các chỉ tiêu hóa sinh của Rong câu 37
Bảng 3.9 Hàm lượng axít béo trong mẫu Gracilaria tenuistipitata 41
Bảng 3.10 Hàm lượng axít béo trong mẫu Gracilaria tenuistipitata var lui 45
Bảng 3.11 Hàm lượng axit béo trong mẫu Gracilariopsis bailinae 45
Bảng 3.12 Hàm lượng axit béo trong mẫu Hydropuntia ramulosa 47
MỞ ĐẦU
Việt Nam, với 3/4 diện tích là biển nằm trải dài từ Móng Cái đến tận Hà Tiênxứng đáng là "Một quốc gia biển, có công dân biển" Đây là tài sản mà thiênnhiên ban tặng cho chúng ta, môi trường trong lành với nhiều tài nguyên quýbáu Một trong số tài nguyên giá trị ấy là Rong câu
Trang 6Rong câu là những sinh vật quang hợp thuộc ngành Tảo đỏ, chúng cung cấpkhông những nguồn thực phẩm và nguyên liệu chính cho công nghiệp sản xuấtagar mà còn còn cung cấp oxi cho nước biển, làm giảm ô nhiễm môi trường,nguồn thức ăn cho một số động vật biển [31].
Ngày nay, cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật hiện đại, thì giá trị sửdụng của rong Câu cũng như các chế phẩm của nó ngày càng được xác định,phát hiện và mở rộng vào nhiều lĩnh vực kinh tế và sản xuất khác nhau như trong
y dược, công nghiệp thực phẩm, hoá mỹ phẩm, nông nghiệp
Do tính chất phân bố rộng và tầm quan trọng trong các lĩnh vực kinh tế, Rongcâu đã lôi cuốn được rất nhiều nhà nghiên cứu rong biển trên thế giới đi sâunghiên cứu như: Dawson (1949, 1954); Chang & Xia (1963, 1976); Fredericq &Hommersand (1989) Abbott & cs (1991) Ở Việt Nam chi Rong câu được nghiêncứu từ đầu thế kỷ XX Những kết quả đáng ghi nhận về điều tra phân loại, sinhthái, nguồn lợi của các tác giả: Dawson (1954), Phạm Hoàng Hộ (1969), NguyễnHữu Dinh & cs (1993), Nguyễn Văn Tiến (1991, 1993, 1994, 1999), Đàm ĐứcTiến (2000), Nguyễn Hữu Đại (2001), Lê Như Hậu (2005) Trong lĩnh vực sinhhoá: Lê Nguyên Hiếu & Phan Phước Minh (1980), Trương Văn Lung (2004) Vềlĩnh vực nuôi trồng: Đinh Ngọc Chất & Hồ Hữu Nhượng (1986), Dương Đức Tiến
& cs (1991), Nguyễn Xuân Lý & cs (1990, 1991, 1995, 1997), Đỗ Văn Khương &
cs (1997) Về lĩnh vực chế biến: Lê Đình Hùng & cs (2002) Đây là những kết quảquan trọng, có ý nghĩa đối với sự phát triển của hướng nghiên cứu sử dụng nguồnlợi rong Câu đầy triển vọng hiện nay của nước ta [8]
Các kết quả nghiên cứu nêu trên mới tập trung vào các lĩnh vực nuôi trồng,chế biến một số loài mang tính đại diện (Rong câu chỉ, Rong câu cước) Cácnghiên cứu về phân loại chưa được cập nhật, nhiều loài còn nhầm lẫn, trùng têndẫn đến khó khăn trong việc nghiên cứu, thương mại mua bán và chế biến từnguồn nguyên liệu này Các nghiên cứu chưa đi sâu vào khai thác công dụng của
Trang 7các hợp chất có trong Rong câu Đặc biệt là khu vực Nghệ An và Hà Tĩnh chưađược chú ý đến trong các cuộc điều tra khảo sát có quy mô
Xuất phát từ thực tế đó, chúng tôi chọn đề tài "Nghiên cứu thành phần loài
và một số chỉ tiêu hoá sinh của Rong câu ở Nghệ An và Hà Tĩnh".
Mục tiêu của đề
Qua việc điều tra khảo sát sự đa dạng về thành phần loài, môi trường phân
bố và các chỉ tiêu hoá sinh điển hình, nhằm đánh giá về sự phân bố thành phầnloài và chất lượng của Rong câu, ở ven bờ biển khu vực Nghệ An và Hà Tĩnh
Để đạt được mục tiêu trên, nhiệm vụ của đề tài nghiên cứu là:
- Xác định một số chỉ tiêu về môi trường nước nơi thu mẫu
- Điều tra thành phần loài Rong câu ở ven biển Nghệ An và Hà Tĩnh
- Mô tả các đặc điểm hình thái của các loài Rong câu thu được
- Phân tích một số chỉ tiêu hóa sinh của các loài Rong câu thu được
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN
1.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU RONG CÂU TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
1.1.1 Phân loại rong câu
Rong câu được Greville mô tả đầu tiên vào năm 1830 với 4 loài: Gracilaria
confervoides (L.) Greville, Gracilaria compressa (C.Ag.) Greville, Gracilaria purpurascens (Hud.) Greville, và Gracilaria erecta Greville, loài chuẩn là Gracilaria
Trang 8confervoides (L.) Greville Đến năm 1950, Papenfuss thấy rằng loài Fucus verrucosa
(Hudson.1762) là tên đầu tiên trong chi Rong câu, nên đã đề nghị lấy loài Gracilaria
verrucosa (Hudson) Papenfuss làm loài chuẩn cho chi Rong câu.
Lịch sử phân loại chi Rong câu rất phức tạp, đã trải qua một thời gian dàitách ra thành các chi khác nhau và sau đó được nhập trở lại, cho đến nay vẫn còntranh luận Năm 1842, Montagne trên cơ sở cấu tạo của túi tinh tử và tảo quả đã
tách một số loài của chi Rong câu thành chi Hydropuntia Năm 1949, Dawson
xem sợi dinh dưỡng trong túi quả bào tử như là một tính chất di truyền ở mức độchi, nên do sự vắng mặt của sợi dinh dưỡng tảo quả bào tử của một số loài, đã
tách thành một chi mới Gracilariopsis[50] Nhưng đến năm 1966, Papenfuss
không đồng ý và nhận thấy rằng sợi dinh dưỡng không luôn luôn hiện diện trong
túi quả bào tử của loài chuẩn Gracilaria verrucosa Cuối cùng đã kết luận rằng
sự hiện diện của sợi dinh dưỡng không thể sử dụng làm cơ sở cho việc tách hai
chi Gracilaria và Gracilariopsis, vì vậy đã nhập lại Điều này được nhiều tác giả
chấp nhận, cho đến năm 1989 khi Fredricq và Hommersand (1989) phục hồi lại
chi Gracilariopsis với tính chất để phân biệt với các chi khác đó là mô sản bào
không chiếm đầy khoang của túi tảo quả, không có sợi dinh dưỡng, tinh tử nằm
trên bề mặt Khác biệt của hai chi Gracilaria và Gracilariopsis đã được làm sáng
tỏ qua các phân tích trình tự gen 18s RNA [52]
Năm 1963, Chang & Xia cũng lập ra chi Polycavernosa dựa trên loài chuẩn
Polycavernosa fastigiata là một số loài tách ra từ chi Gracilaria, căn cứ trên tính chất
sợi dinh dưỡng có ở phần gốc tảo quả, túi tinh có nhiều ngăn hoặc phân nhánh và cónguồn gốc không phải từ tế bào gốc bên ngoài Mặc dù có một số nghi ngờ về cáchgiải thích, nhưng sau đó có một số tác giả bổ sung để duy trì thành một chi riêng biệt
Polycavernosa như Zhang & Xia (1984), Fredericq & Norris (1985) và Xia & Abbott
(1987) [61, 52,60] Năm 1989, Wynne đã tranh luận để chuyển tất cả loài trong
chi Polycavernosa Chang & Xia và theo ông các loài Rong câu chỉ gồm 3 chi
Trang 9Gracilaria, Gracilariopsis va Hydropuntia [59] Đến năm 1991, qua việc nghiên
cứu kỹ cơ quan sinh dục đực (túi tinh) của Abbott & cs, nhận thấy có sự hiện
diện của hai kiểu túi tinh tử hình bầu dục (kiểu Verrucosa) và hình nhiều ngăn (kiểu Polycavernosa), trong cùng một tản rong khi chúng trưởng thành Các tác giả giải thích rằng tế bào mẹ tinh tử của kiểu túi hình bầu dục (Verrucosa - type)
phát triển chiều rộng và chiều sâu, làm gián đoạn phần vỏ bên trong và thành
phần nhu mô ngoài mà hình thành nên nhiều túi ngăn (Polycavernosa- type) Điều này có thể giải thích kiểu túi Polycavernosa - type là sự thay đổi của kiểu
Verrucosa - type Vì vậy cả hai chi Polycavernosa và Hydrropuntia đều trở
thành synonym (tên đồng vật) của chi Gracilaria và các loài Rong câu chỉ gồm hai chi Gracilaria và Gracilariopsis [42] Nhưng đến năm 1992 và các năm sau
đó các nhà phân loại: Gargiulo & cs 1992; Abbott 1995; Yoshida 1998; Xia &Zhang 1999) cũng đều nhập tất cả các loại của chi Rong câu vào trong một chi
duy nhất Gracilaria.
Hiện nay, nhiều tác giả đồng ý với ý kiến tách từ chi Gracilaria thành các chi
Gracilaria Greville, Gracilariopsis Dawson và Hydropuntia Montagne Hydropuntia được phân biệt do trong cấu tạo tảo quả các sợi sinh dưỡng chỉ có ở
đáy và túi tinh tử có nhiều ngăn Chi Gracilariopsis được phân biệt do không có sợi
dinh dưỡng trong tảo quả và túi tinh tử nằm trên bề mặt thân Tất cả các loài còn lại
có túi tinh tử hình chén hay hình cầu thuộc về chi Gracilaria Sự phân chia này
được ủng hộ bởi Gurgel & Fredericq (2004) căn cứ vào phân tích trình tự nucleotittrong gen rbcL ở trong lục lạp
1.1.2 Vài nét về tình hình sản xuất Rong câu trên thế giới
Theo Critchney & Ohno (1998), sản lượng Rong câu hàng năm trên thế giớikhoảng 74870 tấn khô Chiếm 85% tổng sản lượng các loài rong đỏ có chứa agar
(Gelidium, Gelidiella, Pterocladia, Ahnfeltia) Trong đó, Chilê có sản lượng
hàng năm từ 5.300 đến 11.700 tấn rong khô của loài Gracilaria chilensis,
Trang 10Braxin: 3000 tấn khô, Nam Phi: 1000 tấn khô Các nước châu Á cũng chiếm mộtsản lượng khá lớn như Trung Quốc có sản lượng hàng năm khoảng 3000 tấn khô,Inđônêxia: 2700 tấn khô, Ấn Độ: 2200 tấn khô, Nhật Bản: 2200 tấn khô [47]
Phần lớn chúng được nuôi trồng từ các loài Gracilaria verrucosa (Ý),
Gracilaria lemaneiformis (Mêhicô, Braxin), Gracilaria chilensis (Chilê), Hydropuntia edulis (Ấn Độ), Gracilaria pacifica (Mêhicô), Gracilaria cornea
(Braxin), Gracilaria secundata và Gracilaria truncata (New Zealand),
Gracilaria changii (Malayxia), Gracilaria fisheri (Thái Lan), Gracilaria asiatica, Gracilaria tenuistipitata, Gracilaria blodgettii (Trung Quốc).
Phương pháp trồng chủ yếu bằng cách sinh sản dinh dưỡng, rãi giống trêntrầm tích đáy, buộc vào dây thừng bè nổi Năng suất cao nhất ở Chilê: (30 tấnkhô/ha/năm, bằng dây có mang bào tử), ở Ấn Độ: (20 tấn khô/ha/năm bằng bènổi), ở Ý: (10 tấn khô/ha/năm bằng dây có buộc giống dinh dưỡng), TrungQuốc: (3 tấn khô/ha/năm bằng trồng rãi trên đáy ao đìa) Tốc độ tăng trưởngcủa rong khoảng 3 - 8% [19]
1.2.Tình hình nghiên cứu Rong câu ở Việt Nam
Ở Việt Nam công tác nghiên cứu phân loại chi Rong câu còn nhiều hạn chế,
do thiếu thông tin và phương tiện nghiên cứu Việc phân loại chi Rong câu đã có
từ rất lâu, qua tài liệu của Dawydoff (1952) đề cập đến loài Gracilaria
confervoides ở Việt Nam Đến năm 1954, Dawson khi nghiên cứu rong biển ở
Nha Trang đã mô tả được 4 loài Rong Câu đó là 3 loài của chi Gracilaria
(Gracilaria verrucosa, Gracilaria crassa, Hydropuntia eucheumoides) và một loài
của chi Gracilariopsis (Gracilariopsis rhodotrica) [50] Phạm Hoàng Hộ (1969), nghiên cứu rong biển ở các tỉnh phía Nam đã mô tả 6 loài thuộc chi Gracilaria và
3 loài thuộc chi Gracilariopsis Trong lúc đó, Nguyễn Hữu Dinh (1969) trong cuốn "Rau Câu" cũng mô tả chi Gracilaria với 11 loài ở miền Bắc Năm 1993,
Nguyễn Hữu Dinh & cs công bố lại và bổ sung thêm nhưng lại chia chi rong Câu
Trang 11thành hai chi Gracilaria và Polycavernosa với 13 loài thuộc chi Gracilaria và 2 loài thuộc chi Polycavernosa Năm 1993, Nguyễn Hữu Dinh có đưa ra danh mục
13 loài Rong câu ở Việt Nam, tất cả đều sắp xếp trong chi Gracilaria Sau đó một
tài liệu quan trọng của Ohno & cs 1997 (thu thập từ năm 1993 - 1994), đã công bố
9 loài (bổ sung 3 loài mới ghi nhận cho rong biển Việt Nam)[4,5,10 ] Từ đó đếnnay chưa có công trình nghiên cứu phân loại có hệ thống, xem xét và so sánh tất
cả mẫu vật lưu trữ cũng như cập nhật tên khoa học phù hợp với sự phát triển vềphân loại của chi rong biển kinh tế này trên thế giới Các nghiên cứu về phân loạiRong câu chỉ là các nghiên cứu nhằm bổ sung cho nguồn lợi của các địa phương
về thành phần loài như Phạm Hoàng Hộ (1985), Nguyễn Văn Tiến (1991, 1994,
1997, 1999), Đàm Đức Tiến (1997, 2000, 2002), Lê Như Hậu (2000), NguyễnHữu Đại (2001, 2002) [10, 34, 31, 8, 6]
1.3 Vai trò của Rong câu
Rong câu thuộc nhóm thực vật bậc thấp sống ở biển, là hợp phần quan trọngcủa tài nguyên biển, các thảm Rong câu còn là nơi sống (habitat) và cư trú củacác loài sinh vật nhất là thời kì còn non Chúng có khả năng quang hợp, hấp thụcác muối dinh dưỡng hoà tan trong nước, các chất hữu cơ ở nền đáy thuỷ vực.Những đặc điểm mang tính ưu việt đó đang được ứng dụng vào nuôi trồng nguồnlợi này, lồng ghép với thuỷ hải sản khác và cải tạo các nguồn nước bị ô nhiễm[8] Rong câu còn được sử dụng thay thế rau xanh hoặc chế biến các món ăn bổdưỡng cung cấp đầy đủ vitamin và khoáng chất Các chế phẩm chế biến từ Rongcâu đang được ứng dụng rộng rãi vào rất nhiều lĩnh vực:
* Trong ngành thực phẩm: agar được dùng làm dung dịch ổn định, chống lắng cặn,làm trong cho các loại đồ uống, làm thạch Rong câu , bánh kẹo
* Trong lĩnh vực y - dược: agar được dùng làm môi trường nuôi cấy vi khuẩn, chỉkhâu phẫu thuật, vỏ bọc thuốc và phối liệu chế thuốc viên
Trang 12* Trong các phòng thí nghiệm: agar được dùng làm môi trường nuôi cấy vi sinh vật,nuôi cấy tế bào mô thực vật.
* Trong công nghiệp: agar dùng để hồ tơ lụa, vải sợi, kỹ nghệ in ấn, hoá mỹ phẩm
* Trong nông nghiệp: agar dùng làm môi trường chế biến phân vi sinh, môi trườngchọn giông các loài tảo đơn bào có giá trị kinh tế như platymonas, chlorella
* Rong câu có chứa nhiều chất dinh dưỡng, các nguyên tố khoáng đa lượng
và vi lượng, các kích thích tố trong đó điển hình như các vitamin, các axítamin, axít béo là các hoạt chất rất có giá trị đối với ngành hoá học và y dượchọc Hiện nay nhu cầu cung cấp nguồn các axit béo không bão hoà (PUFAs)
có họ 3 (n-3) và 6 (n-6) như DHA (docosahexaenoic acid, C22:6n-3),EPA(eicosapentaenoic acid, C20:5n-3), DPA(docosapentaenoic acid, C22:5n-3), AA (arachidonic acid, C20:4n-6) là rất lớn Tổ chức Y tế thế giới đãkhuyến cáo việc bổ sung các nhóm axit béo này vào sữa cho trẻ nhỏ, cũng nhưđưa ra mức yêu cầu tiêu thụ đối với người trưởng thành Bởi chúng có hoạttính sinh học cao, có tầm quan trọng đặc biệt đối với sự phát triển của não vàmắt của người Ngăn ngừa được các bệnh tim mạch, ung thư, đột qụy, tiểuđường, bệnh thần kinh [18] Ngày nay, khoa học đang đi sâu nghiên cứu thànhphần các axít béo có trong Rong câu Bởi vì, trong Rong câu chứa phần lớncác axít béo, có mạch từ 12 - 22 nguyên tử cacbon với họ (n-1), (n-2), (n-3), (n-6), rất quan trọng Trong quá trình chuyển hoá enzym, các axit được nohoá, phá bão hoà, kéo dài mạch và ngắt mạch để tạo ra các axit khác Điểnhình như họ (n-6), axit dihomo--linoleic được sinh ra trong quá trình chuyểnhoá từ axit linoleic tới axit arachidonic [15]
1.4 Đặc điểm sinh học của Rong câu
1.4.1 Hình thái, giải phẫu
Các loài rong trong bộ Rong câu có dạng trụ tròn, trụ dẹp, dạng roi, dạng đaihoặc phiến lá Phân nhánh theo kiểu chuyền nhau, chạc đôi đều, chạc đôi không
Trang 13đều, hoặc về một bên hay xẻ thuỳ Rong thường mọc thẳng đứng tạo thành bụi,một số loài mọc bò, phần cuối gốc có bàn bám dạng đĩa để bám vào giá thể Cấu tạo bên trong của thân Rong câu có hai phần rõ rệt là phần lõi và phần
vỏ Phần lõi gồm những tế bào nhu mô to, nhiều nhân hoặc không có nhân, tếbào nhỏ dần từ trong ra ngoài Màng tế bào và khoảng gian bào chứa agar và cácpolymer khác của glucose
Phần vỏ là những tế bào nhỏ hình cầu hay hình trứng, xếp chặt chẽ có mộthay nhiều nhân, chứa sắc tố Sắc tố hình đai hoặc dạng đĩa; thành phần sắc tố chủyếu là phycoerythrin, phycocyanin, chlorophyll, caroten làm cho rong có màu
đỏ tía, hồng hoặc tím [5, 10]
1.4.2 Sinh trưởng
Rong câu thuộc loại sinh trưởng ở đỉnh, tận cùng phần ngọn của thân hoặc nhánh
có một tế bào hình trứng làm nhiệm vụ sinh trưởng Sự sinh trưởng chiều dài đượcbắt đầu từ một tế bào đỉnh tự cắt làm hai theo chiều ngang Tế bào trên vẫn là tế bàosinh trưởng, tế bào dưới là tế bào đốt Sau nhiều lần tiếp tục tự phân cắt theo chiềudọc từ tế bào đốt đã hình thành nhiều tế bào mới Các tế bào này dần dần phân hoá
về chức năng, hình dạng thành các tế bào vỏ ngoài, vỏ trong, nhu mô ngoài và nhu
mô lõi, tạo ra một đoạn rong mới
Sự phân nhánh bắt đầu từ một tế bào vỏ ngoài thu hút các chất dinh dưỡng từcác tế bào xung quanh, dần dần lớn hơn các tế bào khác và lồi lên khỏi bề mặtthân rong Sau đó tế này tự cắt làm 2 theo chiều ngang, tế bào trên thành tế bàosinh trưởng, tế bào dưới thành tế bào đốt Quá trình tiếp theo xảy ra hoàn toànnhư sinh trưởng ở đỉnh Do sinh trưởng ở đỉnh đóng vai trò quan trọng như vậy,cho nên khi phần đỉnh bị mất, khả năng phân nhánh sẽ tăng lên Còn sự tăng lêncủa đường kính thân và nhánh phụ thuộc vào khả năng tích luỹ vật chất, chỉ cóthể nhận biết ở các lứa tuổi
Trang 14Rong câu không chỉ là loài rong sống một năm tuổi (dạng sống ở bãi triều tựnhiên) mà còn là loài nhiều năm tuổi (dạng sống trong đầm muối nước lợ) do phầngốc còn lưu lại trong đáy khá lâu và có thể nảy mầm sinh ra thế hệ kế tiếp.
Trong chu kỳ sinh trưởng chỉ biểu hiện rõ những thời kỳ sau:
* Thời kỳ hình thành cây mầm
* Thơi kỳ sinh trưởng từ cây mầm đến cây thành thục
* Thời kỳ sinh sản đến tàn lụi
Mặc dù thời gian sống của Rong câu dài như vậy, nhưng thời gian sinhtrưởng có quyết định về độ lớn cá thể và tốc độ sinh khối của quần thể lại tươngđối ngắn (khoảng 4 tháng)
Do phân bố ở các vùng khác nhau mà Rong câu có hai dạng sống:
- Dạng sống bám: Tốc độ sinh trưởng lớn thường sau 4 tháng từ cây mầm,
đã trở thành cây thành thục Nhưng tốc độ sinh trưởng không đồng đều ở cáctháng tuổi, 1- 2 tháng đầu sinh trưởng mạnh nhất và giảm dần ở 3 - 4 tháng sau
- Dạng sống tự do: Tốc độ sinh trưởng thấp hơn Tăng khối lượng do giatăng số lượng nhánh Ở 1- 2 tháng tuổi sinh trưởng chiều dài mạnh nhất
Ở 2 - 3 tháng tuổi phân nhánh tăng nhiều nên khối lượng vẫn tăng nhanh, mặc dùchiều dài thân dần dần tăng chậm lại và ngừng ở 4 tháng tuổi [8]
1.4.3 Sinh sản
Phương thức sinh sản của Rong câu rất phong phú bao gồm sinh sản dinhdưỡng, sinh sản vô tính và hữu tính
- Sinh sản dinh dưỡng: Rong câu có khả năng sinh trưởng ở đỉnh và hình
thành các nhánh bên từ tế bào vỏ và hấp thụ dinh dưỡng qua tế bào vỏ Vì thếRong có thể phát triển thành một cây hoàn chỉnh từ một đoạn thân hoặc từ một
Trang 15nhánh Đặc điểm này được sử dụng rộng rãi trong nuôi trồng Rong câu hiện nay.
Đó là phương pháp trồng Rong câu có hiệu quả kinh tế cao
- Sinh sản vô tính: Sinh sản vô tính của Rong câu bằng hình thành bào tử.
Quá trình bắt đầu bằng cây tứ bào tử thực vật (tetrasporophyte) mang túi bào tử(tetrasporangium) ở giữa tản Trong túi bào tử, tế bào mẹ của tứ bào tử xảy raquá trình giảm nhiễm cho ra bốn bào tử đơn bội, sắp xếp dạng hình chữ thậphoặc ba mặt hình chuỳ nằm trong vỏ của tế bào mẹ Mỗi tế bào ấy được gọi là tứbào tử (tetraspore), khi bào tử chín, túi tự vỡ ra bào tử được đẩy ra ngoài trôi lơlững trong nước một thời gian ngắn rôi bám vào vật bám phát sinh thành câygiao tử Thông thường trong bốn bào tử của mỗi túi có hai bào tử phát sinh thànhhai cây giao tử đực và hai bào tử phát sinh thành hai cây giao tử cái
- Sinh sản hữu tính: Rong câu sinh sản theo kiểu noãn phối (oogamy), cây
giao tử đực và cái khác gốc (dioecious)
Cây giao tử đực trưởng thành, một số tế bào vỏ phân hoá thành các tế bào
mẹ Tế bào mẹ thường phân cắt một đến nhiều lần hành nhiều tế bào con, mỗi tếbào con lại phân cắt làm hai theo mặt cắt ngang hình thành một túi tinh tử ở trên,trong mỗi túi lại chứa một tinh tử, tinh tử thuộc loại bất động
Ở cây giao tử cái, ở phần gần đỉnh nhánh, một số tế bào vỏ trong phân hoáthành thể quả bào (carpogone) Nhánh quả bào bao gồm hai tế bào, tế bào trêncủa nhánh hình thành quả bào (carpogonium), phần dưới phình ra chứa noãn cầu(oosphere) và phần trên kéo dài ra đến bề mặt của thân gọi là ống noãn(trichogene) và tế bào cuống (hypogynous cell) Tinh tử và noãn cầu thụ tinhthành hợp tử (zygote), sau đó hợp tử hoà với nội chất của các tế bào dinh dưỡngbao xung quanh thành một tế bào hoà lớn [8]
Sự hình thành quả bào tử: Tế bào hoà phân cắt theo kiểu phóng xạ hìnhthành các nhánh sản bào, nhánh sản bào cắt ngang ở phần đỉnh hình thành quảbào tử Như vậy số lượng tế bào ở chỗ thụ tinh đã tăng lên gấp bội và lồi lên khỏi
Trang 16bề mặt cơ thể cây giao tử cái (gọi là tảo quả) Những sợi sản bào và quả bào tửgọi là quả bào tử thực vật ở thể lưỡng bội, ký sinh trên cây giao tử cái Quả bào
tử trưởng thành sẽ phóng thích qua lỗ mở ở đỉnh túi Quả bào tử không có tiênmao, trôi lơ lững trong nước một thời gian ngắn rồi bám vào vật bám phát sinhthành cây tứ bào tử thực vật lưỡng bội
Như vậy chu trình này có ba giai đoạn: Giai đoạn đơn bội là "cây" giao tửthực vật; giai đoạn lưỡng bội gồm quả bào tử thực vật sống ký sinh trên cây giao
tử thực vật cái và tứ bào tử thực vật sống tự do [8]
1.4.4 Sinh lý, sinh thái
Bốn loài Rong câu: Rong câu chỉ vàng (Gracilaria asiatica), Rong câu sợi mảnh (Gracilaria tenuistipitata), Rong câu thắt (Gracilaria blodgettii) và Rong câu cước (Gracilaria heteroclada) rất phổ biến và là nguyên liệu chính để sản
xuất agar ở Việt Nam [36] Đây là những loài sống bám hoặc chỉ vùi một phần
cơ thể hoặc phủ trên đáy các ao đầm nước lợ tự nhiên hoặc nhân tạo, một số cácđặc điểm sinh lý sinh thái đã được tập trung nghiên cứu như sau [10]
1.4.5 Ảnh hưởng của các yếu tố môi trường đến sinh trưởng và phát triển của Rong câu
* Ánh sáng và quang hợp
Các tác giả đã cho thấy giới hạn bão hoà ánh sáng của Rong câu chỉ càng là8.000 - 10.000 lux, thích hợp nhất là 5.000 - 6.000 lux Rong câu cước có nhucầu ánh sáng từ 10 - 12.000 lux, trung bình 10.000 lux Như vậy, nhu cầu ánhsáng đối với quang hợp của Rong câu chỉ vàng thấp hơn nhu cầu ánh sáng củaRong câu cước [9, 20] Theo Võ Thị Mai Hương (2003), cho thấy nhu cầu ánhsáng cho quang hợp tăng lên khi độ mặn và nhiệt độ tăng, đồng thời quá trìnhtổng hợp carbohydrat cũng tăng lên và thành phần sắc tố khác nhau theo nhữngbiến đổi ánh sáng theo các độ sâu khác nhau, ở các độ sâu 20 - 30 cm thì hàmlượng chlorophyll a cao, còn ở độ sâu 80 - 90 cm thì hàm lượng các sắc tố
Trang 17phycoerythrin cao hơn, để thích nghi hấp thụ những ánh sáng có bước sóng ngắn.Một vài tác giả đã đề nghị phân bố độ sâu 20 - 60 cm trong mùa mưa và 60 - 90
cm trong mùa hè cho cả hai loài Rong câu chỉ vàng và Rong câu cước [13]
* Yếu tố nhiệt độ
Nhiệt độ là một trong những yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến cường độ quanghợp và hô hấp của Rong câu Nhiệt độ thích hợp nhất 25 - 300C, Rong câu cócường độ quang hợp cao và cho hàm lương, sức đông agar cao và đường tổng sốcao, nhưng khi nhiệt độ tăng lên thì hàm lượng sulfat tăng theo, ở nhiệt độ >
340C sẽ làm cho Rong câu cước bị đứt gãy tàn lụi và chết, điều này cũng xảy ratương tự ở Rong câu chỉ Trong giới hạn nhiệt độ cao > 250C tốc độ sinh trưởng
và cường độ quang hợp của Rong câu là không tỉ lệ thuận [9] Bởi vậy, theo cáctác giả vào mùa hè mực nước trong ao nuôi phải được giữ ở mức thích hợp đểnhiệt độ không tăng nhanh và rong sinh trưởng được an toàn trong mùa hè [24]
* Yếu tố độ mặn
Những kết quả thí nghiệm nuôi trồng ở Việt Nam cho thấy, Rong câu chỉvàng tồn tại và phát triển được ở 5 - 32‰, thích hợp nhất lầ 10 - 25‰ Rong câuthắt tồn tại và phát triển được ở 10 - 30‰ thích hợp nhất là 25 - 30‰ [20] vàcho Rong câu cước tồn tại và phát triển được ở 20 - 35‰, thích hợp nhất là 20 -30‰ Như vậy, Rong câu chỉ có biên độ mặn lớn nhất nhưng độ mặn thích hợpcho sự phát triển 10 - 20‰ lại thấp hơn hai loài Rong câu cước và Rong câu thắt(25 - 30‰) [20, 24]
* Yếu tố pH
pH môi trường nước có ảnh hưởng đáng kể đến sinh trưởng của Rong câu,các tác giả đề nghị điều chỉnh pH cao bằng cách bổ sung cacbon dưới các dạngNaHCO3, CH3COONa, Na2CO3, CO2 vào môi trường, trong đó dạng CO2 có ýnghĩa hơn cả do có tác dụng làm cho tốc độ sinh trưởng của Rong câu chỉ có tácdụng lớn nhất (8,3%) và hàm lượng agar cao nhất (28,34%) [20]
Trang 18CHƯƠNG 2 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng, địa điểm và thời gian nghiên cứu
2.1.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng ngiên cứu của đề tài là các loài Rong câu thuộc họ Rong câuGracilariaceae Naegeli 1847, bộ Rong câu Gracilariales Fredericq etHommersand (1989), ngành rong Đỏ Rhodophyta
Trang 192.1.2 Địa điểm nghiên cứu (xem bản đồ)
- Mẫu rong, mẫu nước và các thông số về môi trường được thu tại cửa LạchQuèn, đồng muối xã An Hoà huyện Quỳnh Lưu (Nghệ An) và đầm Đồng Luồng
xã Xuân Hội huyện Nghi Xuân (Hà Tĩnh), ở những địa điểm có Rong câu phân
2.1.3 Thời gian thu và xử lý mẫu
- Từ tháng 9/2008 đến tháng 8/2009 thu mẫu và làm thực nghiệm
- Từ tháng 9/2009 đến tháng 12/2009 xử lý số liệu và viết luận văn
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu mẫu
- Thu mẫu rong theo quy phạm điều tra tổng hợp biển QPVN, phần rong biển [41]
- Dùng batomet thu mẫu nước rồi cố định tại chỗ trong bình nút mài 125ml [27]
2.2.2 Xử lý mẫu và bảo quản mẫu
- Đối với mẫu định loại được xử lý như sau: Chọn các mẫu rong đã trưởngthành, có đầy đủ cơ quan dinh dưỡng và sinh sản Mẫu rong tươi được chụp ảnhlàm tư liệu, ngâm trong dung dịch foocmol 5% dùng polyetylen màu đen che kín
và lưu giữ trong bóng tối Mẫu khô (tiêu bản) được đặt trên giấy Croki sau đó éptrong giấy thấm [10]
Trang 20
Hình 2.1 Bản đồ vị trí khu vực nghiên cứu
- Đối với mẫu rong phân tích các chỉ tiêu hoá sinh: Được sấy khô (bằng tủ sấy
- Model Memmert - CHLB Đức) Đặt chế độ nhiệt 80oC trong 10 phút sau đó hạnhiệt độ xuống 400C [19]
2.2.3 Định loại mẫu rong
- Nghiên cứu hình thái ngoài: Quan sát mô tả các đặc điểm hình thái ngoài nhưhình dạng, kích thước, mầu sắc thân, cách phân nhánh, hình dạng gốc nhánh,khoảng cách các nhánh
Đồng muối An Hoà
Đầm Đồng Luồng
Trang 21- Nghiên cứu cấu tạo hiển vi: Mẫu rong trong dung dịch foocmol 5%, được rửasạch sau đó cắt tiêu bản mỏng bằng dao lam, rồi ngâm trương nước và nhuộmbằng xanh metylen Mẫu tiêu bản được quan sát dưới kính hiển vi với độ phóngđại từ 100 - 1000 lần Mô tả lại và quy chiếu với tài liệu.
- Định loại dựa vào khóa định loại của các tác giả sau:
+ Nguyễn Hữu Dinh & cs (1993) [5], Phạm Hoàng Hộ (1969) [10]
+ So sánh với bộ mẫu tại phòng mẫu Viện Tài Nguyên & Môi Trường Biển
Ngoài ra còn tham khảo tài liệu của Nguyễn Tiến Bân (1997) [1], Lê Như Hậu (2005) [8]
2.2.4 Phân tích mẫu nước
- Nhiệt độ, độ trong, độ sâu, độ mặn và pH bằng các thiết bị chuyên dụng [27]
- Oxy hoà tan (DO) theo phương pháp của Winkler [27]
2.2.5 Phương pháp xác định các chỉ tiêu hoá sinh
- Xác định hàm lượng chất khô bằng phương pháp trọng lượng [39]: Cân 100gRong câu tươi sấy khô ở 105 oC (bằng tủ sấy - Model Memmert - CHLB Đức),sau đó cân lại và tính theo công thức:
Trọng lương rong khô
Hàm lượng chất khô (%) = ×100
Trọng lương rong tươi
- Xác định hàm lượng tro tổng số bằng phương pháp tro hoá [39]: Cân 5gRong câu khô đựng vào chén nung, dùng lò nung (Lenton the mal Deisigns -England) nung ở 5500C, sau thời gian để nguội rồi lấy ra cân và tính theo côngthức sau
Trọng lượng tro
Hàm lượng tro (%) = ×100
Trọng lượng rong đem tro hóa
- Xác định hàm lượng đường khử theo phương pháp Bectrand.[3]
- Xác định hàm lượng agar thô chế theo phương pháp W Brucker [19]
Trang 22+ Rong câu khô ngâm trong nước 30 phút, sau đó vớt ra để ráo nước.
+ Xử lý kiềm: Nguyên liệu được xử lý trong môi trường NaOH 3% Cho vàonồi áp suất ở điều kiện (T = 100oC, t = 30 phút) nhằm loại bỏ các tạp chất Sau
đó rửa bằng nước máy 5 lần rồi để ráo nước 10 phút
+ Xử lý axít: Nguyên liệu được trung hoà bằng axít citric 0,3% trong thờigian 20 phút nhằm phá vỡ màng bên ngoài của Rong câu Sau đó rửa bằng nướcngọt 5 lần rồi để ráo nước 10 phút
+ Cho vào nồi hấp ở điều kiện (P = 1atm, T =1250C, t = 60 phút) Lấy ra lọc épnhanh ở 700C, dịch lọc agar cho vào khuôn và để đông tự nhiên, sau đó cho vào tủlạnh làm đóng băng (thời gian đợi 24giờ) Lấy agar đóng băng ra làm ráo nước trêngiấy thấm, sau đó sấy khô ở 600C cho đến khi trọng lượng khô không đổi
- Xác định hàm lượng và thành phần các axít béo bằng phân tích phổ GC, GC - MS + Xác định thành phần và hàm lượng axít béo: Dưới dạng metyl este trên máy sắc kíkhí GC - 9A (Shimadzu, Japan) theo phương pháp tiêu chuẩn ISO/FDIS 695:1998 [37] Lấy 10 mg dầu béo hoà tan với 1ml ete dầu hoả trong lọ nhỏ nút kín, bổ sung
25 l dung dịch CH3ONa trong MeOH ( 2mol/l ) và lắc kỹ trong 1 phút Thêmvào 20mg Na2SO4 loại sạch, lắc kỹ và đem ly tâm ở chế độ 5000vòng/phút Dịchtrong, sạch ở pha trên được tách riêng và đem phân tích trên máy sắc ký khí GC Nhận dạng các axít béo trên máy Shimadzu Chromatopac C-R3A theo giá trị
ECL (Equivalent Chain Lengths of methyl ester derivaties of fatty acids on Gas
Chromatography) có so sánh với hệ chất chuẩn C16:0, C18:0.
+ Xác định cấu trúc của các axít béo: Được phân tích dưới dạng metyl este trênmáy sắc ký khí khối phổ GC- MS (LKB, Swiss) theo phương pháp tiêu chuẩnISO/FDIS 5590:1998 [38]
Lấy 5mg metyl axít béo hoà tan với 1ml pirolidit đã làm khan và bổ sung vào0,1ml axít axetic (đã được cất lại), hỗn hợp được giữ trong ồng nghiệm ở (T =
1000C, t =30 phút).Hợp chấtpirolidit của các axít béo được chiết bởi 1ml clorofom
Trang 23và đem rửa với HCl 0,1N, dịch chiết được làm khan bằng Na2SO4, sau khi cất chânkhông tiến hành hoà tan với n-hexan rồi đem phân tích trên máy sắc ký GC-MS.
Tất cả 4 mẫu rong Câu được tiến hành nghiên cứu theo một sơ đồ thống nhất như sau:
Hình 2.2 Sơ đồ nghiên cứu chỉ tiêu axít béo
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Một số chỉ tiêu thuỷ lý, thuỷ hoá
3.1.1 Nhiệt độ
Bảng 3.1 Nhiệt độ (oC) của nước tại các điểm thu mẫu
bình
Độ lệchchuẩn
- Hàm lượng % khối lượng
Trang 2431.625.4
32.7
25.822.9
05101520253035
nhiệt độ
Lạch Quèn An Hoà Đồng Luồng
Địa điểm
Đợt 1Đợt 2Đợt 3
Hình 1 Nhiệt độ nước tại các điểm thu mẫu
Số liệu ở bảng 3.1 nhiệt độ nước ở các điểm thu mẫu trong các đợt chênhlệch nhau không đáng kể chỉ dao động từ (0,3 - 2,50 C) Tại khu vực Lạch Quènluôn có nhiệt độ thấp hơn cả, theo nhận định là do vị trí địa lý nằm lệch về phíađông bắc hơn so với đầm Đồng Luồng, hơn nữa còn chịu ảnh hưởng của gió tạo
ra sóng lớn làm cho các khối nước luôn bị xáo trộn theo chiều từ trong bờ rangoài khơi và từ trên xuống dưới Tại đồng Muối An Hòa và đầm Đồng Luồnglại có nhiệt độ cao hơn, do hai khu vực này là vùng nước tĩnh, được che chắn bởi
bờ và mực nước nông hơn, nên luôn có nhiệt độ cao hơn Nhìn chung cả 3 địađiểm trên đều chịu ảnh hưởng của khí hậu miền trung nên nhiệt độ luôn cao hơn
so với khu vực phía bắc, nên ảnh hưởng đến nhiệt độ nước nhất là khối nước ởtầng mặt Đợt 1 chúng tôi thu mẫu vào cuối tháng 9/2008 nhưng nhiệt độ vẫn
Trang 2554 5050.556
62.567.577.5
010203040506070
80
Độ trong (cm)
Lạch Quèn An Hoà Đồng Luồng Địa điểm
Đợt 1Đợt 2Đợt 3
còn cao, tại đầm Đồng Luồng đo được lên đến 32,70C Đợt thu mẫu hai và ba vàotháng 11/2008 và tháng 3/2009 là vào mùa đông, nhưng nhiệt độ chỉ xuống đến22,30C tại Lạch Quèn So sánh với kết quả của Võ Thị Mai Hương [13], thì biên độnhiệt này rất phù hợp cho sinh trưởng, phát triển và sinh sản của Rong câu
3.1.2 Độ trong và độ sâu
Bảng 3.2 Độ trong (cm) của nước tại các điểm thu mẫu
bình
Độ lệchchuẩn
Bảng 3.3 Độ sâu (cm) của nước tại các điểm thu mẫu
bình
Độ lệchchuẩn
Trang 267.66 7.28 7.46
7.867.92 8.17
6.8 7 7.2 7.4 7.6 7.8 8
8.2
pH
Địa điểm
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3
Hình 2 Độ trong tại các điểm thu mẫu
Độ trong và độ sâu ảnh hưởng đến quang hợp của Rong câu, nên nó chi phối
sự phân bố của chúng Ở khu vực Lạch Quèn mực nước sâu hơn tất cả nhưng độtrong lại thấp hơn, chúng tôi nhận định do sóng ở khu vực này rất lớn, làm chonước bị xáo trộn mang theo cả vẩn đục nên độ trong chỉ đạt 43,5- 54,0 cm Trongkhi đó độ sâu tại đồng muối An Hòa và đầm Đồng Luồng chỉ từ 52,5- 96,0 cm,nhưng độ trong lại đạt 50,0- 77,5 cm Do ở hai khu vực này chế độ nước tĩnh,nên sinh lượng của Rong câu rất lớn, chúng đã hấp thụ một lượng lớn các vẫntạp trong nước làm cho nước trong hơn Điều này lý giải tại sao trong các ao đầmnuôi thủy hải sản, người ta luôn lồng ghép trồng Rong câu để cải tạo môi trườngnước Đây là một ứng dụng lớn có tính thực tiễn cao đã nói lên được vai trò quantrọng của Rong câu trong các loại hình thủy vực
3.1.3 pH nước
Bảng 3.4 Độ pH của nước tại các điểm thu mẫu
bình
Độ lệchchuẩn
Trang 27Hình 3 pH tại các điểm thu mẫu
Cả 3 đợt thu mẫu cho thấy độ pH ở 3 địa điểm trên dao động từ 7,52- 8,17.Đây là khoảng pH tối thích, cho sự sinh trưởng và phát triển của Rong câu và nónằm trong mức giới hạn A (pH = 6- 8,5), theo tiêu chuẩn chất lượng nước bề mặtViệt Nam Khi so sánh với kết quả của Võ Thị Mai Hương [13] thì độ pH daođộng từ 7,3- 8,4 Chỉ tiêu này tại đầm Đồng Luồng cao hơn so với hai địa điểmcòn lại là do, đây là khu vực nuôi trồng thủy hải sản quảng canh, nên luôn đượcquản trị về môi trường điều chỉnh khống chế độ pH phù hợp cho sự sinh trưởng,phát triển của tôm và cua
3.1.4 Độ mặn
Bảng 3.5 Độ mặn (‰) của nước tại các điểm thu mẫu
bình
Độ lệchchuẩn
Trang 2831.4 30.6
32.2 32.832.5
28.8 31.431.7
26 27 28 29 30 31 32 33
Đợt 1 Đợt 2 Đợt 3
Hình 4 Độ mặn tại các điểm thu mẫu
Độ mặn là chỉ tiêu đặc trưng cho môi trường sống của Rong câu, ở các địađiểm nghiên cứu độ mặn từ 28,8-32,8‰, sự dao động này là không đáng kể Đặcbiệt tại đồng muối An Hòa chỉ xê dịch từ 0,3- 0,6 ‰ và luôn cao hơn so với haiđịa điểm còn lại Theo nhận định đây là khu vực đồng muối hoang hóa của diêmdân, nên độ mặn tương đối cao Tại đầm Đồng Luồng lại có sự dao động đáng kểgiữa đợt 1 và đợt 3 là 2,9 ‰, do có sự điều chỉnh tạo điều kiện thuận lợi ở thời kìlột xác cho tôm và cua So sánh với kết quả của Trương Văn Lung [19] thì cả 3địa điểm nghiên cứu, có độ mặn rất thích hợp cho việc nuôi trồng Rong câu
3.1.5 Hàm lượng oxy hòa tan
Bảng 3.6 Hàm lượng oxy hòa tan (mgO2/l) của nước tại các điểm thu mẫu
bình
Độ lệchchuẩn
Độ mặn ( ‰)
Trang 29Bảng 3.7 Danh mục các loài Rong câu ven biển Nghệ An và Hà Tĩnh
Lớp Florideophyceae Lamx 1813
Bộ Gracilariales Fredriq & Hommersand 1989
Họ Gracilariaceae Naegeli, 1847
Chi Gracilaria
1 Gracilaria arcuata Zanardini An Hòa, Đồng Luồng
2 Gracilaria asiatica Chang et Xia An Hòa, Đồng Luồng
3 Gracilaria bangmeiana Zhang & Abbott An Hòa, Lạch Quèn
Trang 304 Gracilaria bursa-pastoris (Gmelin.) Silva An Hòa, Đồng Luồng
5 Gracilaria changii Ohno & cs An Hòa, Lạch Quèn
6 Gracilaria chorda Holmes An Hòa, Đồng Luồng
7 Gracilaria coronopifolia J Agardh Lạch Quèn
8 Gracilaria fisheri (Xia et Abbott) Abbott, Zhang et Xia An Hòa
9 Gracilaria gigas Harvey An Hòa, Đồng Luồng
10 Gracilaria hainanensis Chang et Xia An Hòa, Đồng Luồng
11 Gracilaria heteroclada Zhang et Xia An Hòa, Đồng Luồng,
Lạch Quèn
12 Gracilaria tenuistipitata Zhang et Xia An Hòa, Đồng Luồng
13 Gracilaria verrucosa (Huds.) Papenf. An Hòa, Đồng Luồng
14 Gracilariopsis nganii Phamhoang An Hòa, Lạch Quèn
16 Hydropuntia changii (Xia et Abbott) Abbott, Zhang et
17 Polycavernosa divergens Xia et Abbott Lạch Quèn
18 Polycavernosa fastigiata Zhang et Xia An Hòa
19 Polycavernosa fisheri Xia et Abbott An Hòa
20 Polycavernosa ramulosa Chang et Xia Lạch Quèn
Số loài Rong câu phát hiện được ở vùng ven biển Nghệ An và Hà Tĩnh là 20loài, thuộc 4 chi, 1 họ, 1 bộ [5, 10]
Theo Lê Như Hậu [8], 20 loài phát hiện được ở trên chúng chỉ là 7 loài, 1 thứ thuộc 3chi, 1 họ, 1 bộ Cụ thể được trình bày tại bảng 3.2 và mô tả cụ thể dưới đây
Bảng 3.8 Đối chiếu tên khoa học theo đúng hệ thống phân loại và danh pháp hiện nay
TT Loài theo Phạm Hoàng Hộ [10];
Nguyễn Hữu Dinh & cs [5].
(Phân loại trên tiêu chí hình thái, giải phẫu)
Loài theo Lê Như Hậu [8].
(Phân loại trên tiêu chí phân tích DNA)
1 Gracilaria heteroclada Zhang et Xia Gracilariopsis bailinae Zhang et Xia
2 Gracilaria asiatica Chang et Xia
Gracilaria tenuistipitata Zhang & Abbott
3 Gracilaria bursa-pastoris (Gmelin.) Silva
4 Gracilaria chorda Holmes
Trang 315 Gracilaria hainanensis Chang et Xia
6 Gracilaria gigas Harvey
7 Gracilaria verrucosa (Huds.) Papenf.
8 Gracilaria tenuistipitata Zhang et Xia Gracilaria tenuistipitata var liui
Zhang et Xia
9 Gracilaria arcuata Zanardini
Hydropuntia edulis (Gmelin.) Gurgel & Fredericq
10 Gracilaria coronopifolia J Agardh
11 Gracilariopsis sp Dawson
12 Gracilariopsis nganii Phamhoang
13 Polycavernosa fastigiata Zhang et Xia
14 Gracilaria fisheri (Xia et Abbott) Abbott,
(Xia et Abbott) Wynne
15 Polycavernosa fisheri Xia et Abbott
16 Gracilaria bangmeiana Zhang & Abbott
Hydropuntia ramulosa
(Chang et Xia) Wynne
17 Polycavernosa ramulosa Chang et Xia
18 Gracilaria changii Ohno & cs Hydropuntia changii
(Xia et Abbott) Wynne
19 Hydropuntia changii (Xia et Abbott)
20 Polycavernosa divergens Xia et Abbott Hydropuntia divergens
(Xia et Abbott)Wynne
3.2.2 Mô tả loài
Các mẫu Rong câu chúng tôi thu được qua các đợt thu mẫu, được mô tả lần
lượt từ hình thái ngoài, các đặc điểm sinh học, sự phân bố, hình ảnh và thảo luận
3.2.2.1 Gracilariopsis bailinae Zhang et Xia (Rong câu cước)
Rong mọc thành bụi, cao 10- 40 (60) cm, phần gốc có đĩa bám nhỏ Thânrong hình trụ, đường kính 1- 3 mm, phân nhánh kiểu chuyền nhau, các nhánhchót có dạng móc câu Rong dòn dễ gãy khi còn tươi và dính chắc vào giấy khi
ép khô, ở lát cắt ngang thân sự thay đổi kích thước từ vỏ vào nhu mô lõi là đột
Trang 32ngột Tứ bào tử hình trứng, túi tinh tử nằm khắp bề mặt thân, tảo quả hình báncầu, không thắt gốc, không có mũi.
Rong mọc rất thông thường ở các cửa lạch, đồng muối hoang hoá hoặc trongcác đầm nuôi hải sản là đối tượng được nuôi trồng phổ biến, cho agar chất lượngcao Mẫu thu được ở cửa Lạch Quèn, đồng muối An Hoà Quỳnh Lưu, Nghệ An
và đầm Luồng Phá Nghi Xuân, Hà Tĩnh
Loài này có hình thái ngoài rất giống với Gracilaria tenuistipitata, nhưng khác Gracilaria tenuistipitata do có các nhánh chót có dạng móc câu và tinh tử
sắp xếp thành một lớp liên tục trên bề mặt thân Loài này được Zhang & Xia mô
tả gốc từ mẫu rong ở đảo Hải Nam, Trung Quốc Sau đó nó được Zhang & Xia
chuyển sang chi Gracilaria với tên Gracilaria bailinae.
Trang 33
Hình 3.1 Gracilariopsis bailinea Zhang et Xia
3.2.2.2 Gracilaria tenuistipitata Chang & Xia (Rong câu chỉ)
Rong mọc thành bụi hay mọc thành thảm dày, cao 10- 20 cm, màu đỏ tím hay
đỏ nâu Thân rong mịn, dạng trụ tròn, phân nhánh 1- 3 lần theo kiểu chuyềnnhau, một bên hoặc chẻ hai Gốc nhánh chỉ hơi thắt lại hoặc không thắt Ở lát cắtngang, sự thay đổi kích thước từ vỏ vào nhu mô lõi là đột ngột Túi tinh tử hìnhchén, túi bào tử quả hình cầu thắt gốc, có mũi
Rong mọc từ vùng triều giữa đến triều thấp và dưới triều, phân bố rộng, rấtthông thường ở vùng cửa lạch, đầm phá Là đối tượng nuôi trồng ở khu vực venbiển Mẫu thu được ở cửa Lạch Quèn, đồng muối An Hoà Quỳnh Lưu, Nghệ An
và đầm Luồng Phá Nghi Xuân, Hà Tĩnh
Mẫu chuẩn còn lưu giữ tại Viện Tài nguyên & Môi trường biển có đầy đủ cảcây đực và cây cái Trên cơ sở nghiên cứu cẩn thận các cơ quan dinh dưỡng vàsinh sản có đặc điểm chung: Rong hình trụ, cao 15- 25 cm, phân nhánh chuyềnnhau, gốc nhánh thắt hoặc không thắt Tảo quả hình cầu hoặc bán cầu, thắt hoặckhông thắt ở đáy, túi tinh tử hình chén ất cả những đặc điểm trên phù hợp với
Gracilaria tenuistipitata Các loài Rong câu Gracilaria gigas, Gracilaria pastoris, Gracilaria verrucosa, Gracilaria asiatica là áp dụng sai cho các mẫu
bursa-rong Câu trước đây Vì vậy, các loài Rong câu đã đề cập ở trên nay được chuyển
thành Gracilaria tenuistipitata Chang & Xia.