1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu ứng dụng thiết bị thoát cá con cho lưới kéo đáy ở vùng biển đông nam bộ

98 3 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 10,12 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Từ năm 1982 - 1986, Robertson và các cộng tác viên đã có khá nhiều nghiên cứu trong việc sử dụng dụt lưới kéo có mắt lưới vuông để giải thoát cá nhỏ, làm giảm khá nhiều lượng cá nhỏ bị đ

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯ ỜNG ĐẠI HỌC THỦY SẢN

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan kết quả nghiên cứu của đề tài tốt nghiệp đã được đánh giá dựa trên cơ sở các nguổn số liệu và các chuyến nghiên cứu thực nghiệm hoàn toàn trung thực Phương pháp phân tích và xử lý số liệu để có kết quả nghiên cứu của luận văn do tôi thực hiện và chưa có ai công bố ở bất kỳ tài liệu nào Dây là một phần kết quả của đề tài nghiên cứu cấp Bộ

vế lĩnh vực ngư cụ chọn lọc do tôi làm chủ nhiệm để tài.

Hải phòng, ngày 30 / 6 / 2005

Tác giả

Nguyễn Văn Kháng

Trang 3

J íề l eả n t ổềL

W h o à n th à n h hum otĩn ntUỊ tò ỉ d u n h â n dtttíc

* u ’ hướng, d ẫ n tậ n tìn h của Q)Cị(S ÇJ& Q Ịgaqễn <ĩ)ùn (D ôn g; @á& th ầ g trong CKhoa DChtri th ú ti Tfötinq h ú i Çjhug sản - tr ư ờ n g rf)(ù h oe ÇJhutj sả n (tã có nhiều tị klêh tfóp ụ cho tò i thưa h iên d ề till.

Çjôi, sein cảm tín tìu n Jßänh đ ạ o tỉììèn Qlqhiên cứu 'Tỉùải sún d ã quan, tâ m , ta o tnoi itiều kiên, th u ậ n ítíi o à (tã ch o tồ i itiĩtíc p h é p s ử th in g m ò t sô liât q u ả nghiên, etíít Cita (te tili, d o (Diên quản hj (tê tò i h o à n th à n h nôi thing nghiên cứu của ỉu ùn oìín tô t tu fh iê p Ofitn c ả m tín cúc đang n tfiù èp, các cán hô tig h te n cứu k h o u h o c

củ a p h ò n g nghiên, cứu (tôn q n g h ê ~Kh(ù tím e , p h ồ n g nghiên, cứu Q íguồn ỉtíi o à 'dfùoi d ồ n g rf)ù o t ạ o sa u đ a i

h o c của (ĩ)iên Q ỉghìèn cứu 'Jf)ải s ả n (tã g iú p (tã tò i

tr o tig q u á tru th th a ’e hiên đ ề tà i.

tiĩqugễn dỉăn CÌCháng

Trang 4

B ộ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Sổ: 3& /Q Đ -SĐ H -Đ H TS

Nha trang, ngàyylỂ thảng-4Ị năm 2004

HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC THỦY SẢN

- Căn cứ Quyết định số 155/CP ngày 16/8/1966 cùa Hội đồng Chính phủ về việc thành lập

và quy định nhiệm vụ, quyền hạn cùa trưòng Thuỷ sản, nay là trưòng Đại học Thuỷ sản;

- Căn cứ Quyết định số 622/QĐ ngày 12/7/1985 của Bộ ĐH-THCN-DN nay là Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định nhiệm vụ, quyền hạn cùa Hiệu trưòng các trường đại học;

- Căn cứ Quyết định số 1034/QĐ-SĐH ngày 23/4/1994 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về việc giao nhiệm vụ đào tạo Cao học ngành Công nghệ Khai thác thuỳ sàn cho Trường ĐHTS;

- Căn cứ vào Quy chế đào tạo Sau đại học ban hành theo Quyết định sổ 18/2000/QĐ- BGD&ĐT ngày 08/06/2000 của Bộ Giáo dục và Đào tạo:

- Càn cứ vào Quyết định sổ 531/QĐ-SĐH ngày 20 tháng 8 năm 2002 cùa Hiệu trưởng Trường ĐH Thủy sản về việc công nhận học viên trúng tuyển Cao học năm 2002;

- Theo đề nghị cùa các ông Trưởng Phòng QHQT-SĐH và Trường Khoa Khai thác.

QƯYÉT ĐỊNH

Lóp Cao học Công nghệ Khai thác thuỳ sản khóa 2002

Đề tài luận văn tốt nghiệp: “Nghiên cứu ứng dụng thiết bị thoát cá concho nghề luói kéo đáy ỏ'vùng biển Đông Nam Bộ”

Thòi gian thực hiện: từ 11/2004 đến 6/2005

Điều 2: - Cử cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Văn Động

- Cán bộ hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ và được hường quyền lợi như quy định tại quy chế đào tạo và bồi dưỡng Sau đại học nêu trên

Điều 3: Các Ông Trưởng Phòng QHQT - SĐH Trướng Khoa Khai thác và

PGS.TS.Nguyễn Văn Động theo chức năng nhiệm vụ của mình giúp đỡ học viên hoàn thành luận văn tôt nghiệp^/

HIỆU TRƯỜNG

Nơi nhận:

- Như Điều 3;

- Lưu VT SĐH.

Trang 5

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Đỏc lâp - Tư do - Hanh phúc

GIẤY ĐỂ N G H IKính gửi: Ban Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sảnTên tôi là: Nguyễn Văn Kháng - Trưởng phòng Phòng NCCN Khai thác Hiện nay tôi đang theo học khoá đào tạo Thạc sỹ chuyên ngành khai thác

luận văn tốt nghiêp, tôt viết giấy này đề nghị Ban lãnh đạo Viện cho phép tôi được sử dụng một số số liệu thu được của một số chuyến thí nghiệm trong năm

2004 của đề tài “ Ngư cụ chọn lọc” về lĩnh vực thiết bị thoát cá con, làm cơ sở phân tích, xử lý và đánh giá theo nội dung nghiên cứu của đề tài tốt nghiệp

Kính mong được sự quan tâm giải quyết của Ban Lãnh đạo Viện

Xin trân trọng cảm ơn!

Thuỷ sản do Trường Đại học Nha Trang tổ chức Để tôi có điều kiện hoàn thành

Trang 6

Các chữ viết tắt dùng trong báo cáo

BRDs Bycatch reduction devices

FAO Food and Agriculture Organisation ( of United Nations )

JTEDs Juvenile and Trash Excluder Devices

SEAFDEC Trung tâm phát triển nghề cá Đông Nam Á

RES Radial escape Section

TLV20 Thiết bị tấm lưới mắt vuông có cạnh mắt lưới a = 20mm

TLV25 Thiết bị tấm lưới mắt vuông có cạnh mắt lưới a = 25mm

TLV30 Thiết bị tấm lưới mắt vuông có cạnh mắt lưới a = 30mm

TLV35 Thiết bị tấm lưới mắt vuông có cạnh mắt lưới a = 35mm

D12 Thiết bị thoát cá con kiểu khung sắt có kích thước khe hở là 12mm

D20 Thiết bị thoát cá con kiểu khung sắt có kích thước khe hở là 20mm

D25 Thiết bị thoát cá con kiểu khung sắt có kích thước khe hở là 25mm

D30 Thiết bị thoát cá con kiểu khung sắt có kích thước khe hở là 30mm

Trang 7

MỤC LUC

1.1.2 Thiết bị JTEDs ( Juvenile and Trash Excluder Divices ) 7

2.1 Đặc điểm sinh vật học một sô đối tượng khai thác của lưới kéo đáy 14

2.1 Lựa chọn thiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới mắt vuông 30 2.2 Lựa chọn thiết bị thoát cá con kiểu khe hở 31

3.1 Thiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới mắt vuông 32

3.1.3 Láp ráp thiết bị vào lưới 33 3.2 Thiết bị thoát cá con kiểu khung sắt 35 3.2.1 Thiết k ế và chê tạo thiết bị 35

Trang 8

4 Kết quả thí nghiệm 39 4.1 Tổng quát về kết quả thí nghiệm 39 4.2 Kết quả thí nghiệm thiết bị tấm lưới mắt vuông ( TLV ) 40 4.2.1 Đánh giá khả năng thoát theo sản lượng của thiết bị TLV 40 4.2.2 Đánh giá khả năng thoát theo số lượng cá thể của thiết bị TLV 43 4.2.3 Đánh giá khả năng thoát theo chiều dài cá thể của thiết bị TLV 46 4.3 Kết quả thí nghiệm thiết bị khung sắt 51 4.3.1 Đánh giá khả năng thoát theo sản lượng của các thiết bị khung sắt 51 4.3.2 Đánh giá khả năng thoát theo số lượng cá thể của thiết bị khung sắt 55 4.3.3 Đánh giá khă năng thoát theo chiều dài cá thể của thiết bị khung sắt 58 4.4 Đánh giá khả năng thoát giữa thiết bị TLV và thiết bị khung sắt có cùng 63 kích thước

4.4.1 Đánh giá khả năng thoát theo sản lượng 63 4.4.2 Đánh giá khả năng thoát theo số lượng cá thể 64 4.5 Đánh giá và lựa chọn thiết bị tôi ưu 65 4.5.1 Lựa chọn thiết bị khung sắt hay thiết bị TLV 65

Trang 9

LỜI NÓIĐẦU

Ngày nay, hầu hết các nước trên thế giới đềụ quan tâm đến việc khai thác có trách nhiệm nguồn lợi hản sản Nhiều nước đã nghiên cứu thiết kế và ứng dụng thiết bị thoát cá con và cá tạp cho nghề lưới kéo đáy, thiết bị thoát rùa cho nghề lưới kéo tôm nhằm hạn chế đánh bắt những sản phẩm không mong muốn

Từ năm 1982 - 1986, Robertson và các cộng tác viên đã có khá nhiều nghiên cứu trong việc sử dụng dụt lưới kéo có mắt lưới vuông để giải thoát cá nhỏ, làm giảm khá nhiều lượng cá nhỏ bị đánh bắt so với sử dụng dụt lưói với kiểu mắt lưới thông thường (mắt lưới có dạng hình thoi)

Đây là một biện pháp nhằm bảo tồn nguồn lọi cá nhỏ và cá chưa trưởng thành Sở dĩ kiểu mắt lưới vuông ở dụt có thể giải thoát được cá nhỏ là vì mắt lưới luôn mở trong quá trình lưói làm việc do vậy có rất nhiều vị trí cho cá nhỏ trốn thoát

Kiểu mắt lưới hình vuông ở dụt lưới để giải thoát cá nhỏ được sử dụng cho cả lưới kéo đôi, lưới kéo đơn, lưới kéo tôm, lưới kéo cá, lưới kéo ván, lưới kéo sào v.v

Gần đây SEAFDEC đã nghiên cứu sử dụng nhiều loại thiết bị thoát cá con, các thiết bị này được lắp ở dụt lưới, cá có thể thoát ra ngoài nhờ khe hở giữa 2 thanh của các thiết bị, thiết bị này được gọi là Juvenile and Trash Excluder Devices (JTEDs) Nhiều nước trong khu vực đã thử nghiệm một số thiết bị thoát

cá con cho lưới kéo đáy

Việc giảm sản lượng cá tạp trong khai thác hải sản ở Australia có từ lâu Cách nay hơn 40 năm các ngư dân khai thác tôm ở cửa sông New South Wales và Queenland đã sử dụng những tấm lưới dốc nghiêng gọi là “dốc trượt Blubber” để giảm sản lượng cá nhỏ Gần đây họ đã sử dụng của sổ nhỏ kiểu mắt cá hình tam giác, tấm mắt vuông Composite ở dụt lưới để giải thoát cá cho lưới kéo tôm.Tháng 5/2001, Viện Nghiên cứu Hải sản đã hợp tác với SEAFDEC tiến hành

thí nghiệm thiết bị thoát cá con (JTEDs) cho lưói kéo đơn ở vùng biển vịnh Bắc

Bộ (vùng biển Cát Bà) Tuy kết quả thu được còn rất hạn chế vì số lần thí nghiệm quá ít và thời gian thực hiện ngắn, nhưng nó đã là cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo về lĩnh vực thoát cá con ở nghề lưới kéo đáy

Năm 2003, Viện Nghiên cứu Hải sản được Bộ Thủy sản giao nhiệm vụ thực hiện đề tài nghiên cứu: “Nghiên cứu thiết kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc cho một

số loại nghề khai thác hải sản” Các nội dung chính của đề tài, gồm:

- Úng dụng thiết bị thoát cá con ( JTEDs ) và thiết bị lưới mắt vuông cho nghề lưới kéo đáy

- Úng dụng thiết bị thoát rùa biển cho nghề lưới kéo tôm

Trang 10

- Nghiên cứu thiết kế thiết bị thoát mực con cho nghề lưới chụp mực.

Được sự đồng ý của Ban Lãnh đạo Viện Nghiên cứu Hải sản, đề tài luận văn tốt nghiệp chương trình cao học về nội dung “Nghiên cứu ứng dụng thiết bị thoát cá con cho nghề lưới kéo đáy ở vùng biển đông Nam Bộ” được phép sử dụng một phần kết quả nghiên cứu của đề tài cấp Bộ kể trên làm nguồn số liệu

để sử lý và đánh giá kết quả nghiên cứu của Luận văn theo đề cương nghiên cứu

đã được Hiệu trưởng Trường Đại học Thuỷ sản Nha Trang phê duyệt

T ính cấp thiết của đê tài.

Nghiên cứu và ứng dụng thiết bị thoát cá con trên thế giới đã có khá nhiều

kết quả nhưng ở Việt Nam chỉ mới bắt đầu Do sức ép quốc tế và khu vực về vấn

đề bảo vệ nguồn lọi chúng ta cũng sẽ phải áp dụng quy tắc đánh cá có trách nhiệm cho nghề khai thác hải sản, để làm tốt công tác này chúng ta cần phải nghiên cứu ứng dụng các thiết bị thoát cá con cho lưới kéo đáy

Ở Việt Nam, hiện có khá nhiều nghề khai thác hải sản (nghề lưói kéo, nghề lưới vây, nghề te xiệp ) đánh bắt cá con và các hải sản nhỏ khác Giá trị của các sản phẩm này rất nhỏ nhưng nếu được giải thoát, chúng tiếp tục sống và phát triển thì giá trị bảo tồn nguồn lợi là rất lớn Hiện nay ở một số tỉnh miền tây Nam

Bộ người ta tập trung khai thác cá phân (cá tạp) phục vụ cho nuôi thuỷ sản (nuôi tôm, nuôi cá biển, cá tra, cá basa ) nên giá thành sản phẩm đã khá cao so với trước đây Tuy vậy, trong thực tế đã có nhiều trường hợp tàu lưới kéo (đối vói các tàu thực hiện các chuyến biển dài ngày) của ngư dân các tỉnh Bình Thuận, Bà Rịa

- Vũng Tàu v.v , ngưòi ta đổ xuống biển cá có kích thước nhỏ, cá tạp vào những ngày đầu mỗi chuyên biển Việc làm này vừa gây ô nhiễm và vừa ảnh hưởng xấu đến nguồn lợi hải sản Vì vậy, việc nghiên cứu thiết bị thoát cá con để ứng dụng cho một số loại nghề khai thác hải sản nhằm hạn chế đánh bắt sản phẩm không mong muốn là rất cần thiết và cấp bách

Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của đề tài

- Lựa chọn khoa học kiểu loại thiết bị thoát cá con

- Lựa chọn thông số hợp lý cho thiết bị thoát cá với lưới kéo Việt Nam

- Sử dụng phương pháp chọn mẫu và nghiên cứu cải tiến các thiết bị cho phù hợp với điều kiện vung biển Việt Nam là hướng nghiên cứu thực tế nhất hiện nay

Trang 11

v ề thực tiễn :

- Chúng ta đã và đang áp dụng bản hướng dẫn về ứng xử và thực hiện ngh

cá có trách nhiệm của FAO, vì vậy cần phải quan tâm đôn vấn đề này trong nghiên cứu và trong sản xuất của nghề cá Việt Nam

- Thực trạng về sản phẩm khai thác đang ở mức báo động trong việc bảo vệ

và phát triổn bền vững nguồn lợi hải sản

- Khả năng ứng dụng thiết bị thoát cá con cho nghề lưới kéo đáy ViệtNam

- Những cơ sở về giải pháp và kiến nghị trong phát triển bền vững nghề

lưới kéo đáy

Trang 12

Chương 1TỔNG QUAN VỂ VÂN ĐỂ NGHIÊN c ứ u

1.THIẾT BỊ THOÁT CÁ CON

Quan sát đụt lưới kéo thông thường (mắt lưới hình thoi) ở dưới nước, người

ta thấy rằng khi có cá và cá tập trung tại vị trí cuối cùng của dụt làm cho nó căng phồng ra (hình 1) Tải trọng tăng theo số lượng cá vào dụt Xảy ra hiện tượng khép mắt lưới, khu vực chứa cá mắt lưới mở rộng hơn còn khu vực tiếp giáp đoạn chứa cá mắt lưới khép hơn do có hiện tượng mặt cắt ngang co lại, các loại cá nhỏ không thể thoát qua các mắt lưới bị khép lại dọc theo dụt lưới Dù có sử dụng mắt lưới hình thoi kích thước lớn theo quy định, hiệu quả thoát cá vẫn kém vì hiện tượng khép mắt do chịu tải

Để khắc phục tình trạng khép mắt khi có tải trọng, làm giảm diện tích mắt lưới thoát cá Người ta sử dụng dụt lưới có mắt lưới vuông xếp theo chiều chịu lực dọc theo cạnh mắt lưới dọc, khi chịu lực dọc (chủ yếu là lực ma sát, lực cản)

m ắt lưới vuông không biến dạng, diện tích thoát cá vãn giữ nguyên, nghĩa là lô chui của cá qua lưới không thay đổi (hình 2) Nếu tính toán thông số mắt lưới tương ứng với kích cỡ cá cần bảo vộ, sự thoát của cá sẽ không chịu ảnh hưởng

Trang 13

của tải trọng tác động đến đụt Các thí nghiệm để lựa chọn các kiểu đụt mắt lưới

vuông đã được Robertson ở Scotlan và nhiều người khác thực hiện lừ năm 1982

đến năm l986 [18] Kết quả thí nghiệm kiểu đụt mắt lưới vuông đã cho cá nhỏ thoát ra ngoài đạt đến 50% tống số cá thể đánh bắt được của mỏ lưới

H ình2: H ình dạng d ụ t lưới kéo sử dụng m ắt lưới hình vuông

- Tấm lưới mắt vuông (cửa sổ mắt vuông).

Theo tài liệu hướng dẫn sử dụng thiết bị giảm sản phẩm phụ (bycatch) trong nghề lưới kéo tôm ở Australia[19], FAO đánh giá hiện nay hàng năm có khoảng 27 triệu tấn cá tạp bị loại bỏ của nghề cá thương phẩm toàn cầu Nghề đánh bắt tôm bằng lưới kéo đóng góp phần lớn tổng số này, vì thế nghề khai thác tôm ở Na Uy và một phần ở Mỹ đã buộc phải sử dụng thiết bị BRDs (Bycatch réduction devices), còn nghề khai thác tôm ở vịnh Mexico và các nước ở đông nam Đại Tây Dương nơi các loài rùa có nguy cơ tuyệt chủng cũng phải sử dụng các thiết bị thoát rùa

Trong nhiều năm qua ngư dân khai thác tôm ở Australia [19] đã sử dụng những phương pháp đánh bắt có chọn lọc, như:

- Lưới kéo cỏ độ mở đứng thấp để giảm lượng cá bị đánh bắt

- Lắp ráp xích chì để giảm lượng vỏ sò, ốc của dáy biển bị lấy đi

- Tránh những ngư trường có nhiều cá tạp

- Sử dụng cỡ mắt lưới đủ lớn để cho phép các động vật nhỏ thoát ra

Trang 14

- Sử dụng thiết bị có thanh ngang RES (Radial cscapc Scction) để thoát cắ nhỏ RES dựa vào đặc tính cá bơi tốt hơn tôm khi chúng cùng lọt qua tấm lưới hình phễu đặt ở phía trước dụt lưới, khi ra khỏi tấm lưới hình phễu một số quay lại và bơi về phía cửa thoát có mắt lưới vuông lớn để tẩu thoát, cửa này có nhiều thanh ngang vòng quanh dụt lưới.

Trong số các phương pháp trên, sử dụng lưới mắt vuông chơ toàn bộ dụt lưới hoặc dạng cửa sổ nhỏ tại phía trên của miệng dụt lưới cho phép một phần cá thoát ra khỏi dụt lưới là phương pháp khá hiệu quả Kiểu thoát cá con như hình 3 được gọi là cửa sổ mắt vuông hay còn gọi là tấm lưới mắt vuông ở dụt lưới kéo tôm được dùng nhiều ở Australia [16]

H ình 3: T hiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới m ắt vuông

Đối với thiết bị kiểu tấm lưới mắt vuông, việc lựa chọn kích thước mắt lưới rất quan trọng và rất cần thiết để xác định được kích thước m ắt lưới vừa giải thoát

cá ở mức cao nhất vừa hạn chế tối đa lượng tôm bị thất thoát Kích thước và vị trí lắp các tấm lưới mắt vuông cũng phải được quan tâm, đặt ở nơi cao nhất của dụt lưới là vị trí hợp lý nhất để nó giảm được lượng tôm bị thất thoát, cử a sổ không nên đặt quá gần sản phẩm bị khai thác trong dụt lưới, lượng tôm thất thoát sẽ nhiều hơn, đặc biệt trong lúc kéo ngược lại và trong các đợt sóng trào lên

+ Ưu điểm khi lắp thiết bị cửa sổ mắt lưới vuông ở đụt của lưới kéo tôm.

- Cá nhỏ có thể tẩu thoát

- Có thể giảm được thời gian lựa chọn sản phẩm

- Làm tấm lưới mắt vuông đơn giản và có thể vận chuyển, thay thế, sửa chữa dễ dàng

+ Nhược điểm

- Có thể tôm và loài cá cho phép khai thác có kích thước nhỏ bị thất thoát

nếu cửa sổ đặt quá gẩn sản phẩm trong dụt lưới, đặc biệt trong khi kéo ngược lại

và các đọt sóng biển dâng lên

- Hình dạng dụt lưới có thể biến dạng nếu lắp ráp không chính xác

Trang 15

1.1.2 T hiết bị JT E D s ịJuvenile and Trash Excluder Devices) [1]; [10]; [11];

[12]; [13]; [14]; [15],

Trung tâm phát triển Nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) phối hợp vói các nước thành viên ASEAN đã tiến hành hướng dẫn áp dụng Bộ luật Nghề cá có trách nhiêm của FAO trong khu vực Vấn đề dặt ra cho công tác nghiên cứu và ứng dụng là phải tiến hành áp dụng các công nghệ khai thác thích hợp có chọn lọc, do đó SEAFDEC đã thực hiện nhiều chuyến nghiên cứu và thử nghiệm các thiết bị JTEDs khác nhau để giải thoát cá con Các chuyến khai thác thử nghiệm

đã dược tiến hành tại vùng biển ở hầu hết các nước trong khu vực

Tháng 9 năm 2001, đã tiến hành khai thác thử nghiệm ở vùng biển Alor Setar, Bang Kedah của Malaixia, một loại thiết bị JTEDs mới của kiểu khung sắt như hình 4

Mặc dù có sự khác nhau về thành phần loài giữa khai thác ban ngày và ban đêm, đặc biệt với các loài cá nổi, hoạt động khai thác thử nghiệm vào ban ngày nhìn chung đã đạt kết quả tốt Một số loài khai thác được trong chuyến khai thác

thử nghiệm là cá ba thú (Rastreìliger brachỵsoma), cá tráo (Atule maĩe), cá lượng

(Nemipíerus sp.), các loài tôm lớn như tôm he (Penaeus sp.), mực ống (loligo sp) Khoảng trống giữa các thanh chắn của 2 thiết bị JTEDs đã thử nghiệm có

kích thước là 20 mm và 12 mm Trường hợp khoảng trống giữa 2 thanh chắn là

Trang 16

20mm đã giải thoát được khoang 73% sản lượng khai thác, trường hợp khoảng trống giữa các thanh chắn là 12mm, giải thoát các loài chỉ đạt 35% sản lượng

khai thác Nhóm cá tạp, chủ yếu là thành phẩn cá con của loài cá dìa {Siganus

sp.), khả năng giải thoát qua các thiết bị chiếm tới khoảng 87% và 70% sản lượng

khai thác đối với trường hợp khoảng trống giữa các thanh chắn tương ứng là 20mm và 12mm Khoảng 63% các loài cá nổi và 44% tôm cũng được giải thoát qua khoảng trống các thanh chắn 20mm, trong khi chỉ có khoảng dưới 10% được giải thoát với trường hợp 12mm Cua, ghẹ chiếm 2 - 3% tổng sản lượng khai thẩc

không được giải thoát 100% loài cá ba thú (Rasíretreỉỉiger brachysoma) cỡ trung

bình và cỡ lớn trên 120mm đã được giữ lại trong trường hợp khoảng trống giữa 2 thanh chăn là 12mm, nhưng 40% sản lượng cá này được giải thoát trong trường

hợp khoảng trống 20mm Đối với loài cá lượng (Nemipterus sp.), các thiết bị này

đã cho kết quả tốt, chỉ giữ lại những cá cỡ lớn trôn llO m m khi khai thác ban ngày nhưng lại giữ lại cá có kích thước cỡ nhỏ hơn khi khai thác ban đêm Có thể

đó là do tập tính khác nhau của các loài giữa ngày và đêm Thiết bị JTEDs cho thấy không có hiệu quả rõ rệt đối với các loại mực và tôm do tập tính khác biệt của các loài này ở trong lưới

Inđônêxia là nước đã ứng dụng khá thành công các loại thiết bị thoát cá con, các loại thiết bị họ đã sử dụng gồm: thiết bị hình chữ nhật; thiết bị khung sắt; thiết bị dạng nửa đường cong như hình 5 và hình 6

Thông tin chung của chuyến thí nghiêm nghiên cứu thiết bị JTEDs gắn trôn lưới kéo khai thác tôm từ 31/8 - 1/9/2002 trong vịnh Bintuni, biển Arafura, Papua của Indonesia được thống kê ở bảng 1

B ảng 1: K ế t quả nghiên cứu từ ngày 31/8 -1/9/2002 tại vịnh B intuni.

Kết quả này cho thấy rằng mức độ thoát của cá khi sử dụng thiết bị JTEDs

là vào khoang 79% là tổng sản lượng cá thoát ra thiết bị kiểu khung sắt với khoảng cách giữa các song sắt có kích thước là 40mm, với 25% là mức độ tổng

Trang 17

sản lượng thoát ra của hai thiết bị JTEDs nửa đường cong và hình chữ nhật Mức

độ thoát ra của các loài cá nổi là trong khoảng từ 49 - 97%, trung bình 97% sản lượng cá nổi thoát ra khi sử dụng thiết bị khung sắt, 53% sản lượng cá nổi thoát

ra khi sử dụng thiết bị nửa đường cong, 49% sản lượng cá nổi thoát ra khi sử dụng thiết bị hình chữ nhật Mức dộ thoát ra đối với cá tạp là 68% sản lượng cá tạp thoát ra khi sử dụng thiết bị khung sắt, 4% sản lượng cá tạp thoát ra khi sử dụng thiết bị nửa đường cong và 17% sản lượng cá tạp thoát ra khi dùng thiết bị hình chữ nhật Từ kết quả này thấy rõ ràng là cá nổi và cá tạp có thể dễ dàng thoát ra khỏi lưới kéo khi sử dụng thiết bị JTEDs kiểu khung sắt

800 - í

-H-K40mm

H ình 5 Thiết bị JTED s kiểu khung sắt của Inđônêxỉa

Trang 18

(a) (b )

20 khe thoát

khoảng cách giữa các khe 40mm

a - Thiết bị hình chữ nhật b - Thiết bị nửa đường cong

H ìn h 6 Thiết bị JTE D s hình chữ nhật và nửa đường cong của Inđônêxỉa

Thái Lan cũng đã ứng dụng nhiều loại thiết bị thoát cá con, các loại thiết bị

họ đã sử dụng gồm: thiết bị hình chữ nhật; thiết bị dạng nửa đường cong như

3 khe thoát 4 khe thoát 6 khe thoát 10 khe thoát

H ình 7; Thiết bi JTE D s kiểu hình chữ nhát của Thái Lan

Trang 19

20 khe thoát 14 khe thoát 10 khe thoát 7 khe thoát

H ình 8 Thiết bị JTE D s kiểu nửa đường cong của Thái Lan

Bảng 2 cho thấy kết quả của thí nghiệm thoát cá con của các loại thiết bị JTEDs kiểu hình chữ nhật khác nhau ở trong vùng biển Chumpom của Thái Lan

về toàn bộ sản lượng và tỉ lộ phần trăm thoát ra ở đây, tỉ lộ phẩn trăm thoát ra theo sản lượng của những loài cá kinh tế trong khoảng từ 32 - 59% và những loài

cá tạp thoát ra trong khoảng từ 5 - 20% Tỉ lệ thoát ra đối với những loài động vật chân đầu là cao nhất đạt 78 - 100%

B ảng 2 K ết quả th í nghiệm của thiết bị JTED s kiểu hình ch ữ nhật.

thoát

SL loài cá tap (kg) %, tỉ lệ

thoát

Đụt

trong

Đụt ngoài

Đụt trong

Đụt ngoài

Đụt trong

Đụt ngoài

ra của các loài động vật chàn đầu là trong khoảng giữa 19 - 44%

Trang 20

Bảng 3 Kết quả thí nghiệm của thiết bị JTEDs kiểu nửa đường cong.

SL Loài động vật chân đẩu (kg) <7( tỉ lệ

thoát

SL loài cá tap (kg) % tỉ lệ

thoát

Đụt

trong

Đụt ngoài

Đụt trong

Đụt ngoài

Dụt trong

Đụt ngoài

bị Dựa vào kết quả nghiên cứu theo hướng này người ta đã chọn thiết bị JTEDs kiểu hình chữ nhật vì thiết bị này đã cho cá tạp thoát ra ngoài tốt hơn thiết bị JTEDs kiểu nửa đường cong

H ỉn h 9 Thiết bị JTED s kiểu khung sắt đã thử nghiêm ở Việt Nam

Trang 21

Cấu tạo một thiêt bị gồm có 3 khung sắt, kích thước mỗi khung là 500mm X

800mm Trong đó 2 khung được hàn thêm các thanh sắt 0 6 song song nhau, khoảng cách giữa các thanh là 20mm; 3()mm và 40mm và 1 khung được bao kín bằng lưới tạo thành tạo thành 3 loại thiết bị thoát cá con

- Loại 1: có khoảng cách giữa các thanh sắt là 20mm

- Loại 2: có khoảng cách giữa các thanh sắt là 3()mm

- Loại 3: có khoảng cách giữa các thanh sắt là 40mm

Thời gian thử nghiệm từ 9/5 đến 15/5/2001 Tổng số mỏ lưới hoạt động là 25

mỏ Trong đó: loại 1 hoạt động 1 lmẻ, loại 2 hoạt động 7 mẻ và loại 3 hoạt động

7 mẻ Kết quả hoạt động thử nghiêm được ncu ở bảng 4

Bảng 4: Kết quả thí nghiệm

Đơn vị so

sánh

- Thiết bị loại 1 đã cho 11,85% sản lượng khai thác thoát ra ngoài

- Thiết bị loại 2 đã cho 14,22% sản lượng khai thác thoát ra ngoài

- Thiết bị loại 3 đã cho 13,61% sản lượng khai thác thoát ra ngoài

Qua phân tích cho thấy tỷ lệ phần trăm tính theo sản lượng của các loài hải sản thoat ra khỏi thiết bị chiếm rất thấp và kích cỡ của cá thoát ra khỏi đụt lưới và kích cỡ của cá nằm lại trong đụt không có sự khác nhau đáng kể Các kết quả thu được còn rất hạn chế nhưng cũng cho thấy cá con có khả năng thoát ra ngoài thông qua các thiết bị đã nghiên cứu thử nghiêm Kết quả này sẽ là cơ sở lựa

chọn va thử nghiệm thiết bị thoát cá con tiếp theo cho nghề lưới kéo đáy ở Việt

Trang 22

lưới Các thử nghiệm nghiên cứu về thuỷ động học được tiến hành tại bổ thuỷ động của Khoa Thuỷ sản - Trường Đại học Hàng Hải Australia.

- Thiết bị được sử dụng trong nghiên cứu ứng dụng là thiết bị khung sắt hình chữ nhật có kích thước khe hở là 20 mm Kết quả đánh bắt thực nghiệm đã cho thấy tỷ lệ cá phân (cá con, cá lạp) thoát ra ngoài qua thiết bị là 72,3% (tính theo khối lượng), cá bị giữ lại ở dụt lưới lớn hơn cá thoát ra ngoài Lượng tôm và

cá thương phẩm (cá chợ) thoát ra khỏi lưới lần lượt là 7,9% và 16,1%

Riêng về kết quả chọn lọc được trình bày [6] chí' mang tính chất chọn lọc chung, chưa đi sâu phân tích từng loài cụ thể Nêu có điều kiện, cần phải tiên hành thí nghiệm theo hướng có thể đánh giá khả năng chọn lọc của ngư cụ có gắn thiết bị thoát cá con JTED đối với một số loài có giá trị kinh tế cao

là các họ cá chủ yếu đánh được bằng lưới kéo đáy Phẩn lớn các loài cá trong nhóm thứ hai có giá tộ thấp như họ cá đòn lồng (Myctophidae), họ cá mù làn (Scorpaenidae), họ cá chimê (Chimaeridae) và họ cá bàn chân (Lophiidae)

Trong một số chuyến điều tra ỏ vùng biển đông Nam bộ và vịnh Thái Lan,

các loài cá chiếm ưu thế là cá phèn khoai (Upeneus bensasi), cá mối hoa

(Tracìiinocìiephalus myops), cá mối vạch (Saurida undosquamỉs), cá mối thường (Saurida tumbil), cá trác ngắn (Priacanthus macracanthus) Số liệu sinh học cơ

bản của một số loài được trình bày dưới đây

- Cá phèn khoai (Upeneus bensasi)

Loài này chiếm khoảng 7,21% tổng sản lượng của chuyến điều tra Trữ lượng của loài này ước tính khoảng 14.240 tấn Sản lượng đánh bắt chủ yếu ở độ sâu trên 30 m trong vùng biển Đông Nam bộ và trên 50 m ở vùng biển Tây Nam

bộ Chiều dài cá dao động từ 6 đến 18 cm và trung bình là 10,4 cm.Trong sản lượng đánh bắt có khoảng 21,9% cá con Khoảng 2,4% cá đực có tuyến sinh dục đang trong giai đoạn phát triển hoặc chín, tỷ lệ này ở cá cái cao hơn (30,8%)

- Cá mối hoa (Trachinochephaỉus myops)

Loài cá này chiếm 5,83% tổng sản lượng đánh bắt Trữ lượng của loài này

ước tính khoảng 10.761 tấn sản lượng đánh bắt chủ yếu ở độ sâu 30 m Tần suất

chiều dài của 2.115 cá thể dao động từ 7 đến 39 cm, trung bình là 16,2 cm Phân

bố tẩn suất chiều dài có đỉnh thứ nhất ở 12 cm và thứ hai ở 24 cm

Trang 23

Cá con chiếm khoảng 9,9% sản lượng khai thác Nhìn chung, tỉ lộ cá đực có tuyến sinh dục ở giai đoạn phát triển và chín (37,0%) cao hơn cá cái (28,5%).

- Cá mối vạch ịSaurida ìmdosquamis)

Loài này chiếm 5,56% tổng sản lượng của chuyến biển Trữ lượng ước tính khoảng 10.575 tấn Sản lượng đánh bắt cao hơn ở độ sâu trên 30 m Chiều dàitrung bình từ 6 - 40 cm ít nhất có thể nhận thấy hai thế hệ cá trong quần đàn và thế hệ nhỏ hơn chiếm ưu thế

Phân tích tuyến sinh dục của các loài này cho thấy có 12,5% cá con trong sản lượng Tỉ lệ cá đực có tuyến sinh dục đang trong giai đoạn nghỉ (II) và phát triển (III) cao hơn cá cái Có khoảng 16% cá của cả hai giới tính có tuyến sinh dục đang trong giai đoạn chín Trong thời kỳ này không có cá ở giai đoạn đổ trứng

- Cá mối thường (Saurida tumhil)

Loài này chiếm khoảng 2,02% tổng sản lượng chuyến biển Chiều dài cá mối thường dao động từ 7 - 48 cm, trung bình là 17,9 cm

Đối với cả cá đực và cá cái tỷ lệ có tuyến sinh dục đang trong giai đoạn II là 54,7%, giai đoạn phát triển (III) 26,7% và giai đoạn chín (IV) là 9,3% Khoảng 9,3% trong sản lượng đánh bắt Ịà cá con Không có cá trong thời gian đỏ trứng,

có nghĩa là thời kỳ này không phải là mùa sinh sản của cá mối thường

- Cá trác ngắn (Priacanthus macracanthus)

Loài này chiếm 5,16% tống sản lượng chuyên biển Chiều dài cá dao động

từ 5 - 30 cm, trung bình là 17,7 cm Nhóm chiều dài 17 - 19 cm chiếm ưu thế trong sản lượng đánh bắt

Kết quả phân tích tuyến sinh dục cho thấy trong sản lượng có 3,3% cá con Phần lớn cá có tuyến sinh dục đang trong giai đoạn II (57%) Cá cái có tuyến sinh dục phát triển nhanh hơn cá đực (tuyến sinh dục ở giai đoạn III: cá cái = 11,2%; cá đực = 4,6%) Trong chuyến điều tra không phát hiộn thấy cá ở giai đoạn đẻ trứng (V)

M ực ống Đài Loan (Loligo chinensis)

Mực ống Đài Loan chiếm 2,84% tổng sản lượng đánh bắt của nghề lưới kéo Trữ lượng ước tính khoảng 5.642 tấn với hệ số biến thiên là 31% Chiều dài

áo của loài này dao động từ 6 - 33 cm, trung bình là 13,2 cm

Tôm bộp (Metapenaeus affinis)

Số liệu về tần suất chiều dài được thu thập trong chương trình thu mẫu thống kê hang tháng đội tàu lưới kéo <45 cv năm 1997.Chiều dài của tồm bộp cái dao động từ 6 - 33 cm, trung bình là 13,2 cm

Trang 24

2 2 TÌNH HÌNH N G U ồN LỢl

Do sự phát triển quá tràn lan của nghề cá trong thời gian qua, người ta cho rằng nguồn lợi ven bờ đã bị khai thác quá mức Trong những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã nỗ lực đầu tư để điều chỉnh áp lực khai thác từ khu vực gần bờ

ra xa bờ Để đánh giá thực trạng nguồn lợi, đảm bảo phát triển nghề cá bền vững, nhờ sự hỗ trợ từ nhiều tổ chức tài trợ quốc tế, đã có rất nhiều chuyến điều tra biển được liến hành ở Việt Nam

2.2.1 Nguồn lọi cá [5]; [8]; [3]

T h àn h p hần loài:

Ở vùng biển miền Bắc đã xác định được 301 loài và miền Trung là 260 loài, khu vực thềm lục địa đông Nam Bộ là 845 loài và lây Nam Bộ là 581 loài Ngoài

ra, còn có các loài sống ở các vùng nước sâu xa bờ và quanh các đảo

Cá đáy và cá sống ở gần đáy là một quần thể gồm nhiều loài lãn lộn Thông thường sản lượng đánh được bằng lưới kéo đáy bao gồm cả một số cá nổi nhỏ Không có loài nào thực sự chiếm ưu thế trong sản lượng đánh bắt

Ở vịnh Bắc bộ, cá miễn sành (Evynnỉs cardinaỉis) là loài có năng suất cao nhất trong cả hai mùa ở đông Nam bộ loài cá bò (Paramonacanthus nipponensis) chiếm ưu thế trong vụ Nam và cá phèn khoai (Upeneus bensasi) chiếm ưu thế trong

vụ cá Bắc Ở vùng biển tây Nam bộ, mực ống Đài Loan (Loligo chỉnensis) đứng đầu trong vụ cá Nam và nhóm loài cá liệt (Leiognathus spp) đứng đầu vụ cá Bắc.

Nếu xét về thành phần loài, năng suất, sản lượng V V khai thác của vùng biển đông Nam Bộ thấy rằng đối tượng khai thác của nghề lưới kéo ở đây có phân bố rất đa loài, ví dụ như:

- Trong tổng số 50 mẻ lưới của chuyến điều tra vùng biển đông Nam Bộ bằng nghề lưới kéo [3] vào tháng 10 - 12 năm 2003, đã khai thác được 5577,41

kg hải sản Đã xác định được 98 họ và 250 loài, trong đó có 23 họ và 27 loài có sản lượng từ 1% trở lên chiếm 67,02 % tổng sản lượng khai thác được Đã xác

định được 5 họ cá sản lượng cao, cao nhất là họ cá mối (Scynodontidae) chiếm

11 83%, tiếp theo là họ cá chuồn đất (Dactylopteridae) chiếm 8,75, họ cá trác

(Priacanthidae) - 6,99%, họ cá phèn (Muỉỉidae) - 6,88%, họ mực ống ịLữliginidae) - 6,88% Tương tự, có 5 loài có sản lượng cao là: cá chuồn đất (Dactyloptena orỉentalis) chiếm 8,75%, cá phèn khoai (ưpeneusbensasi) -

6 19%, cá trác ngắn (Priacaníhus macraccmthus) - 6,11%, cá mối vạch (saiirida

undoscpiamis) - 4,88% và mực nang gai (Sepia aculeaía) chiếm 4,24% Có 33

loài có sản lượng nhỏ hơn 0,01% (tương đương với khối lượng nhỏ hơn 0,28 kg)

Đã xác định được 57 loài có tần suất xuất hiện đạt trên 20%, trong đó cá

mối vạch (Saurida undosquamis) có tẩn suất cao nhất đạt 96%, tiếp đến mực nang gai (Sepiaacuỉeata) - 90%, cá phèn khoai (Upeneus bensasi) - 80%, cá trác

Trang 25

ngắn (Priacanthusmacracanlhus) và mực ống (Loligo diivauceỉi) mỗi loài đạt

76% Có 72 loài tần suất chỉ đạt 2%, tức là chỉ bắt gặp 1 lần trong 50 mỏ lưới có sản lượng

P hân bố:

Nghề cá Việt Nam có 2 mùa rõ rẹt là mùa tây nam (vụ Nam - từ tháng 4 đến tháng 10) và m ùa đông bắc (vụ Bắc - từ tháng 11 đến tháng 3) Trong vụ Nam, cá

có xu hướng di chuyển vào các vùng nước nông để đỏ, còn trong vụ Bắc, chúng

di chuyển ra các vùng nước sâu hơn Thông thường, năng suất vụ Nam cao hơn

vụ Bắc, nhưng chất lượng cá thì ngược lại, vụ Bắc tốt hơn vụ Nam

T rữ lượng và khả năng khai thác

Trữ lượng cá toàn bộ vùng biển Việt Nam vào khoảng 3.072.800 tấ n và khả năng khai thác bền vững là 1.426.600 tấn, trong đó cá nổi chiếm 76,9% và cá đáy là 23,1% Trữ lượng và khả năng khai thác cá của từng vùng biển cụ thể là:

- Vịnh Bắc Bộ: Trữ lượng ~ 542.730 tấn và khả năng khai thác ~ 256.092 tấn,

- Miền Trung: Trữ lượng ~ 622.494 tấn và khả năng khai thác ~ 298.998 tấn,

- Đông Nam Bộ:Trữ lượng ~ 908.879 tấn, khả năng khai thác ~ 415.952 tấn,

- Tây Nam Bộ: Trữ lượng ~ 478.689 tấn và khả năng khai thác ~ 223.075 tấn,

- Giữa Biển Đông:Trữ lượng ~ 510.000 tấn, khả năng khai thác ~230.000 tấn

Tổng hợp kết quả đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá được thể hiện ở bảng 5

B ảng 5 Tổng hợp đánh giá trữ lượng và khả năng khai thác cá biển Việt N am

Trang 26

B ảng 6: So sánh kế t quả đánh giá trữ lượng cá đáy trong 10 năm gần đây

Vùng biển Diên tích

(k m 2)

Trữ lượng (tấn)

Tác giả & năm công bố

77.173 115.972 - Phạm Thược, 200067.370 152.730 - Đề tài xa bờ, 2002

78.974 112.070 - Phạm Thược, 200019.626 122.494 - Đề tài xa bờ, 2002ĐôngNam Bộ 260.957 1.062.000 - D ự á n ALMRV, 9 6 - 9 7

222.258 1.051.117 - Phạm Thược, 2000236.521 384.879 - Đề tài xa bờ, 2002

92.440 162.689 - Đề tài xa bờ, 2002

Trang 27

2.2.2 Nguồn lợi tôm [5]; [8].

T hành phần loài

Ở biển Việt Nam đã bắt gặp 225 loài tôm thuộc 69 giống và 24 họ Trong

đó, 6 họ quan trọng nhất là Penaeidae (59 loài); Solenoccridae (12 loài); Nephropidae (3 loài); Aristeidae (3 loài); Palinuridae (9 loài) và Seyllaridae (9 loài)

Từ năm 2001 đến 2003, Dự án Đánh giá nguồn lợi sinh vật biển Việt Nam

đã tiến hành một số chuyên điều tra nguồn lợi tôm tại vịnh Bắc bộ, đông Nam bộ

và tây Nam bộ (vịnh Thái Lan) vào tháng 5 và tháng 10 hàng năm Họ tôm he (Penaeidae) xuất hiện ở tất cả các chuyên điều tra trong cả hai vụ Tuy nhiên, phần lớn sản lượng là các loại tôm có giá trị thấp Sự có mặt của giống tôm hc có giá trị cao trong họ này là không đáng kể

Họ tôm he Penaeidae cũng tìm thấy ở vùng ven bờ biển miền Trung nơi có

độ sâu dưới 50 m trong cả mùa mưa và mùa khô Tuy nhiên, trữ lượng của họ này

ít hơn họ Scyllaridae Tôm vỗ (.ỉbacus cỉliatus) tập trung ở vùng biển có độ sâu

trên 50 m trong mùa kliồ Các hoạt động đánh bắt tôm ở vùng biển miền Trung chủ yếu diễn ra vào mùa khô

Họ tôm he (Penaeidae) và tôm vỗ ('Thenus orientalis) là các đối tựơng khá

phong phú ở vùng biển Đông và Tây Nam bộ trong cả hai mùa Các bãi tôm có

m ật độ cao thường tập trung ở vùng cửa sông Cung Hậu - An Định, vùng biển Anh Đông - Nam Du (tỉnh Kiên Giang), vùng Tây Bắc đảo Hòn Chuối (tỉnh Cà

M au) và vùng biển đảo Phú Quý

T rữ lượng và khả năng khai thác

Trữ lượng và khả năng khai thác của các loài tôm kinh tế quan trọng ở biển Việt Nam như bảng 7:

Trang 28

Bảng 7: Trữ lượng và khả năng khai thác của loài tôm.

(tấn)

Khả năng khai thác (tấn)

kinh tế cao là: Sepioteuthìs ỉessoniana, Loìigo chinensis, L duvauceìi, L edĩilỉs,

L singhaỉensis, Sepia pharaonis, Sepia acuỉeata, Sepia ỉycidas, Sepỉa esculenta, Sthenoteuthis oualaniensis và Octopus vuỉgaris.

Phân bố

Nguồn lợi động vật chân đầu phân bố chủ yếu ở vịnh Bắc Bộ và vùng biển đông tây Nam bộ Mực ống đại dương tạp trung phân bố ở vùng nước xa bờ vùng biển Trung Bộ

Mùa sinh sản của mực: họ mực ống (Loliginidae) thường đỏ trứng vào mùa

hè từ tháng 4 đến tháng 9, thời kỳ rộ nhất là tháng 7 - 8 Mực nang (Sepiidae) thường sinh sản vào mùa đông từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau

Trang 29

Mùa vụ: Mực ống chủ yếu đánh được ở vịnh Bắc bộ và các vùng vcn bừ đông tây Nam bộ trong vụ Nam (từ tháng 5 - 10) Ngư cụ chính sử dụng khai thác nguồn lợi này là câu mực, chụp mực, lưới vây, mành ánh sáng và lưới kco Nghề câu mực chủ yếu hoạt động quanh các đảo nhỏ và các vùng rạn san hô Mực nang thường được khai thác từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau Các ngư trường trọng điểm là:

- Vùng biển Cô Tô - Cát Bà, Long Châu - Bạch Long Vĩ

- Vùng biển Hòn Mê, Hòn Mát

- Vùng ven biển Qui Nhơn

- Phú Yên: từ Đại Lãnh đến đảo Chà Lá (vịnh Văn Phong)

- Khánh Hoà: từ Nha Trang đến Cà Ná

- Phan Thiết: từ ngoài khơi Mũi Né đến đảo Phú Quý

- Vũng Tàu: ngoài khơi Vũng Tàu và Đông Nam Côn Sơn

- Cà Mau: Đông Nam và Tây bắc đảo Hòn Khoai

- Kiên Giang: phía Bắc và Tây Nam đảo Phú Quốc

Trữ lượng và k h ả năng khai thác

Trữ lượng tức thời của các loài chân đầu (bảng 8) ở vùng biổn Việt Nam ước tính khoảng 100.000 - 104.000 tấn với khả năng khai thác là 45.000 tấn

B ảng 8 T rữ lượng và kh ả năng khai thác mực (ống và nang) ở biển Việt N am

Trang 30

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u

1 Tài liệu nghiên cứu

Các tài liệu pháp lý và tài liệu khoa học liên quan đến bảo vẹ nguồn lợi hải sản đã sử dụng trong báo cáogồm có:

+ Các văn bản về bảo vệ và phát triển nguồn lợi hải sản

+ Các báo về Đánh giá nguồn lợi của các đề tài nghiên cứu khoa học của Viện Nghiên cứu Hải sản

+ Tài liệu về thiết kế và hướng dẫn sử dụng các loại thiết bị thoát cá con của Australia, SEAFDEC, FAO

+ Khai thác nguồn tài liệu liên quan đến các thiết bị JTEDs của SEAEDEC, FAO, .trên internet

+ Các báo cáo về thử nghiệm các loại thiết bị thoát cá con của SEAFDEC tại Việt Nam, Indonesia, Malaysia, Thailand, Brunei, Philippins

+ Nguồn số liệu thu được của các chuyến nghiên cứu thí nghiệm thiết bị cá con tại Vũng Tàu năm 2004 và các kết quả nghiên cứu khác của đề lài cấp Bộ

“Nghiên cứu thiết kế và áp dụng ngư cụ chọn lọc cho một số loại nghề khai thác hải sản”

2 Phương pháp nghiên cứu

Vùng biển thử nghiệm các thiết bị thoát cá con là vùng biển ven bờ Vũng Tàu, nơi có độ sâu từ 30m nước trở vào Sử dụng hai mẫu lưới kéo đơn đang được tàu BV.9133 TS để lắp các thiết bị

+ Triển khai thử nghiệm trên biển:

Các thiết bị được thử nghiệm trên một tàu, trong cùng điều kiện ngư trường Trong quá trình thử nghiệm, thường xuyên thay đổi các thiết bị để đảm bảo sản phẩm thu được ở các loại thiết bị không sai khác nhiều do sự thay đổi của điều kiện ngoại cảnh Thời gian hoạt động của mỗi mẻ lưới là 1 giờ, tốc độ dắt lưới từ 1,8 - 2,6 hải lý/giờ Các thiết bị được thử nghiệm cả ban ngày và ban đêm; thòi gian hoạt động ban ngày từ 5 giờ - 18 giờ, thời gian hoạt động ban đêm

từ 18 giờ - 6 giờ Mỗi thiết bị hoạt động từ 2 - 3 mẻ và thay thiết bị khác Trong quá trĩnh nghiên cứu các thiết bị được bố trí để hoạt động ở mọi thời điểm của ngày và đêm

+ Thu sô liệu:

Số liệu được thu theo từng mẻ lưới, mỗi mẻ lưới ghi vào một biểu ghi kết quả Các số liệu về ngư trường, tình hình hoạt động của thiết bị, quá trình điều chỉnh thiết bị được ghi chép vào biểu ghi và ghi vào sổ nhật ký khai thác, ghi nhạn xét về sự hoạt động của các mẻ lưới

Sản lượng mỗi mỏ lưới thu riêng theo dụt lưới và dụt thiết bị, những mỏ lưới có sản lượng cao được lấy mẫu ngẫu nhiên để phân tích Phân tích thành

Chương 2

Trang 31

^ d ụ t thiết bị

w' r đụt lưới

phần loài và cân, đo, đếm các đối tượng đánh bắt ở cả 2 đụt lưới

+ Xử lý sô liệu:

Sử dụng phần mềm EXCEL để xử lý nguồn số liệu thu được Tính tỷ lệ % về

sản lượng và tỷ lệ % về số lượng cá thể thoát ra qua các thiết bị So sánh tỷ lệ thoát, đồng thời dựa vào tần suất chiều dài của các đối tượng kinh tế ở các thiết bị

để đánh giá tính chọn lọc của thiết bị

Công thức tính tỷ lệ thoát về sản lượng và số lượng cá thể:

+ Tỷ lệ thoát về sản lượng: W(%) = Wđụtthiếtbị X 100/(Wđụtthiếtbị + w đụtluới)

+ Tỷ !ệ thoát về số lượng cá thể: N(%) = Nđụtthiếtbị X 100/(Ndụtthiếtbị + Ndụthrới)

Chú thích: WA,„ ,u;A u; là sản lượng ở đụt thiết bị (g); (kg)

là sản lượng ởđụt lưới (g); (kg)

là s ố lượng cá thể ở đụt thiết bị (con)

Đụt thiết bị ở thiết bị lưới mắt vuông là đụt ngoài Đụt thiết bị ở thiết bị khung sắt là đụt ĨTEDs

3 Tàu thuyền, ngư cụ nghiên cứu

3.1 Tàu thuyền: Tàu được dùng để tiến hành thử nghiêm các thiết bị là tàu lưới

kéo đơn (hình 10), vỏ gỗ Các thông số cơ bản của tàu như sau:

- Ký hiệu tàu: BV 9133TS - Công suất máy chính: 215 cv

- Loại máy: Misumishi - Chiều dài lớn nhất: 16,1 m

- Chiều rộng: 4,38m - Chiều cao mạn: l,85m

H ình 10: Tàu sử dụng cho các chuyên nghiên cứu thí nghiệm

Trang 32

3.2 Ngư cụ

Ngư cụ được sử dụng là hai mẫu lưới kéo đưn của ngư dân dang dùng để khai thác hải sản ở vùng biển Vũng Tàu Mãu lưới số 1 (hình 11) sử dụng đổ thử nghiệm thiết bị lưới mắt vuông; mẫu lưới số 2 (hình 12) dùng để thử nghiệm thiết

bị khung sắt Vật liệu làm lưới là sợi PE, quy cách chỉ lưới được thay đổi theo từng bộ phận của lưới Kích thước mắt lưới lớn nhất tại cánh lưới là 2a = 8()mm

và lOOmm, nhỏ nhất tại dụt lưới là 2a = 15mm

Trang 33

H ình 12: Bản vẽ khai triển mẫu lưới số 2

700D/3x3

Trang 34

KẾT QUẢ NGHIÊN c ứ u

1 LỰA CHỌN ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN c ứ u

Vùng biển nghiên cứu là vùng biển đông Nam Bộ, tại đây có rất nhiều tàu thuyền của nhiều tỉnh như: Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Thuận, Bến Tre, Kiên Giang, Sóc Trăng tham gia khai thác hải sản nhưng Bà Rịa - Vũng Tàu là tỉnh

là nghề cá phát triển, nhất là nghề lưới kéo Theo số liệu thống kê [7] vào năm

2000 số lượng tàu thuyền tham gia khai thác hải sản bằng nghề lưới kéo của các

tỉnh trên như sau:

- Bà Rịa - Vũng Tàu: 2.323 chiếc

- Bình Thuận: 1.077 chiếc

- Kiên Giang: 3.306 chiếc

Tuy Kiên Giang có đội tàu lưới kéo lớn hơn Bà Rịa - Vũng Tàu nhưng vùng hoạt động chính của đội tàu lưới kéo của tỉnh này không phải là vùng biển đông Nam Bộ, do vậy đề tài đã chọn nghề lưới kéo của Bà Rịa - Vũng Tàu là đại

diện cho nghề lưới kéo ở vùng biển đông Nam Bộ và chọn Bà Rịa - Vũng Tàu là địa phương để tiến hành các hoạt động nghiên cứu của đề tài

Để biết được hiện trạng nghề lưới kéo đáy của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, đề tài đã tiến hành một số chuyến khảo sát tại một số cơ quan quản lý nghề cá và các cơ sở sản xuất của địa phưctng Tại thời điểm nghiên cứu, tổng số tàu thuyền

khai thác hải sản của tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu [4] là 5.180 chiếc, với tổng công

suất là 491.135 cv Trong đó, số tàu làm nghề lưới kéo là 1.970 chiếc, chiếm

38,03% tổng số tàu thuyền toàn tỉnh; nghề câu có 1.252 chiếc, chiếm 24,17%

tổng số tàu thuyền; nghề lưới vây có 389 chiếc, chiếm 7,51% tổng số tàu thuyền;

nghe lưới rê có 697 chiếc, chiếm 13,46% tổng số tàu thuyền; các nghề khác có

872 chiếc, chiếm 16,83% tổng số tàu thuyền Như vậy, nghề lưới kốo là nghề

khai thác chính ở tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu Số lượng tàu thuỵền làm nghề lưới kéo

có công suất lớn hơn 90 cv là 1.585 chiếc, chiếm 80,46% tổng số tàu thuyền làm

nghề lưới kéo

Đề tài đã tiến hành thu thập số liệu các tàu làm nghề lưới kéo khai thác hải

sản các cảng cá tại Vũng Tàu Tổng số tàu khảo sát là 70 chiếc, trong đó có 26

chiếc làm nghề lưới kéo đơn và 22 đôi tàu làm nghề kéo đôi Bảng tổng hợp tình

hình khai thác của nghề lưới kốo đơn như bảng 9 (a và b) và nghề kéo đôi như

bảng 10

Chương 3

Trang 35

Bảng 9a Bảng tổng hợp tình hình khai thác của nghê lưới kéo đơn kéo tôm

Trang 36

Bảng 10 Bảng tổng hợp tình hình khai thác của nghê lưới kéo đôi

Kí hiệu tàu Công suất(cv) Ngư cụ Tgỉan kéo

ĩưới(h) Mè ngà)

SỐ Ìgày/chuyếi

Sàn lượng chuyến bien Mực T ỳ lệ % Cá TP Tỷ IỘ9Í Cá nhò Tý ìệ'Ắ Tôm T ỳ lệ % Khác T ỵ lệ % :si.(kg

Trang 37

Từ bảng 9a và 9b, tổng hợp được bảng 11.

B ảng 11 Bảng tổng hợp tình hình khai thác của nghê lưới kéo đơn

Thời gian bình quân trong

Sản lượng khai thác bình quân

của một chuyên/ tàu (kg)

Trong đó: Mực 371,43kg, chiếm 17,50 % 3198kg, chiếm 11,64%

Cá thương phẩm 409,67kg, chiếm 19,30% 6212kg, chiếm 22,61%Tôm 781,76kg, chiếm 36,83% lOOkg, chiếm 0,36%

Cá phân 558,86kg, chiếm 26,32% 17220kg,chiếm 62,69%

Từ bảng 11 có thể nhận xốt như sau:

Tàu làm nghề lưới kéo đơn nếu kéo tôm thời gian tàu hoạt động khai thác trung bình trong một chuyến biển là 7 ngày, nếu kéo cá thời gian tàu hoạt động khai thác trung bình trong một chuyên biển là 23 ngày Thành phần sản lượng chính của lưới kéo tôm là tôm, chiếm 36,83%; sản lượng mực chiếm 17,50%; sản lượng cá thương phẩm chiếm 19,30%; sản lượng cá phân chiếm 26,32% Thành phần sản lượng chính của lưới kéo cá là cá, trong đó cá phân chiếm 62,69%, cá thương phẩm chiếm 22,61%; sản lượng tôm phân chỉ chiếm 0,36%; mực các loại ch iếm ll,6 4 % Đối tượng khai thác chính của các tàu làm nghề lưới kéo đơn kéo cá là các loại cá nhỏ, có giá trị kinh tế thấp

Tàu thuyền làm nghề lưới kéo đôi (bảng 10) có công suất lừ 60cv - 1200cv Thời gian tàu hoạt động khai thác trung bình là 29 ngày/chuyến; thời gian kéo lưới từ

4 - 6giờ/mẻ; mỗi ngày tàu hoạt động khai thác từ 2 - 4 mỏ Sản lượng khai thác bình quân 46.586kg/đôi tàu/chuyến Trong đó, sản lượng mực chiếm 23,35%; sản lượng tôm chiếm 1,07%; sản lượng cá thương phẩm chiếm 35,92%; sản lượng cá phân chiếm 36 74%; sản lượng các loại khác chiếm 2,93% tổng sản lượng trong chuyên biển

Như vậy đối với một số tàu đã khảo sát thấy rằng đối tượng đánh bắt của nghề lưới kéo đơn và lưới kéo đôi có sự khác nhau Vấn đề đáng quan tâm ở đây là thành phần sản lượng cá phân chiếm tới 62,69 % sản lượng khai thác của lưới kéo đơn, thành phần sản lượng cá phân của lưới kéo đôi cũng chiếm 36,72 % sản lượng khai thác Điều này cho thấy nghề lưới kéo có ảnh hưởng rất lớn đến nguồn lợi hải sản Cần phải có những biện pháp bảo vệ nguồn lợi hải sản theo hướng cho thoát cá nhỏ

Trang 38

2 LỰA CHỌN THIẾT BỊ ĐỂ NGHIÊN c ứ u THÍ NGHIỆM.

Nhiệm vụ của đề tài là nghiên cứu ứng dụng thiết bị thoát cá con cho lưới kéo đáy, điều này có nghĩa là dựa vào các nguồn tài liệu và các công trình nghiên cứu đã công bố về vấn đề thiết bị thoát cá con để lựa chọn thiết bị tốt Sau đó thiết kế chế tạo thiết bị theo mẫu và tiến hành đánh bắt thí nghiệm Từ kết quả đánh bắt thí nghiệm lựa chọn thiết bị tối ưu, phù hợp điều kiện vùng biển nghiên cứu

Một số kiểu thiết bị thoát cá con đã được đề cập ở chương Tổng quan các tài liệu nghiên cứu gồm:

- Tạo ra lỗ thoát là mắt lưới vuông

- Tạo ra lỗ thoát là khe hở (khoảng cách giữa hai thanh của thiết bị)

Nhìn chung các thiết bị này đều tạo ra những lỗ thoát không thay đổi và những khe hở phù hợp để cá thoát

Nguyên lý hoạt động của các thiết bị thoát cá con là dựa vào tập tính của cá, khi cá vào lưới và bị dồn về phía cuối của dụt lưới, không gian bị thu nhỏ dần, cá thường tìm cách thoát ra khỏi lưới Sự tìm cách thoát của cá càng mãnh liệt khi cá vào đến cuối thân và phía đầu của dụt lưới, nơi cá bị dồn vào một không gian chật hẹp Các thiết bị thoát cá được đặt ở phía trên của phần áo lưới tiếp giáp giữa thân và đụt lưới hoặc phần đầu của dụt lưới Cá có kích thước nhỏ sẽ tìm cách trốn thoát qua khe hở giữa hai thanh của thiết bị hoặc qua các mắt lưới vuông của thiết bị Cá có kích thước lớn hơn không thể chui qua lỗ thoát sẽ đi sâu vào dụt lưới

Vùng biển của Thái Lan, Indonexia, M alaysia đã được thử nghiệm thiết bị thoát cá con, về điều kiện tự nhiên vùng biển có nhiều điểm giống và rất gần vùng biển nghiên cứu, các đối tượng khai thác của lưới kéo đáy cũng có nhiều điểm tương đồng Do đó, hướng lựa chọn thiết bị để thực hiện các nội dung nghiên cứu cũng sẽ lựa chọn các thiết bị hoạt động theo nguyên tắc là tạo ra nhiều vị trí thoát cho cá kiểu

mắt lưới vuông và dạng khe hở.

2.1 Lựa chọn thiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới m ắt vuông.

Hiện nay tài liệu và các công trình nghiên cứu về thiết bị thoát cá con kiểu mắt lưới vuông đã được nghiên cứu và thí nghiệm nhưng không nhiều Sử dụng thiết bị thoát cá con hoạt động theo nguyên tắc tạo ra nhiều vị trí cho cá con thoát dựa vào độ

mở tự nhiên của mắt lưới vuông cũng là hướng giải quyết tốt Có 2 phương án sử dụng mắt lưới vuông là sử dụng toàn bộ dụt lưới hoặc sử dụng dạng tấm lưới mắt

Trang 39

vuông (cửa sổ mắt vuông) Vì sản phẩm của lưới kéo đáy của vùng biển đông Nam

Bộ không phải chỉ có cá mà còn có tôm và động vạt chân đầu (bạch tuộc, mực), nếu

sử dụng toàn bộ đụt là mắt vuông thì các đối tượng này sẽ thoát hết ra ngoài do vậy

đề tài chọn kiểu tấm lưới mắt vuông là thiết bị nghiên cưú của đề tài

2.2 Lựa chọn thiết bị thoát cá con kiểu khe hở.

Các thiết bị thoát cá con kiểu khe hở hoạt động theo nguyên tắc là cho cá con thoát ra ngoài qua các khe hở do khoảng cách giữa 2 thanh của thiết bị tạo lên Như các tài liệu [10]; [11]; [12]; [13], [14]; [15] các thiết bị loại này, gồm:

- Thiết bị khung sắt

- Thiết bị hình chữ nhật

- Thiết bị nửa đường cong

K ết quả nghiên cứu của Malayxia đối với loại thiết bị khung sắt có kích thước khe hở là 20mm vàl2m m (hình 4) đã thu được kết quả như sau:

Trường hợp khoảng trống giữa 2 thanh chắn là 20mm đã giải thoát được khoảng 73% sản lượng khai thác, trường hợp khoảng trống giữa các thanh chắn là 12mm, giải thoát các loài chỉ đạt 35% sản lượng khai thác Nhóm cá tạp, chủ yếu là

thành phần cá con của loài cá dìa (Siganus sp.), khả năng giải thoát qua các thiết bị

chiếm tới khoảng 87% và 70% sản lượng khai thác đối với trường hợp khoảng trống giữa các thanh chắn tương ứng là 20mm và 12mm 100% loài cá ba thú

(Rastretreỉliger brachysoma) cỡ trung bình và cỡ lớn trên 120mm đã được giữ lại

trong trường hợp khoảng trống giữa 2 thanh chắn là 12mm, nhưng 40% sản lượng cá này được giải thoát trong trường hợp khoảng trống 20mm Đối với loài cá lượng

(Nemỉpterus sp.), các thiết bị này đã cho kết quả tốt, chỉ giữ lại những cá cỡ lớn trên

1 lOmm khi khai thác ban ngày nhưng lại giữ lại cá có kích thước cỡ nhỏ hơn khi khai thác ban đêm

Úng dụng thiết bị thoát cá con của Inđonêxia đã được thực hiện với cả 3 loại thiết bị: thiết bị khung sắt; thiết bị hình chữ nhật; thiết bị nửa đường cong (hình 5, hình 6) kết quả thu được như sau:

Có khoảng 79% là tổng sản lượng cá thoát ra thiết bị kiểu khung sắt với khoảng cách giữa các song sắt có kích thước là 40mm, với 25% là mức độ tổng sản lượng thoát ra của hai thiết bị JTEDs nửa đường cong và hình chữ nhật Mức độ thoát

ra đoi với cá tạp là 68% sản lượng cá tạp thoát ra khi sử dụng thiết bị khung sắt, 4% sản lượng cá tạp thoát ra khi sử dụng thiết bị nửa đường cong và 17% sản lượng cá tạp thoát ra khi dùng thiết bị hình chữ nhật Như vậy, đối với cả 3 loại thiết bị, kết quả thí nghiệm cho thấy loại thiết bị khung sắt luôn cho kết quả thoát cá nhiều hơn so với thiết bị hình chữ nhật và thiết bị nửa đường cong tính theo sản lượng cá tạp (cá nhỏ)

Đối với kết quả nghiên cứu ứng dụng của Thái Lan (như hình 7 và hình 8) Thái lan cũng đã thử nghiệm thiết bị kiểu hình chữ nhật và thiết bị nửa đường cong

để thí nghiệm thiết bị thoát cá con

Trang 40

Thiết bị hình chữ nhật đạt li' lệ phẩn trăm thoát theo sản lượng của những loài

cá kinh tế từ 32 - 59% và những loài cá tạp thoát ra từ 5 - 20%

Thiết bị nửa đường cong đạt tỉ lệ thoát theo sản lượng từ 29 - 36% đối với các loài cá kinh tế và từ 5 - 12% đối với các loài cá tạp

Các kết quả nghiên cứu của Thái Lan đã cho kết quả là thiết bị hình chữ nhật cho cá nhỏ thoát ra tốt hơn thiết bị nửa đường cong

Dựa trên kết quả phân tích và đánh giá trên, các kết quả thí nghiệm cho thấy loại thiết bị khung sắt cho cho cá thoát tốt hơn so với thiết bị hình chữ nhật và thiết bị nửa đường cong tính theo sản lượng cá tạp (cá nhỏ) Do đó, đề tài chọn thiết bị khung sắt là thiết bị nghiên cứu của đề tài Kiểu thiết'bị là các khung sắt có hình dạng là hình chữ nhật, kiểu thiết bị này đã được ứng dụng có hiệu quả ở Malaysia, Brunei và được SEAFDEC có một số thử nghiệm ở Việt Nam

3 THIẾT KÊ CHÊ TẠO THIẾT BỊ.

Như kết quả đã nêu ở phần lựa chọn thiết bị, hướng nghiên cứu của đề tài là sử dụng thiết bị khung sắt và thiết bị tấm lưới mắt vuông để thực hiện nội dung nghiên cứu của đề tài Do đó cần phải thiết kế và chế tạo thiết bị phục vụ cho công tác khai thác thí nghiệm thực tế trên biển

3.1 T hiết bị thoát cá con kiểu tấm lưới m ất vuông

3.1.1 T hiết k ế thiết bị

Thiết bị này được thiết kế theo kiểu lưới mắt vuông mà một số nước đã nghiên cứu và ứng dụng trong thực tế sản xuất nghề lưới kéo lôm Tấm lưới mắt vuông được cấu tạo bởi các mắt lưới hình vuông, được đan từ sợi PA hoặc PE, mắt lưới luôn mở trong quá trình lưới làm việc, v ề kích thước của tấm lưới mắt vuông Đề tài “Ngư cụ chọn lọc” của Viện Nghiên cứu Hải sản đã thiết kế các loại tấm lưới mắt vuông có kích thước là 800mm X 2ƠOOmm, ký hiệu cho các tấm lưới loại này là TLV để làm thiết bị nghiên cứu Kích thước của mắt lưới vuông được lựa chọn là: 20mm; 25mm; 30mm và 35mm Các tấm lưới mắt vuồng (TLV) được thể hiện ở hình 13 và bảng 12

TLV30

800

t 3

-TLV35

Hình 13: Các tấm lưới mắt vuông TLV

Ngày đăng: 19/07/2021, 08:15

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w