Khác vái Thái Lan , nghề nuôi tôm ở Trung Quốc và Đài Loan đã phát triển trong diều kiện khí hậu có nhiều khó khăn : mùa đông nhiệt độ thấp , mùa hè mưa bão , diện tích vùng nước lợ có t
Trang 2VIỆN NGHIÊN CỨU HA! SẢN
LÊ XẢN
NGHIÊN CỨU MỘT s ố ĐẶC ĐlỂM s in h h ọ c v à c ơ s ở KHOA HỌC CỦA CÔNG NGHỆ NUÔI TÔM s ú (PENAEUS MONODON FABRICIUS 1798)
Ỏ MỘT SỐ TỈNH MIỂN BẮC VIỆT NAM.
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SỸ KHOA HỌC SINH HỌC
HẢI PHÒNG - 1996
Trang 3BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
VIỀN NGHIÊN c ư u HAI SAN
LÊ XÂN
B ộ THỦY SẢN
'/ ị lA-tỊ-lị ) “^rủ bỵ ẮitvQ
NGHIÊN c ứ l ỉ MỘT s ố ĐẶC ĐIỂM s in h h ọ c v à c o s ở k h o a h ọ c CỦA CÔNG NGHỆ NUÔI TÔM s ú (PENAEUS MONODON FABRICIUS 1798)
ở MÔT SỐ TỈNH MIỂN BẮC VIÊT NAM
Chuyên ngành : THỦY SINH HỌC
Mã sô : 1.05.11.
LUẬN ÁN PHÓ TIẾN SỸ KHOA HỌC SINH HỌC
NGƯỜI HƯỐNG DẪN KHOA HỌC :
GS,TS BÙI ĐÌNH CHUNG
HẢI PHÒNG - 1996
Trang 4Tôi xin cam đoan đáy là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các sô liệu , kết quả néu trong luận án là trung thực và chưa từng được ai công bô trong bất kỳ công trinh nào khác
TÁC GIẢ LUẬN ÁN
Lê Xán
Trang 5l è ỉ ỉ t ấ m @ ẩ ì
Trước hết tác giả xin cảm ơn Giáo sư Tiến sĩ Bùi Đình Chung , Viện trưởng Viện nghiên cứu Hải sản , người hướng dẫn khoa học, đã giúp đỡ tác giả về mọi mặt trong suốt quá trình nghiên cứu gần 10 năm qua
Các nội dung nghiên cứu chính của luận án được hoàn thành trong khuôn khổ của một số đề tài dự án thuộc Chương trình khoa học trọng điểm cấp Nhà nước KN 04 thời kỳ 1991-1995 Tác giả xin tỏ lời cám ơn chân thành đối với PGS,PTS Võ Văn Trác , Chủ nhiệm Chương trình ; PTS Tạ Quang Ngọc Phó Chủ nhiệm Chương trình đã tạo nhiều điều kiện thuận lợi , giúp
đỡ tác giả nhiều V kiến trong quá trình thực hiện
Luận án cũng không thể hoàn thành nếu không có sự cộng tác và giúp đõ' của các bạn đồng nghiệp thuộc Phòng Nghiên cứu Nuôi Thủy sản , Phòng nghiên cứu Nguồn lợi Phòng nghiên cứu Môi trường , Trạm nghiên cứu Thu ỷ sản nước lợ , Trạm nghiên cứu Thuỷ sản nước mặn , Phòng Thông tin Tư liệu , Phòng Tin học và Văn phòng Viện nghiên cứu Hải sản Tác giả xin cám ơn các cán bộ lãnh đạo, cán bộ kỹ thuật của Sở Nông Lâm ngư nghiệp Quảng Ninh , Sở Thuỷ sản Hải Phòng, Thái Bình, Nam Hà , Ninh Bình đã tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình điều tra khảo sát
và triển khai các thí nghiệm
Tác giả ghi nhớ sự giúp đỡ của Tiến sỹ Kevan L Main , cán bộ phòng Thông tin tư liệu ,Viện nghiên cứu Hải dương Honolulu (OCEANIC) , Trung tâm nghiên cứu và phát triển nghề cá Đông Nam Á (SEAFDEC) đã sưu tầm và gửi cho tác giả những tài liệu quí báu
Tác giả xin tỏ lòng biết ơn tập thể Lãnh đạo , Hội đồng Khoa học, Hội đồng đào tạo trên Đại học Viện nghiên cứu Hải sản đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ trong quá trình hoàn thành bản Luận án này
Trang 6MỞ Đ Ầ U
CHƯƠNG 1 TỔNG QƯAN TÌNH HÌNH NGHIÊN c ứ u VỂ SINH HỌC
VÀ NUÔI TÔM 1.1 TÌNH HÌNH NGHÊ NUÔI TÔM TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM
Trang 7CHƯƠNG 2 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
2.2 TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ứ u
3.1 ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM s ú
3.2 ĐẶC TRƯNG CỦA Đ Ểư k iệ n T ự n h iê n v e n b ể n b ắ c
BỘ VÀ SỤ'ANH HƯỞNG ĐẾN NGHỀ NUÔI TÔM s ú
Trang 83.3.1 Độ mặn 79
Trang 91 Tôm giống : Postlarva 12-30
2 Tôm non (luvenile) : Tôm giống đã ưoỉng 30-50 ngày (PL40.60)
Trang 10MỞ ĐẦU
Chỉ trong một thập kỷ, tổng sản lượng tôm nuôi của thế giới đến năm
1993 tăng 465% so với năm 1984 [58], nghề nuôi tôm trở thành m ột ngành công nghiệp phát triển mạnh mẽ , đưa lại một số ngoại tệ lớn cho nhiều nước
Trong số các nước có nghề nuôi tôm phát triển , Thái Lan là nước thành công nhất hiện nay Năm 1993 Thái Lan đạt tổng sản lượng 170.000 tấn trên tổng diện tích nuôi 85.000 ha , chiếm 22,8% tổng sản lượng tôm nuỏi của thế giới và cũng là nước đứng đầu về sản lượng tôm xuất khẩu Thái Lan là trường hợp điển hình của những nước có điều kiện tự nhiên thuận lợi thời tiết quanh năm nắng ấm , ít bị gió bão [98]
Khác vái Thái Lan , nghề nuôi tôm ở Trung Quốc và Đài Loan đã phát triển trong diều kiện khí hậu có nhiều khó khăn : mùa đông nhiệt độ thấp , mùa hè mưa bão , diện tích vùng nước lợ có thể nuôi tỏm khống nhiều hơn Việt Nam Nhưng năm 1987, Đài Loan đạt tổng sản lượng tôm nuôi 90.000 tấn; Trung Quốc liên tục đứng đầu thế giới về sản lượng tôm nuôi từ năm
1986-1991 với sản lượng cao nhất 145.000 tấn vào năm 1991 [85] Điều
đáng chú ý là ỏ các nước nói trên tôm sú là đối tượng nuôi chính , sản lượng tôm sú nuôi chiếm từ 70-95% tổng sản lượng tôm nuôi
Việt Nam là một trong những nước sớm quan tâm phát triển nshề nuôi tôm Đến năm 1994 tổng diện tích nuôi của Việt Nam là 227.000 ha nhưng sản lượng tôm nuôi chỉ mới đạt 70.000 tấn[123] Trong đó trên 80% diện tích và sản lượng tôm nuôi là từ các tỉnh miền Trang và Nam bộ Năm 1995 ,Việt Nam đã có trên 260.000 ha nuôi tôm , trở thành m ột trong
những nước có diện tích nuôi tôm lón ở Châu Á Riêng các tỉnh Nam bộ có
Trang 11165.000 ha [33] gấp gần 2 lần tổng diện tích nuôi của Thái Lan, có điều kiện tự nhiên thuận lợi như Thái Lan Miền Bắc có gần 75.000 ha với điều kiện không khó khăn hơn miền Nam Trung Quốc và Đài Loan Nhưng tồm nuôi của Việt Nam chỉ bằng 1/3 tổng sản lượng , 1/6 về năng suất trung bình/ha của Thái lan và còn đứng sau nhiều nước châu Á Những số liệu so sánh trên chứng tỏ nước ta đã sớm xác định vai trò quan trọng của nghề nuôi tôm và có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển nhưng tốc độ phát triển của ta còn rất chậm , chưa phát huy hết tiềm năng của đất nước
Các tỉnh ven biển Bắc bộ gồm Quảng Ninh , Hải Phòng , Thái Bình , Nam Hà , Ninh Bình có diện tích nuôi tóm chiếm 70% diện tích nuôi của miền Bắc và 20% diện tích nuối tôm của cả nước Tuy có điều kiện khí hậu thời tiết khó khăn hơn các tỉnh miền Trung nhưng mỗi năm các tỉnh Bắc bộ vần có 6-7 tháng tương đối thuận lợi [45] Nghề nuối tôm ỏ' đây có truyền thống từ láu đời Bởi vậy , một số tỉnh như Quảng Ninh , Hải Phòng , Nam
Hà đã xác định nuôi tôm là ngành kinh tế mũi nhọn , là đòn bẩy để phát triển kinh tế vùng ven biển [52,53,54] Nhưng đến cuối những năm 80 , hầu hết diện tích nuôi tôm ở các tỉnh này vẫn nuôi quảng canh Đối tượng nuôi chủ yếu là tôm rảo có giá trị thấp và một số loài thuộc giống tôm he có sản
lượng không đáng kể như p merguiensis; p indicus ; p japonicus Các
loài nàv cũng là những loài tôm nuôi truvền thống của nhiều nước nhưng ít được họ quan tâm phát triển
Do đó để phát triển nghề nuôi tôm ở miền Bắc , cần phát triển nuôi tôm
sú Bởi vậy đề tài của luận án được xác định là : Nghiên cứu một s ố đặc
điểm sinh học và cơ sở khoơ học của công nghệ nuôi tôm sú (Penaeus monodon Fabricius 1798) ở một s ố tỉnh miền Bắc Việt nam
Trang 12Mục tiêu của luận án là : Trên cơ sở đặc trưng của điều kiện tự nhiên ven biển miền Bắc và đặc điểm sinh học của tôm sú mà đề xuất được qui trình công nghệ nuôi phù hợp với điều kiện sinh thái , góp phần đảm bảo sự phát triển lâu bền và có hiệu quả kinh tế cao cho nghề nuôi tôm ỏ' miền Bắc
Luận án đã trình bày các đặc điểm sinh học chủ vếu của tôm sú phán bố ỏ' biển Việt/U:am và tôm sú nuôi ỏ' miền Bắc , bổ sung những hiểu biết cơ bản về một đối tượng nuôi quan trọng vốn chưa được nghiên cứu , tìm hiểu Luận án cũng đã nghiên cứu đặc trưng của điều kiện sinh thái ven biển Bắc
bộ và tác động của các điều kiện đó đến việc phát triển nuồi tôm sú Các kết quả nghiên cứu trên là tiền đề cho việc triển khai các thí nghiệm sát với điều kiện sinh thái miền Bắc cả ở trong điều kiện phòng thí nghiệm và ỏ' qui
mô sản xuất tại ao đầm nuôi
Tổng hợp các kết quả nghiên cứu trên là những cơ sở khoa học để lần đáu tiên qui trình công nghệ nuôi tóm sú cho các tỉnh ven biển Bắc bộ được đề xuất Qui trình đang được áp dụng và có hiệu quả ở nhiều cơ sở nuỏi tóm Tôm sú từ chỗ là một loài tôm hoàn toàn mới ở các ao đầm nước lợ miền Bắc đang trở thành một đối tượng nuôi quan trọng hơn các đối tượng nuôi truyền thống trong vùng , mỏ' ra khả năng phát triển cho nghề nuôi tôm ở miền Bắc trong thời gian tới
Chúng tõi nghĩ rằng phương hướng nghiên cứu trên là đúng đắn và bước đầu đã đem lại kết quả Tuy nhiên , do nhiều hạn chế khách quan và chủ quan , thời gian nghiên cứu của chúng tôi chưa nhiều , điều kiện kinh phí , vật tư thiết bị rất thiếu thốn chắc chắn các kết quả thu được chỉ là bước đầu và còn rất sơ bộ Nhiều vấn đề còn phải tiếp tục nghiên cứu , giải quvết trong thòi gian tới Chúng tôi hy vọng rằng kết quả thu được này có tính
Trang 13chất mở đầu cho một công việc to lớn là phát triển nghề nuôi tôm ở nước ta
mà đặc biệt ỏ' miền Bắc nhằm thực hiện chính sách phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nước đã khẳng đinh
Trang 14CHUƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN cứ u SINH HỌC
1990 còn có xu hưóng giam (Hình 1)
TSL (ngân tàn)
Hình 1 : Tổng sản lượng tôm khai thác của thế giới năm
1984-1990 (Nguồn FAO 1992)
Trang 15Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về sản lượng tôm các nước ven biển đã tập trung phát triển nuôi tôm Nhũng năm cuối của thập kỵ 80 nghể nuói tóm đã có những bước phát triển nhanh chóng Các trại nuói tôm được xây dung ở gần 40 nước , đưa sản lượng tôm nuối từ tv lệ 2,1 % năm 1981 lên
22 % năm 1988 so với tổng sản lượng tôm [101] So vói năm 1984 sản lượng tôm nuôi năm 1990 tăng 368% với gần 600.000 tấn [85] Năm 1993 san lượng tôm nuôi đạt 744.000 tấn (Hình 2) Csavas (1990) ước tính sản lượng tôm nuôi năm 2000 khoảng 900.000 tấn Nhiều tác giả nhận định sản lượng này sẽ vượt con số 900.000 tấn [58,78.91]
Trang 16Năm 199] , Trung Quốc là nước đứng đầu thế si ới và khu vực với tống sản lượng tóm nuói đạt 145.000 tấn chiếm 26,1% đứng thứ 2 là Inđónéxia 25.2% tiếp là Thái Lan 19.8% v.v [137] Từ nam 1992 Thái Lan vươn lén
vi trí hàng đầu về san lượng tóm nuôi và tổng sản lượng tóm xuất khẩu [98].Như vậy trong hơn 10 năm sản lượng tóm nuỏi đã tàng một cách vững chắc Rosenberrv (1992) ước tính tỷ lệ tăng hàng nàm của năm 1989 là
3.4% năm 1990 là 5,7% và năm 1991 là 9%.
Năng suất tôm nuôi cũng đã rất khác nhau ỏ' từng nước Từ năm 1985 -
1989 Đài Loan đạt năng suất cao nhất : 4500 - 7000 kg/ ha tiếp đó là Thái Lan và Trung Quốc 1200 - 1500 kg/ha Đến năm 1993 năng suất tóm nuôi của Thái Lan đạt truns bình 2000 kg/ha [98]
1.1.2 Việt Nam.
Việt Nam có hơn 3200 km bờ biển vói diện tích đám nước lọ' vào loai lớn trong các nước Cháu Á Nghề nuôi tóm ỏ' Việt Nam có từ láu đời nhung chủ vếu là nuỏi quảng canh theo phương thức " láy giống tư nhiên giũ' trong ao đầm và thu hoạch " Trước năm 1975 diện tích nuối tóm cá nước lọ' của cả nước khoảng 85.000 ha'trong đó miền Bắc khoảng 15.000 ha [35] miền Nam 70.000 ha [108.130] Năm 1986 tổng diện tích tôm nuói của cả nước đạt 124.600 ha với tổng sản lượng khoảng 23.800 tấn [68] Đến năm
1994 tổng diện tích nuói tôm cùa Việt Nam đã lên tới 227.000 ha với tổng sản lượng khoảng 70.000 tấn[123](Bảng 1)
Nuôi quảng canh ỏ' Việt Nam thuộc dạng nuối đa loài Tóm được nuôi cùng với cua , cá rong Hình thức này phổ biên cả ỏ' miền Bắc m iền Trung và miền Nam Nuối tôm trên ruộng muối phổ biến ở miền Trung và mièn Nam Nuôi tóm kết hợn với cấy lúa phổ biến ỏ' Hậu Giang và Minh Hải [155]
Trang 17B á n g 1 : Diện tích và sản lượng tôm nuôi của v iệt nam
từ năm 1988 - 1994 (Nguồn: Phạm Thược và Võ Văn Trác, 1994)
ha / vụ cho các năm sau ỏ' 7 tỉnh miền trung Cuối năm 1989 ao nuôi tóm đầu tiên của VATECH đã thu hoạch với sản lượng gần 4 tấn / ha /vụ [39] Sau đó , do nhiều nguyên nhân liên doanh ngừng hoạt động Đến cuối năm
1995 , nuôi tôm theo hình thức quảng canh vẫn chiếm tỷ lệ trên 78 % ở Nam bộ và 83% tổng diện tích nuôi ở miền Bắc
Năng suất trung bình của các ao nuôi quảng canh ở 10 tỉnh N am bộ đến nav chỉ còn lại 70 - 150 kg/ha /năm [28], ở miền Bắc là 50-60 kg/ha/năm [131].Diện tích nuôi QCCT ở các tỉnh Nam bộ đến năm 1995 có 39.832 ha chiếm 19 % tổng diện tích nuôi, năng suất 200-700 kg/ ha / năm [33]
Trang 18300-400 kg/ha/nãm [22] Nuôi QCCT ở miền Bắc chỉ chiêm hơn 10 °ỉc
diện tích nuôi Năng suất nuôi QCCT là 200 - 250 kg / ha / năm , nàng suất nuôi quảng canh ngàV càng giảm, có nơi chỉ còn 30 - 40 kg / ha / năm [48] Nuôi bán thâm canh (BTC ) ở miền Nam mới có 6 116 ha , chiếm 3 % diện tích , năng suất 550 - 1000 kg / ha / năm [27] ; 400 -600 kg / ha /năm [22] Nuôi BTC ở miền Bắc chỉ mới được bắt đầu thử nghiệm
Bên cạnh sự tăng trưởng nhanh chóng của nưhề nuôi tóm ở nhiều nước thì một số nước đã gặp thất bại khá nặng nề Đài Loan đạt sản lượng tôm nuôi năm 1987 là 90.000 tấn nhưng năm 1988 còn 30.000 tấn , năm 1990 chỉ còn 9.000 tấn (Brigg , 1993) Trung Quốc năm 1990 , 1991 có sản lượng tóm nuôi đạt đỉnh cao 145.000 tấn , từ năm 1992 nhiều ao nuói tóm của Trung Quốc thất thu làm giảm một lượng lớn tổng sản lượng tóm nuỏi của nước nàv
Nguyên nhân cơ bản của hiện trang này là ao đầm nuôi không được qui hoạch , mật độ nuôi quá cao, con giống nhiễm bệnh, mói trường nuôi bị ó nhiễm trên qui mô lớn làm bệnh lây lan Đó là những bài học m à Việt Nam và các nước khác cần có biện pháp phòng tránh ngay tù' lúc mới bắt đầu phát triển
Hình thức nuôi QC đang phổ biến hiện nay ỏ' Việt Nam đặc biệt ở các
tỉnh m iền Bắc tuv có một số ưu điểm là đầu tư í t kỹ thuật đơn giản , nhưng gâv ra nhiều hậu quả xấu Theo Phan Nguyên Hồng (1994) , trong 4 điều tác hại chủ yếu do việc phát triển các diện tích nuôi tôm auảnc canh , tác hại to lớn nhất là phá hoại môi trường sinh thái tự nhiên , thu hẹp vùng sinh trưởng của tôm cá giống , đẩy nhanh sự suy thoái các vùng nước lọ ' Do vậy cần nhanh chóng hạn chế và giảm tối đa diện tích nuôi quảng canh và cần phải lựa chọn một số hình thức nuôi phù hợp với điều kiện Việt Nam , đảm
Trang 19bảo sư Dhát triển lâu bền đề phòng nhữns thất bại mà một số nước đã gặpphải
1.1.3 Các loài tởm nuôi
Theo FAO (1992) trong số 15 loài tôm nuôi có 3 loài đặc biệt quan
trọng có sản lượng lớn là : Tôm sú (Penaeus monodon) , tôm nương (P
orientaỉis) và tôm he chấn trắng [P vannamei), các loài ít quan trọng hơn là
: tôm he (P merguiensis) , tôm rảo (Metapenaeus ensis), tỏm he Nhật Bản
(P japonicus), tốm he Ân Độ (P indicus) Trong 3 loài tôm nuôi quan
trọng tóm sú được nuôi phổ biến ỏ' nhiều nước , tôm nương được nuôi nhiều nhất ỏ’ Trung Quốc, Triều Tiên Tôm he chân trắng được nuôi ỏ' Hoa
Kỹ và một số nước Nam Mỹ [48]
Trong 36 loài tõm có giá trị kinh tế khai thác được ở biển [85] , sản lượns tóm sú đứng thứ 35 Nhưng trong 15 loài tóm nuói , sản lượng tôm sú đúng hànc đầu và tv lệ tôm sú nuôi ngàv một gia tăng Theo FAO ( 1992 ) sản lượng tóm sú nuói chiếm 33 % sản lượns tỏm nuôi năm 1990, tiếp đó là tôm nươns 22 % tôm he chán trắng 13% (Hình 3) Đến năm 1991, tôm sú nuôi đã chiêm tv lệ 49,7 % với sản lượng 370.000 tấn (Hình 4) Trong 10 năm cóng nghiệp nuôi tôm phát triển , tv lệ và sản lượng tôm sú nuôi lién tục tăng (Hình 5) ó các nước Cháu Á - Thái bình dương , tôm sú chiếm tv
lệ cao n h ấ t Riêng ỏ' Thái U n , năm 1991 , tôm sú chiếm 89,5% sản lượng
tôm nuôi , năm 1992 : 93,1% và năm 1995 là 95,0% [58].
0 Việt Nam , Phạm Thược và Võ văn Trác (1995) cho biết tôm sú được nuôi ở 86% các trại nuôi quảng canh và quảng canh cải tiến , 9 1 % các trại nuôi bán thâm canh nuôi chuyên tôm sú, rất ít các trại nuôi chuvên các loài
Trang 21Những dẫn liệu trên cho thấy tôm sú là đối tượng nuôi được nhiều nước quan tâm nhất, trong đó có Việt Nam Sự gia tăng sản lượns tóm sú nuỏi đóng vai trò quvết định trong sự phát triển của nghề nuôi tỏm ỏ’ nhiều nước Bởi vậy đã có nhiều công trình tập trung nghiên cứu về tôm sú
1 2 ĐẶC Đ Ế M SINH HỌC CỦA TÔM s ú .
1.2.1 Vị trí phân loại và phán bô
1.2.1.1 Vị trí phân lo ạ i.
Tôm sú Penaeus monodon Fabricus 1798 được một số tác giả trước đây xác đinh cho cả hai loài p nionodon và p semisulcatus
Trang 22Holthuis (1949) xác định rõ ràng tên p moììodon cho loài tôm sú hiện nay, Cho đến nay loài này chưa có loài phụ còn p monodon maniỉlensis do
Villazuz và Anãola (1938) mô tả đã được Mohamed (1970) và Motoh
(1981) chứng minh là một mẫu khồng bình thường của p semisuỉcaĩus VỊ
trí phán loại của tôm sú như sau :
Giống : Penaeus Fabricius 1798
Tên tiếng Anh phổ biến là Gianỉ Tiger prawìì , tiếng Pháp Crevette geanĩe
Tigre, tiếng Tây ban nha : Camarcm Tigre Gigante , ỏ' Đài loan là Grciss shrimp , ở Australia là dumbo prawn, ở Philippin là durnbo Tiger shrinip
với tên địa phương là Sugpo , ỏ' Nhật là Ushi-ebi ỏ' Hồng kỏng là GỈĨOĨ
prawn , ờ Inđônexia : Udang Wmdu Udano panĩjeí ỏ' Ấn độ là Bagda chingdi , Yara , Karachenmeen, dinga [123].
ơ Việt nam p.monodon được gọi là tôm sú có nơi 2ỌÌ là sú rằn , chú V loài
tôm rằn là p semisulcatus.[ 10,36].
Đặc điểm hình thái của p monodoìì đã được nhiều tác giả ỏ' nhiều nước
mô tả rất chi tiết như Villaluz và Arrioỉa (1938) ; Holthuis (1949) ; Hall
Trang 23(1962); Motoh (1981) ; Motoh và Buri (1981),(1984) ; Starobogatov, (1972) v.v
1.2.12 Phân bố.
Tôm sú phân bố rộng rãi ở Ấn độ dương ở Thái bình dương , tôm sú phán
bố về phía Bắc tới Nhật Bản , Đài Loan , phía Đông tới Tahiti , phía Nam tới Úc và vùng biển phía Đông Châu Phi [90,118,119]
Theo Motoh (1981), tồm sú phân bố từ kinh độ 30° Đông tới 155°Đông và
từ vĩ độ 35° Bắc đến 35 0 Nam nhưng tập trung chủ vếu ở các nước nhiệt
đới, đặc biệt ồ Inđônêxia , Malaixia , Phi-lip-pin(Hình 6 ).
Hình 6 : Phân bố của tôm sú trên thế giới ( Motoh 1981).
Mohamed (1970) cho biết : tôm sú phán bồ' trên một phần lớn khu vực Ấn
Độ - Thái bình dương từ Nam Phi cho đến nam Nhật Bản ,Bắc New South Wales của ú c và tập trung chủ yếu ở các vùng nước ấm Hall (1962) cho rằng : ở vùng biển Aiden đã đánh bắt được tôm sú trưởng thành trong
Trang 24vùng nước có độ sâu nhỏ hơn 9m và ỏ' vùng rất nông của quần đảo M afia , Tansania.
ở Việt Nam , Nguyễn Cháu và Trần Đệ (1964) cho biết tôm sú phân bố
từ Quảng Trị đến Bình Thuận Trần Hữu Phương (1973) trong kết quả nghiên cứu về phân bố địa lý của họ tôm he ở vịnh Bắc bộ cho biết tôm sú phân bố từ vĩ độ 19-21° Bắc nơi có độ sâu nhỏ hơn lOm Năm 1975-1976 , Viện nghiên cứu Hải sản điều tra nguồn lợi tôm he (Penaeidae) vùng biển gần bờ tù’ Móng cái (QN) đến Cửa Sót (HT), kết quả nghiên cứu được tổng kết trong các báo cáo tổng kết và báo cáo chuyên đề của Phạm Ngọc Đẳng , Nguyên Cồng Con, Nguyễn Ngọc Toàn , Vũ Jữiư Phức , Nguyên Hải Đường , Nguyễn Việt Thắng , Trần Chu , 1978 Theo các tác giả này tôm sú phân
bố ở độ sâu nhỏ hơn 50m Đặng Ngọc Thanh và CTV (1994) xếp tôm sú thuộc nhóm phân bố rộng nhưng tập trung nhiều ở biển miền Trung Nguyễn Văn Chung , Phạm Thị Dự (1995) xác định tôm sú phản bố chủ vếu
ở vùng biển miền Trung và Nam bộ
Từ năm 1982 - 1985 Viện nghiên cứu Hải sản "Điều tra trữ lượng nguồn lợi tôm biển miền Đông và Tây nam bộ" trên tàu 200 cv Các mẻ lưới điều tra được tiến hành tại vùng biển từ Vũngĩàu đến Phú Quốc và tập trung nhiều ỏ' các bãi tôm Nam Vũng Tàu, Anh Đông , Anh Tây , Hòn Chuối , Nam Du Kết quả đã xác đinh được 33 loài tôm phân bố trong vùng Tốm
sú thuộc nhóm 2 cùng các loài p.semisulcatus, Metapenaeus intermedicus,
là nhóm phân bố rải rác trong toàn vùng biển nghiên cứu nhưng chỉ gặp ỏ' một số mẻ lư ới, mỗi mẻ 2-5 cá thể Độ sáu phân bố từ 20-40m
Từ năm 1987-1990 chúng tôi điều tra về nguồn tôm sú bố mẹ phục vụ các trại giống ỏ' Quy Nhơn, Hội An, Cù Lao Chàm cho thấy tôm sú ở đây có mật độ phân bố tương tự như vùng biển Phú Yên , KhánhHoà.Đặc biệt hầu hết các m ẻ lưới khai thác ỏ vùng Cù Lao Chàm đều bắt gặp tôm sú nhất là
Trang 25vào thời gian từ tháng 11 đến tháng 2 năm sau Vùng biển Thuận An , Lăng Cô, Cửa Gianh Cửa S ót cửa Hội ít có các bãi tôm , ít có các tàu giã tôm khai thác nhưng ngư dân vẫn bắt được tôm sú tuy số lượng không đáng
kể Từ năm 1993 đến nay nhiều tàu giã tốm ỏ' miền Trung ra khai thác ở vùng biển Hải Phòng , Quảng Ninh đều đã khai thác được tôm sú có khối lượng từ 80 - 240gam , phân bố ỏ độ sâu nhỏ hơn 50m-Xác xuất bắt gặp từ tháng 10 đến tháng 3 cao hơn các tháng khác
Như vậy , ở Việt Nam tôm sú phán bố ỏ' hầu hết các vùng biển từ Quảng Ninh đến Kiên Giang nhưng mật độ tập trung cao hơn ở vùng biển từ Đà Nang đến Khánh Hoà Độ sâu sâu nhất đã gặp ở 50 mét nước Sản lượng tôm sú khai thác được khống đáng kể so với các loài khác nhưng có rải rác quanh năm
1.2.2 Sinh trưởng
Trong ao nuôi tôm sú có thể đạt tỷ lệ sống 90 % , tăng trường nhanh đến mức đạt lOOs / con sau 4-5 tháng nuôi ỏ' mật độ thấp , phần lớn đạt khối lượng 30 - 60g[60] Delmendo và Rabanal (1956) đã cho biết tốc độ sinh trưởng của tôm sú trong điều kiện ao nuôi như sau : tôm nuôi 1 tháng đạt khối lượng 0,69g ; 2 tháng đạt 9,8 g ; 3 tháng đạt khối lượng 11,1 g ; 4 tháng 15,3g ; 6 tháng 18 g và 1 năm đạt 95,1 g Hall (1962) đưa ra mối quan hệ giữa sinh trưởng về chiều dài và khối lượng của tôm sú là w = I.OOOOCcl 2640 Nguyễn Trọng Nho và Tạ Khắc Thường (1996) cho biết quan hệ đó là W=0,0009L3’5494 với giai đoạn PL12_60 và W =0,0187L2,6498 với tôm có khối lượng từ 2g đến 40g
Chiều dài lớn nhất của con cái đã gặp ở Philippin là 336 mm (Holthuis 1980), 270mm (Motoh và Buri, 1982) Crosnier (1965 ) quan sát thấy tồm
sú cái thành thục lớn nhất có tổng chiều dài 307mm ở Madagasca Apud
(1983) cho biết tôm sú đánh bắt được ò biển khơi có khi đạt 500 đến 60Og
Trang 26Solis (1988) cho biết tôm sú thường lột xác vào ban đêm Wickin (1976) đã xác định những điều kiện kích thích tôm lột xác nhưng không sinh trưởng và các điều kiện môi trường , dinh dưỡng có tác động lớn đến tôm đang lột Thời gian để vỏ mói của tôm con cứng lại cần một ít giờ , ỏ' tôm trưởng thành phải cần 1 đến 2 ngày [154,155] Một số tác giả như Adivodi (1970) ; Mantel và Farmer (1983) ; Adiyodi (1985) ; Kleinhonz (1985) ; Skinner (1985) và Truchot (1983 ) cho biết sự lột xác và sinh sản của tôm sú được hoóc môn điều khiển Bishop và Herrkind (1976) ; Wickin (1976) thấv rằng các yếu tố bên ngoài có ảnh hưởng đến sự lột xác của tôm
he như ánh sáng , nhiệt độ , độ mặn , hàm lượng phốt pho nhưng cơ chế ảnh hưởng thì chưa rõ c
Chanratchakool (1994) cho biết tần số lột xác của tôm sú có khối lượng 2-5 £ là 7 - 8 ngày lột xác một lần tôm có khối lượng 23 - 40 g là 14 -16 ngàv một lần [71] Tác giả cho biết tôm đực và tóm cái có tần sô lột xác khác nhau , tóm cái có khối lượng 50 - 70 g là 18 - 21 ngày / lần còn tóm đực cùng khối lượng là 23 - 30 ngàv / lần
Đến nay chưa có phương pháp nào được đề xuất để nghiên cứu tuổi thọ của tôm sú mà mới chỉ được theo dõi khi nuôi giữ Villaluz et al (1969) cho rằng tuổi thọ tôm sú là 2 nãm ; Srivatsa (1953) cho là 12 - 15 tháng ; Motoh (1981) là 1,5 năm với con đực và 2 năm với con cái Apud (1983) cho rằng tôm sú có thể sống tới 3-4 năm , thậm chí 5 năm
1.2.3 Dinh dưỡng
Apud (1984) thông báo tôm sú ở giai đoạn ấu trùng Zoea ăn thực vật phù
du với hai giống tảo Silic thích hợp là Chaetoceros và Skeletonema Ớ giai
Trang 27đoạn Mvsis chuyển sang ăn một số loài động vật phù du , luân trùng và ấu trùng Nauplius của Artemia Giai đoạn Postlarva tôm ăn giun nhiều tơ, ấu trùng tôm , cua , nhuyễn thể , mùn bã hữu cơ Hall (1962 ) cho biết tôm sú
ăn tạp Đặc biệt tôm sú trưởng thành thích ăn giáp xác , sản phẩm thực vật , giun nhiều tơ , nhuyễn thể , cá , côn trùng Thomas (1972 ) còn thấy có cả bùn cát trong ruột tôm như là một thức ăn tình cờ Villadolid và villaluz (1981) cho biết các giai đoạn ấu trùng sớm của tôm sú ãn sinh vật phù du Marte (1980 ) thấy rằng 85 % thức ăn trong ruột tôm là giáp xác cỡ nhỏ và nhuyễn thể Kuttyama (1973) cho rằng bùn và các mùn bã hữu cơ chiếm phần lớn trong dạ dày tôm sú
Trong điều kiện ao nuôi , Apud (1983) cho rằng ỏ' mật độ nuôi 5000 con / ha thì khồng cần thiết phải có thức ăn bổ sung và tuỳ sự tăng trưởng của tôm trong ao mà có nhu cầu thức ăn bổ sung khác nhau Với hình thức nuôi bán thâm canh nhu cầu thức ăn bổ suns chiếm từ 50 - 80 % , nuôi thâm
canh trên 90 % Thức ăn tự nhiên của tóm sú trong ao nuôi bao sồm các
loài rong tảo như Chaetomoipha , thực vật phù du , Lablab và các loài sinh vật đáy V V.
Theo Benard (1992) , nhu cầu protein trong thức ăn hỗn họp của tôm sú
là 35 - 40 % , tôm he Nhật là 50- 60 % , trong khi nhu cầu protein trong
thức ăn của tôm he chân trắng là 20-25 % và của p stylorostris là 30-35 %
Pascual (1979) cho rằng các thông tin về nhu cầu dinh dưỡng của tôm sú rất thiếu, kể cả nhu cầu về các thành phần chủ yếu như protein , lipid, carbonhydrat trong thức ăn của tôm sú cũng rất khan hiếm Alava và Lin (1983) dùng đầu tôm , thịt cá , thịt mực , thịt giun đ ấ t , đậu nành để có các
khẩu phần thức ăn có hàm lượng protein từ 25 - 60 % Kết quả m ột khẩu phần 40 % protein đã cho tỷ lệ sống gấp hai lần khẩu phần 32 % proteín '
Trang 28Primavera (1989) cho biết một khẩu phần protein 40 - 52 % chế biến từ thịt mực , đầu tỏm , thịt cá , đậu nành v.v đã cho kết quả nuôi vỗ tôm sú bố mẹ khả q u an Sau các cống trình nghiên cứu của mình trong gần 10 năm cộng với kết quả của các tác giả khác , Pascual (1988) đã xác định khá chi tiết về nhu cầu protein , lipid , carbonhvdrat, muối khoáng , vitamin trong thức
ăn của tôm sú
ơ giai đoạn ấu trùng sớm , ấu trùng tôm he nói chung và tôm sú nói riêng
ăn mồi là thực vật phù du theo cơ chế lọc thụ động Từ giai đoạn cuối Mvsis đến khi trưởng thành tôm bắt mồi chủ động [59] Tôm dùng chân kìm ỏ' cuối các đôi chân bò bắt mồi đưa vào miệng , nhai và rỉa mồi chậm , thức ăn không tiêu được thải ra sau khi ăn 4 tiếng Thành phần thức ăn trong dạ dàv tóm biến đổi theo mùa và hoạt động bắt mồi tăng lên trong khi thuv triều xuống [60,100,114] Hughes (1969) cho biết hầu hết các loài tôm he trong đó có tôm sú có tập tính hoạt động bắt mổi ngày đêm Theo óng^tôm sú hoạt động bắt mồi trên bề mặt đáy vào ban đêm và vùi mình vào ban ngày
Những nghiên cứu về dinh dưỡng của tôm sú ở nước ta còn rất ít Nguvễn
Thị Xuân Thu (1991) công bố kết quả nghiên cứu nuôi tảo Skeletonema
costatum làm thức ăn cho ấu trùng tôm ở ven biển miền Trung Việt Nam
Lê Viễn Chí và Đỗ Văn Khương (1994) nghiên cứu nuôi tảo Silic làm thức
ăn cho ấu trùng tôm Đối với giai đoạn tôm t hịt, mới có một số kết quả về xây dựng công nghệ chế biến thức ăn cho tôm của Nguvễn Văn Thoa (1991) và một số tác siả khác
Trang 29với các loài tôm nuôi ở Hoa kỳ và Panama như : Maci-obrachium
amalonicum, Palaemonetes pugio , Penaeus plebejus , Penaeus aztecus , Penaeus ỷetigenus , Jame (1992) cho rằng 4 yếu tố đặc biệt quan trọng là
nhiệt độ , độ mặn , oxy hoà tan và độ đục của nước Theo tác giả , nhiệt độ tác động vào hoạt động của các phân tử và là yếu tố tác động quyết định đến tốc độ tăng trưởng của tôm
Cũng với loài Penaeus aztecus ,Venkataramiah (1977) thí nghiệm ỏ' các
nhiệt độ 21, 26 và 31° c cho thấy khối lượng của juvenile loài này tăng khác nhau ở các nhiệt độ khác nhau , trong khoảng nhiệt độ 21-3ƯC nhiệt
độ càng cao tốc độ sinh trưởng càng lớn ông cho rằng nhiệt độ 31 °c làm tăng lượng thức ăn cần thiết sử dụng cho thí nghiệm , ngược lại thức ăn còn thừa ỏ' thí nghiệm có nhiệt độ 21 và 26 °c
Motoh (1981) và Choe (1971) cho rằng nhiệt độ ảnh hưởng đến sự lột
xác của các loài Penaeus aitecus , P.vannamei và P japonicus Kết quả
nghiên cứu của các tác giả này cho thấy ở nhiệt độ từ 20-28° c , các loài tôm trên đều có chu kì lột xác ngắn hơn , khối lượng tăng nhanh hơn ỏ nhiệt độ thấp hơn 20°c Preston (1985) thấy rằng nếu nhiệt độ tăng từ 19-
Penaeus pìebeusMetapenaeus macieơyi và M bennettae giảm xuống 40% Đối với tôm sú ,Chakratboti (1985) cho biết trong khoảng nhiệt độ 21- 31°c , nhiệt độ đã không ảnh hưởng rõ nét lên sinh trưởng và tỷ lệ sống
Một số tác giả khác cho rằng tôm sú chỉ sinh trưởng và phát triển tốt ở nhiệt
Trang 30Qua đó ta thấy các nghiên cứu về ảnh hưởng của nhiệt độ đối với tôm sú chưa hoàn chỉnh , kết quả nghiên cứu của các tác giả trên chưa thống n h ấ t.
1.3.2 Độ mặn
Valencia (1977) cho rằng độ mặn thích hợp cho sinh trưởng và tỷ lệ
sống của tôm sú , tôm he , tôm he Nhật Bản là 10 - 20 %o ở độ mặn này
p semisulcatus có tỷ lệ sống thấp ở độ mặn lớn hon 50%o tất cả 4 loài
tôm trên đều bị chết Theo tác giả , nhiệt độ và độ mặn tạo nên sự ảnh
hưởng kết hợp Các loài tôm trên có tỷ lệ sống cao ồ nhiệt độ trung bình
thấp và độ mặn trung bình cao Nhưng sinh trưởng nhanh hơn ở nhiệt độ
tmng bình cao và độ mặn trung bình thấp
Gaudy và Sloane (1981), Kutty (1971) và Rao (1958) nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên lượng tiêu hao oxy thấy rằns sự thay đổi của độ mặn không ảnh hưởng rõ nét đến sự hô hấp và cường độ trao đổi chất của tôm sú
Tuổi của Postlarva đóng vai trò quan trọng trong khả năng chịu đựng sự thay đổi độ mặn trong quá trình di cư từ biển vào sông và ngược l ạ i Kutty (1971) thí nghiệm với tôm he Ấn Độ cho biết tôm có khối lượng 1,0 g có thể thích nghi với độ mận 7,2-35%0 ở tôm lớn hơn (l,0-3,0g) sự thích nghi biểu hiện yếu hơn Với tôm sú , Licop (1988) thấy rằng ảnh hưởng của độ mặn , nhiệt độ tuỳ theo tuổi của Postlarva Ông cho rằng nhiệt độ không ảnh hưởng đến sự tiêu thụ ôxy ỏ' PL5_g đến PL25_28 nhưng ảnh hưởng
rõ rệt ở PL35 38 nhất là PL49 52- Trái l ạ i , độ mặn ảnh hưởng lên sự tiêu thụ ôxy của PL5 g đến PL25 _ 2g , ảnh hưởng rõ rệt nhất ở PL35 3g và PL42 _ 60 Chu và So (1977) nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn lên sự phát triển của trứng và và các giai đoạn ấu trùng tôm rảo cho thấy: tỷ lệ sống của ấu trùng Nauplius , Zoea , Mysis của tôm rảo tăng từ độ mặn 20 đến 30%o và
Trang 31giảm không đáng kể ở độ mặn 35%0 Đối với 3 loài Penaeus pỉebeịus ,
Meta.peneus macleayi và M.bennettae kết quả nghiên cứu của Preston
(1985) cho thấy tỷ lệ sống của ấu trùng Nauplius , Zoea , M ysis khác nhau
Nghiên cứu ảnh hưởng của độ mặn đến chu kv lột xác của tôm sú giống , Manick (1979) nhận thấy tôm sú nuôi trong ao có độ mặn 32-40%o có chu
kỳ lột xác dài hon ở trong ao có độ mặn 15-20%o Jame (1992) thì cho rằng độ mặn ảnh hưởng lên chu kỳ lột xác của tôm không rõ ràng Theo tác giả khi độ mặn nhỏ hơn 5 % 0 tất cả các loài thuộc giống tôm he bị sốc trừ tôm sú Độ mặn lớn hơn 35%0 làm chậm sinh trưởng
Preston (1985) nghiên cứu ảnh hưởng kết hợp của nhiệt độ và độ m ặn lên
tỷ lệ sống và tốc độ sinh trưởng của ấu trùng 3 loài tôm p plebejus ; M
niacleơyi và M bennette thấy rằng ấu trùng Nauplius Zoea và M vsis của
cả 3 loài trên có tỷ lệ sống cao nhất ở nhiệt độ 19 - 20° c , độ mặn 30- 35%0 Zein-Eldine và Adrich (1965); Venkataramiah (1977) quan sát thấy
tỷ lệ sống của p.aitecus cao nhất ở 18-25 0 c và độ mặn 5-35% 0
Kemp (1915) ; Domantay (1956) ; Delmendo và Rabanal (1956) mô tả rằng tôm sú ở giai đoạn tôm con thường ẩn mình dưới cây cỏ , chúng theo
Trang 32thuỷ triều vào cửa sông, vùng nước lợ để sinh trưởng Hughes (1969) quan sát thấy postlarva di chuvển vào vùng gần bò' khi thuỷ triều lên còn juvenile
di chuyển ra xa bò' khi triều xuống , cũng là lúc độ muối giảm luvenile bơi trong dòng nước và phản ứng nhịp nhàng với sự thay đổi nồng độ muối Postlarva phản ứng lại sự thay đổi nồng độ muối bằng cách chìm xuống nằm nguyên chỗ , ít hoạt động khi thủy triều xuống Khi thủy triều lên , postlarva bơi theo dòng nước để vào vùng gần bờ
Những kết quả nghiên cứu trên cho thấy tôm sú là loài rất rộng muối Tuv nhiên , các vấn đề như khả năng chịu đựng sự biến động độ mặn đột ngột của tôm sú ỏ' giai đoạn giống và giai đoạn tôm t h ị t , ảnh hưởng kết hợp của độ mặn và nhiệt độ lên sinh trưởng của tôm sú và độ mặn tối ưu cho sinh trưởng của các giai đoạn tôm sú thì chưa được nghiên cứu chi tiết hoặc chưa thống nhất giữa các kết quả của các tác giả
1.3.3 Hàm lượng Oxv hoà tan
Hàm lượns ôxy hoà tan trong nước là một trong các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến tỷ lệ sống và sinh trưởng của tôm nuôi Chiu (1992) nhận thấy tôm sú bị chết khi hàm lượng ôxy nhỏ hơn 3,5 mg / 1 Sediman và Lawrence (1985) thì cho rằng tôm sú bị sốc và chết khi hàm lượng ôxy là 2.0 mg/1, ngay cả trong một thời gian rất ngắn Fast (1986,1988); Chanratchkool et al (1995) cho rằng ỏ' hàm lượng ôxy nhỏ hơn 4 mg / 1 tôm
sử dụng thức ăn kém và dễ nhiễm bệnh, ô ng cho biết trong ao nuôi quảng canh hàm lượng oxy hoà tan giao động trong ngày từ 6 - 10 mg / 1 , ỏ' ao nuôi bán thâm canh không có sục khí lúc thấp nhất là 3,5 mg / 1 , lúc cao nhất 15,0 mg /1 Ao nuôi thâm canh lúc thấp nhất có thể xuống Omg / 1 trong khi lúc cao nhất 25,0 mg/1 Tác hại do hàm lượng ôxy thấp tuỳ thuộc vào hàm lượng ôxy có trong ao và thời gian mà tôm phải chịu đựng
Trang 33Hàm lượng ôxy hoà tan trong ao nuôi chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố Yếu tố đầu tiên cung cấp ôxy hoà tan cho nước ao là quá trình quang họp của thực vật phù du và thực vật thuv sinh khác có trong ao Laws và Malecha (1981) công bố giữa lượng thực vật phù du , sự hô hấp , sự sinh trưởng và hàm lượng oxy hoà tan có mối quan hệ đồng thời Smith và Piedrahita (1988) cho rằng có mối quan hệ giữa mật độ chlorophylle và hàm lượng ôxv hoà tan Hàm lượng ôxy hoà tan ở mức cao nhất khi hàm lượng chlorophylle vào khoảng 150- 250 mg /1
Madenjian (1988) ; Meyer and Brune (1982) ; Piedrahita et al (1984) ; Fast et al (1988) .V V đã xác định mối liên quan giữa tốc độ gió và khả năng khuyếch tán ôxy vào nước Tốc độ gió lớn làm tăng hàm lượng ôxy khuyếch tán từ khí quyển vào nước
Boy et al (1978a , 1992) cho rằng cường độ ánh sáng thấp có thể kìm chế sự phát triển của thực vật , làm giảm khả năng cung cấp ôxy cho vùng nước
Hàm lượng ôxy tầng mặt và tầng đáy trong ao nuôi không có thiết bị đảo nước và sục khí thường rất khác nhau và có sự phân tầng rõ r ệ t Sediman và Lawrence (1985) nhận thấy tầng đáy ao thường có nhiệt độ và hàm lượng ôxy hoà tan luôn luôn thấp Sự phân tầng chưa được nghiên cứu kỹ , hiện tượng này thường xẩy ra khi trời lặng gió và bức xạ mặt trời cao
Hàm lượng oxy hoà tan còn liên quan đến độ sâu của nước ao ở tất cả các ao có độ sâu từ l,0m đến l,5m đều có sự phân tầng rõ rệt về ôxy hoà tan , về nhiệt độ giữa tầng đáy và tầng mặt [81,84]
Ớ Việt Nam các nghiên cứu về ảnh hưởng của hàm lượng ôxy lên sinh trưởng và tỷ lệ sống của tôm sú chưa được công bố Đặc biệt ở ven biển Bắc bộ chưa có những số liệu về sự biến động hàm lượng ôxy hoà tan , sự
Trang 34phân tầng của nhiệt độ , ôxy trong ao nuôi và ảnh hưởng của yếu tố này lên
tỷ lệ sống và sinh trưởng của tôm sú
1.3.4 Độ pH.
Độ pH có ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp đến tôm nuôi , pH thấp có thể làm tổn thương các phần phụ , mang , quá trình lột xác và cứng vỏ của tôm [62 ]
Kết quả nghiên cứu của Wickin ( 1976 ) cho thấy pH giảm sẽ ảnh hường lên quá trình lột xác và quá trình cứng vỏ đầu ngực Bemard (1992) kết luận là khồng nên xâv dựng ao nuôi tôm ở những nơi đất có pH nhỏ hơn 5,5 , pH nước ao nuôi phải đạt mức tối thiểu là 7 và tối đa 10 Chiu (1992) nhận thấv pH nước ao nhỏ hơn 4,5 và lớn hơn 10,5 sẽ làm chết tôm ; pH từ4.5 - 7,0 và 8,5 - 10 tôm sinh trưởng kém , mức hấp thụ thức ăn của tôm giảm và hậu quả xấu kéo dài ; pH từ 7,0 - 8.5 là phù hợp cho sinh trưởng và phát triển của tôm nuôi
Trang 35độ nước ao và ỏ' hàm lượng 0,003 ppm đã gây độc hại cho tôm , tử vong có thể xẩy ra ỏ' hàm lượng 1,0 ppm Kungvankji và Chua (1986) khẳng định H2S rất độc hại cho sinh vật sống đáy và các loài tôm có tập tính vùi mình như tỏm sú ơ nồng độ HọS từ 0,1 - 0.2 ppm tôm đã xuất hiện trạng thái mất thăng bằng Các tác giả trên đưa ra phưong án xử lý rẻ tiền và hữu hiệu
lcà tăn ÍT sự thav đổi nước trong ao để nsăn cản sự tâng lên của HoS
1.4 CÔNG NGHỆ NUÔI TÔM s ú .
Nuhề nuôi tôm tuy mới phát triển mạnh trong hơn 10 năm nhưng đã hình thành nhiều cống nghệ nuôi khác nhau Mỗi khu vực , mỗi nước mỗi vùns sinh thái đã được nshiên cứu để xây dựng các quy trình côns nghệ riêng Các quy trình công nghệ khác nhau từ mức độ đầu tư đến năng suất thu hoạch Tuy nhiên , có thể phân ra các hình thức nuôi như sau : Nuôi quảns canh (QCTN - extensive) , nuôi quảng canh cải tiến (QCCT improve- extensive) nuôi bán thâm canh (BTC ,semi-íntensive ) thám canh (TC - intensive) và siêu thâm canh ( STC, supper hoặc ultra- intensive) Các hình thức nuôi trên khác nhau ỏ' mỗi nước và ngay cả ỏ' các khu vực trons cùng một nước
Nuôi quảno canh :
Trang 36Fast (1988) cho rằng ao nuôi QC có lịch sử từ lâu đời và ít có sự tác động của con người n h ấ t Hệ sinh thái ao nuôi rất giống với hệ sinh thái tự nhiên
về nguồn dinh dưỡng , nguồn giống Cho đến nay nuôi quảng canh vẫn khá phổ biến vì đầu tư thấp và có thể nuôi liên tục nhiều năm mặc dù năng suất thấp Liao (1987) cho biết nuôi quảng canh ỏ' Đài loan đã có từ hon 300 năm nay Tôm và cá được nuôi chung trong 1 ao có diện tích hàng chục
ha, sản lượng tuỳ thuộc vào điều kiện môi trường và sự may rủi do thiên tai
Về sau ao được nâng cấp , diện tích mỗi ao còn khoảng 3 ha , năng suất 200
kg / ha / năm [91,104] ở Philippin và Inđônêxia mỗi nước có hon 200.000
ha vùng nước lợ , ở đó nuôi QC vẫn là chủ yếu , sản lượng trung bình khoảng 50 kg / ha / năm Tại hai nơi này tôm sú là loài tôm nuôi phù hợp nhất [130] Kungrankij et al (1986) cho biết ao nuôi QC ỏ' Thái lan chủ vếu
là nuôi ở mộng muối hay ruộng lúa một vụ , năng suất khoảng 50 kg / ha/ năm Apud (1983) xếp nuôi QC ỏ' Philippin là nuôi ở diện tích lớn , tận dụng thức ăn thiên nhiên nhưns có thể bổ sung từ 1000 - 10.000 tôm giốns / ha, năng suất tôm dao động từ 100 - 500 kg / ha / năm, 200 - 800 kg / ha bao gồm các loài tôm, cua, cá v.v
ở Việt Nam , Bùi đình Chung (1988) cho biết năng suất tôm nuôi QC khác nhau ở mỗi vùng : miền Bắc 50 -60 kg / ha / năm , miền Trung khoảng
100 kg và miền Nam 190 - 200 kg / ha / năm Mai Văn Cứ (1988) cho biết diện tích đầm nuôi QC ở Việt Nam giao động tù' 5-100ha , sản phẩm có tới 70% là tôm rảo , 10% tôm he và 20% là các loài tôm khác Đặng Ngọc Thanh và cộng sự (1990) cho biết năng suất đầm nuôi QC ỏ' ven biển Bắc
bộ giao động từ 30-100 kg/ha/năm
Nuôi bán thâm canh :
Trang 37Kungvankji (1986) phân biệt nuôi QC và BTC ỏ' Philippin bằng m ột số chỉ tiêu trong đó có hai chỉ tiêu quan trọng là diện tích ao và năng suất thu hoạch Tại đây diện tích ao là 0,5 - 2,0 ha , năng suất thu hoạch 900 kg / ha/năm Apud et al (1983) đưa ra chỉ tiêu nuôi BTC ở Philippin là diện tích
ao 1,0 - 5,0 ha , giống thả 1 - 5 vạn con / ha , năng suất 500 - 4000 kg / ha / năm Hirono (1983) cho biết ao nuôi BTC ở Ecuado có diện tích từ 20 -
200ha ,trên 50 % ao nuôi BTC có diện tích trên 50 ha , 10 % có diện tích
mỗi ao 200 ha ở TháiLan diện tích ao nuôi BTC 8 - 16 ha năng suất 500 -
1500 kg / ha / năm [59] Tất cả ao nuôi BTC đều sử dụng thức ăn bổ sung cùng với thức ăn tự nhiên, nước được cung cấp nhờ thuỷ triều và bom , có trang bị thiết bị sục khí và đảo nước để sử dụng lúc cần th iế t
Ồ Việt hiam nuôi BTC mới chỉ được bắt đầu từ sau năm 1988 Nguyễn Trọng Nho (1991) cho biết cho đến giữa năm 1990 miền Trung Việt Nam
có khoảng 300 ao nuôi tôm BTC , diện tích phổ biến nhỏ hơn 1 ha , một số
ao 1,5-2ha năng suất 500-2100 kg/ha/vụ
Nuôi thâm canh
Nuỏi thâm canh phát triển trước hết ỏ' Đài Loan , Nhật B ản sau đó ở Thái
|jan , Philippin , Inđônêxia Hình thức nuôi này cũng khác nhau ờ mỗi nước
Benard (1992) cho rằng có thể dùng bể hoặc ao có diện tích từ 0,25-2,5 ha
để nuôi , mật độ thả 40 con/m2 , năng suất 3,5 - 5,0 tấn /ha/vụ Apud (1983) cho biết năng suất nuôi TC ỏ' Philippin từ 5-15 tấn / ha / năm Nuôi
TC đòi hỏi người quản lý phải có trình độ cao về kỹ thuật và quản lý điều hành, phải chủ động ỏ' tất cả các khâu : nước , giống , thức ăn, sục k h í , đảo nước , phòng trừ dịch bệnh
Trang 38ở Việt Nam , năm 1989 liên doanh VATECH xây dưng một số ao nuôi thâm canh nhưng thực tế chưa đạt tiêu chuẩn ao nuôi thâm canh Năng suất thu hoạch chủ vếu 1000-2000kg/ha/vụ , chỉ có 1 ao ở H uế đạt gần 4tấn /ha/vụ Sau đó do nhiều nguyên nhân , hình thức nuôi này không được phát triển tiếp tục
Những thông tin trên cho thấy tôm sú là đối tượng nuôi chủ yếu của nhiều nước có nghề nuôi tôm phát triển nên nhiều công trình nghiên cứu
về sinh học , phán bố và công nghệ nuôi tôm sú đã được tiến hành Nhiều tác giả đã nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố môi trường chủ vếu lên sinh trưởng , tỷ lệ sống của tôm sú Tuv nhiên , các yếu tố môi trường chủ vếu như nhiệt độ , độ mặn thường được xác định xuất phát từ điều kiện thực tế của mỗi nước mà chủ yếu từ các nước có điều kiện thuận lợi ơ các nước có điều kiện không thuận lợi cho sinh trưởng và phát triển của tôm sú tương tự miền Bắc Việt Nam như Trung Quốc , Đài Loan các kết quả nghiên cứu rất ít được công bố Một số kết quả nghiên cứu về ảnh hưởng của 2 yếu tố quan trọng là nhiệt độ và độ mặn chưa được thống nhất , nhất
là ở những nơi hai yếu tố này có sự biến động lớn
Ở Việt Nam các nghiên cứu về đặc điểm sinh học của tôm sú còn rất ít Đặc biệt ở các tỉnh ven biển Bắc bộ , sự biến động của các vếu tố môi trường chủ yếu như nhiệt độ , độ mặn còn lớn hơn rất nhiều so với điều kiện của các vùng nghiên cứu đã được nêu ở trên Mặt khác tôm sú không phải là loài tôm nuôi truyền thống của miền Bắc nén trước năm 1990 chưa
có công trình nào nghiên cứu , xác định khả năng nuôi tôm sú ỏ' miền Bắc Thực tế nhiều năm qua cho thấy khó có thể phát triển nuôi tôm ở miền Bắc
Trang 39có vai trò quan trọng cho việc đề xuất các công nghệ nuôi tôm sú thích hợp góp phần phát triển nghề nuôi tôm ở vùng này
Trang 40CHƯƠNG 2 ■
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN c ú ư .
2.1 ĐỊA Đ Ể M NGHIÊN cứu
Trên cơ sở tiềm năng , hiện trạng , điều kiện sinh thái của từng vùng , các địa điểm nghiên cứu được lựa chọn như sau :
-Tại Tỉnh Quảng Ninh :
- Huyện Hải Ninh ,
- Đồ Sơn ( đại diện vùng ven biển gần cửa sông)
- Tại Tỉnh Thái Bình : huyện Thái Thuỵ (đại diện cho vùng cửa sông Hồng) -Tại Tỉnh Nam Hà: huyện Xuân Thuỷ (đại diện vùng cửa sông Hồng)
Với các đặc điểm trên có thể xếp các địa điểm nghiên cứu thành 2 khu vực :
- Vìmgcửơ sông hình phễu : gồm Hải Ninh , Hồng G a i, cẩm Phả (QN) , Cát
Bà , (HP).đại diện cho các vùng nước lợ vùng Đông Bắc ít có các cửa sông lớn
- Vùng cửa sông châu thổ : Đình Vũ , Đồ Sơn , Thái Thuỵ , Xuân Thủy ,
đại diện cho vùng chịu ảnh hưởng của các sống lón nhất miền Bắc thuộc hai
hệ thống sông Hồng và sông Thái bình