Nghệ An là tỉnh có hệ thực vật rất đa dạng với nhiều khu bảotồn thiên nhiên như Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt, … và đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu khoa học về thực vật nhưng các công t
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS TS NGÔ TRỰC NHÃ
Vinh – 2010
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp Thạc sĩ khoa học Sinh học này, tôixin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của Thầy giáo – PGS TS NgôTrực Nhã Người đã trực tiếp hướng dẫn khoa học, chỉ dẫn và giúp đỡ tôihoàn thành bản luận văn
Tôi cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy giáo, cô giáotrong khoa Sau đại học, khoa Sinh học trường Đại học Vinh, UBND huyệnYên Thành, cán bộ và nhân dân xã Hậu Thành – Yên Thành – Nghệ An đãgiúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ tận tình của gia đình tôi, các bạn bè vàcác đồng nghiệp trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu và làm luận văn
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Vinh, tháng 12 năm 2010
Tác giả
Lê Trọng Hùng
Trang 4MỤC LỤC
Mở đầu ……….1
Chương 1 Tổng quan tài liệu 3
1.1 Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới 3
1.2 Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam 5
1.3 Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Nghệ An 8
1.4 Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật 10
1.5 Nghiên cứu về thực vật tại khu bảo tồn núi Tháp Sơn 11
1.6 Điều kiện tự nhiên và xã hội ở khu vực nghiên cứu 12
1.6.1 Điều kiện tự nhiên 12
1.6.2 Điều kiện kinh tế – Văn hoá – Xã hội 15
Chương 2 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 18
2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 18
2.2 Địa điểm nghiên cứu 18
2.3 Thời gian nghiên cứu 18
2.4 Nội dung nghiên cứu 18
2.5 Phương pháp nghiên cứu 19
2.5.1 Thu thập số liệu thực địa 19
2.5.2 Thu mẫu ngoài thiên nhiên 19
2.5.3 Xử lý và trình bày mẫu 20
2.5.4 Xác định và kiểm tra tên khoa học 20
2.5.5 Xây dựng bảng danh lục thực vật 22
2.5.6 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại 22
Trang
Trang 52.5.6.1 Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành 22
2.5.6.2 Đánh giá độ đa dạng loài của các họ 23
2.5.6.3 Đánh giá sự đa dạng loài của các chi 23
2.5.7 Phương pháp nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống 23
2.5.8 Phương pháp xác định giá trị sử dụng 24
Chương 3 Kết quả và bàn luận 25
3.1 Đa dạng về các taxon thực vật 25
3.2 Phân tích đa dạng về dạng sống 48
3.3 Đa dạng về nguồn tài nguyên sử dụng 50
3.3.1 Đa dạng về nguồn gen cây có giá trị sử dụng 50
3.3.2 Đa dạng về nguồn gen hiếm 51
3.3 Mối quan hệ của khu hệ thực vật núi Tháp Sơn với các khu hệ khác (Bắc Quỳnh Lưu, Pù Mát) 53
Kết luận 55
Kiến nghị 56
Tài liệu tham khảo 57 Phụ lục
Trang 6CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
1 Dạng sống
Ph Phanerophytes: Cây có chồi trên đất
Ch Chamaephytes: Cây có chồi sát đất
Hm Hemicriptophytes: Cây có chồi nửa ẩn, chồi ngang mặt đất
Cr Criptophytes: Cây có chồi ẩn chồi nằm dưới mặt đất
Th Theophytes: Cây một năm
Fg Cây làm thức ăn chăn nuôi
Oil Cây lấy dầu, tinh dầu
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 3.1 Danh lục các loài thực vật núi Tháp Sơn Xã Hậu Thành, huyện Yên
Thành, tỉnh Nghệ An 25Bảng 3.2 Thống kê số lượng các taxon trong các ngành thực vật bậc cao có
mạch ở núi Tháp Sơn 44Bảng 3.3 Sự phân bố các lớp trong ngành Mộc lan của núi Tháp Sơn 45Bảng 3.4 Thống kê 10 họ đa dạng nhất của hệ thực vật núi Tháp Sơn 47Bảng 3.5 Thống kê các chi đa dạng nhất trong hệ thực vật núi Tháp Sơn 48Bảng 3.6 Thống kê các dạng sống trong hệ thực vật núi Tháp Sơn 49Bảng 3.7 Thống kê giá trị sử dụng của hệ thực vật núi Tháp Sơn 50Bảng 3.8 Thống kê các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở khu vực núi Tháp
Sơn 52Bảng 3.9 Thống kê số lượng các loài đang bị đe dọa tuyệt chủng ở khu vực
núi Tháp Sơn 52Bảng 3.10 So sánh số loài trên đơn vị diện tích giữa Tháp Sơn với Bắc Quỳnh
Lưu và Pù Mát 53Bảng 3.11 So sánh chỉ số họ, chi của Tháp Sơn với các chỉ số của Bắc Quỳnh
Lưu và Pù Mát 53
Trang
Trang 8DANH MỤC HÌNH VÀ PHỤ LỤC
Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyện Yên Thành và địa điểm nghiên cứu 13Hình 1.2 Bản đồ hiện trạng tài nguyên núi Tháp Sơn xã Hậu Thành, huyện
Yên Thành, tỉnh Nghệ An 17Hình 3.1 Biểu đồ phân bố các taxon của hệ thực vật núi Tháp Sơn …….45Hình 3.2 Biểu đồ phân bố các lớp trong ngành Magnoliophyta ……… 46Hình 3.3 Biểu đồ phổ dạng sống cơ bản của hệ thực vật núi Tháp Sơn 49Hình 3.4 Biểu đồ các nhóm công dụng của khu hệ thực vật núi Tháp Sơn ….51Hình 3.5 Biểu đồ so sánh chỉ số họ, chi của Tháp Sơn với các chỉ số của Bắc
Quỳnh Lưu và Pù Mát ………54Phụ lục 1 Phiếu ghi thực địa
Phụ lục 2 Etiket
Phụ lục 3 Một số hình ảnh về các loài thực vật ở núi Tháp Sơn
Trang
Trang 9Phụ lục 1: Phiếu ghi thực địa
Số hiệu ……….……… ………
Ngày thu mẫu……… ……… ………
Tên thông thường……… ………
Tên khoa học……… ………… ………
Nơi mọc……… ……… ………
Sinh cảnh sống……… ………
Đặc điểm (Lá, thân, cành, hoa, quả, vỏ,…)… ……… ………
Kích thước mẫu……… ……… ………
Giá trị kinh tế (điều tra nhân dân)………….……… ………
Người thu mẫu……….……… …………
Phụ lục 2: Phiếu Etiket TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH KHOA SINH HỌC Tên khoa học: ………
Tên Việt Nam: ………
Ngày thu mẫu:………
Địa điểm thu mẫu: ………
Người thu mẫu: ………
Người định loại: Lê Trọng Hùng – Cao học 16 Thực vật
Người hướng dẫn: PGS TS Ngô Trực Nhã
Trang 10MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Đa dạng sinh học và việc nghiên cứu bảo tồn chúng có ý nghĩa hết sứcquan trọng đối với hệ sinh thái và đời sống con người Nhưng vì sự mưu sinhhàng ngày cho cuộc sống, chính con người lại khai thác, tàn phá thiên nhiên, hủydiệt các loài sinh vật, đặc biệt là nguồn tài nguyên rừng một cách bừa bãi Hậuquả là số loài sinh vật ngày càng giảm về số lượng và chất lượng và sau đó lànhững tai họa thiên nhiên mang lại như giông bão, lũ lụt, hạn hán, sóng thần, lỡđất,… đã làm cho loài người điêu đứng Hiện nay, diện tích rừng ngày càng giảmsút nhanh chóng, chỉ tính từ 1990 - 1995 ở các nước đang phát triển đã có hơn 65triệu ha rừng bị mất, đến năm 1995 diện tích rừng trên toàn thế giới chỉ còn 3,454triệu ha (FAO 1997), tỷ lệ che phủ còn 35% Mỗi tuần trên thế giới có khoảng500.000 ha rừng tự nhiên bị mất hoặc bị thoái hoá Ở Việt Nam trước đây rừng vàđất rừng chiếm 75% diện tích lãnh thổ Tài nguyên rừng với thành phần động,thực vật đa dạng, phong phú Đến năm 1943, diện tích rừng nước ta chỉ còn 14,3triệu ha với tỷ lệ che phủ 43%, đến năm 1993 tỉ lệ che phủ rừng chỉ còn 26% Tớinăm 1999, tuy con số này đã tăng lên 33,2% nhưng vẫn chưa đảm bảo mức antoàn sinh thái cho sự phát triển bền vững của đất nước
Có thể coi đó là cái giá mà chúng ta phải trả cho những việc làm trong quákhứ của mình Thà muộn còn hơn phó mặc cho thiên nhiên, chúng ta hãy cùngnhau hành động để cứu vớt những phần còn sót lại của thiên nhiên Bởi điều đó
có ý nghĩa sống còn đối với sự phát triển và phồn thịnh của con người
Nghệ An với tổng diện tích tự nhiên 1.648.729 ha, trải dài trên địa hìnhrộng gồm miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển và có nhiều dân tộc anh emcùng sinh sống Nghệ An là tỉnh có hệ thực vật rất đa dạng với nhiều khu bảotồn thiên nhiên như Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt, … và đã có rất nhiều côngtrình nghiên cứu khoa học về thực vật nhưng các công trình nghiên cứu về thựcvật đồng bằng chưa được quan tâm đúng mức
Núi Tháp Sơn xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An là khu vựcrừng nguyên sinh, tập quần của hệ thực vật Đông Nam Á, tại đây có khu đềnchùa được hình thành lâu đời Trước Cách mạng tháng 8 được nhân dân làng
Trang 11Giai Lạc bảo vệ và giữ gìn sự tôn nghiêm di tích tâm linh của làng Sau Cáchmạng tháng 8 cũng từng được chính quyền địa phương bảo vệ Núi Tháp Sơn làngọn đồi thấp, tiệm cận khu vực đồng bằng và được bao bọc xung quanh là đồngruộng, làng mạc, chợ búa, trường học và dân cư đông đúc Trải qua bao đời nay,Tháp Sơn vẫn tồn tại là khu rừng nguyên sinh với nhiều loài cây quý hiếm cóghi trong sách đỏ Việt Nam Do tác động của con người với mục đích phát triểnkinh tế làm vườn đồi, vườn rừng Nhân dân đã thực hiện nông lâm kết hợp, chặtthưa cây gỗ lớn để trồng dứa dưới tán rừng đã làm cho hệ sinh thái tự nhiên củanúi Tháp Sơn bị thay đổi nên một số loài cây không tồn tại được Như cây mai
vàng (Ochna intergerrima) thuộc hệ thực vật miền nam tồn tại lâu đời ở đây đã
bị nhân dân chặt lấy hoa thờ Tết nên gần như không còn
Núi Tháp Sơn quần tụ các loài cây lá rộng thường xanh của hệ thực vậtĐông Nam Á ở phía Bắc của Yên Thành Cho đến nay chưa có tác giả nào nghiêncứu, xác định được ở đây còn tồn tại bao nhiêu loài thực vật, có bao nhiêu loàicần được bảo tồn và phát triển Cho nên, việc điều tra, nghiên cứu thảm thực vậtBắc Yên Thành nói chung và ở Tháp Sơn nói riêng là rất cần thiết Đó là lý do
chúng tôi chọn đề tài: “Nghiên cứu thành phần loài thực vật bậc cao có mạch ở khu vực núi Tháp Sơn xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An” góp
phần bảo tồn nguồn gen của các loài thực vật ở Tháp Sơn nói riêng và huyện YênThành nói chung
Trang 12Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Nghiên cứu về đa dạng sinh học trên thế giới
Thực vật là yếu tố không thể thiếu cho sự sống của các loài động vật trênTrái Đất Chúng cung cấp thức ăn, nơi ở, v.v cho nhiều loài sinh vật khác, đặcbiệt là con người Do đó, việc nghiên cứu về thực vật để phục vụ lợi ích của conngười từ xa xưa đã được chú ý và ngày càng được quan tâm
Nghiên cứu thực vật lần đầu tiên đã được người Ai Cập cổ đại đề cậpđến cách đây hơn 3000 năm trước Công nguyên [theo 14, 62], ở Trung Quốccách đây 2200 năm trước Công nguyên và ở Hi Lạp và La Mã cổ đại cũng
đã có nhiều công trình nghiên cứu về thực vật, nhưng tất cả các công trình
đó nghiên cứu chỉ dựa vào sự quan sát, mô tả hình thái bên ngoài.Theophraste (372-286 trước Công nguyên) là người đầu tiên đề xướng raphương pháp phân loại thực vật Ông đã sưu tập, mô tả được gần 500 loài
ghi trong hai tác phẩm “Lịch sử tự nhiên của thực vật” và “Cơ sở thực vật”
[theo 14] Năm 79-24 trước Công nguyên, nhà bác học La Mã Plinus đã mô
tả được gần 1000 loài trong bộ “Lịch sử tự nhiên” gồm 37 tập, trong đó mô
tả chủ yếu là cây làm thuốc và cây ăn quả [theo 14, 62]
Vào thế kỷ XV – XVI, nhờ sự phát triển và tiến bộ về khoa học kỹthuật đã tạo điều kiện cho sự nghiên cứu về thực vật ngày càng phong phúhơn Từ đó đã xuất hiện rất nhiều nhà khoa học như C Linee (1707 – 1778)[68] đã mô tả được 10.000 loài thực vật thuộc 1000 chi của 116 họ, ông đãsáng tạo ra cách đặt tên các loài bằng hai chữ Latinh và lập nên hệ thốngphân loại gồm 7 đơn vị: Giới, Ngành, Lớp, Bộ, Họ, Chi, Loài Sau đó, DeCalldole (1778 – 1841) đã mô tả được các loài thực vật của 161 họ và đưaphân loại trở thành một bộ môn khoa học [61]
Thế kỷ XIX, việc nghiên cứu về thực vật đã phát triển mạnh, mỗiquốc gia đều đã có hệ thống phân loại riêng và các cuốn thực vật chí lầnlượt ra đời Ở Đức có hệ thống của Engler, Metz Nga có hệ thống của
Trang 13Kuznetxop, Bouch, Kursanov, Takhtajan Ở Anh có hệ thống củaHuttchinson, Rendle Mỹ có hệ thống của Bessey, Pulle Áo có hệ thốngcủa Westein, … đã được sử dụng rộng rãi, nhiều công trình nghiên cứu vềthực vật đã được ra đời sau đó.
Song song với sự phát triển của các hệ thống phân loại thực vật ở các
nước, nhiều cuốn thực vật chí cũng xuất hiện như: Thực vật chí Hồng Kông (1861), Thực vật chí Australia (1866), Thực vật chí Ấn Độ (1874), Thực vật chí Miến Điện (1877), Thực vật chí Malaysia (1922 – 1925) Thực vật chí Hải Nam (1972 – 1977), Thực vật chí Vân Nam - Trung Quốc (1977), …
Về nghiên cứu đa dạng sinh học nói chung và đa dạng thực vật nói riêng,thế giới đã có nhiều tổ chức cũng như các chương trình cụ thể đề cập về vấn đềnày như: Hiệp hội quốc tế bảo vệ thiên nhiên (IUCN), Chương trình môi trườngLiên hợp quốc (UNEP), Quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF), Viện tàinguyên di truyền quốc tế (IPGRI) v.v Tài nguyên của Trái đất bị con ngườichúng ta lạm dụng quá mức để phục vụ cho cuộc sống của mình Nên ngày nay,con người đang đứng trước nhiều hiểm họa về môi trường, sinh thái Năm 1992,Hội nghị thượng đỉnh bàn về vấn đề môi trường và đa dạng sinh vật đã được tổchức tại Rio De Janneiro (Brazil) với sự có mặt của 150 nước, tất cả các nguyênthủ quốc gia đều thống nhất và ký vào Công ước về đa dạng sinh vật và bảo vệmôi trường Năm 1990, WWF đã cho xuất bản cuốn sách về đa dạng sinh vật(The importance of biological diversity) Năm 1991, WWF xuất bản cuốn Bảotồn đa dạng sinh vật thế giới (Conserving the World’s biological diversity) 1992– 1995, WCMC công bố một cuốn sách tổng hợp, đã đánh giá tính đa dạng sinhvật toàn cầu, các tư liệu về các nhóm sinh vật, các vùng khác nhau trên toàn thếgiới đã làm cơ sở cho việc bảo tồn chúng có hiệu quả [54] Nhiều công trìnhkhoa học ra đời, nhiều cuộc hội thảo khoa học nhằm thảo luận về các giải phápnghiên cứu cùng nhiều tổ chức quốc tế được nhóm họp để thảo luận, thực hiệnviệc đánh giá, bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học
Trang 141.2 Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Việt Nam
Việt Nam nằm ở vành đai khí hậu nhiệt đới gió mùa, rất thích hợp cho
sự sinh trưởng và phát triển sinh vật nói chung và của thực vật nói riêng Dovậy, thành phần loài thực vật ở Việt Nam cũng rất đa dạng và phong phú.Song quá trình nghiên cứu ở Việt Nam lại chậm hơn so với các nước khác.Thời gian đầu là những nghiên cứu về thực vật nhằm phục vụ việc chữa bệnh
cứu người của các danh y như Tuệ Tĩnh (1417) trong bộ “Nam dược thần diệu”, ông đã mô tả được 759 loài cây thuốc, hay trong cuốn “Vân đài loại ngữ” ông đã chia thực vật ra thành nhiều nhóm cây như cây ăn quả, cây ngũ
cốc, cây rau, cây gỗ, cây thảo, … [61]
Ngoài những tác phẩm cổ điển về thực vật của Loureiro (1790), của Pierre(1879 – 1907), từ những năm đầu thế kỷ XX đã xuất hiện một công trình nổi tiếng,
là cơ sở cho việc đánh giá đa dạng thực vật Việt Nam, đó là bộ “Thực vật chí đại cương Đông Dương” do H Lecomte chủ biên (1907 – 1951) Để biên soạn bộ sách
này, các tác giả đã thu mẫu, định tên, lập khoá mô tả các loài thực vật có mạch trêntoàn bộ lãnh thổ Đông Dương một các khoa học [69]
Sau đó Humbert (1938 – 1950) đã bổ sung, chỉnh lý để hoàn thiện thêm.Gần đây, Aubreville chủ biên Bộ thực vật chí Campuchia, Lào và Việt Nam (1960– 2003), đến nay đã công bố được 29 tập đề cập tới các loài của 74 họ cây có mạch[theo 67]
Trên cơ sở các công trình đã có, Pocs Tamas (1965) đã thống kê được ởmiền Bắc Việt Nam có 5.190 loài [theo 54] và năm 1960 Phan Kế Lộc bổ sungnâng tổng số loài lên 5.609 loài, 1.660 chi và 140 họ (xếp theo hệ thống củaEngler), trong đó có 5.069 loài thực vật hạt kín, 540 loài thuộc các ngành còn lại.Song song với sự thống kê đó, ở miền Bắc từ 1969 – 1976, nhà xuất bản Khoa học
kỹ thuật đã cho ra đời bộ sách “Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam” gồm 6 tập do Lê
Khả Kế chủ biên [30] và ở miền Nam cùng thời gian này Phạm Hoàng Hộ công bố
hai tập “Cây cỏ miền Nam Việt Nam” giới thiệu 5.326 loài, có 5.246 loài thực vật
có mạch, 60 loài thực vật bậc thấp và 20 loài rêu [24]
Để phục vụ công tác khai thác tài nguyên, Viện điều tra Qui hoạch rừng đã
công bố 7 tập “Cây gỗ rừng Việt Nam” (1970 – 1988) giới thiệu khá chi tiết các
Trang 15loài cây gỗ cùng với hình vẽ minh hoạ [66], đến năm 1996 công trình này được
dịch ra tiếng Anh do Vũ Văn Dũng chủ biên Thái Văn Trừng (1978) trong “Thảm thực vật rừng Việt Nam” đã thống kê thực vật Việt Nam có 7.004 loài, 1.850 chi
và 289 họ Trong đó, ngành hạt kín có 6.366 loài (90,9%), 1727 chi (93,4%), 239
họ (82,7%) Ngành dương xỉ có 599 loài (8,6%), 205 chi (5,57%) và 42 họ(14,5%) Ngành hạt trần có 39 loài (0,5%), 18 chi (0,9%) và 8 họ (2,8%) Tác giảcũng đã phân loại thảm thực vật Việt Nam thành 14 kiểu quần hệ rừng khác nhau
[66] Trần Đình Lý (Chủ biên) (1993) công bố “1900 cây có ích ở Việt Nam” [40],
Võ Văn Chi (1997) công bố “Từ điển cây thuốc Việt Nam” [12].
Trong thời gian gần đây, hệ thực vật Việt Nam đã được các nhà thực vật
Liên Xô và Việt Nam công bố trong Kỷ yếu “Cây có mạch của thực vật Việt Nam” (Vascular Plant Synopsis oh Vietnam Flora) tập 1 – 2 (1996) và Tạp chí
Sinh học số 4 (chuyên đề) 1994 và 1995 [51]
Đáng chú ý nhất phải kể đến bộ “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ
(1991 – 1993) xuất bản tại Canada, đã được tái bản có bổ sung sau đó Đây là bộsách đầy đủ nhất góp phần đáng kể cho khoa học thực vật Việt Nam [25] Đồngthời với công trình này, một số họ thực vật cũng đã được công bố như:Orchidaceae Đông Dương của Seidenfaden (1992), Orchidaceae Việt Nam củaLeonid V Averyanov (1994), Euphorbiaceae Việt Nam của Nguyễn Nghĩa Thìn(1999) [7][72], Annonaceae Việt Nam của Nguyễn Tiến Bân (2000) [4],Verbenaceae của Vũ Xuân Phương (2000) [45], Myrsinaceae của Trần Thị KimLiên (2002) [35], Cyperaceae của Nguyễn Khắc Khôi (2002) [32], Apocynaceae(2005) của Trần Đình Lý [41] Đây là những tài liệu quan trọng làm cơ sở choviệc đánh giá về đa dạng thực vật ở Việt Nam
Bên cạnh những công trình mang tính chất chung cho cả nước thì cũng có
nhiều công trình nghiên cứu khu hệ thực vật riêng cho từng vùng miền như “Hệ thực vật Tây Nguyên” đã công bố 3.754 loài thực vật có mạch do Phan Kế Lộc (1984) chủ biên [6], “Danh lục thực vật Phú Quốc” của Phạm Hoàng Hộ (1985)
đã công bố 793 loài thực vật có mạch trong một diện tích 592 km2; Lê TrầnChấn, Phan Kế Lộc, Nguyễn Nghĩa Thìn, Nông Văn Tiếp (1990) trong công
Trang 16trình “Góp phần nghiên cứu hệ thực vật Lâm Sơn – Lương Sơn – Hoà Bình” đã
công bố 1.261 loài thực vật bậc cao có mạch thuộc 698 chi và 178 họ trong mộtdiện tích nhỏ 5 km2 [9]; Nguyễn Nghĩa Thìn và Nguyễn Thị Thời (1998) đã giớithiệu 2.024 loài thực vật bậc cao thuộc 771 chi, 200 họ, 6 ngành của vùng núicao Sapa – Phan Si Pan [62]; Nguyễn Nghĩa Thìn, Đặng Quyết Chiến (2006) đãgiới thiệu 1162 loài, 614 chi và 159 họ thuộc Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang(Tuyên Quang) [56]; Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự (2004) đã giới thiệu 1.144
loài thuộc 545 chi và 159 họ trong cuốn sách “Đa dạng thực vật ở vườn quốc gia Pù Mát, Nghệ An” [55].
Trên phạm vi cả nước, Nguyễn Tiến Bân (1990) đã thống kê và đi đến kếtluận thực vật Hạt kín trong hệ thực vật Việt Nam hiện biết 8.500 loài, 2.050 chitrong đó lớp Hai lá mầm 1590 chi và trên 6300 loài và lớp Một lá mầm 460 chivới 2.200 loài [7] Phan Kế Lộc (1998) đã tổng kết Hệ thực vật Việt Nam có 9628loài cây hoang dại có mạch thuộc 2010 chi, 291 họ, 733 loài cây trồng; tổng sốloài là 10.361 loài, 2.256 chi, 305 họ [36] Trên cơ sở nhiều tài liệu đã công bố từtrước tới năm 2003 và hiệu chỉnh theo Brummitt (1992), Nguyễn Nghĩa Thìn(2004) và cộng sự đã thống kê số taxon của hệ thực vật bậc cao của Việt Nam có11.080 loài, 2.428 chi, 395 họ [58]
Về đánh giá đa dạng thực vật theo từng vùng, có nhiều công trình đề cập
đến như: Nguyễn Nghĩa Thìn (1992 – 1994) về “Đa dạng thực vật Cúc Phương” [52]; Phan Kế Lộc (1992) về “Cấu trúc hệ thực vật Cúc Phương” Từ
năm 2003 – 2005, Nguyễn Nghĩa Thìn cùng cộng sự ngoài công trình nghiêncứu thành phần loài ở hệ thực vật ở VQG Cúc Phương còn nghiên cứu hệ thựcvật tại nhiều địa phương khác như: Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang (TuyênQuang) (2006), vùng núi cao Sapa – Phan Si Pan (1998), VQG Bạch Mã (2003),VQG Pù Mát (2004), v.v
1.3 Nghiên cứu về đa dạng sinh học ở Nghệ An
Nghệ An là tỉnh có diện tích lãnh thổ và diện tích rừng lớn trong cả nước,với hệ thực vật phong phú, đa dạng
Trang 17Hệ thực vật Nghệ An từ trước tới nay đã được nhiều nhà khoa học thựcvật quan tâm nghiên cứu Về hệ thực vật bậc cao, phần lớn các công trình nghiêncứu tập trung vào điều tra thành phần loài, xây dựng danh lục thực vật, đánh giá
độ đa dạng của khu hệ thực vật ở từng vùng trên lãnh thổ Nghệ An
Năm 1992, Ngô Trực Nhã trong công trình “Góp phần quy hoạch và phát triển cây xanh Thành phố Vinh” đã thống kê mô tả 145 loài cây thuộc 50
họ và xếp các loài theo công dụng như: cây bóng mát (18 họ), cây làm cảnh(21 họ), cây ăn quả (5 họ), cây có hoa (6 họ) Năm 1993, Viện điều tra quyhoạch rừng thuộc Bộ lâm nghiệp đã giới thiệu tổng thể về khu bảo tồn thiênnhiên Pù Mát (nay là VQG Pù Mát) Trong đó đã giới thiệu 986 loài, 522 chithuộc 153 họ của hệ thực vật Pù Mát, đồng thời đánh giá nguồn tài nguyêngồm 291 loài cây gỗ, 220 loài cây thuốc quý, 60 loài cây cảnh, 37 loài câycho dầu béo, 34 loài cây làm rau, 30 loài cây độc và có 44 loài cây nguy cấpcần được bảo vệ
Nguyễn Nghĩa Thìn cùng cộng sự (2004) đã lần lượt nghiên cứu và và giớithiệu tính đa dạng thực vật ở Vườn Quốc gia Pù Mát tại các điểm:
- Khe Bu với 498 loài, 135 họ; trong đó có 38 loài nguy cấp
- Thác Kèm có 444 loài; trong đó có 33 loài nguy cấp
- Khe Thơi có 301 loài, 253 chi, 105 họ; trong đó có 38 loài nguy cấp
- Khe Khặng có 413 loài, 183 chi, 115 họ; trong đó có 18 loài nguy cấp[55]
Nguyễn Thị Quý, Đặng Quang Châu (1999) trong “Góp phần điều tra thành phần loài dương xỉ khu bảo tồn thiên nhiên Pù Mát” đã thống kê mô tả
được 90 loài thuộc 42 chi của 23 họ [47]
Đặng Quang Châu và cộng sự (1999) trong “Góp phần nghiên cứu một số đặc trưng cơ bản của hệ thực vật Pù Mát – Nghệ An” đã thống kê 883 loài thực
vật bậc cao thuộc 460 chi của 144 họ Tác giả cũng đã đề cập tới phổ dạng sốngcủa hệ thực vật Pù Mát, bước đầu nhận xét về quy luật phân bố của thảm thựcvật ở Pù Mát [11]
Trang 18Nguyễn Văn Luyện (1999) đã công bố 251 loài thực vật bậc cao có mạch
thuộc 178 chi, 77 họ trong công trình “Thực trạng thảm thực vật trong phương thức canh tác của người Đan Lai vùng đệm Pù Mát – Nghệ An”.
Phạm Hồng Ban (1999) trong “Nghiên cứu đã dạng thực vật sau nông nghiệp nương rẫy ở vùng đệm Pù Mát – Nghệ An” đã công bố 586 loài, 334 chi,
105 họ Ngoài đánh giá độ đa dạng thành phần loài, tác giả còn đánh giá sự đadạng các quần xã thực vật và xác định được diễn thế của thảm thực vật saunương rẫy tại khu vực nghiên cứu [1]
Nguyễn Thị Hạnh (1999) trong đề tài nghiên cứu sinh “Nghiên cứu các loại cây thuốc của dân tộc Thái ở huyện Con Cuông – Nghệ An” đã mô
tả được 544 loài thực vật bậc cao có giá trị làm thuốc thuộc 363 chi, 121 họđồng thời công bố nhiều bài thuốc hay của đồng bào Thái ở khu vực nghiêncứu [23] Sau đó, các tác giả Nguyễn Nghĩa Thìn, Nguyễn Thị Hạnh, Ngô
Trực Nhã (2001) đã công bố “Cây thuốc của đồng bào Thái Con Cuông – Nghệ An” Trong cuốn sách này đã thống kê mô tả được 551 loài thuộc 364
chi, 120 họ thực vật và có số loài chiếm 17,2% tổng số loài cây thuốc ởViệt Nam [60]
Trong công trình điều tra đa dạng sinh học ở VQG Pù Mát rất quy mô củaSFNC do Châu Âu tài trợ đã thống kê được 1.208 loài thực vật, trong đó có1.144 loài thuộc 545 chi của 159 họ đã được xác định Đây được xem là danhlục thực vật đầy đủ nhất từ trước tới nay của VQG Pù Mát [50]
Dựa trên cơ sở là các số liệu nghiên cứu về hệ thực vật Pù Mát, năm 2004Nguyễn Nghĩa Thìn và Phan Thanh Nhàn đã tổng kết được hệ thực vật Pù Mát
có 2.494 lài thuộc 931 chi, 202 họ của 5 ngành trong “Đa dạng thực vật Vườn quốc gia Pù Mát” [55].
1.4 Nghiên cứu phổ dạng sống của hệ thực vật
Dạng sống của thực vật là một biểu hiện cho sự thích nghi của thựcvật với điều kiện môi trường Dựa vào các số liệu về dạng sống của các loài,
ta có thể lập được phổ dạng sống của hệ thực vật nghiên cứu, từ đó giúp ta
Trang 19đánh giá được tính chất sinh thái của vùng địa lý nghiên cứu Đây là cơ sởgiúp chúng ta so sánh các khu hệ thực vật với nhau.
Phổ dạng sống được xây dựng chủ yếu dựa vào thang phân loại củaRaunkiaer (1934) [theo 56] thông qua vị trí của chồi so với mặt đất trong thờigian bất lợi trong năm Gồm 5 nhóm cơ bản sau:
1 Cây có chồi trên đất (Ph)
2 Cây có chồi sát đất (Ch)
3 Cây có chồi nửa ẩn (Hm)
4 Cây chồi ẩn (Cr)
5 Cây chồi một năm (Th)
Ở Việt Nam, trong công trình nghiên cứu hệ thực vật Bắc Việt Nam, tácgiả Pocs Tamas (1965) đã đưa ra một số kết quả sau:
+ Cây có chồi sát đất (Ch):
+ Cây có chồi nửa ẩn (Hm): 40,68%
+ Cây chồi ẩn (Cr):
+ Cây chồi một năm (Th): 7,11%
Từ đó ông đưa ra phổ dạng sống như sau:
SB = 52,21Ph + 40,68 (Ch, Hm, Cr) + 7,11ThĐối với Vườn Quốc gia Bạch Mã, Nguyễn Nghĩa Thìn, Mai Văn Phô(2003) [61] đã công bố dạng sống như sau:
SB = 75,71Ph + 5,78Ch + 4,83Hm + 10,23Cr + 3,45Th
Ở Vườn Quốc gia Pù Mát, Nguyễn Nghĩa Thìn và Phan Thanh Nhàn(2004) [55] đã lập được phổ dạng sống sau:
SB = 78,88Ph + 4,14Ch + 5.76Hm + 5.97Cr + 5,25Th
Trang 20Ở Khu bảo tồn thiên nhiên Na Hang, Nguyễn Nghĩa Thìn và cộng sự [56]
đã lập được phổ dạng sống như sau:
SB = 70,14Ph + 4,33Ch + 3,50Hm + 11,98Cr + 10,05Th
1.5 Nghiên cứu về thực vật tại khu bảo tồn núi Tháp Sơn
Các công trình nghiên cứu về hệ thực vật Nghệ An vẫn đang còn tập trungvào khu hệ thực vật ở VQG Pù Mát, Pù Huống, Pù Hoạt hay các hệ thực vậtthuốc ở vùng núi khác Hệ thực vật đồng bằng của Nghệ An hiện nay còn ítđược điều tra nghiên cứu Năm 2008, Lê Thị Quỳnh Nga đã điều tra thành phầnloài thực vật bậc cao ở khu Di tích Kim Liên, Nam Đàn, Nghệ An và đã thống
kê được 287 loài thuộc 239 chi của 79 họ Năm 2009, Nguyễn Mỹ Hoàn đã điềutra thành phần loài thực vật bậc cao có mạch ở ba xã Quỳnh Vinh, Quỳnh Thiện,Tân Thắng của huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An và đã thống kê được 322 loài, 208chi thuộc 73 họ Riêng khu hệ thực vật núi Tháp Sơn huyện Yên Thành – Nghệ
An cho tới nay mới chỉ có công trình nghiên cứu của Sở Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn Nghệ An kết hợp với Lâm trường Yên Thành điều tra danh lụcthực vật núi Tháp Sơn vào năm 2002 và đã xác định được 88 loài Tuy nhiên,đây là những số liệu chưa thỏa đáng, chưa đẩy đủ về hệ thực vật ở đây Vì vậy,
có thể nói vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu đầy đủ về hệ thực vật YênThành nói chúng và hệ thực vật Tháp Sơn nói riêng để bổ sung cho hệ thực vậtNghệ An Do đó đề tài của chúng tôi tiến hành nghiên cứu về đa dạng thực vậtcủa khu vực núi Tháp Sơn thuộc xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ
An nhằm góp phần bổ sung và cung cấp dẫn liệu về đa dạng thực vật của YênThành cho hệ thực vật Nghệ An nói riêng và cả nước nói chung
1.6 Điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội ở khu vực nghiên cứu
1.6.1 Điều kiện tự nhiên
* Vị trí địa lý
Huyện Yên Thành nằm phía Đông Bắc tỉnh Nghệ An, ở phía Tây và cáchquốc lộ 1A 13 km, nằm trên trục đường tỉnh lộ 538 nối quốc lộ 1A (đoạn Diễn
Trang 21Châu) với đường quốc lộ 7 đoạn Công Thành Đây là một trong 20 huyện, thành,thị của tỉnh Nghệ An, kéo dài từ 18052’42’’ đến 19010’00’’ vĩ độ Bắc và trải rộng
từ 105017’50’’ đến 105033’04’’ độ kinh Đông Cách thành phố Vinh khoảng 55
km về phía Đông Nam Huyện có 21km quốc lộ 7A chạy qua phía Nam huyện
Phía Đông giáp huyện Diễn Châu; phía Tây giáp huyện Đô Lương vàhuyện Tân Kỳ; phía Nam giáp ranh với huyện Đô Lương và huyện Nghi Lộc,Quỳnh lưu; phía Bắc giáp với huyện Tân kỳ, huyện Quỳnh Lưu
Tổng diện tích tự nhiên của huyện là 54.720,65 ha Dân số 277.262người (theo Cục thống Kê Nghệ An 2010) [21]
* Địa chất, địa hình
Huyện Yên Thành tựa hình lòng chảo nghiêng dần từ Tây Bắc đếnĐông Nam Trong đó ba phía Bắc, Tây, Nam là rừng núi và đồi thấp, ởgiữa và phía Đông là vùng trũng tiếp giáp với huyện Diễn Châu; với chiềudài gần 40 km từ Bắc xuống Nam, chiều rộng khoảng 35 km từ Đông sangTây Nơi gần biển nhất là xã Đô Thành (6 km) Đỉnh Vàng Tâm với độ cao544m là ngọn núi cao nhất huyện nằm ở phía Bắc xã Lăng Thành Nới thấpnhất là cánh đồng trũng dọc kênh Biên Hòa, xã Vịnh Thành, cao 0,2m sovới mực nước biển Phía Bắc là dãy núi Bồ Bồ, phía Tây và Tây Nam làđồi núi có các thung lũng, hang động tạo nên nhiều cảnh quan đẹp [21]
Trang 22Hình 1.1 Bản đồ hành chính huyên Yên Thành và địa điểm nghiên cứu
Trang 23Yên Thành là vùng đất nửa trung du miền núi , nửa đồng bằng, có 39đơn vị hành chính, trong đó vùng đồng bằng có 21 xã, thị trấn và vùng bánsơn địa có 18 xã Từ Diễn Châu, đi theo tuyến quốc lộ 7A hướng Đô Lương,Anh Sơn, cách quốc lộ 1A khoảng 13 km về phía Đông Là vùng đất bán sơnđịa, nhưng đây lại là vựa lúa của cả tỉnh Nghệ An Từ Cầu Bùng (Diễn Châu)
có đường tỉnh lộ 538 nối quốc lộ 1A và quốc lộ 7A đã tạo cho giao thông từYên Thành đi các huyện và các vùng miền khác khá thuận tiện khiến việcgiao lưu văn hoá, kinh tế giữa Yên Thành với các cùng miền khác khá dễdàng
* Đất đai và khoáng sản
Theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên và Môi trường Nghệ An, YênThành có diện tích đất tự nhiên là 54.720,65ha, trong đó Diện tích đất nôngnghiệp của Yên Thành là 42.254,79 ha, đất phi nông nghiệp là 9.605,09 ha,đất chưa sử dụng là 2.711,79ha (theo số liệu thống kê của Sở Tài nguyên –Môi trường Nghệ An ngày 24/4/2009) Trong đó diện tích rừng chiếm 21.836
ha với độ che phủ chiếm 39,91%
Thống kê theo từng loại đất ta có đất phù sa chiếm diện tích lớn nhấtvới 22.835,6ha; đất Feralit phát triển trên sét có 14.783,7ha; đất Feralit pháttriển trên sét hoặc sa phiến sét có 4.118,3ha (ở cùng đồi núi thấp); đất Feralitbiến đổi có 5.898,94ha; đất bạc màu có 2.692,79ha; đất nâu vàng phát triểndưới chân đá vôi có 3.293,2ha; đất dốc tụ chỉ có 550 ha và nhỏ nhất là đất phù
sa ven sông, suối với 298,12 ha
* Khí hậu, thuỷ văn
- Khí hậu:
Thời tiết khí hậu của huyện Yên Thành nói riêng và Nghệ An nóichung tương đối khắc nhiệt Thuộc vùng khí hậu nhiệt đới ẩm gió mùa vớihai mùa rõ rệt trong năm Hai mùa này chịu ảnh hưởng sâu sắc của gió mùaĐông Bắc mang luồng không khí lạnh đến và gió mùa Tây Nam (còn gọi làgió Lào) đêm đến sự khô nóng cho cả vùng Hàng năm, có hai mùa rõ rệt
Trang 24bao gồm mùa nóng từ tháng 5 đến tháng 9 với nhiệt độ trung bình từ 230 C– 240C, trong đó tháng 7 là nóng nhất (410C) Mùa lạnh từ tháng 10 đếntháng 4 năm sau với nhiệt độ trung bình từ 190 C – 200C Nhiệt độ trungbình hàng năm khoảng 250C Số giờ nắng trung bình hàng năm là 1500 –1700h/năm Tổng tích ôn nhiệt dao động từ 35000C – 40000C.
- Thuỷ văn:
Lượng mưa hàng năm không đều, đạt đỉnh cao vào khoảng tháng 8đến tháng 9 dương lịch hàng năm Đây cũng là thời điểm hay xẩy ra bão lụtgây hiện tượng ngập úng nhiều vùng, nhất là ở khu vực phía Đông củahuyện bao gồm các xã Long Thành, Vịnh Thành, Bảo thành, Viên Thành,
… Lượng mưa hàng năm trung bình khoảng 1587mm, cao nhất vào khoảng3471mm, thấp nhất là 1150mm Độ ẩm trung bình chung của cả nămkhoảng 85%
- Chế độ gió, bão:
Với hai kiểu gió chính xuất hiện ở Yên Thành, đó là gió mùa ĐôngBắc xuất hiện khoảng tháng 11 đến tháng 4 năm sau, mang khối khí khôhanh đến cho cả vùng và gió mùa Đông Nam mang khối khí khô nóng vàocác tháng 5 đến tháng 10 hàng năm Từ tháng 6 đến tháng 7 hàng nămthường có thêm gió Tây Nam (gió Lào) rất khô, nóng
Khoảng tháng 8 đến tháng 10 hàng năm bão lũ thường xuất hiện vớicường độ mạnh từ cấp 8 đến cấp 12 kèm theo áp thấp nhiệt đới, mưa lớngây lụt lội làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống của nhân dân tronghuyện
1.6.2 Điều kiện kinh tế – Văn hoá – Xã hội
Yên Thành là một huyện trung du miền núi thuộc tỉnh Nghệ An,được thành lập năm 1837 trên đất trích từ huyện Nam Đàn và Đông Thành.Huyện Yên Thành có 39 đơn vị hành chính trong đó có 38 xã và một Thịtrấn với số dân 277.262 người Sự tăng trưởng kinh tế ở Yên Thành cũng
Trang 25khá ổn định Giai đoạn 2001 – 2005 có mức tăng trưởng bình quân là10,9%; giai đoạn 2006 – 2009 là 11,8%, giai đoạn 2009 – 2010 đạt bìnhquân 14,3%.
Nền kinh tế chủ đạo ở đây là kinh tế nông nghiệp Nông nghiệp ở YênThành chủ yếu là trồng lúa, chăn nuôi tự túc Những cánh đồng lúa Hoa Thành,Nhân Thành, Văn Thành, Hợp Thành, Trung Thành, thẳng cánh cò bay đãcung cấp một phần lương thực không nhỏ cho cả tỉnh cũng như các vùng miền
khác Câu thơ “Yên Thành là mẹ là cha; Đói cơm rách áo thì ra Yên Thành” đã
nói lên điều đó
Hậu thành là xã miền núi của huyện lúa Yên Thành, với diện tích2.326,62 ha, dân số khoảng 10.400 người Trong quá trình phát triểnkinh tế xã hội còn gặp rất nhiều khó khăn Tuy vậy, trong những nămqua nhờ biết phát huy và vận dụng một cách linh hoạt mọi nguồn lựcsẵn có, hậu Thành đã vươn lên trở thành điểm sáng về phát triển kinh tế
xã hội, đời sống nhân dân có nhiều khởi sắc, diện mạo quê hương đangtừng bước đổi thay Về Hậu Thành về với mảnh đất mang đậm bản sắcvăn hoá truyền thống sâu sắc, mảnh đất nổi tiếng với núi Tháp và Đình
Mõ, là nơi đã sinh ra những người con ưu tú Mặc dù còn gặp nhiều khókhăn trong quá trình phát triển kinh tế xã hội, nhưng nhờ biết phát huynội lực toàn diện, đặc biệt là biết vận dụng một cách sáng tạo sức mạnhcủa khối đại đoàn kết toàn dân, vì thế trong quá trình phát triển đã cónhiều chuyển biến tích cực, sớm đưa Hậu Thành nâng lên tầm cao mới
Trang 26Hình 1.2 Bản đồ hiện trạng tài nguyên núi Tháp Sơn xã Hậu Thành,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Trang 27Chương 2 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Toàn bộ các loài thực vật bậc cao có mạch ở khu vực núi Tháp Sơn xãHậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
2.2 Địa điểm nghiên cứu
Núi Tháp Sơn thuộc xã Hậu Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
2.3 Thời gian nghiên cứu
Đề tài được tiến hành từ tháng 12/2008 đến tháng 12/2010 và chia làm 3đợt thu mẫu Sau mỗi đợt thu mẫu, mẫu sẽ được xử lý, phân tích và xác định tênkhoa học theo các tài liệu hiện hành
+ Tháng 01/2009: Thu mẫu đợt 1
+ Tháng 8/2009: Thu mẫu đợt 2
+ Tháng 3/2010: Thu mẫu đợt 3
+ Tháng 4/2010 – 10/2010: Xử lý số liệu và viết luận văn
+ Tháng 10/2010 – 12/2010: Hoàn chỉnh luận văn và bảo vệ
2.4 Nội dung nghiên cứu
Xây dựng bảng danh lục thực vật ở khu vực núi Tháp Sơn thuộc xã HậuThành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Trang 28+ Trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp bảo tồn và phát triển các loài thựcvật có giá trị kinh tế cũng như giá trị về mặt sinh học ở khu vực nghiên cứu.
2.5 Phương pháp nghiên cứu
2.5.1 Thu thập số liệu thực địa
Khi nghiên cứu tính đa dạng của một hệ thực vật thì việc thu thập mẫu vậtrất quan trọng, làm cơ sở để xác định các taxon và xây dựng bảng danh lục đầy
đủ và chính xác
Dựa vào đặc điểm địa hình khu vực nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụngphương pháp điều tra theo tuyến của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) Tuyến điềutra được sử dụng rộng 2m chạy xuyên qua địa hình nghiên cứu nhằm mụcđích thu hết các mẫu thực vật ở khu vực nghiên cứu và điều tra theo 3 tuyếnkhác nhau
2.5.2 Thu mẫu ngoài thiên nhiên
Thu mẫu dựa theo phương pháp thu mẫu của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997)
và Klein R.M., Klein D.T (1979) [34] [53]
Để thu mẫu, chúng tôi sử dụng các bao tải, túi polyethylen để đựngmẫu Các mẫu sau khi thu được đánh số thứ tự, dùng nhãn ghi chép các đặcđiểm thực vật của mẫu
Nguyên tắc thu mẫu:
+ Mẫu thu phải có đẩy đủ các bộ phận: cành, lá, hoa quả đối với cây thảo Đốivới dương xỉ thì lấy cả rễ và lá Mỗi cây thu từ 2 đến 3 mẫu
+ Các mẫu thuộc cùng một cây thì đánh cùng một số hiệu
+ Ghi chép lại những đặc điểm dễ nhận biết của mẫu để tiện định loại khi mẫukhô như: nhựa mủ, màu sắc, hoa quả, lá, …
+ Sau khi thu mẫu, cho mẫu vào túi polyethylen, buộc chặt, cho vào bao tải đểđem về xử lý
2.5.3 Xử lý và trình bày mẫu
Trang 29+ Mẫu sau khi thu thập từ thực địa được xử lý qua bằng cồn chứa 3 – 5% HgCl2 đểchống mốc và làm tiêu bản theo nguyên tắc của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [53].+ Các mẫu phải được xử lý ngay sau khi đưa về phòng Bách thảo của bộ môn,tại đây tiêu bản được cắt tỉa lại, sau đó mẫu được gắn số hiệu và bỏ vào trong 1
tờ báo gấp tư, mỗi mẫu ép cần lật ngửa một vài lá để thuận tiện cho công tácđịnh loại sau này
+ Đối với các mẫu có hoa, quả thì khi ép mẫu tránh hiện tượng cho hoa, quảdính vào lá để hạn chế hiện tưởng hỏng mẫu do dính các bộ phận với nhau.+ Các mẫu sau khi ép thi xếp vào kẹp mắt cáo (khoảng 15 – 20 mẫu/1 kẹp) rồibuộc chặt sau đó đem sấy hoặc phơi khô mẫu Trong quá trình làm khô mẫu cầntrở mẫu để mẫu được khô đều Cần phải thay báo thường xuyên cho mẫu đểtránh hiện tượng ẩm mốc làm mất màu tự nhiên của mẫu
+ Các mẫu sau khi được làm khô và ép phẳng sẽ được trình bày trên và khâuđính trên bìa giấy cứng croki kích thước 30 cm x 40 cm
2.5.4 Xác định và kiểm tra tên khoa học
Đồng thời với việc xử lý mẫu thành tiêu bản thì chúng tôi tiến hành phânloại mẫu theo từng họ và trong từng họ thì phân loại mẫu theo từng chi nếu cóthể Để tiến hành xác định tên loài, thực thiện theo trình tự các bước sau:
+ Phân họ: Sau khi thu mẫu, tiến hành phân loại sơ bộ mẫu thành các họ ngay tại
hiện trường dựa vào cuốn “Cẩm nang nghiên cứu đa dạng thực vật” của Nguyễn Nghĩa Thìn (1997) [53]và “Cẩm nang tra cứu nhanh các họ thực vật hạt kín ở Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (1997) [3].
+ Xác định tên loài: Trong quá trình tiến hành xác định tên khoa học cần phải
tuân thủ theo các nguyên tắc:
- Phân tích từ tổng thể bên ngoài đến chi tiết bên trong
- Phân tích đi đôi với ghi chép và vẽ hình
- Phân tích song song với việc tra khoá định loại
Trang 30- Khi tra khoá định loại cần chú ý các đặc điểm đối nhau để dễ phân địnhcác cặp dấu hiệu.
- Hoàn toàn trung thực, khách quan với mẫu thực
Các tài liệu chính dùng trong quá trình định loại gồm:
- Cây cỏ Việt Nam (Phạm Hoàng Hộ, 1991 – 1993, 1999 – 2000) [25][26].
- Cây gỗ rừng Việt Nam (1971 – 1988) [66].
- Cây cỏ thường thấy ở Việt Nam (Lê Khả Kế và cộng sự, 1969 – 1976)
[30]
- Danh lục các loài thực vật Việt Nam (2001 – 2005) [5][64].
- Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam (Võ Văn Chi, 2007) [13].
- Thực vật chí Đông Dương (Flore gererale de I Indo-chine, H Lecomte,
1907 – 1951) [theo 69]
- Thực vật chí Campuchia, Lào, Việt Nam (Flore du Camboge, du Laos
et du Vietnam, Aubreville A et al., 1960 – 1997) [theo 67]
- Thực vật chí Việt Nam (The Flora of Vietnam): Họ Na – Annonaceae
(Nguyễn Tiến Bân, 2000) [4]; Họ Cói – Cyperaceae (Nguyễn KhắcKhôi, 2002) [32]; Họ Trúc đào – Apocynaceae (Trần Đình Lý, 2005)[41]; Họ Đơn nem – Myrsinaceae (Nguyễn Thị Kim Liên, 2002) [35];
Họ Cỏ roi ngựa – Verbenaceae (Vũ Xuân Phương, 2005) [45]
- Khóa định loại họ Thầu dầu Việt Nam (Nguyễn Nghĩa Thìn, 1999)
[theo 72]
+ Kiểm tra tên khoa học: Khi có đủ tên loài, tiến hành kiểm tra lại tên khoa
học để đảm bảo tính hệ thống, tránh sự nhầm lẫn và sai sót Tiến hành sắp xếp
các taxon họ và chi theo hệ thống của Brummitt “Vascular Plant Families and Genera” (1992) Điều chỉnh tên loài theo các tài liệu “Cây cỏ Việt Nam” của Phạm Hoàng Hộ (1999 – 2000) [26], “Danh lục các loài thực vật Việt
Trang 31Nam” (2001 – 2005) [5][64], “Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam” (2007)
[13]
+ Bổ sung thông tin: Việc xác định các thông tin về đa dạng sinh học của
các loài về dạng sống, công dụng, tình trạng đe doạ, bảo tồn dựa thêm vàocác tài liệu:
- 1900 cây cỏ có ích (Trần Đình Lý, 1993) [40].
- Sách đỏ Việt Nam (2007) [8].
- Từ điển cây thuốc Việt Nam (Võ Văn Chi, 1997) [12].
- Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam (Đỗ Tất Lợi, 2009) [39].
- Sách tra cứu tên cây cỏ Việt Nam (Võ Văn Chi, 2007) [13].
- Tài nguyên cây gỗ Việt Nam (Trần Hợp, 2002) [28].
- Danh lục các loài thực vật Việt Nam (Nguyễn Tiến Bân, 2001 – 2005) [5].
2.5.5 Xây dựng bảng danh lục thực vật
Bảng danh lục thực vật được xây dựng theo hệ thống phân loại củaBrummitt (1992) Đây là danh sách phản ảnh đầy đủ các thông tin cho mụcđích của việc nghiên cứu như tên Việt Nam, tên khoa học, dạng sống, côngdụng, yếu tố địa lý
2.5.6 Phương pháp đánh giá đa dạng thực vật về phân loại
2.5.6.1 Đánh giá đa dạng các taxon trong ngành
Dựa vào bảng danh lục thực vật đã xây dựng, thống kê số loài, số chi và
họ theo từng ngành thực vật từ đó tính tỷ lệ % của các taxon để từ đó thấy đượcmức độ đa dạng của khu vực nghiên cứu
2.5.6.2 Đánh giá độ đa dạng loài của các họ
Trang 32Xác định các họ có nhiều loài và tính tỷ lệ % số loài các họ trong đó sovới toàn bộ số loài của cả hệ thực vật trên cơ sở bảng danh lục thực vật đãxây dựng.
2.5.6.3 Đánh giá sự đa dạng loài của các chi
Xác định chi có nhiều loài và tính tỷ lệ % số loài các chi trong đó sovới toàn bộ số loài của cả hệ thực vật trên cơ sở bảng danh lục thực vật đãxây dựng
2.5.7 Phương pháp nghiên cứu tính đa dạng về dạng sống
Căn cứ vào các thông tin thu thập từ các bộ thực vật chí tiến hành xácđịnh và phân loại dựa theo vị trí của chồi so với mặt đất trong mùa bất lợicho sinh trưởng
Trên thế giới cũng như Việt Nam thường dùng thang phân loại củaRaunkiaer (1934) thông qua vị trí của chồi so với mặt đất trong thời gianbất lợi của năm Thang phân loại này của Raukiaer gồn 5 nhóm dạng sống
cơ bản:
1 Phanerophytes (Ph): Cây có chồi trên đất
2 Chamaephytes (Ch): Cây có chồi sát đất
3 Hemicriptophytes (Hm): Cây có chồi nửa ẩn (chồi ngang mặt đất)
4 Criptophytes (Cr): Cây có chồi ẩn (chồi nằm dưới mặt đất)
5 Theophytes (Th): Cây một năm
Xây dựng phổ dạng sống: Sau khi thống kê các loài theo kiểu dạng sống,
chúng tôi tiến hành lập phổ dạng sống Dựa vào đó để đánh giá mứa độ đa dạng củađiều kiện sống (nhân tố sinh thái) cũng như thấy được mức độ tác động của các nhân
tố đối với hệ thực vật
2.5.8 Phương pháp xác định giá trị sử dụng
Trang 33Dựa vào một số tài liệu như “1900 loài cây có ích ở Việt Nam” của Trần Đình Lý và cộng sự, 1993; “Từ điển cây thuốc Việt Nam” của Võ Văn Chi, 1999; “Từ điển thực vật thông dụng” của Võ Văn Chi, 2003, 2004; “Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam” của Đỗ Tất Lợi (2009), “Danh lục các loài thực vật Việt Nam” của Nguyễn Tiến Bân (Chủ biên) (2001 – 2005) để xếp các loài cây
vào các công dụng khác nhau như:
1 Cây làm thuốc (M)
2 Cây lấy gỗ (T)
3 Cây làm lương thực, thực phẩm (F)
4 Cây làm thức ăn chăn nuôi (Fg)
5 Cây lấy dầu, tinh dầu (Oil)
6 Cây có chất độc (Mp)
7 Cây làm cảnh (Or)
8 Cây có giá trị khác (O)
Trang 34Chương 3 KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 3.1 Đa dạng về các taxon thực vật
Qua quá tình nghiên cứu, chúng tôi đã lập được bảng danh lục thành phầnloài của hệ thực vật khu vực núi Tháp Sơn thuộc xã Hậu Thành, huyện Yên Thành,tỉnh Nghệ An Bước đầu chúng tôi đã xác định được 288 loài, 192 chi của 85 họthuộc ba ngành thực vật bậc cao có mạch là Polypodiophyta, Pinophyta,Magnoliophyta và sắp xếp theo Brummitt (1992) (bảng 3.1)
Bảng 3.1 Danh lục các loài thực vật núi Tháp Sơn Xã Hậu Thành,
huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
Phyll.1 Polypodiophyta Ngành Dương xỉ
Fam.1 Adiantaceae Họ Ráng vệ nữ
1 Adiantum diaphanum Blume Nguyệt xỉ suốt Ph
2 Adiantum stenochlamys Baker Ráng nguyệt xỉbao ngắn Cr
Fam.2 Pteridaceae Ráng có môi
3 Cheilanthes tenuifolia (Burn.f.) Sw. Ráng có môi lámảnh Ch
Fam.3 Davalliaceae Họ Ráng đà hoa
4 Davallia solida (G Forst.) Sw Ráng đà hoa chắc Ph
Fam.4 Dennstaedtiaceae Họ Đàn tiết
5 Dennstaedtia scabra (Wall exHook.) T Moore Ráng đàn tiết Ph
Fam.5 Lindsaeaceae Ráng liên sơn
6 Lindsaea lucida Blume Ráng liên sơn sáng Ph
Trang 357 Lindsaea orbiculata (Lam.)Mett ex Kuhn Ráng liên sơn tròn Ph
Fam.6 Dryopteridaceae Họ Ráng yểm dực giả
8 Dryopteris chrysocoma (H.Chist.) C Chr. Ráng cảnh bầnlông vàng Ph
9 Pleocnemia(Gaudich) C Presl leuzeana Ráng yểm dựcgiả Leuze Ph
Fam.7 Aspidiaceae Ráng nhiều hàng
10 Polystichum deltodon (Baker)Diels Ráng nhiều hànggần mép Cr
Fam.8 Gleicheniaceae Họ Guột
11 Dicranopteris linearis (Burm.f.) Underw Tế thường Ph
Fam.9 Osmundaceae Họ Ráng ất minh
12 Osmunda javanica Thunb. Ráng ất minh nhật Ph
Fam.10 Polypodiaceae Họ Ráng tai chuột
13 Pyrrosia piloselloides (L.) M G.Price Ráng tai chuộtvảy ốc Cr
Fam.11 Lygodiaceae Họ Bòng bong
14 Lygodium digitatum C Presle Bòng bong nhỏ Ph
15 Lygodium scandens (L.) Sw. Bòng bong leo Ph M, Or
Fam.12 Thelypteridaceae Họ Ráng thư dực
16 Pronephrium triphyllum (Sw.)Holthum Ráng thân ba lá Ph
Phyll.2 Pinophyta Ngành Thông
Fam.1 Gnetaceae Họ Dây gắm
18 Gnetum gnemon L var Gắm cây Ph
Trang 36Fam.2 Pinaceae Họ Thông
19 Pinus merkusiana Sungh & deVriese Thông hai lá Ph M, O
Phyll.3 Magnoliophyta Ngành Mộc lan
Class.1 Magnoliopsida Lớp Mộc lan
Fam.1 Anacardiaceae Họ Đào lộn hột
20 Lannea coromandelica (Houtt.)Merr. Cóc chuột Ph M, O
Fam.2 Annonaceae Họ Na
21 Dasymaschalon rostralumMerr & Chun Mao quả có mỏ Ph M
22 Desmos chinensis Lour. Dẻ trung quốc Ph Oil
23 Friesodielsia fornicata (Roxb.)D Das Cờm chài vòm Ph
24 Goniothalamus tamirensisPierre ex Fin & Gagnep. Giác đế tamir Ph
25 Meiogyne subsessilis (Ast)Sincl. Bán thư khôngcọng Ph
26 Polyalthia nemoralis DC. Quân đầu ít tâm bì Ph
Fam.3 Apiaceae Họ Hoa tán
28 Centella asiatica (L.) Urb inMart. Rau má Cr M
Fam.4 Apocynaceae Họ Trúc đào
29 Kibatalia macrophylla (Pierre
in Planch ex Hua) Woodson Thần linh lá to Ph
30 Melodinus tonkinensis Pitard Giom bắc bộ Ph F
Trang 3731 Rauwolfia sp. Ba gạc
32 Rauwolfia vietnamensis Lý Ba gạc việt nam Ph M
33 Tabermaemontana pandacaquiPoir in Lamk. Làipandacaque trâu Ph
Fam.5 Aquifoliaceae Họ Bùi
34 Ilex annamensis Tardieu Bùi trung bộ Ph
Fam.6 Asclepiadaceae Họ Thiên lý
36 Periploca calophylla (Wight)Falc. Chu đằng lá đẹp Ph
37 Streptocaulon juventas (Lour.)Merr. Hà thủ ô nam Ph M
Fam.7 Asteraceae Họ Cúc
38 Blumea fistulosa (Roxb.) Kurz Kim đầu bông Th M, F
39 Blumea lacera (Burm.f.) DC. Kim đầu te Th M, F
40 Blumea sinuata (Lour.) Merr. Kim đầu dợn Ph M
42 Erigeron crispus Pour. Thượng lão nhăn Th M
43 Eupatorium odoratum L. Cỏ xương ma Ph M, Mp
45 Spilanthes iabadacensis A H.Moore Núc áo Th M, F
46 Vernonia cinerea (L.) Less. Bạch đầu ông Ph M
Fam.8 Bignoniaceae Họ Núc nác
47 Campris radicans (L.) Seem. Đang tiêu Ph M, Or
Fam.9 Bursenaceae Họ Trám
Trang 3848 Canarium bengalensis Roxb. Trám hồng Ph M,F,T
49 Canarium parvum Leenh. Trám chim Ph F, M
50 CanariumGuillaum. subulatum Cà na mũi nhọn Ph T, F
Fam.10 Caesalpiniaceae Họ Vang
51 Erythrophleum fordii Olive Lim xanh Ph T
52 Sindora tonkinensis A Chev exK.S.S Lars. Gụ lau Ph T
Fam.11 Capparaceae Họ Bạch hoa
53 Capparis acutifolia Sweet ssp. abovata Jacobs Cáp xoan ngược Ph
54
Capparis acutifolia Sweet ssp.
sabiifolia (Hook f & Thoms.)
Jacobs
Fam.12 Casuarinaceae Họ Phi lao
56 Casuarina equisetifolia J.R.& G Forst. Phi lao Ph T, M, O
Fam.13 Celastraceae Họ Chân danh
57 Microtropis rhyncocarpa Merr. Vi lường trái cómúi Ph
Fam.14 Clusiaceae Họ Bứa
58 CalophyllumPierre dongnaiense Cồng nước Ph
59 Calophyllum membranaceum
60 CalophyllumPlanch & Triana pisiferum Cồng giây Ph
61 Kayea ferruginea Pierre Vấp sét Ph