1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

TIỂU LUẬN MÔN LUẬT HÀNG HẢI QUỐC TẾ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN

17 78 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 99,38 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Môi trường biển từ lâu đã và đang là một trong những vấn đề quan trọng mà Việt Nam phải xem xét trong quá trình phát triển. Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam không những đưa ra, hoàn thiện những quy định về bảo vệ môi trường biển, mà còn cần xem xét chúng sao cho phù hợp với các công ước, quy định được quốc tế thừa nhận. Tiểu luận: “Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển” sẽ làm rõ hơn hai nội dung này.

Trang 1

KHOA LUẬT ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

-š›&š› -MÔN LUẬT HÀNG HẢI QUỐC TẾ

QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT QUỐC TẾ

VÀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ

MÔI TRƯỜNG BIỂN

Tiểu luận kết thúc môn học: Luật Hàng hải quốc tế

Giảng viên: Mai Hải Đăng

Hà Nội – 6/2021

Trang 2

Mục lục

Quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường

Quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường

Trang 3

PHẦN MỞ ĐẦU

Môi trường biển từ lâu đã và đang là một trong những vấn đề quan trọng mà Việt Nam phải xem xét trong quá trình phát triển Cùng với quá trình hội nhập quốc tế, Việt Nam không những đưa ra, hoàn thiện những quy định về bảo vệ môi trường biển, mà còn cần xem xét chúng sao cho phù hợp với các công ước, quy định được quốc tế thừa nhận Tiểu luận: “Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển” sẽ làm rõ hơn hai nội dung này

Trang 4

NỘI DUNG CHÍNH

Quy định của pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường biển:

1 Bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển

Đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển đóng vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống con người Khoa học hiện đại đã chứng minh rằng chính sự cân bằng sinh thái, đa dạng sinh học quyết định sự tiến hóa và sự tồn vong của con người cũng như sinh vật Vì vậy, đa dạng sinh học biển, với tính chất là cẩu thành quan trọng đa dạng sinh học của trái đất, đã và đang có tác động quan trọng tới tiến trình phát triển của loài người Bên cạnh đó, vai trò của tài nguyên sinh vật biển ngày càng trở nên quan trọng đối với con người trong bối cảnh các nguồn thủy sản của các quốc gia đang ngày càng khan hiếm do bị khai thác quá mức Vì vậy, sử dụng công cụ pháp lý với tính chất là công cụ hiệu quả để bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển là nhu cầu cấp thiết đối với các quốc gia

Lịch sử hình thành và phát triển của chế định bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển là minh chứng khá điển hình về cách thức tiếp cận liên ngành,

sự giao thoa và tiếp biển giữa hai công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ hiệu quả nhất đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển là Luật biển quốc tế và Luật môi trường quốc tế về phạm vi điều chỉnh, trong giai đoạn trước khi Công ước luật biển năm 1982 được thông qua, chế định này chủ yếu tập trung điều chỉnh các hoạt động khai thác, quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển của các quốc gia Bởi

vì, vào thời điểm đó, khái niệm và vai trò của đa dạng sinh học gần như chưa được nghiên cứu, đấnh giá và điều chỉnh trong pháp luật quốc tế cũng như trong khoa học pháp lý và thực tiễn của các ngành khoa học về sinh học bảo tồn

Cách tiếp cận đối với bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển của chế định này chịu ảnh hưởng chủ yếu của các tập quán quốc tế về quản lý và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển Nói cách khác, các công ước Giơ-ne-vơ về luật biển đóng vai trò chủ yếu là phương tiện pháp điển hóa các tập quán quốc tế về sử dụng biển, trong đó có khai thác, quản lý, sử dụng và bảo tồn tài nguyên sinh vật biển, về nội

Trang 5

dung, pháp luật quốc tế về bảo tồn tài nguyên sinh vật biển trong giai đoạn này đã tiếp cận bảo vệ tài nguyên sinh vật biển từ góc độ bảo tồn, quy định các biện pháp bảo vệ tài nguyên sinh vật biển, quy định về quyền và nghĩa vụ quản lý và bảo tồn sinh vật biển trong các vùng biển thuộc quyền chủ quyền hay biển cả

Mặc dù đã hình thành khung pháp luật về bảo vệ tài nguyên sinh vật biển, thực tế, tài nguyên sinh vật biển vẫn tiếp tục suy thoái do khai thác quá mức và sử dụng không bền vững Chính vì vậy, các quốc gia tiếp tục phải xây dựng các quy định pháp luật hiệu quả hơn để khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên sinh vật biển

Thứ nhất, về khái niệm tài nguyên sinh vật biển và đa dạng sinh học biển

Theo cách hiểu chung nhất, “tài nguyên thiên nhiên” bao gồm tài nguyên phi sinh vật như khoáng sản, dầu khí, gió, hải lưu và tài nguyên sinh vật gồm động vật, thực vật, vi sinh vật Tài nguyên sinh vật được phân biệt với tài nguyên phi sinh vật ở tính tái tạo với điều kiện được bảo tồn và sử dụng bền vững Điều 2 Công ước Đa dạng sinh học giải thích, tài nguyên sinh vật bao gồm nguồn gen, sinh vật

và bộ phận của chúng, quần thể hay bất kỳ một thành phần hữu cơ nào của hệ sinh thái đang hoặc có tiềm năng sử dụng hoặc có giá trị đối với con người Quan điểm trên về tài nguyên sinh vật chủ yếu tiếp cận từ góc độ giá trị của động, thực vật, sinh vật và các hình thức tồn tại của chúng trong mối tương quan với con người mà chưa đề cập tới giá trị tự thân của động, thực vật và các hình thức tồn tại của chúng Vì vậy, khái niệm tài nguyên sinh vật cần được hiểu theo cách chung nhất

là tất cả các hình thái sinh vật tìm thấy trên trái đất có giá trị vào thời điểm hiện tại hoặc có giá trị tiềm ẩn Theo cách tiếp cận này, tài nguyên sinh vật biển được hiểu

là tất cả các hình thái của động, thực vật được tìm thấy ở biển bao gồm vi sinh yật, san hô, tảo biển, cá

Đa dạng sinh học là một khái niệm pháp lý có nguồn gốc từ khoa học bảo tồn Điều 2 Công ước đa dạng sinh học giải thích đa dạng sinh học có nghĩa là:

“tính biển thiên (đa dạng) giữa các sinh vật sống của tất cả các nguồn bao gồm các hệ sinh thái tiếp giáp, trên đất liền, trên biển, các hệ sinh thái thủy vực khác

Trang 6

và các tập hợp sinh thái mà chúng là một bộ phận Tính đa dạng này thể hiện ở trong mỗi bộ loài, giữa các loài và các hệ sinh thái”.

Theo cách giải thích trên, đa dạng sinh học là một thuật ngữ dùng để chỉ mức độ phong phú và đa dạng của tự nhiên, của toàn bộ tài nguyên được tạo ra từ các hình thái sống trên trái đất và được thể hiện ở ba cẩp độ đa dạng gen, đa dạng loài và đa dạng hệ sinh thái Với cách thức tiếp cận như vậy, đa dạng sinh học biển có thể được hiểu là sự phong phú của các sinh vật sổng có môi trường sống hoàn toàn hoặc một phần ở biển được thể hiện ở ba cấp độ đa dạng gen, loài và hệ sinh thái Pháp luật về bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học được xây dựng trên rất nhiều cách tiếp cận và nguyên tắc pháp lý, trong đó bao gồm cách tiếp cận hệ sinh thái, nguyên tắc chủ quyền, quyền chủ quyền đối với tài nguyên biển, nguyên tắc phòng ngừa, nguyên tắc phát triển bền vững, nguyên tắc trách nhiệm chung nhưng có sự phân hóa, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải bồi thường thiệt hại

Thứ hai, xây dựng và quản lý các khu bảo tồn biển

Xây dựng và quản lý khu bảo tồn biển là một trong những cách thức tiếp cận hiện đại và quan trọng nhất về bảo tồn và phát triển bền vững các loài động, thực vật biển Bởi vì, khu bảo tồn biển chính là hình thức bảo tồn nội vi (in-situ) đa dạng sinh học, phát triển bền vững các thành phần của đa dạng sinh học như các loài sinh vật biển, môi trường sống tự nhiên và hệ sinh thái biển Bên cạnh đó, khu bảo tồn biển còn có vai trò quan trọng trong việc cải thiện chất lượng sống cũng như thúc đẩy sự phát triển kinh tế và hạn chế/giải quyết các xung đột

Công ước đa dạng sinh học là công cụ pháp lý toàn cầu quan trọng nhất điều chỉnh pháp lý quốc tế đa dạng sinh học đã khẳng định sự thay đổi nhận thức trong cách tiếp cận đối với bảo tồn sinh vật cũng như tầm quan trọng của hình thức bảo tồn nội vi trong bảo tồn đa dạng sinh học Lời nói đầu của Công ước đã khẳng định, bảo tồn nội vi môi trường sống tự nhiên, các hệ sinh thái là “yêu cầu cơ bản” để bảo tồn đa dạng sinh học Cụ thể hóa khẳng định này, Điều 9 Công ước đã quy định các biện pháp bảo tồn ngoại vi (ex-situ) chỉ đóng vai trò “bổ sung” cho các biện pháp bảo tồn nội vi Với vai trò quan trọng như vậy, việc pháp luật quốc tế

Trang 7

điều chỉnh hoạt động xây dựng và quản lý các khu bảo tồn biển là tất yếu khách quan

Theo Điều 2 Công ước đa dạng sinh học, khu bảo tồn “là một khu vực địa lý xác định được hoạch định hoặc quy định và quản lý nhằm mục đích bảo tồn riêng biệt’’ Mặc dù còn có những ý kiến khác nhau của các quốc gia hoặc các nhà

nghiên cứu, các học giả về nội hàm cũng như vấn đề áp dụng trên thực tế, cho tới nay, đây vẫn là định nghĩa khái quát đầy đủ nhất các đặc tính của khu bảo tồn trong

đó có khu bảo tồn biển

Trên cơ sở phân tích các quan niệm về khu bảo tồn biển trên, có thể nhận thấy, khu bảo tồn biển cần đáp ứng ít nhất ba tiêu chí: thứ nhất, khu bảo tồn biển phải là một khu vực biển, có thể thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia hoặc là một khu nằm ngoài quyền tài phán quốc gia; thứ hai, khu bảo tồn biển phải được xác định thông qua hành vi hoạch định hoặc được quy định trong văn bản pháp luật quốc gia hoặc quốc tế; và thứ ba, khu bảo tồn biển phải được quản lý vì mục đích bảo tồn gen, loài động, thực vật biển hoặc bảo tồn hệ sinh thái, cảnh quan, nơi sinh sống của các loại động, thực vật biển

Pháp luật quốc tế không quy định về phân loại khu bảo tồn biển, tuy nhiên, trên thực tế, có nhiều cách phân loại khu bảo tồn biển dựa trên các tiêu chí khác nhau Việc phân loại không chỉ có ý nghĩa học thuật mà có ý nghĩa quan trọng trong đánh giá về cách thức tiếp cận của pháp luật quốc tế trong bảo vệ đa dạng sinh học và tài nguyên sinh vật biển Dựa trên cách tiếp cận hệ sinh thái và phát triển bền vững đối với đa dạng sinh học, có thể chia các khu bảo tồn biển thành hai loại hình tương

ứng với đối tượng được bảo vệ Thứ nhất, các khu bảo tồn biển nhằm mục đích bảo

tồn và phát triển bền vững các loài động, thực vật biển, trong đó có các loài động,

thực vật biển hoang dã và các loài di cư Thứ hai, khu bảo tồn biển nhằm mục đích

bảo tồn và phát triển các sinh cảnh, cảnh quan, hệ sinh thái

Thứ ba, quy định của pháp luật quốc tế về các khu bảo tồn biển trong các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia

Trang 8

Theo Điều 8 Công ước đa dạng sinh học, các quốc gia có nghĩa vụ lựa chọn, xây dựng và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển trong các vùng biển thuộc chủ quyền và quyền chủ quyền quốc gia, cụ thể trong nội thủy, lãhh hải, tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa Bên cạnh đó, các quốc gia còn có nghĩa vụ xây dựng các hướng dẫn để thực hiện hiệu quả các việc lựa chọn, xây dựng và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển cũng như bảo tồn và phát triển bền vững nguồn tài nguyên sinh vật của khu bảo tồn biển kể cả khi ở trong hay ngoài khu bảo tồn biển

Việc thực hiện nghĩa vụ xây dựng và quản lý hiệu quả khu bảo tồn biển, ngay cả khi các khu bảo tồn biển đó nằm trong các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia cũng có thể phải đối mặt với vấn đề thực hiện quyền sử dụng biển hợp pháp của các quốc gia khác Ví dụ, quốc gia ven biển vẫn phải tôn trọng quyền đi qua không gây hại của tàu thuyền quốc gia khác trong các vùng biển thuộc chủ quyền quốc gia như lãnh hải hoặc nội thủy (trường hợp áp dụng Điều 8 khoản 2 Công ước luật biển năm 1982), hoặc quyền đánh bắt cá truyền thống trong lãnh hải và đặc quyền

kinh tế Vụ Chagos Marine Protected Areas Arbitration theo thủ tục trọng tài tại

Phụ lục VII Công ước luật biển năm 1982 giữa Mauritius và United Kingdom là một ví dụ điển hình (Vụ kiện là hệ quả tranh chấp giữa Mauritius và Vương quốc Anh liên quan đến hành vi xác lập khu bảo tồn biển với chiều rộng 200 hải lý bao quanh Quần đảo Chagos do Vương quốc Anh quản lý hành chính và được coi là Lãnh thổ tại Ấn Độ Dương của Vương quốc Anh (ngày 01/4/2010) Cùng với việc thiết lập khu bảo tồn biển, các hoạt động đánh bắt hài sản và các hoạt động khác trong khu bảo tồn biển đều bị cấm thực hiện Mauritius kiện Vương quốc Anh vì cho rằng Vương quốc Anh đã vi phạm Điều 2 (3), Điều 56 (2) và Điều 194 (4) của Công ước Luật biển 1982 Ngày 20/12/2010, Mauritius đã khởi kiện Vương quốc Anh theo Điều 287 của Công ước Luật biển và Điều 1, của Phụ lục VII Trong Phán quyết của Tòa trọng tài tuyên ngày 18/3/2015, Tòa đã xử cho Cộng hòa Mauritius thắng kiện và được tiếp tục thực hiện quyền đánh bắt thủy sản truyền thống Xem, Phán quyết của Tòa trọng tài)

Trang 9

Thứ tư, quy định của pháp luật quốc tế về khu bảo tồn biển nằm ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia

Bên cạnh các khu bảo tồn biển được các quốc gia thiết lập trong các vùng biển hoàn toàn thuộc chủ quyền, quyền chủ quyền của quốc gia, pháp luật quốc tế cũng quy định nghĩa vụ của các quốc gia phải hợp tác và thành lập các khu bảo tồn biển xuyên biển giới vì mục đích bảo tồn Điều 5 Công ước đa dạng sinh học quy định:

“Mỗi bên ký kết sẽ hợp tác tối đa và thích hợp nhất với các bên kí kết khác ở những khu vực nằm ngoài phạm vi quyền tài phán quốc gia về các vấn đề có chung lợi ích một cách trực tiếp hoặc thông qua các tồ chức quốc tế có thẩm quyền nếu điều đó là thích hợp cho bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học”.

Xét về vị trí địa lý cũng như tính chất, khu bảo tồn biển nằm ngoài các vùng biển

thuộc quyền tài phán quốc gia có thể có ba thể loại: Thứ nhất, các khu bảo tồn biển

mà một phần hệ sinh thái tự nhiên nằm trong các vùng biển thuộc chủ quyền và

quyền chủ quyền quốc gia Thứ hai, các khu bảo tồn biển hoàn toàn nằm ngoài các

vùng biển thuộc quyền tài phán của quốc gia ven biển Nói cách khác, các khu bảo

tồn biển này hoàn toàn nằm ở Biển quốc tế Thứ ba, các khu bảo tồn biển hỗn hợp,

tức là một phần của khu bảo tồn biển nằm trong các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia, một phần khác nằm bên ngoài các vùng biển thuộc quyền tài phán quốc gia

Một trong những khu vực thiết lập nhiều khu bảo tồn biển là Địa Trung Hải Theo Nghị định thư 1995 về các khu bảo tồn đặc biệt và đa dạng sinh học tại Địa Trung Hải, các khu vực có giá trị tự nhiên và văn hóa, các loài động, thực vật biển tại các vùng biển thuộc quyền tài phán hoặc nằm ngoài quyền tài phán quốc gia và cần được bảo vệ có thể được bảo vệ dưới hai hình thức Đó là bảo vệ theo quy chế

“khu bảo tồn đặc biệt” hoặc “khu bảo tồn đặc biệt có tầm quan trọng của khu vực Địa Trung Hải” Bên cạnh đó, khu bảo tồn biển có thể được thiết lập theo thỏa thuận cụ thể đối với từng trường hợp giữa các quốc gia có liên quan Điển hình là khu bảo tồn biển được thiết lập giữa Pháp - Ý - Mô-nê-ga, một mô hình khu bảo

Trang 10

tồn biển xuyên quốc gia thành công, trên cơ sở Thỏa thuận về xây dựng khu bảo tồn tại Địa Trung Hải cho các loài động vật biển có vú

Tại khu vực Đông Nam Á, Đảo Rùa là một trong những khu bảo tồn biển xuyên quốc gia được thiết lập và đồng quản lý thành công để bảo tồn loài Rùa Xanh trên

cơ sở Bản ghi nhớ của Thỏa thuận giữa Malaysia và Philippines ngày 31 tháng 5 năm 1996? Khu bảo tồn biển xuyên quốc gia này có thể được coi là một mô hình hợp tác hiệu quả trong bảo tồn tài nguyên biển và đa dạng sinh học biển thuộc quyền tài phán của nhiều quốc gia và là mô hình gợi ý cho các quốc gia khu vực ASEAN có chia sẻ hệ sinh thái chung

Các khu bảo tồn biển nằm hoàn toàn tại Biển cả, Vùng hoặc Nam Cực nhằm mục đích bảo tồn các sinh cảnh, các hệ sinh thái hoặc đa dạng sinh học cũng đã được điều chỉnh bởi một số cơ chế khác nhau Năm 2009, ủy ban Bảo tồn tài nguyên sinh vật biển Nam Cực đã thành lập các khu bảo tồn biển tại vùng nước quanh Nhóm đảo Nam Orkney rộng 94.000 km2 Với mục tiêu bảo tồn nghiêm ngặt, trong khu bảo tồn biển này không cho phép sử dụng các hoạt động khai thác Tất

cả các hoạt động đánh bắt cá hoặc xả thải của tàu thuyền trong khu bảo tồn biển này đều bị cấm

Tóm lại, xây dựng và quản lý hệ thống các khu bảo tồn biển với tính chất công cụ hiệu quả bảo tồn nội vi và phát triển bền vững đa dạng sinh học và các thành phần của đa dạng sinh học là nghĩa vụ cơ bản của các quốc gia và chủ thể khác của Luật quốc tế Mặc dù, cách tiếp cận bảo tồn đa dạng sinh học thông qua hình thức khu bảo tồn biển còn có những hạn chế nhất định do quy định của Luật quốc tế về vấn

đề này còn tách biệt các quy định pháp luật quốc tế về kiểm soát các nguồn ô nhiễm Tuy nhiên, hiện nay, một số điều uớc quốc tế, khu vực có liên quan đã kết họp hai lĩnh vực của pháp luật môi trường quốc tế để bảo tồn hiệu quả đa dạng sinh học

Thứ năm, Bảo tồn và phát triển bền vững các thành phần đa dạng sinh học biển

Để bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học, ngoài các quy định về xây dựng và quản lý hiệu quả các khu bảo tồn biển, các quốc gia và các chủ thể khác

Ngày đăng: 19/07/2021, 02:37

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w