Thực trạng nuôi dưỡng qua sonde cho bênh nhân ung thư đang điều trị tại bệnhviện Ung bướu Đà Nẵng Phan Văn Công1, Trần Thị Thanh2 ĐẶT VẤN ĐỀ Dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng, cũng
Trang 1Thực trạng nuôi dưỡng qua sonde cho bênh nhân ung thư đang điều trị tại bệnh
viện Ung bướu Đà Nẵng
Phan Văn Công1, Trần Thị Thanh2
ĐẶT VẤN ĐỀ
Dinh dưỡng đóng một vai trò quan trọng, cũng là phương pháp điều trị trong một
số bệnh lý, đặc biệt là nhóm bệnh ung thư Dinh dưỡng tốt góp phần nâng cao sức đề kháng, tăng cường miễn dịch rút ngắn thời gian điều trị, giảm biến chứng, rút ngắn thời gian nằm viện, giảm chi phí điều trị, giảm tỉ lệ tử vong
Dinh dưỡng được cung cấp bằng đường tiêu hóa hoặc tiêm truyền tĩnh mạch, tuy nhiên nuôi dưỡng bằng đường tiêu hóa là con đường sinh lý nhất, an toàn, tiết kiệm nhất Trong nhóm bệnh ung thư, nhất là nhóm bệnh lý ung thư vùng đầu hay ống tiêu hóa trên gây hẹp, tắc lòng thực quản, một số phương pháp điều trị ảnh hưởng đến khả năng nuốt dẫn đến khó khăn trong việc ăn uống qua đường miệng Để giải quyết được những khó khăn, tồn tại trên, mở thông dạ dày được xem là một giải pháp đơn giản và hiệu quả nhất
Về lý thuyết, nuôi dưỡng qua sonde là một can thiệp dinh dưỡng tích cực, hiệu quả, dễ dàng thực hiện và chí phí rẻ Tuy nhiên, trong thực tiễn lâm sàng, hiệu quả việc nuôi dưỡng qua sonde chưa được đánh giá cụ thể, chính vì vậy, chúng tôi thực hiện đề tài này nhằm mục tiêu:
1 Đánh giá thực tiễn nuôi dưỡng qua sonde cho bệnh nhân ung thư đang điều trị tại Bệnh viên Ung bướu Đà Nẵng
2 Tìm hiểu các khó khăn và nguyện vọng của bệnh nhân về nuôi dưỡng qua sonde
ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu
Bệnh nhân đang nuôi ăn qua sonde tại khoa Xạ trị - Bệnh viên Ung bướu Đà Nẵng từ tháng 12/2020 – 03/2021
Cách chọn mẫu: chọn mẫu thuận tiện, tất cả bệnh nhân đang được nuôi dưỡng qua sonde mũi – dạ dày, sonde mở thông dạ dày, sonde mở thông hỗng tràng
Tiêu chuẩn loại trừ:
o Các trường hợp đặt sonde không vì mục đích nuôi ăn
o Bệnh nhân không sáng suốt, không hợp tác
o Bệnh nhân nuôi dưỡng qua sonde ít hơn 2 ngày
Phương pháp nghiên cứu:
Nghiên cứu mô tả loạt bệnh
1 CNĐD, Khoa Xạ trị, Bệnh viên Ung bướu Đà Nẵng Email: pvcong06@gmail.com ĐT: 0973632751
2 ThS.Bs, Khoa Xạ trị, Bệnh viện Ung bướu Đà Nẵng
Trang 2
Các chỉ số nghiên cứu
Phân nhóm chỉ số BMI: + thiếu cân BMI < 18,5
+ bình thường BMI 18,5 – 23 + thừa cân BMI > 23
Nhu cầu năng lượng đảm bảo 30kcal/kg/ngày, tính theo cân nặng chuẩn
Số lượng bơm ăn: bắt đầu 30ml/cử, 3 – 8 lần, tăng dần 60 – 120ml/ 8-12 giờ, tối
đa 400ml/cử, tráng ống 30 – 50ml nước lọc trước và sau ăn Đối với nhỏ giọt qua máy,
10 – 40ml/giờ, tăng 10 – 20ml/ 8 – 12 giờ, nghĩ 4 giờ, tráng ống 30ml nước lọc/ 4 giờ
Tư thế bệnh nhân khi ăn: ngồi hoặc nằm đầu cao 450, sau khi ăn xong tiếp tục nằm đầu cao hoặc đi lại ít nhất 30 phút mới nằm lại
Thu thập, xử lý và phân tích số liệu
Số liệu được thu thập bằng cách phỏng vấn trực tiếp bệnh nhân và người chăm sóc qua bảng câu hỏi dựng sẵn kết hợp khai thác hồ sơ bệnh án, cân đo các chỉ số nhân trắc học của bệnh nhân
Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mền thống kê y học SPSS 20.0
KẾT QUẢ
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Bảng 1 Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
N = 45 Tỷ lệ %
Tuổi
Trang 3Nơi sống Nội thành 8 17.8
Chẩn đoán
- Tỷ lệ nam chiếm đa số, chiếm 88,9%
- Độ tuổi trung bình: 58,2 , nhóm tuổi > 60 tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất (44,4%)
- Tất cả trường hợp đều có thẻ BHYT, trong đó BHYT 100% chiếm tỷ lệ cao nhất
- Đa số trường hợp ở ngoại tỉnh với tỷ lệ 82,2%
- Nhóm bệnh UT vùng đầu cổ chiếm đa số với tỷ lệ 77,8%
Đặc điểm ống sonde
Bảng 2 Đặc điểm ống sonde
Vị trí sonde
Thời gian nuôi
dưỡng qua sonde
Tần suất sử dụng
ống sonde
- Đa số các trường hợp nuôi dưỡng qua sonde mũi dạ dày, chiếm 62,2%
- Thời gian nuôi dưỡng khoảng 2 tuần đến 1 tháng
Trang 4- Đa số trường hợp sử dụng ống sonde hoàn toàn, có 1 trường hợp đặt sonde nhưng không sử dụng, 1 trường hợp thỉnh thoảng mới sử dụng
Cách sử dụng sonde
Bảng 3 Sử dụng ống sonde
Tư thế khi bơm ăn
Cách bơm ăn
Truyền nhỏ giọt ngắt
Số lần bơm
ăn/ngày
Số lượng bơm ăn
Loại thức ăn dung
qua sonde
Soup khoa dinh
Soup người nhà tự
Chế phẩm công
- 80% các trường hợp dùng bơm trực tiếp, số lần bơm trong ngày là 4 – 6 lần chiếm
tỷ lệ cao, số lượng thức ăn bơm/ lần khoảng 200ml – 300ml
Năng lượng chế độ ăn
Trang 5Bảng 4 Năng lượng chế độ ăn
Năng lượng/ngày
Cách tính năng
lượng chế độ ăn
Biết cách tính, tính không đúng hoặc không tính
- Đa số không tính năng lượng chế độ ăn/ngày Hầu hết không biết cách tính năng lượng theo cân nặng
Biến chứng nuôi ăn qua sonde
Bảng 5 Biến chứng liên qua đến nuôi ăn và chăm sóc ống sonde
Biến chứng liên
quan đến nuôi ăn
Biến chứng liên
quan đến chăm sóc
ông sonde (n=17)
- Táo bón là cảm giác gặp nhiều nhất, tiêu chảy hiếm khi gặp Không có trường hợp nào hít sặc thức ăn vào phổi khi bơm ăn
- Dò dịch chân sonde là biến chứng hay gặp nhất khi chăm sóc người bệnh MTDD, chiếm 52,9%, viêm chân sonde cũng là biến chứng hay gặp, chiếm 29,4%
Trang 6So sánh BMI trước và sau nuôi dưỡng qua sonde
Bảng 6 So sánh BMI
BMI
0 5 10 15 20 25 30
BMI trước BMI sau
Biểu đồ 1 So sánh BMI
- BMI trước khi nuôi dưỡng qua sonde thì nhóm bình thường chiếm đa số, BMI sau nuôi dưỡng thì nhóm thiếu cân chiếm đa số => đa số người bệnh bị sụt cân sau khi nuôi dưỡng qua ống sonde
BÀN LUẬN
Qua kết quả nghiên cứu 45 trường hợp nuôi ăn qua sonde, qua bảng 1, chúng tôi nhận thấy có sự chênh lệch về giới tính, tỷ lệ nam/nữ rất chênh lệch với nam chiếm 88,9%; nhóm tuổi chiếm tỷ lệ cao nhất là nhóm > 60 tuổi, nhóm < 40 tuổi chỉ chiếm 4,4% Qua đây cho thấy nhóm bệnh nhân trung niên, cao tuổi là nhóm cần can thiệp dinh dưỡng qua sonde nhiều nhất, phù hợp với mô hình bệnh tật theo lứa tuổi cũng như giới tính Kết quả này cũng phù hợp với kết quả một số nguyên cứu khác như nghiên cứu của Diệp Bảo Tuấn và Nguyễn Thị Kim Chi với nhóm tuổi ≥ 60 tuổi chiếm 49,4%[3] Đặng
Lệ Mỹ với nhóm tuổi ≥ 60 tuổi chiếm 33,8%, nhóm tuổi < 40 tuổi chiếm 4,6%[3]
Tất cả các trường hợp đều có BHYT, trong đó BHYT 100% chiếm tỷ lệ cao nhất (46,7%), bên cạnh đó là BHYT 95%, 80%, đây là yếu tố giúp giảm gánh nặng về chi phí khám chữa bệnh, nhất là các phác đồ điều trị hóa xạ trị, qua đó giúp người bệnh và gia đình có thêm nguồn lực tài chính để giúp cải thiện chế độ dinh dưỡng Tuy nhiên, dinh dưỡng qua sonde là chế độ dinh dưỡng chuyên biệt, chế độ ăn cần có cách chế biến riêng, cần có các dụng cụ chế biến và cho ăn riêng biệt, song đa số người bệnh lại ở ngoại tỉnh (82,2%) cũng gây nhiều khó khăn cho người bệnh và người nhà
Trang 7Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhân các trường hợp chủ yếu sử dụng sonde mũi
dạ dày (62,2%), thời gian sử dụng ống sonde từ 2 tuần – 1 tháng Người bệnh chủ yếu là
sử dụng ống sonde bơm ăn hoàn toàn, có 8 trường hợp người bệnh vẫn ăn chút ít đường miệng, 1 trường hợp chủ yếu ăn bằng đường miệng, thỉnh thoảng mới bơm qua sonde khi
cổ đau gây khó nuốt, 1 trường hợp ăn hoàn toàn bằng đường miệng, không sử dụng ống sonde
Nếu như ở nước ngoài, việc nuôi ăn qua ống sonde do điều dưỡng đảm nhiệm thì tại bệnh viện chúng tôi, do tình trạng quá tải công việc nên việc bơm ăn qua sonde vần đang để người nhà hoặc người bệnh tự đảm trách, do đó dù được hướng dẫn kỹ các kỹ thuật nhưng vẫn không thể tránh khỏi sai sót, có đến 40% trường hợp vẫn còn nằm khi
ăn, 13,3% trường hợp kết hợp nhiều tư thế, và có đến 80% dùng bơm tiêm bơm nhanh thức ăn, đây là những sai lầm có thể khắc phục được nếu như người bênh và người nhà được hướng dẫn kỹ và được theo dõi thường xuyên từ nhân viên y tế Về số lần bơm ăn/ngày thì tương đối đảm bảo với 3 bữa chính và 2 – 3 bữa phụ/ngày, số lượng bơm ăn cũng đảm bảo dao động từ 200ml – 300ml Tuy nhiên, qua kết quả bảng 4 cho thấy một tình trạng đáng báo động, tuy số lượng bơm ăn tương đối đảm bảo nhưng chất lượng bữa
ăn lại chưa được quan tâm đúng mức, có tới 66,7% trường hợp không tính tổng năng lượng chế độ ăn/ngày Khi khảo sát cách tính năng lượng/ngày cho người bệnh thì có tới 88,9% trường hợp không biết cách tính, có 2 trường hợp biết cách tính nhưng lại tính sai khi lấy cân nặng tại thời điểm hiện tại để tính năng lượng Qua đây cho thấy vấn đề tư vấn dinh dưỡng cho người bệnh vẫn còn bỏ ngỏ, chưa thật sự được quan tâm, sau khi tư vấn chưa có sự kiểm tra, đánh giá lại
Về mặt chế độ ăn, phần lớn người bệnh đăng ký suất ăn qua sonde của khoa Dinh dưỡng tiết chế, tuy nhiên vẫn có 18 trường hợp người nhà tự chế biến soup ăn qua sonde, nhưng người nhà lại thiếu kiến thức về chế biến, an toàn thực phẩm, cách tính năng lượng chuẩn cho người bệnh Có 4 trường hợp dùng chế phẩm công nghiệp, tuy chế phẩm có năng lượng cao, đảm bảo an toàn tuy nhiên giá thành quá cao là một rào cản lớn Qua kết quả bảng 6, so sánh BMI giữa 2 thời điểm một lần nữa cho thấy thực trạng dinh dưỡng qua sonde cho người bệnh thật sự chưa được chú trọng, người bệnh vẫn tiếp tục bị sụt cân Theo kết quả một số nghiên cứu khác cũng cho thấy cait thiện cân nặng không nhiều, bệnh nhân vẫn tiếp tực sụt cân hoặc không thay đổi cân nặng, nghiên cứu của Trần Thị Anh Tường và cs có tỷ lệ sụt cân 70%, 20% không thay đổi cân nặng[4], nghiên cứu của Orell cũng cho thấy tỷ lệ sụt cân nhiều hơn[7] Để việc chỉ định đặt ống sonde nuôi ăn thực sự có hiệu quả phải cần có sự phối hợp của điều dưỡng, khoa dinh dưỡng và người chăm sóc bệnh nhân Hiệu quả việc nuôi ăn qua sonde cần được theo dõi, đánh giá thường xuyên trong quá trình điều trị Những trường hợp phức tạp cần hội chẩn bác sĩ dinh dưỡng để thiết kế công thức súp ăn đặc biệt phù hợp cho từng cá thể, tối ưu hóa hiệu quả nuôi ăn qua sonde
Về tính an toàn khi nuôi dưỡng qua sonde, do có sự can thiệp khi đặt sonde nuôi
ăn cho người bệnh cũng gây ảnh hưởng đến tâm lý người bệnh cũng như các thao tác
Trang 8nuôi ăn chưa đảm bảo đúng kỹ thuật, chế độ ăn chưa đảm bảo dẫn đến người bệnh có một
số cảm giác, biến chứng khi ăn qua sonde như đầy bụng, nôn ói, trào ngược thức ăn qua sonde, tiêu cháy, đau bụng, táo bón, hít sặc thức ăn vào phổi Trong nghiên cứu, chúng tôi ghi nhận thấy táo bón là biến chứng hay gặp nhất (42,2%) có thể do thay đổi chế độ
ăn, bệnh nhân mất nước do kế hoạch điều trị mà không được bổ sung đủ, táo bón còn là một biến chứng hay gặp do người bệnh phải dung thuốc, đặc biệt là các nhóm thuốc giảm đau, không ghi nhận trường hợp nào bị biến chứng hít sặc khi nuôi ăn, tuy nhiên có đến 15,6% có hiện tượng trào ngược dạ dày thực quản, tập trung chủ yếu ở các bệnh nhân nằm khi bơm ăn và dung bơm tiêm bơm trực tiếp thức ăn
Về vấn đề chăm sóc tại chỗ đối với các trường hợp MTDD, trong nghiên cứu chúng tôi ghi nhận 1 trường hợp bị tụt ống sonde ra khỏi dạ dày, cớp ống sonde nằm dưới
da tạo thành hốc, sau khi kiểm tra và đưa ống sonde vào lại dạ dày, chăm sóc tại chổ kết hợp dùng thuốc, sau 1 tuần tại chổ chân ống sonde Dò dịch chân sonde và viêm da xung quanh chân sonde vẫn là biến chứng hay gặp nhất với 52,9% các trường hợp MTDD có tình trạng dò dịch chân sonde và 29,4% các trường hợp bị viêm da xung quanh chân sonde Các nghiên cứu khác thì đây cũng là biến chứng hay gặp, nghiên cứu của Diệp Bảo Tuấn và cs có tỷ lệ 21% bị dò dịch chân sonde[3], của Trần Thị Anh Tường và cs có
tỷ lệ viêm chân sonde 10%[4] Tại nghiên cứu của chúng tôi, do mẫu tương đối nhỏ nên chưa thể đánh giá hết được thực trạng chăm sóc tại chỗ sonde MTDD, chúng tôi xem đây
là tiền đề đề có những bài viết chuyên sau hơn về thực trạng này
KẾT LUẬN
Dinh dưỡng cho bệnh nhân ung thư chiếm vị trí rất quan trọng trong quá trình điều Tuy bệnh nhân đã được chỉ định đặt sonde nuôi ăn khi có khó khăn về nuốt nhưng hiệu quả chưa được như mong đợi Tình trạng tụt cân vẫn tiếp tục xảy ra, kỹ thuật nuôi dưỡng chưa đúng còn chiếm tỷ lệ cao, chế độ ăn chưa đảm bảo chất lượng, đủ năng lượng; người nhà còn thiếu kiến thức về nuôi dưỡng cũng nhu chế biến thức ăn Vấn đề chăm sóc tại chổ vẫn còn để lại nhiều biến chứng
Để nâng cao hiệu quả nuôi dưỡng qua ống sonde cần có sự hợp tác, phối hợp giữa khoa dinh dưỡng và khoa lâm sàng Khoa dinh dĩnh ngoài triển hai cung cấp súp ăn qua sonde đúng chuẩn, phải tổ chức các lớp tập huấn, giáo dục truyền thông cho người bệnh
và gia đình các nuôi, cách chế biến súp nuôi ăn qua sonde, tôt chức các lớp tập huấn dinh dưỡng lâm sàng cho bác sĩ, điều dưỡng các khoa lâm sàng, tôt chức mạng lưới dinh dưỡng trong bệnh viện hoạt động hiệu quả, phối hợp hội chẩn điều trị những trường hợp phức tạp
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Hoàng Trọng Quang và Nguyễn Thị Kim Liên (2002), “Dinh dưỡng hỗ trợ”, Dinh dưỡng lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, tr 315 – 325.
Trang 92 Hoàng Trọng Quang và Nguyễn Thị Kim Liên (2002), “Nuôi dưỡng bệnh nhân
qua ống thông”, Dinh dưỡng lâm sàng, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội.
3 Diệp Bảo Tuấn và Nguyễn Thị Kim Chi (2016), Nghiên cứu điều trị nuôi ăn bằng phẫu thuật mở thông dạ dày cho bệnh nhân ung thư, Tạp chí Ung thư học Việt Nam, số 4
– 2016, tr 510 – 515
4 Trần Thị Anh Tường và cs (2016), Khảo sát tình trạng dinh dưỡng bằng ống thông cho bệnh nhân ở các khoa Xạ - Bệnh viện Ung bướu TP.HCM, Tạp chí Ung thư
học Việt Nam, số 4 – 2016, tr.525 – 531
5 Trần Thị Thuận (2007), “Các phương pháp đưa thức ăn vào cơ thể”, Điều dưỡng
cơ bản 2, Nhà xuất bản Y học, Hà Nội, tr 31 – 35.
6 Bách khoa toàn thư mở, Chỉ số khối cơ thể,
https://vi.wikipedia.org/wiki/chisokhoicothe
7 Orell K et al (2013), Locally advanced Head anh Neck cancer: the effect ò intensive nutrition counseling, Nutrition anh cancer, S157