1. Trang chủ
  2. » Kỹ Thuật - Công Nghệ

Nghiên cứu khảo sát , đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam

71 813 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Khảo Sát, Đánh Giá Hiện Trạng Năng Lực Kiểm Tra Thử Nghiệm Thiết Bị Điện Gia Dụng Điển Hình Tại Việt Nam
Tác giả ThS. Nguyễn Đức Song
Người hướng dẫn Trần Mạnh Hựng, Phạm Khỏnh Toàn
Trường học Bộ Công Thương Tập Đoàn Điện Lực Việt Nam
Chuyên ngành Năng Lực Kiểm Tra Thử Nghiệm Thiết Bị Điện Gia Dụng
Thể loại Đề tài
Năm xuất bản 2008
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 863,19 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu khảo sát , đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam

Trang 1

Viện trưởng: Phạm Khánh Toàn

NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC KIỂM TRA THỬ NGHIỆM THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG

ĐIỂN HÌNH TẠI VIỆT NAM

Trang 2

Hà nội, 12-2008

Bé C«ng th−¬ngtËp ®oµn ®iÖn lùc ViÖt Nam

ViÖn n¨ng l−îng

Mã số: I-150

Đề tài NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC KIỂM TRA THỬ NGHIỆM THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG

ĐIỂN HÌNH TẠI VIỆT NAM

Trang 3

Bé C«ng th−¬ng tËp ®oµn ®iÖn lùc ViÖt Nam

Viện trưởng: Phạm Khánh Toàn

NGHIÊN CỨU KHẢO SÁT, ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC KIỂM TRA THỬ NGHIỆM THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG

ĐIỂN HÌNH TẠI VIỆT NAM

Trang 4

KH¶O S¸T Vµ §¸NH GI¸ HIÖN TR¹NG N¡NG LùC KIÓM TRA THö

NGHIÖM THIÕT BÞ §IÖN GIA DôNG T¹I VIÖT NAM

5

Chương II

ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT VÀ TIÊU

CHUẨN KỸ THUẬT LIÊN QUAN

14

Chương III

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC KIỂM TRA

THỬ NGHIỆM THIÉT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG

Trang 5

MỞ ĐẦU

SỰ CẦN THIẾT NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Việc kiểm tra, thử nghiệm các thiết bị điện và điện tử gia dụng được thực hiện ở tất cả các nước trên thế giới Mặt khác việc thử nghiệm và kiểm tra các thiết bị điện và điện tử gia dụng phải tuân thủ theo tiêu chuẩn của từng quốc gia

và phải tuân theo các tiêu chuẩn quốc tế như tiêu chuẩn IEC Trên cơ sở đó các nước hình thành các trung tâm kiểm định và thử nghiệm cho các thiết bị điện và điện tử gia dụng, các trung tâm kiểm định và thử nghiệm tại các vùng tại các tỉnh Bên cạnh đó thì các nhà sản xuất các thiết bị trước khi đưa ra thị trường họ cũng phải thử nghiệm và kiểm định thiết bị của mình Trên cơ sở đó các thiết bị phải được chứng nhận của quốc gia đó hoặc là phải được chứng nhận của quốc gia mà các thiết bị đó được nhập khẩu vào Tất cả các thiết bị điện và điện tử gia dụng đều phải tuân thủ một quy định hết sức chặt chẽ trước khi đưa ra thị trường

Hiện nay tại nước ta việc kiểm tra thử nghiệm các thiết bị điện và điện tử gia dụng được triển khai qua các trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng các khu vực trên cơ sở quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về an toàn đối với các thiết

bị điện và điện tử gia dụng Tuy nhiên các tiêu chuẩn này vẫn còn đang ở tình trạng dự thảo chờ ý kiến đóng góp để thông qua Mặt khác các trung tâm kỹ thuật tiêu chuẩn đo lường chất lượng đã được trang bị các thiết bị thử nghiệm và kiểm định tương đối tốt nhưng việc quan tâm đến các thiết bị điện và điện tử gia dụng vẫn còn bỏ ngỏ, điều này dẫn đễn các thiết bị điện và điện tử gia dụng vẫn chưa được siết chặt theo các quy chuẩn chất lượng dẫn đến các thiết bị chưa có

sự thống nhất làm cho chất lượng của các thiết bị điện và điện tử gia dụng trên thị trường của chúng ta còn lộn xộn khó có thể phân biệt giữa hang chất lượng

và kém chất lượng Thiết bị tiêu thụ năng lượng hiệu suất cao và thiết bị tiêu thụ năng lượng hiệu suất thấp Điều này cần phải đòi hỏi xây dựng năng lực cho các trung tâm kiểm tra và thử nghiệm cho các thiết bị điện và điện tử gia dụng ngày một nâng cao để tiến tới một thị trường với các thiết bị có chất lượng tốt và hiệu quả cao

Trên cơ sở khảo sát đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra và thử nghiệm thiết

Trang 6

bị điện và điện tử gia dụng điển hình Từ đó xây dựng các khung pháp lý lộ trình bắt buộc thử nghiệm và kiểm tra các thiết bị và điện tử tiết kiệm năng lượng Định hướng phát triển các trung tâm kiểm tra và thử nghiệm các thiết bị điện và

điện tử gia dụng

Trang 7

BỐ CỤC NỘI DUNG ĐỀ TÀI

CHƯƠNG I: Khảo sát và đánh giá hiện trạng năng lực kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng tại Việt Nam

Chương II: Đánh giá hệ thống các văn bản QPPL và tiêu chuẩn kỹ thuật liên quan

Chương III: Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng

Chương IV: Xây dựng hệ thống quản lý tại các cơ sở chế tạo thiết bị điện gia dụng trong nước

Kết luận

PHẠM VI GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI

Trong khuôn khổ nghiên cứu ban đầu của đề tài, do điều kiện hạn chế về thời gian và kinh phí, về số liệu thực tế thu thập, đề tài giới hạn trong phạm vi nghiên cứu chủ yếu sau:

Điều tra, nghiên cứu hiện trạng năng lực kiểm tra thiết bị gia dụng điển hình là

Tủ lạnh và điều hoà không khí

Để đạt được những kết quả nghiên cứu của đề tài, chủ nhiệm đề tài thay mặt nhóm nghiên cứu xin cám ơn sự tham gia và đóng góp ý kiến tích cực cho đề tài,

đó là các đồng nghiệp và các cộng sự, các đơn vị và cá nhân cơ quan trong ngành như Bộ Công Thương, Cục Điều tiết Điện lực, Tập đoàn Điện lực Việt nam, Tổng cục tiêu chuẩn đo lường chất lượng

Trang 8

CHƯƠNG I KHẢO SÁT VÀ ĐÁNH GIÁ HIỆN TRẠNG NĂNG LỰC KIỂM TRA THỬ NGHIỆM THIẾT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG TẠI VIỆT NAM

I Mở đầu

Trong xã hội ngày nay, người tiêu dùng ngày càng quan tâm đến sản phẩm, hàng hoá từ các khía cạnh an toàn, tác động đến sức khoẻ và môi trường, bền vững, tiết kiệm năng lượng, tương thích và phù hợp với mục đích sử dụng Xuất phát

từ nhu cầu này, các hoạt động chứng nhận sản phẩm, hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật được tiến hành nhằm vào ba mục đích chính sau đây:

1 Giúp cho người người tiêu dùng có được quyết định đúng đắn khi lựa chọn sản phẩm, hàng hoá trên thị trường;

2 Giúp cho các nhà cung ứng sản phẩm, hàng hoá biết được mức chấp nhận của thị trường để phấn đấu và làm thoả mãn nhu cầu cũng như các yêu cầu luật định, đặc biệt là yêu cầu về an toàn và tiết kiệm năng lượng của sản phẩm, hàng hoá;

3 Giúp cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền thực thi nhiệm vụ quản lý nhà nước về chất lượng sản phẩm hàng hoá

Nằm trong xu thế chung này, sản phẩm điện, điện tử là một trong các mặt hàng được người tiêu dùng đặc biệt quan tâm về khía cạnh an toàn khi sử dụng Cũng chính vì lý do này mà sản phẩm, hàng hoá điện - điện tử cũng thường là mặt hàng được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền tại các quốc gia đưa vào trong nhóm các mặt hàng chịu sự quản lý chặt chẽ về an toàn Một trong biện pháp quản lý phổ biến thường được lựa chọn là sử dụng các kết quả chứng nhận sản phẩm, hàng hoá phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật do tổ chức chứng nhận độc lập tiến hành

II Chứng nhận sản phẩm, hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật

Về bản chất, chứng nhận sản phẩm là hoạt động thông qua đó một tổ chức, đóng vai trò là một bên thứ ba độc lập, đưa ra sự đảm bảo bằng văn bản rằng một sản

Trang 9

phẩm, hàng hoá phù hợp với các yêu cầu quy định trong một tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật Tiêu chuẩn là tự nguyện áp dụng còn quy chuẩn kỹ thuật là bắt buộc áp dụng Các yêu cầu bắt buộc áp dụng thường được sử dụng trong các trường hợp liên quan đến an toàn, vệ sinh, sức khoẻ và môi trường

Hoạt động chứng nhận sản phẩm hợp chuẩn có thể bao gồm nhiều hoạt động chức năng khác nhau như chọn mẫu sản phẩm, đánh giá mẫu sản phẩm, đánh giá quá trình sản xuất hay hệ thống quản lý chất lượng, xem xét kết quả đánh giá và

ra quyết định, giám sát sau chứng nhận

Nội dung cơ bản trong các hệ thống chứng nhận sản phẩm có thể bao gồm một trong những nội dung sau:

- Thử nghiệm mẫu sản phẩm điển hình

- Thử nghiệm mẫu sản phẩm đại diện của lô hàng

- Đánh giá quá trình sản xuất hoặc đánh giá hệ thống chất lượng

- Thử nghiệm mẫu sản phẩm lấy từ thị trường hoặc lấy tại nơi sản xuất trong quá trình giám sát

Tuỳ vào mức độ tin cậy đối với mục đích sử dụng của từng chủng loại sản phẩm

và mức độ rủi ro liên quan đến khía cạnh về an toàn, sức khoẻ và tác động đến môi trường của sản phẩm, hoạt động chứng nhận sản phẩm hợp chuẩn sẽ có sự kết hợp giữa một số nội dung này để tạo nên 7 hệ thống chứng nhận sản phẩm

cụ thể

Tiêu chuẩn quốc tế ISO/IEC Guide 67 có đưa ra mô hình định hướng cho 7 hệ thống chứng nhận sản phẩm Nguyên tắc xác định và sự khác biệt của các hệ

thống chứng nhận này được mô tả khái quát trong Sơ đồ 1 Dựa vào đặc điểm

chính của từng mô hình, có thể phân chia 7 mô hình chứng nhận trên vào 2 nhóm chính là nhóm 1 (mô hình 1A và 1B) và nhóm 2 (mô hình 2, 3, 4, 5) Riêng mô hình 6 là một trường hợp rất đặc biệt minh hoạ cho một hệ thống chứng nhận sản phẩm gần giống với chứng nhận hệ thống và chỉ áp dụng trong trường hợp sản phẩm là dịch vụ

Trang 10

Với các hệ thống chứng nhận trong Nhóm 1, mức độ tin cậy của kết quả chứng nhận chỉ đơn thuần dựa trên kết quả thử nghiệm mẫu sản phẩm (thử nghiệm điển hình hoặc thử nghiệm đại diện theo Lô sản phẩm) và do vậy khó đánh giá được tính đại diện của mẫu sản phẩm cũng như khó chứng minh được cho sự ổn định của các đặc tính của sản phẩm vì thiếu các biện pháp giám sát Ngoài ra, các phương pháp này cũng không có hiệu quả vì sẽ tốn kém quá nhiều chi phí thử nghiệm cho từng lô hàng Chính vì lý do này mà thông thường biện pháp thử nghiệm theo lô thường chỉ được áp dụng trong điều kiện kiểm soát chất lượng sản phẩm, hàng hoá nhập khẩu theo từng lô và có rủi ro thấp hoặc thử nghiệm mẫu điển hình để kiểm tra mẫu nhất định trong kiểm tra nhà nước về chất lượng Các hệ thống chứng nhận thuộc nhóm 2 có đặc điểm chung là mức độ tin cậy của kết quả chứng nhận được đảm bảo hơn vì dựa trên đồng thời kết quả thử nghiệm điển hình và đánh giá điều kiện sản xuất trước chứng nhận Đặc điểm này cho phép tiên lượng được khả năng duy trì ổn định các đặc tính sản phẩm đã được xác nhận trong báo cáo thử nghiệm Điểm khác biệt giữa các mô hình này nằm ở việc áp dụng các biện pháp khác nhau trong giám sát sản phẩm sau chứng nhận

Trong các hệ thống này, có thể nhận thấy rằng nếu được áp dụng ở mức độ đầy

đủ nhất, Hệ thống 5 sẽ là hệ thống chứng nhận sản phẩm chặt chẽ và tin cậy nhất trong các hệ thống chứng nhận Ngoài tính chặt chẽ có độ tin cậy cao, hệ thống 5 còn cho phép kết hợp và vận dụng linh hoạt các biện pháp giám sát để tận dụng tối đa các đặc điểm kiểm soát của hệ thống 3 và hệ thống 4 khi áp dụng để xem xét khả năng tác động của quá trình phân phối đến chất lượng của sản phẩm Các đặc điểm trên đây chính là lý do dẫn tới việc tại sao hầu hết các tổ chức chứng nhận trên thế giới áp dụng hệ thống 5 một cách phổ biến cho chứng nhận phần lớn các sản phẩm hàng hoá (PSB của Singapore, Sirim của Malaysia, BSI của Anh, CQC của Trung Quốc, BIS của Ấn Độ, ) Xét về mức độ rủi ro và tầm quan trọng của việc đảm bảo an toàn đối với các sản phẩm điện - điện tử trong

sử dụng, hệ thống 5 là hệ thống phù hợp để triển khai các hoạt động chứng nhận sản phẩm điện - điện tử

Trang 12

sinh khi không có sự minh bạch và rõ ràng trong chính sách và quy chế quản lý của mỗi quốc gia, không hài hòa và thống nhất về các tiêu chuẩn – quy định đối với sản phẩm/hàng hoá và có sự không đồng đều và tương xứng về hạ tầng cũng như năng lực của các hoạt động đánh giá sự phù hợp

Trong ASEAN, tại Hội nghị thượng định ASEAN lần thứ VI tổ chức tại Hà Nội

- Việt Nam vào ngày 16/12/1998, các nước thành viên ASEAN đã ký kết Hiệp định khung về Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau nhằm mục đích chấp nhận hay

thừa nhận các kết quả đánh giá sự phù hợp do các tổ chức đánh giá sự phù hợp của các nước thành viên thực hiện Mục đích chính của hiệp định là nhằm hướng

tới việc thực hiện khẩu hiệu hội nhập về chất lượng “Một lần đánh giá, cấp một chứng chỉ và có gia trị ở mọi nơi”

Triển khai thực hiện theo định hướng này, với mục tiêu thuận lợi hoá thương mại, giảm chi phí và thời gian kiểm tra hàng hoá điện - điện điện tử xuất - nhập khẩu trong khu vực, mười nước thành viên ASEAN đã thống nhất thông qua

Thoả thuận thừa nhận lẫn nhau về thiết bị điện - điện tử của ASEAN (ASEAN

Sectoral Mutual Recognition Arrangement for Electrical and Electronic Equipment viết tắt là ASEAN EE MRA) vào ngày 5/4/2002 tại Bangkok – Thailand Thoả thuận này là một bước tiến quan trọng cho phép chính phủ của các nước thành viên ASEAN vừa duy trì được mục tiêu quản lý an toàn của các sản phẩm điện - điện tử, vừa tạo thuận lợi cho các bên tham gia trong quá trình thương mại với các khả năng giảm thiểu thời gian và chi phí

Xét về lợi ích của các bên, việc hình thành một thoả thuận như ASEAN EE MRA là cần thiết vì theo xu thế chung, mỗi một quốc gia đều có mục tiêu quản

lý hoạt động sản xuất, thương mại và quảng cáo liên quan đến sản phẩm điện, điện tử nhằm đảm bảo người tiêu dùng và cộng đồng nói chung được đảm bảo một quyền lợi tối thiểu và chính đáng là quyền sử dụng các sản phẩm điện, điện

tử an toànvà tiết kiệm năng lượng

Có thể xem xét trường hợp của Singapore như một ví dụ điển hình để thấy được

sự liên quan giữa vai trò quản lý nhà nước và các hoạt động chứng nhận sản phẩm điện, điện tử cũng như lợi ích của cơ chế theo ASEAN EE MRA trong việc tạo thuận lợi trong quá trình triển khai thực hiện mục tiêu quản lý này

Trang 13

Ở Singapore, mục tiêu của Hệ thống đăng ký bảo vệ an toàn người tiêu dùng của Singapore (CPS Scheme) là nhằm bảo vệ mối quan tâm của người tiêu dùng

về sự an toàn của các sản phẩm điện, điện tử được quy định thuộc nhóm các sản phẩm, hàng hoá bắt buộc phải được kiểm soát hoàn toàn phù hợp với một tiêu chuẩn an toàn cụ thể CPS Scheme, được điều hành bởi SPING Singapore thuộc

Bộ Thương mại và Công nghiệp (MTI) với vai trò là cơ quan quản lý an toàn, áp dụng đối với 45 nhóm sản phẩm điện điện tử Mỗi sản phẩm điện, điện tử thuộc nhóm này đều được quy định rõ phải phù hợp với một tiêu chuẩn quốc gia và/hoặc tiêu chuẩn quốc tế tương đương cũng như phù hợp với một số yêu cầu

đặc thù của cơ quan quản lý nhà nước (Tham khảo Phụ lục 1 về Danh sách nhóm sản phẩm, hàng hoá điện - điện tử bắt buộc phải được quản lý tại Singapore)

Tất cả các nhà sản xuất, nhập khẩu, bán lẻ và thương mại có liên quan đến việc quảng cáo hoặc cung cấp bất kỳ sản phẩm điện - điện tử nào thuộc danh mục này trước tiên đều phải đăng ký với cơ quan quản lý an toàn như một Nhà cung cấp được đăng ký Sau đó, nhà cung cấp được đăng ký tiến hành đăng ký cho từng kiểu loại sản phẩm cụ thể với cơ quan quản lý an toàn Hồ sơ đăng ký với phải được kèm theo một Chứng nhận về Sự phù hợp (COC) do một tổ chức đánh giá sự phù hợp được chỉ định ban hành

Chỉ các sản phẩm đã được đăng ký chính thức mới được phép gắn dấu an toàn (Safety Mark) và được phép quảng cáo hoặc cung cấp trong phạm vi của lãnh thổ Singapore Về nguyên tắc, Singapore có thể chỉ định một tổ chức đánh giá

sự phù hợp bên ngoài lãnh thổ để ban hành COC sử dụng trong hoạt động đăng

ký này theo nguyên tắc của một thoả thuận thừa nhận tương ứng như thoả thuận ASEAN EE MRA

IV Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn QUACERT với quá trình chuẩn bị năng lực trong việc tham gia vào ASEAN EE MRA với tư cách là

tổ chức chứng nhận sản phẩm hàng hoá được chỉ định

Theo ASEAN EE MRA, việc chỉ định các tổ chức chứng nhận của các nước thành viên để đưa vào Danh sách các tổ chức chứng nhận được chỉ định của ASEAN sẽ do Cơ quan chỉ định quốc gia của các nước thực hiện theo trình tự

Trang 14

quy định Giấy chứng nhận do tổ chức chứng nhận được chỉ định cấp ra sẽ là bằng chứng về việc sản phẩm, hàng hoá điện - điện tử đã phù hợp với một tiêu chuẩn an toàn cụ thể và do vậy có thể được nước nhập khẩu chấp nhận mà không cần tiến hành các thủ tục đánh giá khác theo quy định Về nguyên tắc, Giấy chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn cụ thể sẽ chỉ được chấp nhận hoàn toàn nếu có sự thống nhất về hệ thống chứng nhận Mặt khác, Giấy chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn cũng là minh chứng đầy đủ hơn so với một kết quả thử nghiệm vì trong trường hợp thứ hai này, kết quả thử nghiệm chỉ được xem như một bán sản phẩm mà tổ chức chứng nhận của nước nhập khẩu sử dụng để đưa

ra kết luận cuối cùng về sự phù hợp của sản phẩm với một tiêu chuẩn cụ thể Một tổ chức chứng nhận sản phẩm chỉ có thể được chỉ định tham gia thực hiện trong ASEAN EE MRA nếu như tổ chức đó đáp ứng được các yêu cầu bao gồm:

- Là một pháp nhân, có nguồn tài chính độc lập, được pháp luật cho phép hoạt động trong lĩnh vực chứng nhận đăng ký chỉ định;

- Có năng lực kỹ thuật để thực hiện việc chứng nhận;

- Có hệ thống chứng nhận được công nhận phù hợp theo ISO/IEC Guide 65:1996 bởi một cơ quan công nhận là thành viên của Tổ chức Hợp tác Công nhận Thái Bình Dương (PAC) và là một bên tham gia ký Hiệp định thừa nhận đa biên của PAC hoặc là tổ chức chứng nhận tham gia trong Chương trình đăng ký đầy đủ các Tổ chức Chứng nhận của IEC (IEC EE FCS);

- Luôn đảm bảo được nguyên tắc độc lập, khách quan trong hoạt động chứng nhận

Được Bộ Khoa học, Công nghệ và Môi trường nay là Bộ Khoa học và Công nghệ thành lập với chức năng chính là cung cấp các dịch vụ chứng nhận các hệ thống quản lý phù hợp tiêu chuẩn quốc tế, chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn, Trung tâm Chứng nhận Phù hợp Tiêu chuẩn QUACERT trong thời gian qua đã không ngừng củng cố, xây dựng và phát triển năng lực chứng nhận theo định hướng phù hợp với các tiêu chuẩn và chuẩn mực quốc tế nhằm đảm bảo kết

Trang 15

quả chứng nhận được thừa nhận rộng rãi đáp ứng mục tiêu “một lần đánh giá, cấp một chứng chỉ, được chấp nhận ở mọi nơi”

Từ năm 2001 đến nay, các hệ thống chứng nhận của QUACERT đã được tổ chức công nhận JAS-ANZ - một trong các tổ chức công nhận có uy tín hàng đầu trên thế giới, thành viên tham gia ký kết các hiệt định thừa nhận chính thức của PAC và IAF – công nhận hoàn toàn phù hợp với các tiêu chuẩn ISO/IEC Guide

62, ISO/IEC Guide 65 và ISO/IEC Guide 66 Với kết quả này, hoạt động chứng nhận nói chung và chứng nhận sản phẩm phù hợp tiêu chuẩn nói riêng của QUACERT đã dần được đông đảo tổ chức, doanh nghiệp chấp nhận và sử dụng như một bằng chứng tin cậy đối với người tiêu dùng trong nước cũng như trong các hoạt động thương mại toàn cầu Tính đến nay, đã có hơn 400 sản phẩm được QUACERT chứng nhận phù hợp với các tiêu chuẩn quốc gia (TCVN, JIS, GB )

và tiêu chuẩn quốc tế (ISO, IEC )

Chứng nhận sản phẩm điện - điện tử được QUACERT xem như một trong các hoạt động trọng tâm được tập trung triển khai trong thời gian qua Hệ thống chứng nhận mà QUACERT triển khai cho các sản phẩm điện - điện tử được thực hiện theo hệ thống 5 theo khuyến cáo của ISO/IEC Guide 67 và do vậy hoàn toàn có khả năng được chấp nhận đầy đủ trong các quy định bắt buộc về chứng nhận sản phẩm điện - điện tử của các nước thành viên trong ASEAN Phạm vi công nhận hiện tại của JAS-ANZ theo ISO/IEC Guide 65 cho chương trình chứng nhận sản phẩm của QUACERT cũng bao gồm các nhóm sản phẩm điện - điện tử được ưu tiên và quan tâm trong khuôn khổ hiện tại của các hoạt động chỉ định thuộc ASEAN EE MRA như nhóm

sản phẩm dây cáp điện phù hợp IEC 60227, nhóm sản phẩm thiết bị điện gia dụng phù hợp IEC 60335, thiết bị đóng ngắt điện dùng trong lắp đặt gia dụng phù hợp IEC 60898

V Kết luận

Với xu thế hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện, việc nâng cao năng lực và hội nhập về năng lực đánh giá sự phù hợp là điều kiện tất yếu để tiến tới xoá bỏ

Trang 16

các rào cản kỹ thuật không cần thiết đối với thương mại Việc tham gia và sử dụng tích cực thoả thuận ASEAN EE MRA là biện pháp hữu hiệu vừa tạo điều kiện cho các nhà sản xuất nội địa tiếp cận thuận lợi hơn với thị trường tiêu dùng sản phẩm, hàng hoá điện - điện tử trong các nước thuộc khối ASEAN vừa đồng thời là một công cụ góp phần quản lý chặt chẽ hơn việc nhập khẩu, cung cấp và

sử dụng các sản phẩm điện - điện tử trong thị trường nội địa, đảm bảo an toàn và sức khoẻ cho người tiêu dùng

Trang 17

Chương II ĐÁNH GIÁ HỆ THỐNG CÁC VĂN BẢN QUY PHẠM PHÁP LUẬT

VÀ TIÊU CHUẨN KỸ THUẬT LIÊN QUAN

Việc đánh giá sản phẩm, hàng hoá phù hợp với các tiêu chuẩn kỹ thuật ở nước ta đã được hình thành và phát triển Nhà nước đã ban hành các tiêu chuẩn

và quy định về quản lí chất lượng sản phẩm, hàng hoá lưu thông trên thị trường

và hàng hoá nhập khẩu Để thực hiện công tác kiểm tra chất lượng, các tổ chức chứng nhận, công nhận và kiểm định giám định hàng hoá phải nâng cao tầm hoạt động theo các chuẩn mực quốc tế

I Giới thiệu một số văn bản có liên quan đến công tác quản lí chất lượng sản phẩm hàng hoá

Công tác quản lí chất lượng sản phẩm, hàng hoá mới được đặc biệt quan tâm khi nước ta chuẩn bị điều kiện gia nhập WTO Những năm gần đây các luật, nghị định, quyết định, thông tư hướng dẫn được ban hành đầy đủ hơn với nội dung hoà nhập với các quy định của thế giới và WTO Sau đây xin giới thiệu một số tài liệu, văn bản có liên quan đến đánh giá phù hợp và nhất là công tác quản lí chất lượng sản phẩm, hàng hoá

- Hiệp định về rào cản kĩ thuật trong thương mại (TBT-Technical Barries to Trade): Gồm 15 điều khoản và 3 phụ lục với các mục tiêu là thừa nhận tầm quan

trọng của tiêu chuẩn quốc tế và các hệ thống quốc tế về đánh giá sự phù hợp trong việc nâng cao hiệu quả sản xuất và kinh doanh thương mại Trong đó điều

5 là quy trình đánh giá sự phù hợp do cơ quan nhà nước trung ương quản lí và điều 6 là thừa nhận kết quả đánh giá sự phù hợp bởi các cơ quan nhà nước trung ương Nguyên tắc cơ bản của hiệp định là tranh sự cản trở không cần thiết cho thương mại Các luật, nghị định, thông tư,… phải được xây dựng trên nguyên tắc của nghị định này

- Luật tiêu chuẩn và quy chuẩn kĩ thuật đã được ban hành ngày 29/6/2006 và

có hiệu lực từ 1/1/2007 Đây là căn cứ, chuẩn mực kĩ thuật cho việc kiểm định, đánh giá chất lượng sản phẩm, hàng hoá mà trước hết cần quan tâm đến lĩnh vực tiêu chuẩn và quy chuẩn kĩ thuật, đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn

kỹ thuật

Trang 18

- Nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 về Quy định quản lí Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá Nội dung chính:

+ Quy định về xây dựng, nguyên tắc áp dụng tiêu chuẩn hàng hoá,

+ Quy định danh mục sản phẩm hàng hoá phải áp dụng tiêu chuẩn: Bộ quản lí chuyên ngành phối hợp với Bộ KHCN công bố danh mục này,

+ Quy định chứng nhận chất lượng sản phẩm hàng hoá theo 1 trong các cách: Thử nghiệm mẫu điển hình, Thử nghiệm mẫu điển hình và giám sát mẫu thử nghiệm lấy trên thị trường và cơ sở sản xuất, thử nghiệm mẫu điển hình và đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng, thử nghiệm hoặc kiểm định toàn bộ sản phẩm hàng hoá Bộ quản lí chuyên ngành lựa chọn phương thức

+ Bộ KH&CN phối hợp với Bộ quản lí chuyên ngành quy định sản phẩm hàng hoá phải được chứng nhận chất lượng phù hợp với tiêu chuẩn ngành hoặc tiêu chuẩn khác

+ Công nhận Hệ thống quản lí chất lượng: Thử nghiệm chất lượng, sản phẩm; giám định; chứng nhận sản phẩm; chứng nhận hệ thống quản lí chất lượng

- Quyết định số 04/2006/QĐ-BKHCN ngày 10/01/2006: Ban hành quy định

về nội dung, thủ tục công bố sản phẩm, hàng hoá phù hợp tiêu chuẩn, pháp quy

kĩ thuật Doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo với cơ quan quản lí và người tiêu

dùng về sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá do mình sản xuất với tiêu chuẩn

- Quyết định số 50/2006/QĐ-TTg ngày 7/3/2006 của thủ tướng chính phủ về

ban hành danh mục sản phẩm, hàng hoá phải kiểm tra về chất lượng

II Quy trình và phương thức thực hiện công tác kiểm định chất lượng

Để thực hiện công tác kiểm định chất lượng hàng hoá, hầu hết các sản phẩm được đánh giá tại các phòng thử nghiệm theo các tiêu chuẩn kỹ thuật tương ứng với các loại sản phẩm Các đơn vị thử nghiệm để đảm bảo chất lượng cũng phải được đánh giá và hoạt động theo chuẩn mực tiêu chuẩn đã quy định

Phòng thí nghiệm mang mã hiệu VILAS:

Là hệ thống phòng thử nghiệm được công nhận theo TCVN ISO/IEC 17025 :2005 do Văn phòng công nhận chất lượng cấp giấy chứng nhận Chuẩn mực của tiêu chuẩn này vừa thoả mãn ISO 9001:2000 về hệ thống chất lượng, vừa thoả

Trang 19

mãn ISO/IEC guide 25 về quản lí phòng thử nghiệm và hiệu chuẩn Nếu các PTN đáp ứng chuẩn mực này thì kết quả thử nghiệm sẽ có điều kiện được thừa nhận lẫn nhau giữa các quốc gia khác

Hiện tại Việt nam có khoảng 300 phòng thử nghiệm được công nhận và mang

mã hiệu VILAS

• Cấu trúc của hệ thống chất lượng Phòng thử nghiệm như sau:

phù hợp là:

- Bản Công bố phù hợp của tổ chức công bố;

- Bản sao giấy chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá với tiêu chuẩn;

- Các tiêu chuẩn và các quy định khác có liên quan;

- Bản mô tả chung về sản phẩm (tính năng, công dụng…)

Trường hợp sản phẩm, hàng hoá không bắt buộc phải công bố phù hợp, doanh nghiệp cũng nên tự đánh giá phù hợp theo các bước sau:

- Xây dựng và áp dụng các yêu cầu về kiểm soát chất lượng;

- Tự đánh giá bằng việc thử nghiệm các mẫu;

Và sau đó tự công bố phù hợp bao gồm các nội dung:

- Bản công bố phù hợp;

- Các tiêu chuẩn liên quan trực tiếp đến sản phẩm, hàng hoá;

- Bản mô tả chung về sản phẩm, hàng hoá;

- Kết quả thử nghiệm và tiêu chuẩn thử nghiệm;

- Các văn bản khác có liên quan, như: quy trình sản xuất và hệ thống quản lí chất lượng

Dấu công bố phù hợp tiêu chuẩn phải được gắn, in hoặc dán lên sản phẩm là đối tượng phải được công bố phù hợp tiêu chuẩn Đây là cơ sở pháp lí để sản phẩm, hàng hoá lưu thông trên thị trường Đối với các trường hợp tự nguyện thì dấu công bố phù hợp tiêu chuẩn không bắt buộc phải gắn lên sản phẩm, hàng hoá

III.2 Chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn

Trang 20

Bên thứ ba thực hiện công việc bảo đảm đối tượng nào đó phù hợp với yêu cầu

được quy định được gọi là tổ chức chứng nhận Đối tượng chứng nhận là: sản

phẩm, hệ thống quản lí chất lượng, kĩ thuật viên chuyên ngành Tổ chức được chứng nhận có những lợi ích: nâng cao uy tín, có thể là bắt buộc với thị trường chủ yếu trên thế giới hoặc theo quy chuẩn kĩ thuật Việc mở rộng thị trường đối với các chủng loại sản phẩm đã được chứng nhận phù hợp tiêu chuẩn là dễ dàng hơn Thời kì đầu, việc chứng nhận sản phẩm, hàng hoá mới chỉ chú ý tới chất lượng sản phẩm, sau này tính ổn định của CLSP và điều kiện đảm bảo CLSP cũng được quan tâm đặc biệt

Chứng nhận sự phù hợp cho sản phẩm, hàng hoá (còn gọi là chứng nhận sản phẩm) là bắt buộc với những sản phẩm phải được chứng nhận theo nghị định số 179/2004/NĐ-CP ngày 21/10/2004 về Quy định quản lí Nhà nước về chất lượng sản phẩm, hàng hoá Tuỳ theo thể thức chứng nhận, có thể thực hiện một hoặc nhiều phương pháp đánh giá: Thử điển hình, kiểm tra lô, kiểm tra toàn bộ, đánh giá điều kiện đảm bảo chất lượng,…

Chuẩn mực đối với các tổ chức điều hành hệ thống chứng nhận sản phẩm là ISO/IEC Guide 65, guide 66… Hiện có các tổ chức chứng nhận phù hợp sản phẩm là: Quacert, TT Kĩ thuật 1, 2,3 (thuộc Tổng cục TC-ĐL-CL) Đối với lĩnh vực vật liệu xây dựng, được sự giúp đỡ của Bộ xây dựng,Viện Vật liệu xây dựng với năng lực hiện tại đang hình thành tổ chức chứng nhận sản phẩm VLXD phù hợp tiêu chuẩn Tổ chức này sẽ đánh giá chuyên sâu với nhiều chủng loại VLXD

và giúp đỡ các doanh nghiệp sản xuất vượt qua rào cản kỹ thuật thương mại khi Việt nam gia nhập WTO

III.3 Một số công tác khác của đánh giá phù hợp

Giám định là việc kiểm tra cho việc thiết kế sản phẩm, sản phẩm, dịch vụ (năng lực của nhà sản xuất, hoạt động của hệ thống chất lượng), quá trình hay nhà xưởng thiết bị và xác định sự phù hợp của chúng với các yêu cầu quy định chung hay cụ thể nào đó, Nhà sản xuất cũng có thể qua tổ chức giám định để xác định sự phù hợp sản phẩm của chính mình để tự công bố sự phù hợp Công tác giám định hoặc kiểm tra có thể là một chức năng riêng biệt hoặc có thể là một phần của hệ thống chứng nhận Giám định bao gồm các nội dung: chất lượng, số lượng, giá cả Tổ chức giám định thường hoạt động theo chuẩn mực

Trang 21

của ISO/IEC 17020 Đây là tiêu chuẩn được chuẩn bị bởi ban châu Âu về tiêu chuẩn hoá (CEN) và uỷ ban châu Âu về tiêu chuẩn hoá trong lĩnh vực điện(CENLEC) theo tiêu chuẩn châu Âu EN 45004

Các sổ tay biểu mẫu

PTN thường phải thoả mãn các yêu cầu nhất định tuỳ theo quy định của từng hệ thống Khi tổ chức chứng nhận sử dụng PTN bên ngoài thì PTN đó phải có uy tín và phải được công nhận (chuẩn mực là TCVN ISO/IEC 17025:2005)

Các tổ chức đánh giá sự phù hợp cũng phải được công nhận Thông thường mối nước đều có ít nhất một tổ chức công nhận Nước ta tổ chức công nhận là Văn phòng công nhận chất lượng (BOA) thuộc Tổng cục TC-ĐL-CL Để kết quả công nhận có thể có tác dụng với quốc gia khác thì tổ chức công nhận cần phải có thoả thuận đa phương và song phương Đó là kết quả của thừa nhận lẫn nhau Hiện nay BOA đã có những thoả thuận với ILAS, APLAC, và một số nước khác Việc hình thành một tổ chức công nhận quốc tế là cần thiết cho các

Trang 22

tổ chức đánh giá sự phù hợp để các sản phẩm của ta có đủ điều kiện vươn ra thị trường nước ngoài

4 Kết luận:

Kiểm định và chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá là cần thiết với cả những đối tượng không bắt buộc phải chứng nhận Đây là những hoạt động khẳng định chất lượng sản phẩm, hàng hoá vừa có tính pháp lí vừa có tác dụng quảng cáo chất lượng sản phẩm, dịch vụ

Các chuẩn mực cho việc kiểm định và chứng nhận sự phù hợp của sản phẩm, hàng hoá ở Việt nam đã được xây dựng phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và hiệp định TBT Đây là điều kiện để mở rộng xuất nhập khẩu sản phẩm, hàng hoá Mặt khác nó cũng là cơ sở để các nhà đầu tư nước ngoài ở Việt nam sử

dụng sản phẩm, hàng hoá trong nước

Trang 23

Ch−¬ng III

ĐỀ XUẤT MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO NĂNG LỰC KIỂM

TRA THỬ NGHIỆM THIÉT BỊ ĐIỆN GIA DỤNG

Từ năm 2005, Tổng cục Tiêu chuẩn - Đo lường - Chất lượng đã thực hiện Chương trình quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa điện, điện tử nhằm đảm bảo an toàn và quyền lợi người tiêu dùng, phát triển vững chắc hoạt động sản xuất hàng điện, điện tử trong nước và tạo thuận lợi cho việc lưu thông tự do

trong khu vực

Sau khi có Quyết định 50/2006/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ thì có 13 nhóm sản phẩm điện, điện tử phải kiểm tra chất lượng và an toàn Quyết định đó cũng đưa ra những chuẩn mực để kiểm soát, đó chính là các tiêu chuẩn quốc gia TCVN và các tiêu chuẩn này được chấp nhận hoàn toàn đối với các tiêu chuẩn quốc tế IEC về an toàn là chính Hiện nay chúng ta đang xúc tiến các quy trình đánh giá sự phù hợp, chứng nhận hợp quy để những sản phẩm thuộc nhóm 13 sản phẩm này khi lưu thông trên thị trường có những dấu hiệu được đánh giá, được chứng nhận, được thử nghiệm phù hợp với những tiêu chuẩn đã quy định

Vì các nhóm sản phẩm này phải được quản lý theo tiêu chí về an toàn nên dù muốn hay không thì các doanh nghiệp vẫn phải tuân thủ, bởi một mặt phải bảo

vệ sức khỏe, tính mạng người tiêu dùng, mặt khác cũng để bảo vệ cho các doanh nghiệp không bị "vấp ngã" vì nếu xảy ra tai nạn thì các doanh nghiệp có liên quan chắc khó có thể tồn tại được

Hiệp định của ASEAN về quy chế quản lý hài hòa các thiết bị điện, điện tử chính thức có hiệu lực vào 1/11/2011 Từ nay đến đó là khoảng thời gian để các nước chuyển đổi cơ chế quản lý đối với thiết bị điện, điện tử sao cho hài hòa với nhau Khi hoạt động quản lý hài hòa thì các kết quả sẽ được thừa nhận tại các nước và do đó hàng hóa sẽ được lưu thông trong khối ASEAN, không cần kiểm tra, thử nghiệm, đánh giá lại nhiều lần và sẽ tạo dựng cho năng lực cạnh tranh của các thiết bị điện, điện tử trong các nước ASEAN tốt hơn

Việt Nam đã triển khai một loạt công việc như phổ biến cho các doanh nghiệp biết tinh thần của Hiệp định Chúng ta cũng đang chuyển đổi các văn bản quy

Trang 24

phạm pháp luật có liên quan đến hoạt động này sao cho hàng điện, điện tử của Việt Nam xuất khẩu sang các nước ASEAN sẽ không phải kiểm tra, thử nghiệm, chứng nhận lại và ngược lại Thứ 2 là chúng ta phải rà soát lại những tiêu chuẩn

có liên quan cho phù hợp với những phiên bản mới nhất của IEC Thứ ba và quan trọng nhất là tạo dựng một cơ sở hạ tầng kỹ thuật phục vụ cho hoạt động đánh giá, chứng nhận, kiểm định vì chúng ta cần có đầy đủ hệ thống phòng thử nghiệm

Về cơ bản hiện nay chúng ta có 2 phòng thử nghiệm điện, điện tử của Trung

tâm Kỹ thuật 1 (viết tắt là Quatest1 - Hà Nội) và Phòng thử nghiệm điện, điện tử

kỹ thuật 3 (Khu Công nghiệp Biên Hòa, Tp.HCM) là những phòng thử nghiệm

đủ năng lực thử theo các yêu cầu của tiêu chuẩn quốc tế Khu vực miền Trung hiện nay có Trung tâm Kỹ thuật 2 về năng lực thử nghiệm điện, điện tử còn đang yếu, chưa đáp ứng yêu cầu và cũng đang hoàn thiện sao cho chúng ta có ít nhất

là 3 phòng thử nghiệm đủ năng lực cần thiết

Không chắc rằng tất cả các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện, điện tử có thể đáp ứng đầy đủ các TCVN, tiêu chuẩn quốc tế Tuy nhiên, một số thiết bị lâu nay chúng ta tiến hành thử đều đáp ứng được Những vấn đề liên quan đến an toàn bao giờ cũng được các doanh nghiệp quan tâm hàng đầu bởi nếu xảy ra sự

cố gây tổn hại đến tài sản, con người thì nguy cơ dẫn đến "phá sản" đối với các doanh nghiệp là rất cao Hiện nay chúng ta đang áp dụng quy chế kiểm tra đối với 13 sản phẩm Sau khi chúng ta làm tốt đối với những sản phẩm này rồi sẽ

mở rộng sang các sản phẩm khác nữa

Vai trò và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân, các doanh nghiệp liên quan trong việc áp dụng các quy chuẩn tại địa phương là rất lớn Trách nhiệm của các doanh nghiệp từ khâu sản xuất đến khâu phân phối hàng hoá ra thị trường, phải tuân thủ theo nhiều quy định hết sức khó khăn

Các Tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật là một trong những vấn đề quan trọng trong xây dựng thương hiệu sản phẩm Từ những tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật gắt gao là cơ sở để doanh nghiệp đưa ra những sản phẩm đồng nhất, chất lượng ổn định Tiêu chuẩn nói chung, là cái luôn thay đổi theo từng thời điểm Chính vì vậy, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp là phải có những nghiên cứu

Trang 25

theo kịp với đòi hỏi của từng thời kỳ, từ đó có cơ sở để không ngừng nâng cao các tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật để sản phẩm của các doanh nghiệp có thể cạnh tranh với thị trường trong và ngoài nước

Trang 26

Chương IV XÂY DỰNG HỆ THỐNG QUẢN LÝ TẠI CÁC CƠ SỞ CHẾ TẠO THIẾT

BỊ GIA DỤNG TRONG NƯỚC

Bộ Công Thương đang thực hiện Chương Trình Dán Nhãn và Tiêu Chuẩn Năng Lượng nhằm loại bỏ các rào cản đã và đang liên tục cản trở việc sản xuất, nhập khẩu, và lựa chọn của người tiêu dùng đối với các thiết bị hiệu quả năng lượng trên diện rộng

Trước khi thiết kế chương trình thí điểm, hai cuộc điều tra riêng biệt đã được thực hiện ở cả ba miền bắc, trung, và nam Việt Nam Cuộc điều tra thứ nhất gồm phỏng vấn đại bộ phận các nhà sản xuất, nhập khẩu, hoặc phân phối thiết bị điều hòa nhiệt độ và tủ lạnh ở Việt Nam để xác định doanh số hàng năm, các kênh phân phối, mức tiết kiệm, và sự quan tâm của họ đối với việc tham gia chương trình tự nguyện dán nhãn tiết kiệm năng lượng loại so sánh Cuộc điều tra thứ hai được thiết kế để xác định đặc điểm của người sử dụng điều hòa không khí, thái độ của họ về việc mua các sản phẩm tiết kiệm năng lượng và phản ứng của

họ đối với nhãn so sánh được đề xuất Kết quả của hai cuộc điều tra này sẽ giúp định hướng việc thiết kế chương trình thí điểm về dán nhãn, và các kết quả chính đã tìm được sau hai cuộc điều tra được nêu bật dưới đây

Điều tra thị trường đối với 31 nhà sản xuất, nhập khẩu, và phân phối thiết bị điều hòa không khí lớn nhất chỉ ra rằng đã có xấp xỉ 500.000 điều hòa không khí cỡ nhỏ và vừa được bán trong năm 2008 ở Việt Nam, mức hiệu quả năng lượng dao động từ rất thấp tới cao, và các sản phẩm sản xuất trong nước không thuộc loại

có mức hiệu quả thấp nhất hay cao nhất Một phát hiện khác là không có mối tương quan mật thiết giữa giá thành và mức hiệu quả của một thiết bị điều hòa không khí

Trong số 31 công ty tham gia sản xuất, nhập khẩu, hoặc phân phối thiết bị điều hòa nhiệt độ, 12 công ty sẵn lòng tham gia chương trình dán nhãn tự nguyện

Trang 27

Cả hai cuộc điều tra đều cho thấy thị trường sản phẩm điều hòa không khí đang tăng trưởng với tốc độ rất nhanh, nhấn mạnh yêu cầu hành động với chương trình tiêu chuẩn và dán nhãn

Ngoài hai cuộc điều tra, phiên bản hiện tại về tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng cho thiết bị điều hòa không khí cũng được xem xét lại và so sánh với các tiêu chuẩn đang được sử dụng ở các quốc gia láng giềng Mức hiệu suất của các thiết

bị có tại thị trường Việt Nam cũng được so sánh với mức hiệu suất và việc phân loại mức hiệu suất ở các nước láng giềng khác nhau nhằm xác định các mức có thể sử dụng ở Việt Nam Việc xem xét này mang lại các kết luận và đề xuất sau

• Điều kiện kiểm nghiệm cần được chuyển sang T1 tương tự với các nước khác trong khu vực

• Các mức của nhãn và quy trình kiểm định cần phản ánh lợi ích về năng lượng có được trong thực tiễn nhờ các mô đen (biến tần) nhiều tốc độ (Kiểm định toàn tải đơn giản không làm được điều này.)

• Các mức của nhãn nên tránh bị lạc hậu bằng cách lấy mức cao nhất tương ứng với mô đen tốt nhất có trên thị trường quốc tế, và mức thấp nhất thể hiện hầu hết (nhưng không nhất thiết phải tất cả) các mô đen hiện có ở Việt Nam Tốt nhất nên thống nhất các mức trong tất cả các dải công suất

• Nhu cầu vào giờ cao điểm do điều hòa không khí sẽ tăng với tốc độ khoảng

250 MW mỗi năm Việc áp dụng một chương trình dán nhãn tích cực kết hợp với thông báo về một tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng tối thiểu bắt buộc trong tương lai có thể giảm mức tăng đó xuống còn khoảng 200 MW mỗi năm

• Không có chương trình dán nhãn, lượng điện sử dụng cho máy điều hòa không khí trong gia đình sẽ tăng với tốc độ 250 GWh mỗi năm Một chương trình dán nhãn tích cực có thể giảm từ 25 tới 50 GWh trong mức tăng này

CHÍNH THAM GIA THỊ TRƯỜNG

Trang 28

Bước đầu tiên của điều tra thị trường là xác định các kênh thị trường cho thiết bị

điều hòa không khí và các nhà sản xuất, nhập khẩu cũng như bán lẻ chính chịu

trách nhiệm phân phối phần lớn thiết bị điều hòa không khí ở Việt Nam Một

cán bộ tại Bộ Công Thương tiến hành tìm kiếm trên mạng và gọi điện tới một số

nhà cung cấp và sản xuất thiết bị điều hòa không khí Cuộc tìm kiếm này tìm ra

xấp xỉ 14 nhà sản xuất và 50 nhà nhập khẩu, cũng như một số ít các nhà phân

phối, đang nhập khẩu, phối phối và trong một số trường hợp bán lẻ thiết bị điều

hòa không khí

Sau đó, một thành viên trong nhóm của Econoler gọi đến từng công ty trên danh

sách để xác định tên và địa chỉ của giám đốc Tiếp theo, Bộ Công Thương sử

dụng danh sách các công ty và địa chỉ liên lạc này để thông báo các kế hoạch về

một chương trình thí điểm tiêu chuẩn và dán nhãn cho thiết bị điều hòa không

khí, giới thiệu về việc nghiên cứu thị trường, và báo trước cho họ rằng họ sẽ

được yêu cầu tham gia một cuộc phỏng vấn Bảng 1 thể hiện số lượng các nhà

sản xuất, nhập khẩu, và phân phối được phỏng vấn cho cuộc điều tra này

Bảng 1: Số lượng nhà sản xuất, nhập khẩu, và phân phối được phỏng vấn

xuất

Nhà nhập khẩu

Nhà phân phối

*Các số trong ngoặc cho thấy số người sẵn lòng tham gia thí

điểm Một đơn vị tham gia vừa là nhà sản xuất vừa là nhà nhập

khẩu, như được thể hiện bằng số “½” tại những địa điểm phù

hợp

Trang 29

Cần lưu ý rằng có một số điểm lẫn lộn giữa ba loại Ví dụ, có ba nhà sản xuất là các công ty Việt Nam trong khi các nhà sản xuất khác dường như chỉ là các xưởng lắp ráp cho các thương hiệu lớn của nước ngoài – sản xuất trong nước được hưởng một số lợi thế về tài chính – hoặc, trong một số trường hợp, chỉ nhập khẩu từ một nhà sản xuất nước ngoài Một số nhà nhập khẩu cũng là nhà

phân phối, và ngược lại Các nhà nhập khẩu nhỏ hơn có vẻ hay nằm gần biên

giới các thành phố và cảng Thực trạng bán lẻ cũng phức tạp Ví dụ: một nhà phân phối có thể cung cấp chuỗi đại lý bán lẻ của chính mình bên cạnh một số nhà bán lẻ độc lập

Như trong Bảng 2, doanh số hàng năm của thiết bị điều hòa không khí trong phòng khác nhau đôi chút phụ thuộc vào nguồn cung cấp thông tin Biết rằng một vài con số này chỉ là dự tính, vẫn có sự phù hợp đáng kể Để phục vụ mục tiêu phân tích, số liệu của Bộ Công Thương sẽ được sử dụng, dù chúng có thể hơi thấp vì một vài người được Bộ phỏng vấn cho doanh số là không Cũng có

sự khác biệt giữa số liệu của cuộc điều tra và của Bộ Công Thương về số lượng tương đối thiết bị điều hòa không khí với các công suất khác nhau Số liệu của

Bộ Công Thương thể hiện phần doanh số thấp hơn của các mô đen có kích thước danh nghĩa là 1,5 HP

Bảng 2: Ước đoán doanh số của thiết bị điều hòa không khí trong phòng

Năm Nguồn

2006 2007 2008 2009

0 Nhà sản xuất thuộc sở hữu

nước ngoài “C”

300.000 370.000 250.000* —

Trang 30

Bộ Công Thương 300.000 350.000 263.000*

*

*Có thể đoán chừng cho một giai đoạn giảm sút

**Chỉ cho tám tháng đầu năm;con số tương đương 12 tháng sẽ là 395.000

Hơn 90% các mô đen được bán là điều hòa không khí dàn rời loại nhỏ, với

“nhỏ” có nghĩa là lên tối đa tới một kích thước danh nghĩa là 3 HP, hay công suất lạnh định mức ước chừng là 7,5 kW Loại này vốn đã là loại hiệu quả nhất cho điều hòa không khí trong phòng và cho thấy kế hoạch dán nhãn tiết kiệm năng lượng sẽ không cần phải chuẩn bị riêng cho các loại khác hay các dải công suất khác của điều hòa không khí

Trên thị trường đã có sự quảng bá đáng chú ý về các mức tiết kiệm của các mô đen điều hòa không khí, như thấy trong Hình 1 Điều này cho thấy chương trình dán nhãn tiết kiệm năng lượng và hiệu suất năng lượng tối thiểu có thể mang lại tác động đáng giá

Các mô đen tồi nhất và tốt nhất đều là hàng nhập khẩu Xét trung bình, các mô đen do các công ty thuộc sở hữu trong nước sản xuất tỏ ra kém tiết kiệm hơn đôi chút so với các mô đen được các công ty thuộc sở hữu nước ngoài sản xuất trong nước, cho dù sự khác biệt rất nhỏ

Trang 31

Hình 1: Mức hiệu quả của các mô đen được phân biệt bằng loại nhà sản xuất

Chú thích: Local manufacturer: nhà sản xuất trong nước

Foreign designs: các thiết kế của nước ngoài Imports: Hàng nhập khẩu

Hình 2 mã hóa lại các mô đen để phân biệt giữa các công ty có quan tâm tới việc tham gia chương trình dán nhãn ban đầu với các công ty khác Nó cho thấy những công ty tham gia đã cung cấp một mẫu về các mô đen khá tiêu biểu trên thị trường, mặc dù mô đen tồi nhất không đến từ các công ty tham gia Đáng chú

ý rằng các mô đen tồi nhất thuộc về một nhà cung cấp đơn lẻ, và rằng nhà cung cấp đó có bán cả những mô đen thay thế với mức tiết kiệm cao hơn Việc khởi đầu và duy trì liên lạc với các nhà cung cấp này sẽ rất quan trọng để có thể giải quyết những khó khăn và phàn nàn trước khi chúng trở thành những vấn đề lớn

Trang 32

Hình 2: Mức hiệu quả của các mô đen được phân biệt bằng sự tham gia chương

trình thí điểm

Chú thích: Participant: đơn vị có tham gia

Cooling capacity: công suất lạnh

QUẢ HƠN

Dù bản điều tra có bao gồm những câu hỏi về khả năng sản xuất hoặc nhập khẩu các thiết bị hiệu quả hơn, người được phỏng vấn thường không thể trả lời được các câu hỏi này bởi họ không được định hướng về mặt kỹ thuật Chủ đề này sẽ được bàn lại trong Nhiệm vụ 3 Tuy nhiên, các kết quả tìm được cho thấy những công ty quốc tế có cung cấp điều hòa không khí tới những nước có mức tiết kiệm bắt buộc nghiêm ngặt

Trang 33

Chất lượng của các dữ liệu về hiệu quả và giá từ cuộc điều tra dường như khác nhau; trong một số trường hợp điều này có vẻ là do người được phỏng vấn không có chuyên môn kỹ thuật và bị nhầm lẫn về các con số khác nhau Vì vậy,

cả dữ liệu từ cuộc điều tra và từ các trang web của công ty đều được kiểm tra và trình bày ở đây

Mối quan hệ giữa giá và mức hiệu quả được tìm hiểu bằng việc đầu tiên là xác định xu hướng tăng giá liên quan tới công suất lạnh của các mô đen điều hòa nhiệt độ Sau đó, tính mức chệch ra khỏi xu hướng đó của các mức hiệu quả khác nhau của một mô đen Kết quả từ dữ liệu điều tra được thể hiện trên Hình

3, trong đó chỉ số giá là tỉ số dao động từ 20% đến 140% giá trung bình Điều rút ra từ cuộc điều tra là không có mối quan hệ nào giữa mức hiệu quả và giá Nhìn chung, các mô đen hiệu quả hơn không đắt hơn những mô đen thông thường Mặc dù vậy, dao động về giá rất rộng, cao hơn và thấp hơn tới 40% so với giá trung bình (có lẽ do lỗi, nên một điểm thậm chí còn có khoảng cách về giá xa hơn)

Hình 3: Mối quan hệ giữa giá và mức hiệu quả (từ cuộc điều tra)

EER: hệ số tiết kiệm năng lượng

Price/Efficiency Relationship

0 0.2 0.4 0.6 0.8 1 1.2 1.4 1.6

EER (W/W)

Trang 34

Mặt khác, các dữ liệu từ trang web, có thể nhất quán hơn dữ liệu cuộc điều tra thu thập được, cho thấy có mối liên hệ, dù không mật thiết, giữa giá và mức tiết kiệm (xem Hình 4) Có thể lý giải một số dao động về giá là do các tính năng khác, như có thêm điều khiển từ xa hoặc một hệ điều khiển số Tuy vậy, có thể kết luận rằng những mô đen hiệu quả năng lượng nhất tương đối đắt Các mô đen này là loại biến tần, vốn thường được biết đến như những mô đen đắt nhất

có trên thị trường

Hình 4: Mối quan hệ giữa giá và mức tiết kiệm (từ các trang web)

Kinh nghiệm cho thấy về lâu dài các mô đen có mức tiết kiệm cao thường không đắt hơn Tuy nhiên, một thay đổi trong thiết kế dẫn đến những thay đổi trong dây chuyền sản xuất đồng nghĩa với tăng chi phí, và cần bù lại các chi phí này

Để phục vụ cho việc phân tích, có thể giả sử rằng đối với dải tiết kiệm được cân nhắc, tăng 20% Hệ Số Tiết Kiệm Năng Lượng (EER) sẽ khiến chi phí tạm thời tăng 20% Để thiết kế chương trình, tốt nhất là giảm số thay đổi – và những chi phí tăng thêm do những thay đổi này – bằng cách đảm bảo rằng sẽ bắt đầu từ một Tiêu Chuẩn Hiệu Suất Năng Lượng Tối Thiểu (MEPS) tương đối nghiêm ngặt Các nhà sản xuất trong nước khi đó có thể đưa ra những thay đổi cần thiết cho thiết kế và dây chuyền sản xuất của họ trước vài năm

0.0 0.5 1.0 1.5 2.0 2.5

Trang 35

Theo như những thảo luận với các đối tượng tham gia và điều tra người tiêu dùng, quyết định mua sản phẩm được đưa ra trên cơ sở các yếu tố không liên quan tới sử dụng hay hiệu quả năng lượng Đó một phần là do thông tin về các chủ đề này còn hạn chế, hoặc tại địa điểm mua sản phẩm nơi nhiều quyết định bị ảnh hưởng, hoặc ở địa điểm khác Quảng cáo thường không tập trung vào hiệu quả năng lượng và chi phí vận hành mà vào các tính năng khác (một ngoại lệ là chiến dịch của Panasonic liên hệ các mô đen có biến tần của hãng với mức hiệu quả cao) Độ bền rõ ràng là một yếu tố rất quan trọng, còn nhãn hiệu và giá thành cũng đóng vai trò đáng kể Thông tin về các yếu tố này hữu hình hơn về hiệu quả năng lượng rất nhiều

Theo góc nhìn của nhà cung cấp, nhu cầu của khách hàng với sản phẩm có hiệu quả cao không nhiều, trong khi đó tăng hiệu quả năng lượng sẽ kéo theo tăng chi phí và do đó tăng giá thành, dẫn tới khả năng giảm doanh số Là một phần trong

cả quy trình, dây chuyền sản xuất sẽ cần điều chỉnh rất nhiều, có thể làm gián đoạn sản xuất Khoảng một nửa số nhà cung cấp được điều tra cho rằng các mô đen của họ đã tiết kiệm năng lượng rồi Với mức hiệu quả đã thấy trong Hình 1, đây có thể là một thái độ hợp lý

Các nhà cung cấp cho rằng một chương trình dán nhãn tiết kiệm năng lượng và hiệu suất năng lượng tối thiểu được thực hiện hợp lý sẽ vượt qua những rào cản này

Ngày đăng: 14/11/2012, 09:39

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 2: Ước đoán doanh số của thiết bị điều hòa không khí trong phòng - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Bảng 2 Ước đoán doanh số của thiết bị điều hòa không khí trong phòng (Trang 29)
Hình 1: Mức hiệu quả của các mô đen được phân biệt bằng loại nhà sản xuất - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 1 Mức hiệu quả của các mô đen được phân biệt bằng loại nhà sản xuất (Trang 31)
Hình 2: Mức hiệu quả của các mô đen được phân biệt bằng sự tham gia chương - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 2 Mức hiệu quả của các mô đen được phân biệt bằng sự tham gia chương (Trang 32)
Hình 3: Mối quan hệ giữa giá và mức hiệu quả (từ cuộc điều tra) - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 3 Mối quan hệ giữa giá và mức hiệu quả (từ cuộc điều tra) (Trang 33)
Hình 4: Mối quan hệ giữa giá và mức tiết kiệm (từ các trang web) - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 4 Mối quan hệ giữa giá và mức tiết kiệm (từ các trang web) (Trang 34)
Bảng 3: Các Điều Kiện Kiểm Định Tiêu Chuẩn - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Bảng 3 Các Điều Kiện Kiểm Định Tiêu Chuẩn (Trang 37)
Hình 5: Phân Loại Các Mô Đen Hệ Dàn Rời Cỡ Nhỏ - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 5 Phân Loại Các Mô Đen Hệ Dàn Rời Cỡ Nhỏ (Trang 40)
Hình 8: Phân Loại Điều Hòa Không Khí Kiểu Cửa Sổ - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 8 Phân Loại Điều Hòa Không Khí Kiểu Cửa Sổ (Trang 42)
Hình 7: Phân Loại Các Mô Đen Hệ Dàn Rời Cỡ Lớn Hơn - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 7 Phân Loại Các Mô Đen Hệ Dàn Rời Cỡ Lớn Hơn (Trang 42)
Bảng 4: Nhiệt Độ Kiểm Định Cho Điều Kiện “T1” - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Bảng 4 Nhiệt Độ Kiểm Định Cho Điều Kiện “T1” (Trang 44)
Hình 9 :  So Sánh Các Yêu Cầu Dán Nhãn Cho Điều Hòa Không Khí Hệ - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 9 So Sánh Các Yêu Cầu Dán Nhãn Cho Điều Hòa Không Khí Hệ (Trang 46)
Hình 11  Mối Quan Hệ Giữa Công Suất Lạnh Và Giá Thành - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 11 Mối Quan Hệ Giữa Công Suất Lạnh Và Giá Thành (Trang 51)
Hình 10: Tác Động Của Mức Hiệu Quả Lên Giá Thành - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Hình 10 Tác Động Của Mức Hiệu Quả Lên Giá Thành (Trang 52)
Bảng 5: Số giờ sử dụng để hoàn lại chi phí tăng - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Bảng 5 Số giờ sử dụng để hoàn lại chi phí tăng (Trang 54)
Bảng 6: Số giờ sử dụng để hoàn lại chi phí tăng - Nghiên cứu khảo sát  , đánh giá hiện trạng năng lực  kiểm tra thử nghiệm thiết bị điện gia dụng điển hình tại việt Nam
Bảng 6 Số giờ sử dụng để hoàn lại chi phí tăng (Trang 54)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w