1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

PHIẾU học tập bài KHÁI QUÁT VHVN từ 1945

23 165 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 23
Dung lượng 635,53 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

+ Văn học dịch, báo chí, các phương tiện truyền thôngkhác mạnh mẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển mạnhmẽ, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của văn học + Đất nước phát triển th

Trang 1

1.1 MẪU PHIẾU HỌC TẬP

BÀI: KHÁI QUÁT VĂN HỌC VIỆT NAM TỪ CÁCH MẠNG THÁNG TÁM NĂM 1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX

(Kiến thức văn học sử - Lớp 12 - Học kì I)

Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc

Bài tập 1 (phù hợp kiến thức khởi động)

GV cho hs chơi trò chơi: Tìm những chữ bí mật ở hàng dọc để khởi động, tạo tâm thế cho hs: Hãy giải các ô chữ ở hàng ngang sau đó chỉ ra các từ ở hàng dọc là gì?

Trang 2

2 Môn học mà tích hợp cả 3 phân môn: Tiếng Việt, Làm văn, Tiếng Việt?

3 Tên bài thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm được học trong chương trình học

6 Điền từ ngữ còn thiếu trong câu thơ sau: Sao anh không về _ thôn Vĩ?

7 Tên 1 nhân vật chính trong đoạn trích Vĩnh biệt cửu trùng đài học trong

chương trình lớp 11? (gợi ý: có 3 tiếng)

8 Điền từ còn thiếu trong câu thơ sau: Sóng gợn _ buồn điệp

điệp (thơ Huy Cận, lớp 11, có 2 tiếng)

9 Điền từ ngữ còn thiếu trong câu thơ sau: “ _ _ đất nước ta ơi/ Mênh

mông biển lúa đâu trời đẹp hơn” (có 2 tiếng).

10 Tên một truyện ngắn của Thạch Lam trong chương trình Ngữ văn 11?

Trang 3

11 Nhà văn nổi tiếng xê dịch, thú chơi ngông, trước cách mạng ông say mê với

vẻ đẹp “Vang bóng một thời” Ông là ai?

12 Tác giả của truyện Chí Phèo, lão hạc, Đời thừa.

13 Nhà văn được mệnh danh là “người mở đường tài hoa và tinh anh” của nền

văn học Việt Nam sau năm 1975, là tác giả của truyện ngắn “Bến quê” đã đượchọc ở THCS?

Gợi ý ô chữ hàng dọc: có 4 tiếng.

Bài tập2

Dựa vào kiến thức đã học, hãy sắp xếp các tác sau vào thời kì/ giai đoạn văn học văn học Việt Nam : Phan Bội Châu, Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Tố Hữu, Nguyễn Đình Chiểu, Xuân Diệu, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Kim Lân.

TÁC GIẢ THUỘC GIAI ĐOẠN VH TRUNG ĐẠI

VIỆT NAM

TÁC GIẢ THUỘC GIAI ĐOẠN VH HIỆN ĐẠI VIỆT NAM

Trang 4

Các chặng đường phát triển của Văn học Việt Nam từ 1945 - 1975

Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc

Bài tập 3 Lập bảng và trình bày thành tựu của VHVN theo các giai đoạn sau

về nội dung và nghệ thuật.

(Phù hợp với kiến thức phần luyện tập)

Bài tập 4

Từ thông tin gợi ý của văn học giai đoạn 1965 - 1975, hãy tìm bài thơ có nội dung như bức hình và phân tích làm rõ đặc điểm nội dung và nghệ thuật giai đoạn này.

Trang 5

nào trong bài

Khái quát vừa

Trang 7

+ Lý luận, nghiên cứu, phê bình văn học: Nhận đường,

Mấy vấn đề về nghệ thuật(Nguyễn Đình Thi), Nói chuyện thơ ca kháng chiến (Hoài Thanh)

- Văn học 1955- 1964: tập trung thể hiện hình ảnh người laođộng, ngợi ca những thay đổi của đất nước và con ngườitrong XHCN

+ Văn xuôi : Đi bước nữa (Nguyễn Thế Phương); Mùa

lạc (Nguyễn Khải); Anh Keng(Nguyễn Kiên),

Viết về kháng chiến chống Pháp đã qua: Sống mãi với thủ

đô (Nguyễn Huy Tưởng); Cao điểm cuối cùng (Hữu

Mai); Trước giờ nổ súng (Lê Khâm)

Trang 8

Hiện thực trước CM: Mười năm (Tô Hoài); Vỡ bờ (Nguyễn Đình Thi); Cửa biển(Nguyên Hồng)

Hợp tác hóa nông nghiệp hóa XHCN miền Bắc: Mùa

lạc (Nguyễn Khải); Cái sân gạch(Đào Vũ)

+ Thơ ca với hai cảm hứng nổi bật:

Hiện thực cuộc sống, vẻ đẹp của con người trong

CNXH: Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa, (Huy Cận); Gió lộng (Tố Hữu); Ánh sáng và phù sa (Chế Lan

+ Thơ ca: Ra trận, Máu và hoa (Tố Hữu); Những bài thơ

đánh thắng giặc (Chế Lan Viên); Đầu súng trăng treo (Chính Hữu)

+ Kịch: Đại đội trưởng của tôi (Đào Hồng Cẩm); Đôi

mắt (Vũ Dũng Minh)

Trang 9

+ Nhân dân chi phối hình thức nghệ thuật, quan điểm thẩmmĩ

- Nền văn học chủ yếu vận động theo hướng cách mạng hóagắn với vận mệnh đất nước

+ Ba mươi năm chiến năm chiến tranh ác liệt đã hun đúckiểu: nhà văn- chiến sĩ, ý thức được sứ mệnh văn học

Câu 4 (trang 5

ngữ văn 1 12)

Căn cứ vào hoàn cảnh lịch sử, xã hội và văn hóa

- Công cuộc đổi mới do ĐCS lãnh đạo từng bước chuyểnsang nền kinh tế thị trường, tạo điều kiện tiếp xúc văn hóa

Trang 10

+ Văn học dịch, báo chí, các phương tiện truyền thôngkhác mạnh mẽ ảnh hưởng không nhỏ tới sự phát triển mạnh

mẽ, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của văn học + Đất nước phát triển thúc đẩy nền văn học phát triển phùhợp với nhiệp vụ đổi mới, hoàn cảnh khách quan

Tài liệu giảng dạy của Limbook VănhọcCâu 5 (trang 5

sgk ngữ văn 12

tập 1)

Thành tựu văn học văn học 1975- hết thế kỉ XX

- Thơ ca: không đạt được sự lôi cuốn hấp dẫn nhưng có sựđổi mới, mở rộng đề tài, nội dung, hình thức

- Văn xuôi khởi sắc: tiểu thuyết chống tiêu cực, truyện ngắnthế sự (truyện ngắn Nguyễn Minh Châu

- Phóng sự điều tra nhìn thẳng vào hiện thực, nhiều phóng sự

đã thu hút sự chú ý của người đọc

- Lý luận, nghiên cứu, phê bình văn bình văn học cũng cónghĩa đổi mới

Cách làm tổng quát khi gặp dạng đề này

Dàn ý dạng bài phân tích khuynh hướng sử thi

Mở bài:

 Giới thiệu tác giả, tác phẩm

 Giới thiệu khái quát về khuynh hướng sử thiThân bài:

 Tóm tắt nội dung của tác phẩm

Trang 11

 Phân tích biểu hiện của khuynh hướng sử thi

o Đề tài

o Chủ đề

o Nhận vật

o Giọng điệuKết bài:

 Đánh giá ý nghĩa của khuynh hướng sử thi với sự thànhcông của tác phẩm

Dàn ý dạng bài phân tích cảm hứng lãng mạn

Mở bài:

 Giới thiệu tác giả, tác phẩm

 Giới thiệu khái quát về cảm hứng lãng mạnThân bài:

 Tóm tắt nội dung của tác phẩm

 Phân tích biểu hiện cảm hứng lãng mạn của tác phẩm:

o Cảm hứng, tình cảm, cảm xúc, giọng điệu kểchuyện, hình ảnh chi tiết lãng mạn

o Khẳng định gợi ca vào các giá trị cao đẹp

o Kết cấu, cách xây dựng câu truyệnKết luận:

 Đánh giá ý nghĩa của cảm hứng lãng mạn với sự thànhcông của tác phẩm

Trang 12

Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc

Bài tập 8 Học sinh vẽ lại sơ đồ tư duy để trình bày bài học (nộp sản phẩm vào buổi sau).

Dưới đây chỉ là 1 dạng mẫu sơ đồ tư duy mà GV giới thiệu để học sinh thamkhảo

Bài tập 9 Lấy vì dụ để làm rõ cảm hứng lãng mạn trong giai đoạn văn học 1955-1975.

Cảm hứng lãng mạn không chỉ sôi nổi trong thơ mà cả trong văn xuôi Từtiểu thuyết, truyện ngắn đến bút ký, tuỳ bút (và cả kịch bản sân khấu) đều rấtgiàu chất thơ Và hướng vận động của cốt truyên, của số phận nhân vật, của

Trang 13

dòng cảm nghĩ của tác giả hầu như đều đi từ bóng tối ra ánh sáng, từ giankhổ đến niềm vui, từ hiện đại tới tương lai đầy hứa hẹn.

Niềm tin ở tương lai là nguồn sức mạnh tinh thần to lớn khiến dân tộc ta cóthể vượt lên trên mọi thử thách, tạo nên những chiến công phi thường:

Xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước

Mà lòng phơi phới dậy tương lai!

(Tố Hữu)

Tin chắc ở tương lai và sống với tương lai, con người đã đi vào chiến trường, đi vào bom đạn vui như trẩy hội:

Những buổi vui sao cả nước lên đường

Xao xuyến bờ tre từng hồi trống giục

Sung sướng bao nhiêu, tôi là đồng đội

Của những người đi, vô tận, hôm nay

(Chính Hữu)

Đường ra trận mùa này đẹp lắm

Trường Sơn đông nhớ Trường Sơn tây

(Phạm Tiến Duật)

Ta qua sông qua suối

Ta qua núi qua đèo

Trang 14

Lòng ta vui như hội

Như cờ bay gió reo

(Tố Hữu)

Tóm lại, cảm hứng lãng mạn là đặc trưng mỹ học của giai đoạn văn học 1945 –

1975 xét trên nét chủ đạo của nó

Tài liệu giảng dạy của Limbook Vănhọc

Bài tập 10 GV đọc / photo tài liệu tham khảo cho học sinh

Dưới đây là 1 bài viết:

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG VÀ NGHỆ THUẬT CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM SAU 1975 (NHÌN TRONG SỰ ĐỐI SÁNH VỚI VĂN HỌC VIỆT NAM 1945 – 1975)

(Nguồn: www.thptnghen.edu - Trường THPT Nghèn, Thị trấn Can Lộc –Hà Tĩnh)

Nghèn-1 Đặc điểm nội dung của văn học Việt Nam sau 1975

1.1 Đổi mới trong cảm hứng sáng tác

Nếu văn học Việt Nam giai đoạn 1945 – 1975, trước hiện thực ác liệt củacuộc chiến tranh giải phóng dân tộc, đã xây dựng nên bản anh hùng ca giàu sứcsống về những tấm gương quyết tâm bảo vệ non sông đất nước Với nhiệm vụchủ yếu là phục vụ công cuộc kháng chiến, cảm hứng chủ đạo, chi phối hầu hếtcác sáng tác trong giai đoạn văn học 1945 - 1975 là cảm hứng lãng mạn Đó lànhững trang viết khẳng định lí tưởng của cuộc sống mới, vẻ đẹp của con ngườimới, ca ngợi chủ nghĩa anh hùng cách mạng, tin tưởng vào tương lai tươi sáng

Trang 15

của dân tộc Và chính những trang viết thấm nhuần tinh thần lạc quan cách

mạng ấy đã cổ vũ tinh thần chiến đấu cho các chiến sĩ “Xẻ dọc Trường Sơn đi

cứu nước/ Mà lòng phơi phới dậy tương lai” Đó còn là nguồn động viên nâng

đỡ con người Việt Nam vượt qua gian lao thử thách trong máu lửa chiến tranh,tạo nên những chiến công hiển hách, đi đến những chiến thắng lẫy lừng Sau 1975, đặc biệt là sau thời kì đổi mới, cảm hứng sử thi, lãng mạn giảmdần, được thay thế bằng cảm hứng đời tư, đạo đức, thế sự Các nhà văn khôngcòn bàn về những vấn đề to lớn của tập thể, mang đậm chất sử thi, anh hùng ca

mà bàn về những số phận nhỏ bé giữa đời thường và không ngần ngại phô bàytất cả cái sần sùi thô ráp của cuộc sống thế tục với nhiều nghịch lí phức tạp, đađoan Ở đó, đời sống cá nhân và cá tính trở thành đối tượng nhận thức, thể hiện.Con người phải đối diện với thực tại cuộc sống muôn màu, được đặt trong nhiềumối quan hệ khác nhau, giữa cá nhân và cộng đồng, giữa con người công dân,con người xã hội và con người tự nhiên để soi ngắm, suy ngẫm, trăn trở, tìmkiếm bản thân Ngoài ra, một vấn đề khác mà văn học của thời kháng chiến đãlãng quên nay lại được nhiều tác giả hứng thú, đi sâu khám phá là con người tựnhiên với chiều sâu tâm linh, những vùng mờ của tiềm thức, vô thức Trong công cuộc đổi mới văn học mà sự đổi mới bắt đầu với sự chuyển đổicảm hứng sáng tác sang các vấn đề đời tư, đạo đức thế sự, Nguyễn Minh Châuđược đánh giá là người “mở đường tinh anh và tài năng”, người lặng lẽ làmmột cuộc đối chứng với quá khứ để đưa tới một thứ văn chương đích thực Có

thể kể đến một số tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Minh Châu như Bến

quê, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành, Bức tranh, Chiếc thuyền ngoài xa… Ngoài ra, những sáng tác của Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng …, đã mở ra

cho văn học hướng tiếp cận mới về các vấn đề đạo đức thế sự

Cảm hứng đời tư, đạo đức thế sự còn đặt ra vấn đề nhận thức lại hiệnthực, phán xét lại các giá trị cũ Ngòi bút của các tác giả đã không ngần ngại tỏ

Trang 16

rõ thái độ của mình đối với cuộc sống hiện nay khi đi vào phê phán kịch liệtnhững trường hợp sụp đổ về đạo đức nhằm hướng đến xây dựng một xã hộihoàn thiện hơn Chính bởi vậy, những mảng tối trước đây vốn bị khuất lấp nayđược đưa lên trang sách với tất cả sự nhức nhối, xót xa.

Như vậy sau 1975, khi cuộc sống trở lại bình thường, văn chương được trởlại với chính mình tất yếu dẫn đến sự thay đổi trong cảm hứng sáng tác Điềunày hoàn toàn phù hợp với yêu cầu của hiện thực, của đối tượng phản ánh Đây

sẽ là động lực thúc đẩy mạnh mẽ những sự tìm kiếm, thể nghiệm, cách tiếp cậnhiện tại, cũng là cơ hội để phát huy cá tính, phong cách cá nhân của nhà văn

1.2 Sự mở rộng về đề tài, chủ đề

Văn học giai đoạn này đã có sự mở rộng đề tài, chủ đề theo hướng tiếp cậngần gũi hơn với hiện thực đời sống sinh hoạt Các tác phẩm không còn bó hẹptrong việc khai thác các vấn đề có liên quan đến nhiệm vụ chính trị của đất nước

mà được mở rộng từ đề tài gia đình, thân phận tình yêu, số phận con người đếncác đề tài về chiến tranh, xây dựng, sản xuất… Có thể thấy, sáng tác sau 1975tập trung vào hai mảng đề tài chính: viết về chiến tranh và viết về những câuchuyện đời thường, những con người bình thường

Viết về chiến tranh - đây là một đề tài không mới Bởi lẽ, trong lịch sử hơn

ba nghìn năm dựng nước và giữ nước, dân tộc Việt Nam đã phải đương đầu vớibiết bao cuộc chiến Vậy nên hiện thực đấu tranh chống ngoại xâm trở thành đốitượng khám phá, phản ánh của văn học là một tất yếu Tuy nhiên, khác với vănhọc Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 coi trọng việc phản ánh kịp thời những sựkiện nóng bỏng ở mặt trận, nói nhiều đến chiến thắng, niềm vui, những chiếncông hào hùng của quân và dân ta Ở đó, hình ảnh người lính là những anh hùngđại diện cho tinh hoa, khí phách, phẩm chất và ý chí của toàn dân tộc: là Tnú -

con người kiên cường, bất khuất của Rừng xà nu; là Việt, là Chiến những người con anh dung của mảnh đất Nam Bộ trong Những đứa con trong gia đình…

Trang 17

Khi chiến tranh đi qua, văn học dần trở về với bản chất đích thực của nó, nhàvăn có nhu cầu thể hiện những trải nghiệm riêng và ý thức cá tính của mình.Xoay quanh đề tài cũ nhưng quan niệm về chiến tranh đã có những điểm khácbiệt so với quan niệm truyền thống Theo nhà văn Chu Lai “Viết về chiến tranhtôi cho rằng quan trọng nhất là phải chân thực… quan trọng nhất là nêu lênđược nỗi đau của nhân vật trong chiến tranh, vì chiến tranh là nước mắt” Tácgiả Văn Lê thì phát biểu “Chiến tranh không bao giờ chỉ toàn một màu vinhquang, để chiến thắng có bao nhiêu máu và nước mắt… Chính vì thế, các sángtác văn học về đề tài chiến tranh cách mạng hiện nay cũng dần đi theo khuynhhướng phản ánh hiện thực chân thật nhất của chiến tranh”.

Như vậy sau 1975, những tác phẩm viết về chiến tranh trong văn học ViệtNam đã nhấn mạnh hơn vào yêu cầu chân thực, không chỉ có niềm vui chiếnthắng mà còn có những mất mát hi sinh, những nỗi đau khổ vô bờ Những ngườilính một thời xông pha trận mạc cũng được khám phá ở cái nhìn đa diện, nhiềuchiều Họ không chỉ là tấm gương tiêu biểu, những anh hùng xông pha trận mạc

mà còn là những con người có góc riêng tư của mình với những trăn trở trướccuộc sống hàng ngày, trước tình yêu Nói chung, người ta thấy ở họ không chỉhào quang chiến thắng mà còn thấy cả những mất mát, éo le, bi kịch Khai thác cảm hứng đời tư, đạo đức thế sự văn học sau 1975 còn tập trungkhai thác mảng đề tài viết về những con người bình thường, những câu chuyệnđời thường Với ý thức cổ động kháng chiến, trong văn học giai đoạn 1945 -

1975 “con người chủ yếu được khám phá ở bổn phận, trách nhiệm, nghĩa vụcông dân, ý thức chính trị, ở lẽ sống lớn, tình cảm lớn Cái riêng tư, đời thườngnếu được nói đến thì chủ yếu cũng là để nhấn mạnh thêm trách nhiệm và tìnhcảm của cá nhân đối với cộng đồng”

Sau 1975, khi văn chương trút bỏ vai trò chính trị của mình để trở lại với bảnchất nghệ thuật đích thực, các tác giả có điều kiện để tiếp cận đời sống ở cự ly

Trang 18

gần Khi ấy những con người bình thường và những câu chuyện đời thườngbước vào trang sách với những phức tạp và bí ẩn của nó, vừa có “rồng phượnglẫn rắn rít, thiên thần và ác quỉ” Trong sác tác của mình, các tác giả đã đề cậpđến những chi tiết sinh hoạt đời thường có khi nhỏ nhặt để khai thác triệt để cáihàng ngày như chính những lát cắt của cuộc sống.

Tóm lại, trước sự chi phối của qui luật đời thường cùng với sự vận động tựthân của văn học, văn học Việt Nam sau 1975 đã có những đặc điểm khác biệt

so với giai đoạn 1945 - 1975 Cảm hứng thế sự tăng mạnh, trong khi cảm hứng

sử thi, lãng mạn giảm dần; cái nhìn về chiến tranh đã sâu hơn, gắn nhiều hơnvới những suy tư cá nhân; con người được nhìn nhận ở phương diện đời tư,trong quan hệ đời thường, trong đời sống ý thức, tâm linh Những chuyển biếnmới này đã đem đến nguồn cảm hứng mới cho người cầm bút, mở ra hướng đimới cho văn học

2 Đặc điểm hình thức của văn học Việt Nam sau 1975

Trang 19

(Nguyễn Minh Châu) là cuộc đấu tranh vĩnh viễn Do vậy, bạn đọc sẽ dễ dàngnhận ra các hình thức kết cấu đa dạng trong văn học Việt Nam giai đoạn này làkết cấu theo dòng ý thức, theo tâm lí hay đan cài nhiều chuyện vào nhau… Nhìn chung, đa phần các tác giả chọn hình thức kết cấu mở Điều đó có nghĩa làtrong tác phẩm của mình, nhà văn chỉ đưa ra vấn đề mà không có kết luận,người đọc tham gia sáng tạo, dự đoán, đánh giá, phán xét dân chủ về tác phẩm.Trong thơ, hình thức kết cấu mở cũng được đặc biệt chú ý Các nhà thơ đã cóýthức đổi mới, phá vỡ trật tự tuyến tính, cố gắng tỉnh lược các mối quan hệ bềnổi, tạo nên những dòng chảy đứt nối, đặt những hiện tượng khác nhau bên cạnhnhau và buộc người đọc tự xác lập mối quan hệ giữa chúng.

Với hình thức kết cấu mở, khi tiếp cận văn bản, người đọc không phải là nhữngchủ thể thụ động trong hoạt động đọc mà là những chủ thể đồng sáng tạo, là bạnđọc đồng sáng tạo Điều này có khả năng đánh thức, gợi ra ở bạn đọc những liêntưởng phong phú, những kiến giải bất ngờ… đồng thời nó hoàn toàn phù hợpvới sự đổi mới về mặt nội dung trong văn học sau 1975 - khi xem văn học nhưmột hoạt động sáng tạo, một kiểu ứng xử, một kiểu quanh hệ của con người đốivới thế giới

2.2 Giọng điệu

Giọng điệu là yếu tố hình thức cốt yếu để chuyển tải lập trường, tư tưởng, tìnhcảm, quan niệm sáng tác của tác giả Giọng điệu thể hiện rõ phong cách riêngcủa người nghệ sĩ và đặc biệt tạo nên sự truyền cảm cho độc giả Đến lượt mình,giọng điệu của mỗi tác giả là cơ sở tạo nên âm hưởng chung của thời đại vănhọc

Khi văn chương không bị bó buộc trong những khung tư tưởng định sẵn, khi cáccây viết được nhìn cuộc sống bằng đôi mắt cá nhân, được cất lên tiếng nói củamình thì khi ấy mỗi tác giả sẽ sáng tạo nên giọng điệu riêng, tư tưởng nghệthuật riêng Và khi không phải nói tiếng nói xã hội với những trang viết ca ngợi

Ngày đăng: 18/07/2021, 14:29

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w