TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu trên thế giới về các loài Lan
Tài nguyên di truyền cây trồng là di sản quý giá của nhân loại, nhưng trong vài thập kỷ qua, sự đa dạng di truyền này đang bị đe dọa và có nguy cơ bị thu hẹp do nhiều nguyên nhân khác nhau.
Phong lan xuất hiện khắp nơi trên trái đất, từ vùng lạnh giá đến sa mạc khô cằn, từ núi cao đến đồng cỏ và cả vùng sình lầy Chúng là loài thực vật đa dạng, sinh sống ở mọi môi trường trên năm châu.
Tuy nhiên đa số các loài lan mọc tập trung ở các rừng cây nhiệt đới, ở các nước Châu Á như: Thái Lan, Lào, Campuchia, Việt Nam…
Theo phân loại của Takhtajan et al (1974), cây hoa lan thuộc ngành Mộc lan (Magnoliophyta), lớp hành (Liliopsida), phân lớp hành (Lilidae), bộ lan (Orchidales) và thuộc họ lan.
Họ Lan (Orchidaceae) bao gồm hơn 780 chi và khoảng 35.000 loài, chủ yếu là cây thân thảo và thân leo sống lâu năm Các loài lan thường sống trên đất với thân giả dạng củ và rễ chùm được gọi là địa lan, trong khi loại sống trên thân cây tách khỏi mặt đất được gọi là phong lan Với sự đa dạng về loài và giống, tên gọi theo địa phương khác nhau và dễ bị nhầm lẫn, việc phân biệt các loài lan yêu cầu mô tả chi tiết đặc điểm thực vật học và xác định chính xác tên khoa học Hệ thống phân loại của họ lan khá phức tạp do sự phong phú về số lượng, hình thái và cấu trúc.
Theo nghiên cứu của Theo Rasmussen Dahlgren et al (1985), phong lan được chia thành 6 họ phụ: Apostasioideae, Cypripedioideae, Neottioideae, Rchidioideae, Ppidendroideae và Vandoideae, trong đó có nhiều tông và chi khác nhau Khu vực trung sinh Bắc Bán Cầu có khoảng 75 chi và 900 loài, trong khi khu vực trung sinh Nam Bán Cầu có 40 chi và 500 loài Châu Âu có khoảng 120 loài phong lan, Bắc Mỹ khoảng 170 loài, và khu vực Châu Á nhiệt đới có khoảng 250 chi và 6800 loài Đặc biệt, khu vực Châu Mỹ nhiệt đới sở hữu khoảng 306 chi và 8.266 loài phong lan.
Vùng nhiệt đới có khí hậu lý tưởng cho sự phát triển của hoa lan, mặc dù số lượng chi và loài lan ở đây ít hơn Tuy nhiên, nơi đây lại có sự xuất hiện của một số loài lan đặc biệt mà các vùng khác không có Theo tài liệu của R.L Dresler (1981), điều này cho thấy sự đa dạng và độc đáo của hoa lan trong môi trường nhiệt đới.
Châu Mỹ có khoảng 306 chi và 8.266 loài lan, với nhiều loài nổi tiếng như Cattley (60 loài), Epidendrum (500 loài) và Odontoglossum (200 loài) Đông Nam Á, với điều kiện khí hậu nóng ẩm và lượng mưa cao, là nơi lý tưởng cho sự sinh trưởng và ra hoa của lan, có khoảng 250 loài và 6.900 giống khác nhau Trong số đó, nhóm lan Hoàng thảo (Dendrobium) có 1.400 loài và nhóm Thanh đạm (Coelogyne) cũng rất đa dạng.
Việt Nam có khoảng 200 loài lan, trong đó có 35 loài Hồ điệp (Phalaenopsis) và 60 loài Vanda Để bảo tồn đa dạng sinh học, các nước đã áp dụng nhiều phương pháp như bảo tồn nguyên vị (in situ) và bảo tồn chuyển vị (ex situ) Trong những thập kỷ gần đây, sự phát triển của khoa học công nghệ đã cho phép ứng dụng các thành tựu mới vào sản xuất giống lan, góp phần quan trọng vào việc bảo tồn và phát triển nguồn gen quý giá này.
Tình hình bảo tồn, phát triển các loài lan
Tại Ấn Độ, nghiên cứu của Jack Kramer (1999) cho thấy có khoảng 1.331 loài hoa lan thuộc 186 chi, trong đó vùng Đông Bắc Ấn Độ chiếm số lượng cao nhất với 856 loài Trong số này, 34 loài, bao gồm P hirsutissimum, đang đối mặt với nguy cơ tuyệt chủng và cần được bảo tồn Các nguyên nhân chính dẫn đến sự mất đa dạng sinh học bao gồm ô nhiễm môi trường, biến đổi khí hậu, thương mại hóa nông nghiệp và lâm nghiệp, cũng như khai thác quá mức Để bảo tồn đa dạng sinh học, Ấn Độ đã triển khai nhiều hành động, quy định và mạng lưới phát triển các khu bảo tồn.
Biến đổi khí hậu đang trở thành một trong những nguyên nhân chính dẫn đến nguy cơ giảm số lượng và tuyệt chủng của các loài phong lan quý hiếm, theo Barman D và Devadas R (2013) từ Trung tâm nghiên cứu phong lan Quốc gia Ấn Độ Để khắc phục tình trạng này, cần phục hồi và duy trì các hệ sinh thái bản địa, quản lý chặt chẽ sinh cảnh của các loài quý hiếm, xếp hạng mức độ dễ tổn thương của các loài, và thực hiện nghiên cứu dài hạn về các loài sinh vật giao phấn.
Tại Iran, mặc dù có lệnh cấm khai thác, việc khai thác hoa lan hoang dã để xuất khẩu vẫn diễn ra, với số lượng lên tới 40-50 triệu cây mỗi năm, dẫn đến tình trạng khan hiếm nhiều loài phong lan.
Lan hài (Paphiopedilum Pritz) là một chi lan đẹp thuộc họ lan (Orchidaceae Juss) và họ phụ Cypripedioideae Trong hơn 20 năm qua, lan hài ngày càng thu hút sự chú ý toàn cầu không chỉ trong lĩnh vực nuôi trồng và lai tạo mà còn trong việc sưu tầm và phát hiện các loài mới Kết quả là, nhiều loài lan hài mới như Paph armeniacum Chen et Liu đã được phát hiện và ghi nhận trong thời gian ngắn.
(1982); Paph malipoense Chen et Tsi (1984); Paph Emersonii Koopowitz et
Các giống lan hài như Paph Henryanum, Paph Malipoense var jackii, và Paph Helenae cần điều kiện sống tối ưu để phát triển Theo nghiên cứu của Koopowitz và Hasegawa (1991), ánh sáng nhân tạo lý tưởng cho các loài lan hài là từ 11.000 - 22.000 lux Nếu lá cây vàng hoặc phát hoa ngắn, có thể là do thừa ánh sáng; ngược lại, lá mềm và xanh đậm hoặc phát hoa dài, yếu cho thấy cây thiếu ánh sáng Cây lan hài từ rừng không ra hoa chủ yếu do ánh sáng và nhiệt độ không phù hợp Bên cạnh đó, ánh sáng cũng đóng vai trò quan trọng trong quá trình nảy mầm của hạt giống, vì tiếp xúc với ánh sáng có thể ức chế sự nảy mầm và dẫn đến hiện tượng ngủ của hạt, gây khó khăn trong nhân giống.
Trong nghiên cứu cải tiến giống lan Hài (Paphiopedilum) tại đại học Hawaii, Kamemoto (2000) đã chỉ ra rằng phương pháp nuôi cấy vô trùng để nhân giống loài này gặp nhiều khó khăn do mẫu nuôi cấy khó bảo quản Dù đã tiến hành nhiều thử nghiệm với các mẫu cấy như chồi đỉnh, chồi từ cây con trong ống nghiệm, và môi trường nuôi cấy mô sẹo từ protocorm, tỉ lệ hình thành mô sẹo và khả năng tái sinh của lan Hài vẫn còn rất thấp.
Phương pháp sử dụng hạt lan hài nẩy mầm in vitro để sản xuất cây con đã cho thấy hiệu quả cao Các mô sẹo được cảm ứng từ protocorm có nguồn gốc từ hạt, cấy chuyền trên môi trường chứa nồng độ 2,4-D và TDZ cao, có khả năng tái sinh thành cây hoàn chỉnh thông qua bước trung gian hình thành PLB Một mảnh mô sẹo có thể tái sinh từ 3-7 chồi trong 3 tháng và giữ được khả năng tái sinh trong 3 năm Tuy nhiên, vẫn còn vấn đề về tính bền vững di truyền của cây tái sinh Nghiên cứu của Chyuam-Yih Ng và Norihan Mohd (2011) đã chỉ ra rằng việc nhân giống Paphiopedilum in vitro thông qua protocorm thứ cấp từ callus có nguồn gốc từ thân cho kết quả khả quan Các thể protocorm được nuôi cấy trên môi trường MS với nồng độ BA và Kinetin khác nhau, trong đó 4.0 μM Kinetin cho số lượng PLB thứ cấp cao nhất, trung bình 4.1 PLB sau 8 tuần Các PLB thứ cấp này được nhân lên từ 9,5-12,1 PLBs mới và sau đó được cấy chuyển trên môi trường MS không có chất điều hòa sinh trưởng, bổ sung 60 g/l dịch chiết chuối Việc sử dụng 20% CW trên môi trường MS mang lại tỷ lệ tái sinh trung bình 67,9% PLBs sau 8 tuần nuôi cấy.
Nghiên cứu trong nước về Lan
Tài nguyên di truyền là tài sản quý giá của mỗi quốc gia và toàn cầu, đóng vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển nông nghiệp Việt Nam đã xây dựng hệ thống pháp luật để quản lý và bảo tồn nguồn gen từ năm 1987, mặc dù còn nhiều hạn chế Khoa học và công nghệ đã góp phần đáng kể vào việc bảo tồn và phát triển nguồn gen, hỗ trợ phát triển kinh tế - xã hội Trong giai đoạn tiếp theo, khoa học công nghệ sẽ tiếp tục là động lực chính cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững nguồn gen sinh vật, một tài nguyên vô giá của đất nước.
Việt Nam, nằm trong khu vực Châu Á nhiệt đới, là một trong hai khu vực có nhiều loài lan rừng đẹp nhất thế giới Theo nghiên cứu của Averyanov (2003), Việt Nam đã phát hiện khoảng 158 chi và 900 loài phong lan Đến năm 2015, Trần Duy Quý và cộng sự đã thống kê được 160 chi và 1004 loại lan Quốc gia này sở hữu nguồn tài nguyên thực vật phong phú, đặc biệt là họ Lan, đứng đầu trong khu vực Châu Á.
Theo thống kê của Theo L Averianov, Phillip.C, Phan Kế Lộc và Nguyễn Tiến Hiệp năm 2004, trong số 160 chi lan ở Việt Nam, có 10 chi lan lớn nhất Đặc biệt, chi Hoàng thảo Dendrobium chiếm ưu thế với 97 loài, trong khi chi lan lọng Bulbophyllum cũng nổi bật trong danh sách này.
Có 78 loài lan thuộc các chi lớn như Chi Erria với 37 loài, chi Calanthe với 20 loài, và chi lan hài Paphiopedilum với 18 loài, cho thấy sự phong phú của lan nhiệt đới châu Á Theo các tác giả, Việt Nam có sự đa dạng nhất về số loài lan thuộc chi này.
Chi Paphiopedilum có sự đa dạng đáng chú ý, chủ yếu tập trung ở một số khu vực nam Trung Quốc Tại Việt Nam, có chín (09) taxôn của chi này bao gồm: Paphiopedilum x Aspersum, P x dalatense, P delenatii, P Hangianum, P helense, P malipoense var hiepii, P tranliennianum, P vietnamnense và P villosum var anamnense.
Và 12 taxôn khác: Paphiopedilum x affine, P barbigerrum,
P.dianthum, P Emersonii, P g, P gratrixianum, P.henryanum, P x hermannii, P malipose var.malipoense, P malipose var jackii, P micrathum, P purpuratum, P villosum var.bosalliicó thể coi là đặc hữu của
Việt Nam vì chỉ có một số vùng gần biên giới Việt Nam mới có những loài này
Hai loại lan Hài trong nghiên cứu của chúng ta là những loài đặc hữu quý hiếm của Việt Nam, cần được bảo tồn và phát triển để bảo vệ sự đa dạng sinh học.
Theo Phạm Hoàng Hộ (1993), lan Việt Nam phát triển trong vùng nhiệt đới với hai mùa mưa nắng rõ rệt, dẫn đến việc hầu hết các loài lan chỉ nở hoa một lần mỗi năm Thời gian nở hoa chủ yếu tập trung vào tháng 2, tháng 4, và tháng 7, tháng 8.
* Về các nghiên cứu điều tra, sưu tập, lưu giữ, bảo tồn lan
Việc bảo tồn các loài lan quý hiếm và xây dựng ngân hàng gen cho hoa lan đang được triển khai tại tỉnh Lâm Đồng, nơi có tiềm năng lớn về trồng và xuất khẩu hoa lan Lâm Đồng đứng đầu cả nước với khoảng 400 loài lan rừng, chiếm gần 80% tổng số lan rừng của Việt Nam Tuy nhiên, nhiều loài lan quý hiếm đang bị đe dọa và các giống lan tại các vườn trồng cũng đang thoái hóa Theo Tiến sỹ Dương Tấn Nhựt từ Phân viện Sinh học Đà Lạt, các nhà khoa học đang thực hiện hai phương pháp chính để bảo tồn giống hoa lan: xây dựng bộ sưu tập sống và ngân hàng gen Với những phương pháp tạo giống mới và các giải pháp kỹ thuật sinh học, việc bảo tồn các loài lan quý hiếm đã đạt được thành công, như việc giữ lại giống lan hài được đưa vào sách đỏ của tổ chức Bảo vệ động thực vật hoang dã thế giới.
Đề tài nghiên cứu của Tiến sỹ Nguyễn Văn Kết tập trung vào việc điều tra tài nguyên di truyền của các loài lan rừng tại Vườn quốc gia Cát Tiên (VQGCT) và phát triển các biện pháp nhân nhanh nhằm bảo tồn chúng Nghiên cứu này không chỉ góp phần vào việc bảo tồn đa dạng sinh học mà còn tạo ra các giải pháp bền vững cho việc phát triển và bảo vệ các loài lan quý hiếm trong môi trường tự nhiên.
Khoa Nông lâm thuộc trường Đại học Đà Lạt đã tiến hành nghiên cứu và nhân giống thành công gần 30 giống lan đặc hữu của Vườn Quốc gia Cát Tiên (VQGCT), nơi có sự tập trung dày đặc các loại lan rừng quý hiếm tại Việt Nam với khoảng 100 chi và gần 400 loài Tình trạng khai thác bừa bãi đã đẩy nhiều loài lan đến nguy cơ tuyệt chủng, nhưng việc nhân giống này không chỉ bảo tồn nguồn gen quý hiếm mà còn tạo cơ hội để mở rộng trồng các giống phong lan quý tại Đà Lạt Nhiều loài lan như kim hài, vân hài và lan gấm đã được nước ngoài đặt hàng với số lượng lớn, trong đó một số loài còn có tác dụng chữa bệnh như Ludisia discolor và Kim tuyến.
Dự án “Sưu tập, nhập nội, khảo nghiệm và nhân giống các giống hoa lan” do Trung tâm Công nghệ Sinh học TP HCM thực hiện từ năm 2005 đã thu thập hơn 285 giống hoa lan thuộc 12 nhóm khác nhau như Mokara, Dendrobium, Phalaenopsis và Oncidium Mục tiêu của dự án là bảo tồn nguồn gen và phát triển giống lan, trong đó có hơn 80 giống lan rừng quý hiếm phục vụ cho công tác lai tạo sau này Ngoài ra, Trung tâm cũng đã nhập nội 14 giống lan Mokara, 13 giống Dendrobium và 5 giống khác.
Cattleya được sử dụng để khảo nghiệm và nhân giống nhanh nhằm phục vụ cho sản xuất Hiện tại, Trung tâm đã lai tạo 50 cặp giống và đang tiến hành gieo hạt trong ống nghiệm.
Đề tài “Nghiên cứu chọn lọc và phát triển một số loài lan rừng có triển vọng phục vụ cho công tác nhân giống, lai tạo và bảo tồn nguồn gien đặc hữu, quý hiếm của Lâm Đồng” được Viện Sinh học Tây Nguyên công bố vào tháng 10/2008 đã xác định 73 loài lan rừng có hoa to, lâu tàn và màu sắc đẹp, có giá trị kinh tế cao, phù hợp cho nhân giống phục vụ sản xuất Ngoài ra, nghiên cứu đã xác định tên khoa học của 189/209 loài lan rừng tại Lâm Đồng, trong đó có 3 loài mới và 37 loài đặc hữu quý hiếm như lan Hài hồng, Huyết nhung trơn, Hài vân, Hài Đà Lạt Các loài lan thu thập từ tự nhiên hiện đang phát triển tốt và có khả năng ra hoa trong điều kiện khí hậu Đà Lạt.
Dự án “Sưu tập và xây dựng vườn hoa phong lan đầu dòng tại tỉnh Phú Yên” được triển khai vào năm 2006, đã tạo ra một khu vườn rộng 4.500 m² Đây là nơi sở hữu bộ sưu tập phong lan lớn nhất khu vực miền Trung – Tây Nguyên, với gần 200 dòng phong lan quý hiếm từ trong và ngoài nước.
Đề tài “Điều tra, thu thập đánh giá, bảo tồn nguồn gen cây hoa cảnh khu vực miền Bắc Việt Nam” do Trung tâm Hoa cây cảnh - Viện Di truyền nông nghiệp chủ trì đã chỉ ra rằng khu vực Tây Bắc có hơn 18 chi lan khác nhau Trong số đó, các chi nổi bật bao gồm Hoàng thảo (Dendrobium), Dáng Hương (Aerides), Ngọc điểm (Rhynchostylis), Kiếm (Cymbidium) và Hài (Paphiopedilum).
Nghiên cứu về thực vật tại Khu Bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
Tác giả Mai Văn Chuyên (2010) đã xác định 05 nguyên nhân trực tiếp và 05 nguyên nhân gián tiếp gây suy giảm đa dạng thực vật tại khu BTTN Xuân Liên Ông cũng đề xuất 05 nhóm giải pháp bảo tồn và phát triển tài nguyên rừng, bao gồm: (1) Giải pháp về kinh tế kỹ thuật; (2) Giải pháp về xã hội; (3) Giải pháp về cơ chế chính sách thu hút vốn đầu tư; (4) Giáo dục môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học; (5) Giải pháp về quản lý bảo vệ rừng (Nguyễn Ngọc Thảo, 2012).
Nguyễn Đức Thắng cộng sự, 2015 [7], nghiên cứu đã thống kê được
85 loài Lan, thuộc 38 chi phân bố tại Khu bảo tồn Nghiên cứu đã bổ sung cho KBTTN 03 loài trước đây chưa từng được ghi nhận, đó là: Liparis pumila
Aver., Liparis filiformis Aver., Eria calcicola Aver Hiện có 02 loài Lan quý hiếm là Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl ex Hook.) Stein.),
Kim tuyến trung bộ (Anoectochilus annamensis Aver.) Trong đó cả 02 loài đều thuộc nhóm IA, Nghị định 32/2006/NĐ-CP; Sách đỏ Việt Nam 2007, 01 loài cấp VU
Các khu rừng đặc dụng tại Việt Nam sở hữu nhiều hệ sinh thái đa dạng, bao gồm vùng sinh thái Đông Bắc với Khu BTTN Bát Đại Sơn, vùng sinh thái Hoàng Liên Sơn tại Khu BTTN Copia, cùng với vùng sinh thái Tây Bắc và Bắc Trung Bộ.
Các nghiên cứu về bảo tồn và phát triển các loài thuộc họ Lan đã chỉ ra tầm quan trọng của việc áp dụng các giải pháp bảo tồn đồng bộ cả nội vi lẫn ngoại vi ở Việt Nam Mỗi khu rừng đặc dụng, như Khu BTTN Xuân Liên, có điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội khác nhau, đòi hỏi các giải pháp nghiên cứu phù hợp với thực tiễn để phát huy tiềm năng và lợi thế của chúng Luận văn này sẽ cung cấp thông tin cập nhật về hiện trạng hai loài lan Hài tại Khu BTTN Xuân Liên, đồng thời đưa ra kết quả nghiên cứu về thử nghiệm nhân giống nhằm xây dựng kế hoạch và biện pháp quản lý hiệu quả cho việc bảo tồn và phát triển hai loài lan Hài này tại tỉnh Thanh Hóa.
MỤC TIÊU, ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI, THỜI GIAN, NỘI
Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của nghiên cứu là đánh giá thực trạng phân bố và thử nghiệm nhân giống hai loài lan quý hiếm: Lan hài vân bắc (Paphiopedilum callosum) và Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum) tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên Việc bảo tồn các loài lan này không chỉ góp phần duy trì đa dạng sinh học mà còn nâng cao giá trị sinh thái của khu vực.
Nghiên cứu đã xác định hiện trạng phân bố của hai loài lan quý hiếm tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên, bao gồm Lan hài vân bắc (Paphiopedilum callosum) và Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum).
+ Phân tích được một số đặc điểm sinh vật học và thử nghiệm nhân giống của 02 loài Lan phân bố tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên
2.2 Đối tƣợng, phạm vi nghiên cứu
- Đối tƣợng nghiên cứu: 02 loài lan quý hiếm là loài Lan hài vân bắc
(Paphiopedilum callosum (Rchb.f.) Pfitzer) và loài Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum (Lindl.ex Hook.) Stein
+ Phạm vi về không gian: Nghiên cứu tổ chức điều tra tại vùng quy hoạch bảo tồn Khu BTTN Xuân Liên, tỉnh Thanh Hoá
+ Phạm vi về thời gian: Nghiên cứu triển khai thực hiện từ tháng
- Đánh giá các đặc điểm sinh vật học của 02 loài lan quý hiếm
Điều tra hiện trạng phân bố của hai loài lan quý hiếm, gồm Lan hài vân bắc (Paphiopedilum callosum) và Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum), tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là một nghiên cứu quan trọng nhằm bảo tồn và phát triển đa dạng sinh học Việc xác định sự phân bố của các loài này sẽ góp phần nâng cao nhận thức về giá trị sinh thái và bảo vệ các loài thực vật quý hiếm trong khu vực.
- Thử nghiệm nhân giống 02 loài Lan hài
- Phân tích được các mối đe dọa và đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn
Mục đích của phương pháp này là thu thập thông tin ban đầu về hai loài thông qua phỏng vấn người dân tại các thôn bản trong và gần Khu bảo tồn, sử dụng hình thức phỏng vấn bán cấu trúc Các cuộc phỏng vấn được thực hiện theo nhóm hoặc đơn lẻ, tùy thuộc vào điều kiện thực tế Để hỗ trợ việc xác định loài, ảnh màu của hai loài lan được sử dụng Các địa điểm phỏng vấn trước đây đã được ghi nhận từ thông tin của người dân sẽ được xác định và đánh dấu trên bản đồ địa hình của Khu bảo tồn Ngoài ra, cần xem xét kỹ lưỡng các mẫu vật hiện có tại nhà dân, và thông tin từ các cuộc phỏng vấn sẽ được kiểm định qua nhiều người khác nhau để đảm bảo tính chính xác.
Cuộc phỏng vấn diễn ra từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2018 tại 10 thôn bản giáp ranh với khu bảo tồn thuộc 5 xã vùng đệm, với số lượng phỏng vấn từ 5 đến 10 người mỗi thôn (Chi tiết xem tại Phiếu 01).
2.4.2 Phương pháp điều tra hiện trạng phân bố 02 loài
Phương pháp điều tra theo tuyến được áp dụng để quan sát trực tiếp hai loài Lan, với 15 tuyến khảo sát được thiết kế đi qua các dạng sinh cảnh rừng của khu vực nghiên cứu Mỗi tuyến có chiều dài từ 3-6 km, tùy thuộc vào điều kiện địa hình, và cách nhau 500m Bản đồ sử dụng cho nghiên cứu được xây dựng theo tỷ lệ 1/25.000, với hệ tọa độ UTM Zone 48, Northern Hemisphere (WGS84) [EPSG:].
32648] và máy định vị GPS cũng cài đặt hệ tọa độ UTM để xác định toạ độ các khu vực điều tra cũng như các điểm quan sát được
Bảng 2.1 Tuyến điều tra hiện trạng phân bố
Tên tuyến Tọa độ điểm đầu
(hệ tọa độ UTM) Tọa độ điểm cuối
Bản Vịn - đến Khu vực Huối Cò
Khu vực Suối Trại keo đến khu vực
Bản Vịn - đi Khu vực đỉnh Suối Thác
Tiên- đến Lán hạt trần
Chiềng): Từ Lán ông thường -đến đỉnh Pù nậm mua nhỏ
Phong Sai đến Lán ông thường
Chiềng): Từ đỉnh dông Pà phấng- đến dông Thông cói
(Làng Khong) đi suối Hón Hích
TS9 Hón mong đến Khu vực đỉnh Pù Cố 0514018 2203137 0514474 2206343 3,50 SC4 TS10 Hón mong đến Khu vực đỉnh Pù khóe 0514018 2203137 0511298 2209279 4,70 SC4
Tên tuyến Tọa độ điểm đầu
(hệ tọa độ UTM) Tọa độ điểm cuối
Sông Khao đi Vũng đính - đến Đỉnh Pù gió
Hón Can: Từ Chân đỉnh Pù gió đến Đỉnh Pù gió
Quặn đến Đỉnh thác mù
Trong quá trình điều tra quần thể, khi phát hiện hai loài lan, cần quan sát và ghi chép thông tin chi tiết, bao gồm số lượng cá thể ghi nhận Đồng thời, sử dụng hình ảnh minh họa để xác định loài chính xác Ngoài ra, cần ghi chép thêm thông tin về thời tiết và cấu trúc rừng vào mẫu phiếu 02 để đảm bảo tính chính xác và đầy đủ của dữ liệu.
Xác định dạng sinh cảnh sống của loài là bước quan trọng trong nghiên cứu, dựa vào số liệu về 11 kiểu thảm rừng và các đặc trưng địa hình để xác định 08 kiểu sinh cảnh rừng chính tại Khu bảo tồn Đánh giá sinh cảnh phân bố của 02 loài Hài được thực hiện thông qua việc phát hiện loài trên hiện trường, ghi chép thông tin về tọa độ, các tầng thực vật và địa hình Dữ liệu thu thập sẽ được tổng hợp và phân tích trên bản đồ sinh cảnh của Khu bảo tồn.
Bảng 2.2 Các dạng sinh cảnh rừng chính
Kí hiệu Dạng sinh cảnh & kiểu rừng Sinh cảnh (ha)
Sinh cảnh rừng thường xanh trên núi đá vôi: 767
- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất xương xẩu núi đá vôi 767
Sinh cảnh rừng thường xanh á nhiệt đới: 2.259
- Kiểu rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá rộng á nhiệt đới 1.754
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh á nhiệt đới sau khai thác 505
SC3 Sinh cảnh rừng thường xanh nhiệt đới: 2.801
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 2.801
Rừng thường xanh nhiệt đới sau khai thác 1.372
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh nhiệt đới núi thấp sau khai thác 1.372
Rừng thường xanh nhiệt đới đang phục hồi 5.293
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp phục hồi sau nương rẫy
Sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ - giang, nứa: 6.617
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang hoặc
Nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương rẫy á nhiệt đới
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang hoặc Nứa và cây lá rộng núi thấp phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt
Sinh cảnh rừng giang / nứa thuần loại: 3.276
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Giang hoặc Nứa thuần loại phục hồi sau nương rẫy 3.276
SC8 Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi: 942
- Trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác 942
Hình 2.1 Bản đồ các dạng sinh cảnh rừng chính ở KBTTN Xuân Liên
2.4.3 Phương pháp sinh vật học
- Mô tả một số đặc điểm hình thái của loài: Quan sát 10 cây trên tuyến điều tra sau đó mô tả đặc điểm hình thái cụ thể như sau:
+ Thân: Mô tả hình dạng, màu sắc, cách mọc và mức độ phát triển
+ Lá, hoa, quả: Mô tả hình dạng, kích thước, màu sắc Lấy mẫu tiêu bản để giám định
- Mô tả điều kiện sinh cảnh nơi phân bố của 02 loài lan Hài
Để xác định và mô tả đặc điểm sinh cảnh của hai loài lan Hài tại rừng, luận văn đã tiến hành phân tích thông tin từ ghi nhận hiện trường, bao gồm tọa độ, độ cao và hướng phơi Kết quả nghiên cứu cũng kết hợp với các đặc điểm của tám dạng sinh cảnh rừng ở Khu BTTN Xuân Liên, từ đó đánh giá sâu sắc về sinh cảnh của hai loài này.
2.4.4 Phương pháp thử nghiệm nhân giống 02 loài Lan hài
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ thích hợp để tách chồi, mầm với 02 loài Lan hài
- Thí nghiệm gồm các công thức:
CT2: Vụ thu – đông (tháng 10)
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại
Số chậu thí nghiệm là 20 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 5 chậu/giống
* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng cây sau tách chồi đối với 02 loài Lan hài
Thí nghiệm gồm các công thức:
CT2: Đất + xơ dừa + trấu hun (1:1:1)
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại
Số chậu thí nghiệm là 20 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 5 chậu/giống
* Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón thích hợp cho cây sau tách nhánh đối với 02 loài Lan hài
Thí nghiệm gồm các công thức:
CT4: đối chứng (phun nước lã)
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại
Số chậu thí nghiệm là 32 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 8 chậu/giống
Các chỉ tiêu theo dõi và xử lí số liệu
Để theo dõi sự phát triển của các giống Lan trong quá trình nhân giống, cần thực hiện việc ghi nhận số liệu định kỳ mỗi 10 ngày Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm các đặc điểm sinh trưởng và phát triển của cây.
+ Số nhánh/chậu: đếm tổng số nhánh (củ giả)/chậu
+ Chiều dài lá (cm): Đo từ gốc lá đến ngọn lá
+ Chiều rộng lá (cm): Đo tại điểm cắt ngang lá lớn nhất
+ Số lá (lá): Đếm số lá trên nhánh
+ Màu sắc lá: mô tả màu sắc lá theo cảm quan
Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo chương trình EXCEL
- Số chồi bình quân/cụm - Hệ số nhân chồi - Chiều cao bình quân chồi (cm) - Số lá bình quân/chồi (lá) - Tỷ lệ sống (%) = x100
Số lá bình quân trên cây và chiều dài trung bình của lá được xác định thông qua các phương pháp phân tích thống kê toán học Việc xử lý số liệu và đánh giá kết quả được thực hiện nhằm đảm bảo tính khách quan và độ chính xác, nhờ vào sự hỗ trợ của các phần mềm thống kê như Excel và phân tích phương sai một nhân tố (Anova).
2.4.5 Phương pháp xây dựng bản đồ
Chúng tôi đã tiến hành khoanh vẽ và xây dựng bản đồ phân bố của hai loài Lan hài tại rừng Khu BTTN Xuân Liên Dựa vào tọa độ GPS ghi nhận được từ quá trình điều tra ngoại nghiệp, dữ liệu tọa độ đã được nhập vào phần mềm Mapinfo 10.5 để tạo ra bản đồ phân bố chi tiết.
2.4.6 Phương pháp xác định mối đe dọa đến bảo tồn
Trong thời gian từ 2013-2017, chúng tôi đã thu thập dữ liệu về các vụ vi phạm pháp luật liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng tại khu bảo tồn Xuân Liên, dựa trên thông tin từ hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Liên Dữ liệu này sẽ làm cơ sở để đánh giá các mối đe dọa đối với rừng Đồng thời, chúng tôi cũng tiến hành điều tra thực trạng khai thác và buôn bán hai loài lan thông qua phỏng vấn người dân, nhằm đề xuất các giải pháp bảo tồn và sử dụng hiệu quả kết quả nghiên cứu về hai loài lan này.
Quan sát trực tiếp trên 15 tuyến điều tra và phỏng vấn người dân nhằm thu thập thông tin về mức độ tác động của con người đến sinh cảnh phân bố của hai loài lan Hài Bài viết cũng đánh giá các mối đe dọa đối với các loài này.
Việc đánh giá mức độ đe dọa đối với hai loài lan Hài trong khu vực nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp của Margoluis và Salafsky (2001), dựa trên việc xếp hạng và cho điểm từ 1 đến n Các mối đe dọa được sắp xếp theo thứ tự giảm dần dựa trên ba tiêu chí chính: diện tích, cường độ và tính cấp thiết của mối đe dọa.
Nội dung nghiên cứu
- Đánh giá các đặc điểm sinh vật học của 02 loài lan quý hiếm
Điều tra hiện trạng phân bố của hai loài lan quý hiếm, gồm Lan hài vân bắc (Paphiopedilum callosum) và Lan hài lông (Paphiopedilum hirsutissimum), tại Khu bảo tồn thiên nhiên Xuân Liên là một nghiên cứu quan trọng nhằm bảo tồn đa dạng sinh học Việc xác định số lượng và phân bố của các loài lan này giúp nâng cao nhận thức về giá trị bảo tồn và phát triển bền vững trong khu vực.
- Thử nghiệm nhân giống 02 loài Lan hài
- Phân tích được các mối đe dọa và đề xuất giải pháp quản lý và bảo tồn
Phương pháp nghiên cứu
Mục đích của phương pháp này là thu thập thông tin ban đầu về hai loài lan thông qua phỏng vấn bán cấu trúc với người dân ở các thôn bản trong và gần Khu bảo tồn Phỏng vấn được thực hiện theo nhóm hoặc cá nhân, tùy thuộc vào điều kiện thực tế, và có sự hỗ trợ bằng ảnh màu của hai loài lan để người dân dễ dàng nhận diện Các địa điểm phỏng vấn trước đây đã được người dân cung cấp được xác định và đánh dấu trên bản đồ địa hình của Khu bảo tồn Ngoài ra, cần xem xét kỹ lưỡng tất cả các mẫu vật hiện có tại nhà dân, và thông tin thu thập được sẽ được kiểm định qua nhiều người phỏng vấn khác nhau để đảm bảo tính chính xác.
Cuộc phỏng vấn diễn ra từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2018 tại 10 thôn bản giáp ranh với khu bảo tồn thuộc 5 xã vùng đệm, với số lượng phỏng vấn từ 5 đến 10 người mỗi thôn (Chi tiết xem tại Phiếu 01).
2.4.2 Phương pháp điều tra hiện trạng phân bố 02 loài
Phương pháp điều tra theo tuyến được áp dụng để quan sát trực tiếp hai loài Lan, với thiết kế 15 tuyến điều tra đi qua các dạng sinh cảnh rừng trong khu vực nghiên cứu Mỗi tuyến khảo sát có chiều dài từ 3-6 km, tùy thuộc vào điều kiện địa hình, và cách nhau 500m Bản đồ sử dụng cho nghiên cứu được xây dựng theo tỷ lệ 1/25.000, sử dụng hệ tọa độ UTM Zone 48, Northern Hemisphere (WGS84) [EPSG:].
32648] và máy định vị GPS cũng cài đặt hệ tọa độ UTM để xác định toạ độ các khu vực điều tra cũng như các điểm quan sát được
Bảng 2.1 Tuyến điều tra hiện trạng phân bố
Tên tuyến Tọa độ điểm đầu
(hệ tọa độ UTM) Tọa độ điểm cuối
Bản Vịn - đến Khu vực Huối Cò
Khu vực Suối Trại keo đến khu vực
Bản Vịn - đi Khu vực đỉnh Suối Thác
Tiên- đến Lán hạt trần
Chiềng): Từ Lán ông thường -đến đỉnh Pù nậm mua nhỏ
Phong Sai đến Lán ông thường
Chiềng): Từ đỉnh dông Pà phấng- đến dông Thông cói
(Làng Khong) đi suối Hón Hích
TS9 Hón mong đến Khu vực đỉnh Pù Cố 0514018 2203137 0514474 2206343 3,50 SC4 TS10 Hón mong đến Khu vực đỉnh Pù khóe 0514018 2203137 0511298 2209279 4,70 SC4
Tên tuyến Tọa độ điểm đầu
(hệ tọa độ UTM) Tọa độ điểm cuối
Sông Khao đi Vũng đính - đến Đỉnh Pù gió
Hón Can: Từ Chân đỉnh Pù gió đến Đỉnh Pù gió
Quặn đến Đỉnh thác mù
Trong quá trình điều tra, cần xác định hiện trạng quần thể bằng cách ghi chép thông tin khi phát hiện hai loài lan Việc đếm số lượng cá thể và sử dụng hình ảnh minh họa để xác định loài là rất quan trọng Đồng thời, cần ghi chép bổ sung các thông tin về thời tiết và cấu trúc rừng vào mẫu phiếu 02.
Để xác định dạng sinh cảnh sống của loài, nghiên cứu đã phân tích 11 kiểu thảm rừng và các đặc trưng địa hình, từ đó xác định 08 kiểu sinh cảnh rừng chính tại Khu bảo tồn Việc đánh giá sinh cảnh phân bố của 02 loài Hài được thực hiện qua quá trình điều tra hiện trường, ghi chép thông tin về tọa độ, các tầng thực vật và địa hình Dữ liệu thu thập sẽ được tổng hợp và phân tích trên bản đồ sinh cảnh của Khu bảo tồn.
Bảng 2.2 Các dạng sinh cảnh rừng chính
Kí hiệu Dạng sinh cảnh & kiểu rừng Sinh cảnh (ha)
Sinh cảnh rừng thường xanh trên núi đá vôi: 767
- Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh á nhiệt đới trên đất xương xẩu núi đá vôi 767
Sinh cảnh rừng thường xanh á nhiệt đới: 2.259
- Kiểu rừng kín thường xanh chủ yếu là cây lá rộng á nhiệt đới 1.754
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh á nhiệt đới sau khai thác 505
SC3 Sinh cảnh rừng thường xanh nhiệt đới: 2.801
- Rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới 2.801
Rừng thường xanh nhiệt đới sau khai thác 1.372
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh nhiệt đới núi thấp sau khai thác 1.372
Rừng thường xanh nhiệt đới đang phục hồi 5.293
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi thấp phục hồi sau nương rẫy
Sinh cảnh rừng hỗn giao gỗ - giang, nứa: 6.617
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang hoặc
Nứa và cây lá rộng phục hồi sau nương rẫy á nhiệt đới
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác hỗn giao Giang hoặc Nứa và cây lá rộng núi thấp phục hồi sau nương rẫy và khai thác kiệt
Sinh cảnh rừng giang / nứa thuần loại: 3.276
- Kiểu phụ thứ sinh nhân tác Giang hoặc Nứa thuần loại phục hồi sau nương rẫy 3.276
SC8 Sinh cảnh trảng cỏ cây bụi: 942
- Trảng cỏ cây bụi thứ sinh nhân tác 942
Hình 2.1 Bản đồ các dạng sinh cảnh rừng chính ở KBTTN Xuân Liên
2.4.3 Phương pháp sinh vật học
- Mô tả một số đặc điểm hình thái của loài: Quan sát 10 cây trên tuyến điều tra sau đó mô tả đặc điểm hình thái cụ thể như sau:
+ Thân: Mô tả hình dạng, màu sắc, cách mọc và mức độ phát triển
+ Lá, hoa, quả: Mô tả hình dạng, kích thước, màu sắc Lấy mẫu tiêu bản để giám định
- Mô tả điều kiện sinh cảnh nơi phân bố của 02 loài lan Hài
Để xác định và mô tả đặc điểm sinh cảnh của hai loài lan Hài tại rừng, luận văn phân tích thông tin từ ghi nhận hiện trường, bao gồm tọa độ, độ cao và hướng phơi Nghiên cứu cũng kế thừa kết quả về đặc điểm của 08 dạng sinh cảnh rừng ở Khu BTTN Xuân Liên, từ đó đánh giá sinh cảnh của hai loài này.
2.4.4 Phương pháp thử nghiệm nhân giống 02 loài Lan hài
* Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của thời vụ thích hợp để tách chồi, mầm với 02 loài Lan hài
- Thí nghiệm gồm các công thức:
CT2: Vụ thu – đông (tháng 10)
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại
Số chậu thí nghiệm là 20 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 5 chậu/giống
* Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của giá thể trồng cây sau tách chồi đối với 02 loài Lan hài
Thí nghiệm gồm các công thức:
CT2: Đất + xơ dừa + trấu hun (1:1:1)
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại
Số chậu thí nghiệm là 20 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 5 chậu/giống
* Thí nghiệm 3: Nghiên cứu ảnh hưởng của phân bón thích hợp cho cây sau tách nhánh đối với 02 loài Lan hài
Thí nghiệm gồm các công thức:
CT4: đối chứng (phun nước lã)
- Thí nghiệm được bố trí theo khối ngẫu nhiên hoàn toàn, 3 lần nhắc lại
Số chậu thí nghiệm là 32 chậu/giống, theo dõi đo đếm các chỉ tiêu sinh trưởng phát triển của 8 chậu/giống
Các chỉ tiêu theo dõi và xử lí số liệu
Chỉ tiêu theo dõi số liệu là việc theo dõi các đặc điểm sinh trưởng và phát triển của các giống Lan trong quá trình nhân giống Việc này được thực hiện định kỳ với tần suất 10 ngày/lần để thu thập số liệu cần thiết Các chỉ tiêu theo dõi bao gồm những yếu tố quan trọng liên quan đến sự phát triển của giống Lan.
+ Số nhánh/chậu: đếm tổng số nhánh (củ giả)/chậu
+ Chiều dài lá (cm): Đo từ gốc lá đến ngọn lá
+ Chiều rộng lá (cm): Đo tại điểm cắt ngang lá lớn nhất
+ Số lá (lá): Đếm số lá trên nhánh
+ Màu sắc lá: mô tả màu sắc lá theo cảm quan
Xử lý số liệu: Số liệu được xử lý theo chương trình EXCEL
- Số chồi bình quân/cụm - Hệ số nhân chồi - Chiều cao bình quân chồi (cm) - Số lá bình quân/chồi (lá) - Tỷ lệ sống (%) = x100
Số lá
2.4.5 Phương pháp xây dựng bản đồ
Khoanh vẽ và xây dựng bản đồ phân bố của hai loài Lan hài tại rừng Khu BTTN Xuân Liên được thực hiện dựa trên tọa độ GPS ghi nhận từ thực địa Quá trình điều tra ngoại nghiệp và nhập dữ liệu tọa độ vào phần mềm Mapinfo 10.5 đã giúp tạo ra bản đồ phân bố chi tiết cho hai loài này.
2.4.6 Phương pháp xác định mối đe dọa đến bảo tồn
Trong thời gian từ 2013-2017, chúng tôi đã thu thập dữ liệu về các vụ vi phạm pháp luật liên quan đến quản lý và bảo vệ rừng tại khu bảo tồn Xuân Liên, thông qua thông tin từ hạt kiểm lâm rừng đặc dụng Xuân Liên Dữ liệu này sẽ là cơ sở để đánh giá các mối đe dọa đối với rừng Bên cạnh đó, chúng tôi cũng tiến hành điều tra thực trạng khai thác và buôn bán hai loài lan thông qua phỏng vấn người dân, nhằm đề xuất các giải pháp phù hợp cho công tác bảo tồn và sử dụng hiệu quả các kết quả nghiên cứu về hai loài lan này.
Đã tiến hành quan sát trực tiếp trên 15 tuyến điều tra và phỏng vấn người dân để thu thập thông tin về tác động của con người đối với sinh cảnh phân bố của hai loài lan Hài Đồng thời, cũng đã đánh giá các mối đe dọa đến sự tồn tại của chúng.
Đánh giá mức độ các mối đe dọa tới loài và sinh cảnh của hai loài lan Hài tại khu vực nghiên cứu được thực hiện theo phương pháp của Margoluis và Salafsky (2001) Quy trình này bao gồm việc xếp hạng và cho điểm từ 1 đến n, sau đó sắp xếp giảm dần theo mức độ ảnh hưởng của các mối đe dọa dựa trên ba tiêu chí: diện tích, cường độ và tính cấp thiết của mối đe dọa.
Diện tích vùng bị ảnh hưởng bởi mối đe dọa là tỷ lệ phần trăm diện tích trong khu vực nghiên cứu mà mối đe dọa tác động đến, có thể ảnh hưởng đến toàn bộ sinh cảnh hoặc chỉ một khu vực nhỏ Điểm số sẽ được chấm từ n cho những mối đe dọa có vùng ảnh hưởng rộng nhất, giảm dần đến 1 cho những mối đe dọa có diện tích ảnh hưởng nhỏ nhất.
Cường độ ảnh hưởng của mối đe dọa đến sinh cảnh được xác định qua mức độ phá hủy và tính chất khốc liệt của nó Mối đe dọa có thể mạnh, dẫn đến sự phá hủy hoàn toàn sinh cảnh, hoặc yếu, chỉ gây ảnh hưởng cục bộ đến một phần nhỏ Dựa trên cường độ tác động, có thể tiến hành cho điểm từ cao xuống thấp để đánh giá mức độ ảnh hưởng một cách chính xác.
Tính hiện trạng và tính cấp thiết của mối đe dọa phản ánh mức độ ảnh hưởng của nó theo thời gian, xác định liệu mối đe dọa chỉ tác động trong hiện tại hay còn kéo dài đến tương lai Mỗi mối đe dọa được đánh giá từ cao xuống thấp dựa trên tính cấp thiết của nó.
Kết quả đánh giá và cho điểm các mối đe dọa được nêu trong bảng sau:
Bảng 2.3 Tổng hợp kết quả đánh giá các mối đe dọa
TT Các mối đe dọa
Sau khi cho điểm và tính tổng điểm tiến hành xếp hạng các mối đe doạ, mối đe doạ mạnh nhất thì cho điểm cao nhất…
2.4.7 Phương pháp xử lý số liệu