Mục tiêu nghiên cứu đề tài nhằm nghiên cứu, trình bày mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức; để từ đó nêu bật tinh thần quốc tế vô sản, hợp tác xã hội chủ nghĩa vô tư trong sáng giữa các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa anh em và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển mối quan hệ ngoại giao trong thời kỳ hiện đại.
PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Trong suốt lịch sử bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam có sự đóng góp không hề nhỏ của bạn bè quốc tế, các nước xã hội chủ nghĩa anh em, trong đó có Cộng hòa Dân chủ Đức (hay còn được gọi là Đông Đức)
Với tinh thần quốc tế vô sản, tình anh em xã hội chủ nghĩa trong sáng, Cộng hòa Dân chủ Đức đã có sự giúp đỡ to lớn cho công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa Trong những năm tháng ác liệt của chiến tranh và cả trong giai đoạn Việt Nam bị bao vây cấm vận với vô vàn khó khăn, nhà nước và nhân dân Đông Đức đã có những sự giúp đỡ vô giá về mặt chính trị, ngoại giao, quốc phòng - an ninh, kinh tế - xã hội, y tế, cơ sở hạ tầng
Năm 2020 là năm kỉ niệm 90 năm ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam (03/02/1930-03/02/2020) và 65 năm ngày thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức (03/02/1955-03/02/2020) Tuy chế độ chính trị không còn, nhưng nhân dân Việt Nam vẫn luôn luôn ghi nhớ và biết ơn những đóng góp vô giá của một nước Đức xã hội chủ nghĩa anh em Tình cảm của nhân dân Đức đối với nhân dân Việt Nam trong những năm tháng khó khăn cần được biết tới rộng rãi, kể cả với thế hệ trẻ - những người sinh ra sau ngày nước Đức thống nhất
Mặt khác, dựa vào lịch sử quan hệ ngoại giao tốt đẹp giữa Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức, mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và nước Đức mới cũng cần được vun đắp và phát triển sâu rộng hơn
Xuất phát từ những lý do trên, nhóm tác giả đã lựa chọn đề tài: “ Quan hệ
Ngoại giao Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức từ năm 1955 đến 1990 ”
2 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Hiện tại đã có nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước nghiên cứu về quan hệ Việt Nam – CHDC Đức trên từng lĩnh vực như:
GS Nguyễn Văn Ngọ (2018), Kể Lại Chuyện Việt Nam tham gia hợp tác
KHKT ở hội đồng tương trợ kinh tế các nước XHCN (SEV); Tác giả đã tái hiện lại bức tranh sinh động về quá trình Việt Nam tham gia hợp tác trênh lĩnh vực khoa học kĩ thuật ở hội đồng tương trợ kinh tế các nước xã hội chủ nghĩa, những khó khăn và thuận lợi trong quá trình tham gia tổ chức này
Cơ quan Ủy viên Liên bang về các tài liệu của Dịch vụ An ninh Nhà nước Cộng hòa Dân chủ Đức cũ (2016), Quan hệ giữa An ninh Việt Nam và Stast – Đông Đức, trong công trình nghiên cứu, tập thể tác giả đã đi vào tìm hiểu mối quan hệ hợp tác về an ninh trong quan hệ Việt Nam và Cộng hòa Dân chủ Đức trong thời kỳ từ năm 1950 đến trước năm 1990 Đào Đức Thuận, Phạm Thu Quỳnh (2011), Quan hệ Việt Nam - Cộng hòa dân chủ Đức (1950 - 1990) qua tài liệu lưu trữ, Tạp chí Văn Thư - Lưu trữ Việt
Nam, Số 4 Trong bài viết tác giả đã tiếp cận mối quan hệ giữa Việt Nam và Cộng hòa dân chủ Đức thông qua một số tài liệu lưu trữ tại Việt Nam, từ đó làm rõ mối quan hệ Việt Nam - Cộng hòa dân chủ Đức trên một số lĩnh vực như: kinh tế, khoa học kĩ thuật, xây dựng…
Martin Grossheim (2014), “Fraternal Support: The East German ‘Stasi’ and the Democratic Republic of Vietnam during the Vietnam War”, Cold War
International History Project Working Paper #71, September 2014, Tác giả đã làm rõ một số nội dung trong quan hệ giữa Bộ An ninh Quốc gia Đông Đức và Việt Nam DCCH trong Chiến tranh VN
Các bài viết đã làm rõ một số nội dung hợp tác giữa Việt Nam và CHDC Đức Tuy vậy, chưa có công trình nghiên cứu nào đi sâu tìm hiểu về mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức một cách tổng hợp, khái quát trên mọi lĩnh vực
3 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu, trình bày mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức; để từ đó nêu bật tinh thần quốc tế vô sản, hợp tác xã hội chủ nghĩa vô tư trong sáng giữa các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa anh em và rút ra những bài học kinh nghiệm trong việc phát triển mối quan hệ ngoại giao trong thời kỳ hiện đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu: Đề tài nghiên cứu, trình bày mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu lịch sử mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức
+ Phạm vi không gian: Đề tài nghiên cứu mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức trên các mặt: chính trị, giao lưu nhân dân, quốc phòng – an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội, y tế, cơ sở hạ tầng, khoa học - kỹ thuật, lao động hợp tác
+ Phạm vi thời gian: Nghiên cứu mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức từ năm 1955 đến 1990
5 Phương pháp nghiên cứu Đề tài nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của triết học Mác - Lênin, quán triệt nguyên tắc khách quan, toàn diện, nguyên tắc lịch sử cụ thể; đồng thời quán triệt đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về ngoại giao và giao lưu nhân dân
Ngoài ra, đề tài sử dụng các phương pháp nghiên cứu như: Phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp nghiên cứu tài liệu
Vai trò lịch sử của mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức trước đây có vai trò quan trọng trong công cuộc bảo vệ và xây dựng Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa cũng như là tiền đề cho việc phát triển mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và nước Đức hiện đại Tuy vậy, nhiều người Việt Nam và Đức hiện tại chưa hiểu rõ và đánh giá đúng mối quan hệ lịch sử này Đề tài nghiên cứu giúp cho mọi người hiểu rõ và đánh giá đúng hơn về mối quan hệ lịch sử Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam (Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây) và Cộng hòa Dân chủ Đức
7 Đóng góp mới của đề tài
- Về mặt lý luận: Đề tài tìm hiểu và nghiên cứu về mối quan hệ ngoại giao giữa Cộng hòa
NHỮNG NHÂN TỐ CHỦ YẾU TÁC ĐỘNG ĐẾN QUAN HỆ NGOẠI GIAO VIỆT NAM – CỘNG HÒA DÂN CHỦ ĐỨC
Bối cảnh quốc tế, khu vực cuối thập niên 40, đầu thập niên 50 của Thế kỷ XX
1.1.1 Bối cảnh quốc tế sau Chiến tranh thế giới thứ 2
Ngay từ khi Chiến tranh thế giới thứ hai bước vào giai đoạn cuối, nhiều vấn đề quan trọng và cấp bách đặt ra trước các nước Đồng minh:
- Nhanh chóng đánh bại hoàn toàn chủ nghĩa phát xít
- Tổ chức lại trật tự thế giới sau chiến tranh
- Phân chia thành quả giữa các nước thắng trận
Từ 4/11/2/1945, hội nghị quốc tế được triệu tập tại Yalta (Liên Xô) với sự tham dự của nguyên thủ 3 cường quốc là Liên Xô, Mĩ, Anh nhằm giải quyết các vấn đề trên Những quyết định quan trọng của Hội nghị Yalta như sau:
- Đẩy mạnh việc tiêu diệt chủ nghĩa phát xít Đức và chủ nghĩa quân phiệt Nhật
–Thành lập tổ chức Liên hợp quốc nhằm duy trì hoà bình và an ninh thế giới
–Thoả thuận về việc đóng quân tại các nước nhằm giải giáp quân đội phát xít, phân chia phạm vi ảnh hưởng ở châu Âu và châu Á:
+ Ở châu Âu: quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Đông nước Đức, Đông Berlin và các nước Đông Âu; quân đội Mĩ, Anh và Pháp chiếm đóng miền Tây nước Đức, Tây Berlin và các nước Tây Âu Vùng Đông Âu thuộc ảnh hưởng của
Liên Xô; vùng Tây Âu thuộc phạm vi ảnh hưởng của Mĩ Hai nước Áo và Phần Lan trở thành những nước trung lập
+ Ở châu Á: Hội nghị chấp nhận những điều kiện của Liên Xô để tham chiến chống Nhật bản: 1- Giữ nguyên trạng Mông Cổ; 2- Trả lại cho Liên Xô miền Nam đảo Sakhalin và các đảo xung quanh; quốc tế hoá thương cảng Đại Liên (Trung Quốc) và khôi phục việc Liên Xô thuê cảng Lữ Thuận; Liên Xô cùng Trung Quốc khai thác đường sắt Nam Mãn Châu – Đại Liên; Liên Xô chiếm 4 đảo thuộc quần đảo Kuril Quân đội Mĩ chiếm đóng Nhật Bản; ở bán đảo Triều Tiên, quân đội Liên Xô chiếm đóng miền Bắc và quân đội Mĩ chiếm đóng miền Nam, lấy vĩ tuyến 38 làm ranh giới; Trung Quốc cần trở thành một quốc gia thống nhất; quân đội nước ngoài rút khỏi Trung Quốc Chính phủ Trung Hoa Dân quốc cần cải tổ với sự tham gia của Đảng Cộng sản và các đảng phái dân chủ, trả lại cho Trung Quốc vùng Mãn Châu, đảo Đài Loan và quần đảo Bành Hồ; các vùng còn lại của châu Á vẫn thuộc phạm vi ảnh hưởng của các nước phương Tây
Thực chất của Hội nghị Ianta là sự phân chia khu vực đóng quân và khu vực ảnh hưởng giữa các nước thắng trận, có liên quan tới hoà bình, an ninh và trật tự thế giới về sau Những quyết định quan trọng của Hội nghị và những thoả thuận sau đó trở thành khuôn khổ của trật tự thế giới mới (trật tự hai cực Ianta) Theo đó, thế giới được chia thành hai phe do hai siêu cường đứng đầu mỗi phe, đối đầu gay gắt trong gần 4 thập niên, làm cho quan hệ quốc tế luôn trong tình trạng phức tạp, căng thẳng
1.1.2 Cộng hòa Dân chủ Đức sau Chiến tranh thế giới lần thứ 2
Năm 1945, Chiến tranh thế giới lần thứ 2 kết thúc, các nước Đồng Minh đã phân chia nước Đức thành các khu vực khác nhau: Khu vực từ sông Niesse đến sông Oder được cắt hoàn toàn cho Cộng hòa Nhân dân Ba Lan Khu vực Kửnigsberg được cắt hoàn toàn cho Liờn Xụ và đổi tờn thành Kaliningrad Phần
11 còn lại của nước Đức bị chia làm 4 phần cho 4 nước: Anh – Pháp – Mỹ - Liên
Năm 1949, khi hai cực Đông –Tây đối đầu trong cuộc Chiến tranh Lạnh, tại
3 vùng kiểm soát của Anh – Pháp –Mỹ đã kết hợp lại, thành lập chính quyền Cộng hòa Liên bang Đức Tại khu vực kiểm soát của mình, Liên Xô đã bảo trợ các lực lượng Cộng sản Đức, thành lập chính quyền Cộng hòa Dân chủ Đức Khi khối quân sự Warsawa và Hội Đồng Tương Trợ Kinh Tế Các Nước XHCN (SEV) ra đời, Cộng hòa Dân chủ Đức (Đông Đức) trở thành một thành viên tích cực của khối Xã hội chủ nghĩa trong cuộc Chiến tranh Lạnh đối đầu với Tây phương Tư bản Đế quốc
- Về chính trị: Khác với nhiều nước XHCN khác, ở CHDC Đức tồn tại một hệ thống chính trị đa đảng phái và bản thân đảng cầm quyền ở CHDC Đức cũng là sự kết hợp của 2 đảng chính trị Các đảng chính trị ở CHDC Đức bao gồm:
1 Đảng chính trị cầm quyền ở Đông Đức là Sozialistische Einheitspartei Deutschlands (Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức, SED), được thành lập năm 1946 dựa trên việc hợp tác và thống nhất giữa Đảng Cộng sản Đức (KPD) và Đảng Dân chủ Xã hội Đức (SPD) (các chi bộ của SPD tại Đông Đức)
2 Christlich-Demokratische Union Deutschlands (Liên đoàn Dân chủ Thiên chúa giáo Đức, CDU), đã hợp nhất với CDU Tây Đức sau khi thống nhất
3 Demokratische Bauernpartei Deutschlands (Đảng Dân chủ Nông dân Đức, DBD) Đảng này đặc biệt quan trọng bởi vai trò của nông dân trong nền kinh tế Đảng đã sáp nhập với CDU của Tây Đức sau thống nhất
4 Liberal-Demokratische Partei Deutschlands (Đảng Dân chủ Tự do Đức, LDPD), sáp nhập với đảng FDP Tây Đức sau thống nhất
5 Nationaldemokratische Partei Deutschlands (Đảng Dân chủ Quốc gia Đức, NDPD), sáp nhập với đảng FDP Tây Đức sau thống nhất
12 Đảng Xã hội chủ nghĩa Thống nhất Đức, SED thực hiện quyền lãnh đạo của mình thông qua Liên minh thống nhất của các đảng chống phát xít Mặt trận Quốc gia Dân chủ Đức – một tổ chức mà tất cả các đảng chính trị ở CHDC Đức phải tham gia
Nhà nước CHDC Đức có mối liên hệ mật thiết với Liên Xô và các nước Xã hội Chủ nghĩa khác, ủng hộ các phong trào giải phóng dân tộc và chống lại chủ nghĩa Đế quốc CHDC Đức còn tham gia nghĩa vụ quốc tế tại Mozambique, Namibia, Angola…
- Về kinh tế: Nền kinh tế CHDC Đức là một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung cao độ, nằm trong hệ thống kế hoạch hóa kinh tế toàn Đông Âu với Liên
Xô và các quốc gia khác thuộc khối Warsawa Kinh tế CHDC Đức có thế mạnh về công nghiệp nhẹ và nông nghiệp; công nghiệp nặng của CHDC Đức mới bắt đầu được đầu tư từ đầu thập niên 1970 nhưng không mạnh bằng Liên Xô hay Tây Đức
Các hàng hóa ở Đông Đức được phân phối thông qua các Kaufhalle (Bách hóa Tổng hợp) của CHDC Đức Khác với Bách hỏa Tổng hợp ở Việt Nam, hàng hóa ở đây không phụ thuộc vào tem phiếu phân phối mà lưu thông như trong thị trường bình thường Các Kaufhalle của CHDC Đức thường thuộc quyền sở hữu của nhà nước thông qua Công ty Bán lẻ Công cộng Nhà nước (Handelsorganisation Kaufhalle) hoặc của Hợp tác xã Tiêu dùng (Mỗi Bách hóa là một Tài sản hợp tác của một nhóm các cá nhân) Vì có giá bán cố định thống nhất cho tất cả hàng hóa nên không có sự cạnh tranh về giá giữa các cửa hàng khác nhau
Những nhân tố tiền đề trước khi Việt Nam – CHDC Đức thiết lập quan hệ ngoại giao (1950-1954)
1.2.1 Lính Lê Dương Đức tại Đông Dương
Trong cuộc chiến tại Đông Dương, người Pháp có sử dụng rất nhiều những người lính Lê Dương gốc Đức ở trong vùng chiếm đóng của Pháp trên lãnh thổ Đức Các tù binh là cựu quân nhân SS Đức cũng bị người Pháp đưa sang Đông Dương để chiến đấu thay cho quân Pháp Chỉ tính riêng khu vực Điện Biên Phủ, đã có 8000 lính Đức chiến đấu trong biên chế lực lượng Lê Dương Pháp
Trong quá trình chiến đấu tại Đông Dương, những người lính Đức nhận ra họ cũng chỉ là công cụ chiến tranh của Thực dân Pháp, Đã có không ít những người lính Lê Dương gốc Đức đào ngũ và chạy về phía Việt Nam Những người Đức này đã trợ giúp rất nhiều về kỹ – chiến thuật cho Quân đội Nhân dân Việt Nam
Từ năm 1951 đến 1954, chính quyền Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã tạo điều kiện cho nhiều hàng binh Đức được hồi hương thông qua Liên Xô và Trung Quốc – lúc này Việt Nam và Đông Đức chưa thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức
1.2.2 Vai trò của Trung tá Erwin Borchers đối với cách mạng Việt Nam
Erwin Borchers, sinh năm 1906 ở Strasburg, là con trai của một sĩ quan Phổ
Ngay từ khi còn trẻ, ông là người lúc nào cũng "đam mê chính trị” và sau đó ông đã trở thành một nhà xã hội dân chủ học
Erwin Borchers đã gia nhập một nhóm chống đối ở Frankfurt, sau khi Hitler lên nắm quyền tại Đức vào năm 1933 Borchers đã in và rải truyền đơn cho nhóm này Chỉ thiếu chút nữa anh đã sa vào tay bọn mật thám Đức quốc xã Sau đó anh trốn sang Pháp và muốn phục vụ trong quân đội Pháp để chiến đấu
15 chống Hitler Tuy nhiên, nguyện vọng này của Borchers không được chấp nhận vì mẹ anh "đã phản bội nước Pháp" khi kết hôn với một sĩ quan Đức
Thay vì điều đó, khi chiến tranh bắt đầu, người ta tống anh vào một trại giam giống như những thanh niên Đức và Áo khác Người ta coi Erwin Borchers là một điệp viên tiềm tàng Người Pháp đã làm cho Borchers và các tù nhân khác hiểu rõ rằng việc gia nhập đội quân lính đánh thuê (Lê Dương) là con đường duy nhất để không phải ngồi sau hàng rào dây thép gai cho tới khi chiến tranh kết thúc
Ngày 16/9/1939, Erwin Borchers trở thành lính đánh thuê Tại Algeria, anh gặp Rudolf Schroeder - sinh viên khoa xã hội học trốn sang Pháp năm 1933 do bị tố giác sau khi trao cho giáo sư người Do Thái của mình một bó hoa
Sau đó, Borchers và Schroeder lên đường sang Đông Dương Ở Việt Trì, họ kết bạn với Đảng viên Cộng sản người Do Thái Ernst Frey, một người đến từ thủ đô Vienna của Áo và cũng đã chạy trốn sang Pháp vì sự truy bức của bọn quốc xã
Cả ba người bạn đều ghê sợ chủ nghĩa phân biệt chủng tộc của nhiều sĩ quan cấp trên, và nhìn chung họ ghê sợ cả phong cách chính trị - quân sự của đội quân đánh thuê Họ thành lập một nhóm cộng sản và bí mật liên lạc với Việt Minh Khi biết rõ việc Pháp có kế hoạch tái thực dân hóa Việt Nam, ba người đã quyết định chạy sang hàng ngũ bên kia
Những người nước ngoài tham gia Việt Minh không phải đều là "hàng binh", vì vậy để tránh gây ngộ nhận, mặc cảm, Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt tên chung cho họ là "người Việt Nam mới" Trong giai đoạn đầu chiến tranh khi lực lượng vũ trang Việt Minh còn non trẻ, gặp nhiều khó khăn, kinh nghiệm và kiến thức của những người "Việt Nam mới" đã có đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của Quân đội Nhân dân Việt Nam ,trong số đó có Erwin Borchers Erwin Borchers đã được phong quân hàm Trung Tá Quân đội Nhân dân Việt Nam Chủ
16 tịch Hồ Chí Minh đã đặt cho ông cái tên “Chiến Sĩ” khi trao cho ông một Huân chương ghi nhận công lao của ông đối với phong trào giải phóng Việt Nam
Erwin Borchers là một người có trí óc sắc sảo và tầm hiểu biết rộng Ông là một nhà trí thức, một tín đồ Tin lành mộ đạo và một người xã hội dân chủ chân chính, tin vào chủ nghĩa của mình, đã từng học văn học và ngôn ngữ Đức, văn học và ngôn ngữ Romania ở Đức và Pháp Trong hàng ngũ Việt Minh, ông phụ trách công tác tuyên truyền và đặc biệt quan tâm tới quan điểm đúng đắn của các tù binh nói chung và các hàng binh Đức nói riêng
Vào năm 1954 đã có khoảng 10.000 lính đánh thuê Đức tham chiến ở Đông Dương, phần lớn là những cựu binh SS (Lực lượng Cận vệ) trước kia, không việc làm, không trình độ Khác với các cựu binh Wehrmacht (Quân đội Đức), các cựu binh SS (Lực lượng Cận vệ) không có quyền công dân đầy đủ, bị coi như tội phạm chiến tranh và không có nhiều cơ hội tìm việc làm tại quê nhà Ngoài ra, còn một số lượng không nhỏ tù binh Đức do Pháp giam giữ bị ép đi làm lính Lê Dương để trả “Thuế máu” cho nước Pháp Tính đến năm 1953, đã có 5.000 lính Đức thiệt mạng Hàng trăm người Đức trẻ tuổi đã chạy sang hàng ngũ bên kia một số tự nguyện (một phần cũng do sự tuyên truyền của Erwin Borchers); một số vì muốn tránh số phận nghiệt ngã của tù binh chiến tranh Năm 1951, Frey và Schroeder đã rời Việt Nam, đi về châu Âu Erwin Borchers ở lại, lấy vợ và trở thành cha của 7 đứa trẻ Ông đã tích cực tham gia khi lực lượng Việt Minh phát triển từ một nhóm nhỏ du kích quân thành một quân đội hùng mạnh, có khả năng chiến đấu và dần dần đẩy quân Pháp ra khỏi những vị trí cuối cùng ở miền Bắc Việt Nam Cuối tháng 2/1954, Erwin Borchers cũng đến lòng chảo Điện Biên Phủ cùng đội tuyên truyền của ông Giữa những đợt tấn công, họ dùng loa phóng thanh kêu gọi các lính đánh thuê cũng như các đơn vị lính Bắc Phi hạ vũ khí
Ngày 7/5/1954, sau 56 ngày đêm chiến đấu ác liệt, cứ điểm cuối cùng của pháo đài Điện Biên Phủ đã thất thủ, Tướng Christan de Castries và toàn bộ sĩ
17 quan, binh lĩnh còn lại phải ra hàng Tổng cộng về phía Pháp có 6.000 người chết, hơn 10.000 người bị bắt làm tù binh, trong đó có hàng ngàn người Đức
Kháng chiến chống Pháp kết thúc, Trung tá Chiến Sĩ thuộc ban quân vận có thành tích trong tổng kết chiến dịch Điện Biên Phủ đã được chủ tịch Hồ Chí Minh trao tặng Huân chương chiến thắng hạng ba, cùng một món quà lưu niệm của Bác, một chiếc đồng hồ đeo tay có hình Hồ Chí Minh trên đó Ông nhận một vị trí trong Bộ Tuyên truyền và sau này làm việc cho Hãng thông tấn ADN của CHDC Đức cũ tại Hà Nội Năm 1965, Erwin Borchers cùng gia đình chuyển sang Đông Berlin Ông qua đời năm 1984
Erwin Borchers là một chiến sĩ quốc tế người đã tự nguyện tham gia và ủng hộ vào phong trào Cách mạng Việt Nam, đồng thời còn là cầu nối trong việc thiết lập mối quan hệ giữa 2 quốc gia Xã hội Chủ nghĩa anh em Việt Nam – CHDC Đức
1.2.3 Vũ khí do Đức hỗ trợ trong thời kì Kháng chiến chống Pháp
Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức thiết lập quan hệ ngoại giao và nhu cầu hợp tác, chính sách đối ngoại của hai nước (1955-1990)
Sau ngày hòa bình lập lại ở miền Bắc Việt Nam, các quốc gia Xã hội Chủ nghĩa mới bắt đầu thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Năm 1955, CHDC Đức đã đặt Đại Sứ Quán tại Hà Nội và tới năm 1980 thì đặt tiếp Lãnh Sự Quán tại Thành phố Hồ Chí Minh
Ngày 03/02/1955, CHDC Đức thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Dân chủ Đức là 2 quốc gia có hệ thống chính trị tương đồng, cùng là các nước Xã hội Chủ nghĩa, chống lại chủ nghĩa Đế quốc, cùng bị chia cắt do chiến tranh lạnh Việt Nam cần thêm một quốc gia đồng minh trong cuộc chiến với Đế quốc Mỹ cũng như hỗ trợ khôi phục kinh tế thời kì hậu chiến Còn CHDC Đức cũng cần có một đồng minh ở khu vực châu Á, làm gia tăng ảnh hưởng của khối
Xã hội Chủ nghĩa trên thế giới
Trải qua 35 năm, từ 1955 đến 1990, CHDC Đức và Việt Nam đã có những hợp tác vô cùng quan trọng về cả Chính trị, An ninh - Quốc phòng, Kinh tế, Y tế, Cơ sở hạ tầng, Giao lưu nhân dân
Tuy nước Đức đã thống nhất và chế độ XHCN ở Đông Đức cũng không còn, nhưng những di sản của mối quan hệ giữa những đồng chí anh em XHCN ngày đó vẫn còn cho tới ngày nay
Qua chương 1, nhóm tác giả đã dẫn dắt người đọc đi từng bước để tìm hiểu về bối cảnh lịch sử, tiến trình và những nhân tố tác động để hai nước Cộng hòa
Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ( Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trước đây ) và Cộng
19 hòa Dân chủ Đức thiết lập mối quan hệ ngoại giao, bắt đầu một mối quan hệ tuy ngắn ngủi nhưng mang rất nhiều ý nghĩa to lớn
QUAN HỆ VIỆT NAM – CỘNG HÒA DÂN CHỦ ĐỨC TRÊN CÁC LĨNH VỰC
Quan hệ Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức trên lĩnh vực chính trị - đối ngoại
2.1.1 Mối quan hệ giữa lãnh đạo Đảng và Nhà nước
Có lẽ không nhiều người được biết: Hồ Chí Minh và Chủ tịch CHDC Đức Wilhelm Pieck, kể từ khi hoạt động chung ở Quốc tế Cộng sản, đã là hai người bạn chiến đấu thân thiết của nhau
Chính tình bạn, tình anh em sâu sắc giữa Chủ tịch Hồ Chí Minh và lãnh tụ Wilhelm Pieck đã làm cho hai dân tộc Việt - Đức dù cách xa nhau hàng vạn dặm đã sớm hiểu biết nhau, đoàn kết gắn bó cùng nhau trong cuộc chiến đấu lâu dài vì lý tưởng chung Trải qua những năm tháng hoạt động sôi nổi đầy gian khổ, hai nhà cách mạng này đều trở thành chủ tịch đầu tiên của nhà nước công - nông CHDC Đức là một trong những nước đầu tiên công nhận nước Việt Nam DCCH
Dưới sự lãnh đạo của Chủ tịch Wilhelm Pieck, một phong trào đoàn kết ủng hộ Việt Nam đã được phát động và phát triển ngày càng sâu rộng từ những năm đầu nhân dân ta tiến hành cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp Phong trào đó đã ảnh hưởng mạnh mẽ đến cả những thanh niên Đức hồi đó đang cầm súng trong hàng ngũ lê dương của Pháp, họ đã chạy sang hàng ngũ những người yêu nước Việt Nam, không ít người trở thành cán bộ tin cậy của quân đội ta Thực hiện chỉ thị của Chủ tịch Wilhelm Pieck, nhiều cán bộ y tế, văn hóa, báo chí của Cộng hòa Dân chủ Đức đã sang giúp đỡ Việt Nam ngay sau ngày toàn thắng ở Điện Biên Phủ
Cũng chính thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck gửi thư cho Chủ tịch Hồ Chí Minh với nhã ý sẵn sàng đón nhận một số thanh niên và thiếu niên Việt Nam sang Đức học tập để sau này trở về góp phần xây dựng đất nước
Năm 1949, từ núi rừng Việt Bắc, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã gửi điện chúc mừng sự ra đời của nhà nước công - nông đầu tiên trên đất Đức Từ đó, hằng năm, cứ đến dịp kỷ niệm quốc khánh và sinh nhật hoặc nhân một sự kiện trọng đại nào đó, hai vị lãnh tụ lại gửi điện mừng cho nhau Một trong những bức thư đầy xúc động mà Chủ tịch Wilhelm Pieck đã gửi cho Chủ tịch Hồ Chí Minh là nhân dịp kỷ niệm lần thứ 70 ngày sinh của người Bức thư có đoạn viết:
"Người bạn và người đồng chí thân yêu Hồ Chí Minh của tôi! Trong ngày vẻ vang hôm nay, những ý nghĩ của tôi đều hướng về đồng chí, nhà lãnh đạo trung thành, đầy hy sinh, bất khuất của tất cả những người lao động Việt Nam… Tôi vẫn lấy làm thích thú mỗi lần nhớ lại các cuộc tiếp xúc trước đây của chúng ta, những cuộc tiếp xúc bao giờ cũng được đánh dấu bằng tình hữu nghị sâu sắc của nhân dân hai nước chúng ta, bằng cuộc đấu tranh nhằm gìn giữ và củng cố hòa bình và bằng việc cải thiện sinh hoạt của nhân dân lao động hai nước chúng ta" [Theo tại liệu do bà Winter Pieck – thư kí riêng, con gái của chủ tịch Wilhelm Pieck công bố]
Mùa hè năm 1957, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đi thăm hữu nghị chính thức các nước anh em, riêng ở Đông Đức là từ 25/7 đến 1/8 Ở thời điểm đó, Chủ tịch Wilhelm Pieck mệt nặng, nên Chủ tịch Hồ Chí Minh rất lo lắng cho sức khỏe của Chủ tịch Cho nên, việc đầu tiên sau khi đặt chân tới Berlin là Người đến tận nhà riêng ở Pankow để thăm "người anh yêu quý" của mình Dự buổi nói chuyện đó có Thủ tướng Chính phủ Otto Grotewohl, Bí thư Thứ nhất Trung ương Đảng Walter Ulbricht và một vài Cán bộ cao cấp nữa Cuộc gặp gỡ thân tình này chỉ kéo dài độ 30 phút và cũng không ngờ là cuộc gặp gỡ cuối cùng của hai vị lãnh tụ
Tháng 09/1960, giữa lúc Đảng Lao động đang tiến hành Đại hội III, Chủ tịch Hồ Chí Minh được tin Chủ tịch Wilhelm Pieck qua đời Người rất đau buồn, đã đến viếng Chủ tịch tại Đại sứ quán CHDC Đức ở Hà Nội và nhờ Giáo sư Kurt Hager, Trưởng đoàn đại biểu Đảng Xã hội Chủ nghĩa thống nhất Đức (SED) sang dự Đại hội Đảng ta, chuyển lời chia buồn sâu sắc tới toàn Đảng, toàn dân CHDC Đức và gia quyến Chủ tịch Wilhelm Pieck
Chuyến thăm của Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1957 là một trong hai chuyến thăm chính thức của lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam sang CHDC Đức Chuyên đi sau đó là chuyến thăm ngày 16/10/1975 của đồng chí Lê Duẩn - Bí thư Thứ nhất Ban chấp hành Trung ương Đảng Lao động Việt Nam Trong chuyến thăm này, đồng chí Lê Duẩn và người đồng cấp Honecker đã có cuộc hội đàm và cam kết của CHDC Đức trong việc giúp đỡ Việt Nam sau chiến tranh về khôi phục và phát triển kinh tế, tăng cường hợp tác về khoa học công nghệ, y tế và cơ sở hạ tầng
Sau đó, tuy không có chuyến thăm giữa lãnh đạo hai nước nữa nhưng lãnh đạo Đảng và Nhà nước Việt Nam và CHDC Đức cũng có những chương trình làm việc song phương tại Moskva theo lời mời tham dự Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XV, XVI, XVII (1976, 1981, 1986)
2.1.2 Cộng đồng người Việt Nam ở Moritzburg, CHDC Đức
Cộng đồng Moritzburg hay còn được gọi là Moritzburger là tên gọi khoảng
350 người Việt tại thị trấn Moritzburg, gần thành phố Dresden, Đông Đức Họ tới đây bằng đường xe lửa kéo dài 3 tuần qua Bắc Kinh, Moskva, Warszawa vào năm 1955 theo thỏa thuận giữa Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và Cộng hòa Dân chủ Đức Đây là những thiếu niên Việt Nam tuổi từ 9 đến 15 Họ đã ở lại tới
1959 Khoảng 150 người Moritzburger sau đó lại sang DDR học nghề rồi học đại học Cũng chính từ ngôi trường Moritzburg, nhiều thế hệ học sinh Việt Nam đã học tập, trưởng thành và trở về xây dựng quê hương đất nước, như lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn
23 Đây chính là thế hệ những người Việt đầu tiên tới, làm việc, học tập và sinh sống tại nước Đức Xã hội Chủ nghĩa, là một trong những cầu nối đầu tiên xây đắp mối quan hệ Việt Nam - Cộng hòa Dân chủ Đức
2.1.3 Sự ủng hộ của CHDC Đức về mặt ngoại giao với Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong chiến tranh
Trong suốt nhiều năm chiến tranh, từ cuộc kháng chiến chống Pháp, chống
Mỹ, cho tới 2 cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc và Tây Nam, các nước Xã hộ Chủ nghĩa Đông Âu – trong đó có CHDC Đức vẫn luôn ủng hộ cho cuộc chiến tranh chính nghĩa của nhân dân ta Không chỉ viện trợ của cái vật chất, cơ sở hạ tầng kĩ thuật cho tới đào tạo, phát triển nguồn nhân lực; trên trường quốc tế, CHDC Đức vẫn luôn luôn ủng hộ Việt Nam về mặt ngoại giao – chính trị
Tại Cộng hòa Dân chủ Đức, đã có nhiều cuộc tuần hành, mít tinh lớn của nhân dân lao động; các phong trào văn nghệ quần chúng, các chương trình nghệ thuật lớn… ủng hộ nhân dân Việt Nam trong cuộc chiến tranh Vệ quốc của mình, ví dụ như các phong trào của công nhân xe lửa Berlin, của các nghệ sĩ Đức như nhóm Oktoberklub…
Quan hệ Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức trên lĩnh vực quân sự, an
2.2.1 Trên lĩnh vực quân sự
Trong chiến tranh, CHDC Đức đã có nhiều viện trợ vũ khí cho Việt Nam cũng như cử các đoàn chuyên gia, cố vấn tới giúp nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa
Trong cuộc kháng chiến chống Pháp, sự giúp đỡ này còn rất hạn chế do nhà nước CHDC Đức mới được thành lập năm 1949, công tác phục hồi đất nước sau chiến tranh còn Chiến tranh Thế giới lần thứ II vẫn đang còn dở dang, các thế lực phản động chống phá gây ra cuộc Đại bạo loạn Berlin 1953, nền kinh tế và hệ thống chính trị vẫn còn phải dựa nhiều vào Liên Xô Số vũ khí được viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa từ các kho của Đông Đức chủ yếu là vũ khi cá nhân hạng nhẹ do Đức Quốc xã sản xuất, được Liên Xô vận chuyển tới Trung Quốc và Trung Quốc vận chuyển tới căn cứ địa Việt Bắc của Chính phủ Kháng chiến Hồ Chí Minh Đến giai đoạn kháng chiến chống Mỹ, các loại mặt hàng viện trợ của CHDC Đức gửi tới Việt Nam đã đa dạng hơn và hiện đại hơn Lúc này, CHDC Đức đang tiến hành thay đổi toàn bộ vũ khí theo chuẩn Liên Xô nên các loại súng, pháo theo cỡ cũ của Đức được gửi đi viện trợ với số lượng lớn hơn; đồng thời ở Trung Quốc cũng đang diễn ra công cuộc tương tự Trung Quốc trước đây cũng sử dụng cỡ đạn tiêu chuẩn của Đức là 7,92x57mm nay chuyển sang sử dụng đạn Liên Xô là 7,62x39mm và 7,62x54mm nên cũng viện trợ lượng đạn dược lớn cho Việt Nam cùng với các loại súng, pháo do Đông Đức chuyển giao lại như súng trường Karabiner 98K, súng tiểu liên MP-38, MP-40, súng máy MG34, pháo PaK40 75mm, pháo FlaK36 88mm, pháo hạng nặng sFH18 150mm… Tới cuối thập niên 60 của Thế kỷ XX, Đông Đức lại viện trợ vũ khí
25 cho Việt Nam, lần này là những mẫu vũ khí được Đông Đức sản xuất theo bản thiết kế của Liên Xô như súng tiểu liên MPi-K, MPi-KM… Các loại súng Đức được đánh giá bền bỉ, chất lượng và độ tin cậy rất cao trên chiến trường Ngoài vũ khí đạn dược, Đông Đức còn viện trợ cho Việt Nam nhiều lọai trang thiết bị thông tin liên lạc, thiết bị điện tử, xe vận tải, mũ sắt… Đặc biệt, mũ sắt Stahlhelm M56 của CHDC Đức được các chiến sĩ lái xe Trường Sơn sử dụng là loại mũ sắt tốt nhất trên chiến trường Việt Nam, là loại mũ duy nhất chống được đạn 9mm bắn trực diện, vượt trội hơn mũ M1 của Mỹ, SSh-40, SSh-60 của Liên
2.2.2 Trên lĩnh vực an ninh
Trong chiến tranh Việt Nam, Mỹ và Việt Nam Cộng hòa đã có rất nhiều chiến dịch tình báo điện tử, chống lại Việt Nam Dân chủ Cộng hòa Là một quốc gia có ngành An ninh nổi tiếng nhất Đông Âu, Cộng hòa Dân chủ Đức đã giúp đỡ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trong sự nghiệp bảo vệ an ninh, đặc biệt phản gián thông tin – điện tử
Sự hợp tác an ninh Việt – Đức đã được hai bộ trưởng, hai con người huyền thoại của ngành an ninh mỗi nước bắt đầu: Bộ trưởng Bộ Công an Việt Nam Trần Quốc Hoàn và Bộ trưởng Bộ An ninh Quốc gia Đức Erich Mielke
Cộng hòa Dân chủ Đức đã giúp đỡ ngành an ninh Việt Nam về việc phát triển cơ sở hạ tầng kĩ thuật trinh sát điện tử và chống phản gián Thiếu tướng Nguyễn Minh Tiến và Đại tá Châu Diệu Ái là những người đầu tiên được Việt Nam cử sang Potsdam nghiên cứu, học tập và chuyển giao công nghệ từ phía CHDC Đức Các trang thiết bị của CHDC Đức cung cấp cho Việt Nam giúp cho an ninh Việt Nam phá sóng liên lạc của các lực lượng biệt kích Mỹ nhảy xuống miền Bắc cũng như hỗ trợ cho các chiến sĩ tình báo vô tuyến tại miền Nam có thể chặn sóng, nghe lén các cuộc hội đàm của quan chức và tướng lĩnh chính quyền Sài Gòn
Sau này, khi đất nước lập lại hòa bình, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ, các đoàn cán bộ Công an Nhân dân Việt Nam vẫn tiếp tục được cử đi học tại Trường
An ninh CHDC Đức Potsdam – trường này được ẩn danh với tên dân sự
“Trường Đại học Luật Khoa”
Khi Đông – Tây Đức thống nhất, Bộ An ninh Quốc gia CHDC Đức cũ bị chính quyền mới đấu tố và quy kết như một tổ chức tội phạm chống lại CHLB Đức Danh tính các cán bộ của Việt Nam được cử đi đào tạo tại Trường An ninh Potsdam cũng như các chương trình, lĩnh vực hợp tác cụ thể được cả Đức và Việt Nam giữ kín vì mục đích ngoại giao – chính trị giữa hai nước.
Quan hệ Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức trên lĩnh vực kinh tế -
2.3.1 Trên lĩnh vực kinh tế
Kể từ khi 2 nước thiết lập quan hệ ngoại giao, phía CHDC Đức đã có nhiều trợ giúp về mặt kinh tế cho phía Việt Nam Bên cạnh 2 đồng minh lớn là Liên
Xô và Trung Quốc, các nước xã hội chủ nghĩa bao gồm Tiệp Khắc, Ba Lan, Hungary, Bulgaria, România, CHDC Đức, CHDCND Triều Tiên và Cuba đã viện trợ cho Việt Nam Dân chủ Cộng hòa số lượng hàng hóa, trang thiết bị, tài chính rất lớn:
Tổng giá trị tài sản mà Việt Nam Dân chủ Cộng hòa đã nhận được trong giai đoạn 1970-1974 như sau:
(Theo số liệu của CIA giải mật năm 2005 – "Communist Military and Economic Aid to North Vietnam (Viện trợ quân sự và kinh tế của khối Cộng sản trong Chiến tranh Việt Nam)" Đây là những nguồn tài chính, cơ sở hạ tầng, nguyên vật liệu vô cùng quý giá trong việc phát triển kinh tế của Việt Nam ta trong giai đoạn khó khăn
Sau khi chiến tranh kết thúc, đất nước thống nhất, phía CHDC Đức cũng đã giúp chúng ta xây dựng nhiều cơ sở kinh tế cũng như cử nhiều chuyên gia, cố vấn tới giúp đỡ nước Việt Nam thống nhất
Một trong những di sản còn tới ngày nay chính là ngành cà phê của Việt Nam: Dân Đức vốn ưa chuộng cà phê Đó là thứ nước uống không chỉ có caffein đem đến sự sảng khoái cho mỗi ngày làm việc, mà hơn thế nó như một phần của cuộc sống, văn hóa Đức Việc đầu tiên của người Đức mỗi buổi sáng thức dậy là bật máy pha cà phê Khổ nỗi do khí hậu và thổ nhưỡng, Đức không trồng được cà phê mà hoàn toàn phải nhập khẩu từ nước ngoài Đối với Cộng hòa Liên bang
28 Đức, đó là chuyện nhỏ vì với đồng tiền DM (D-Mác) cực mạnh họ có thể nhập cà phê nguyên liệu từ Brazil hay từ bất kỳ một nước nào ở Nam Mỹ hay Châu Á rồi rang tẩm ở Tây Đức, đóng nhãn mác của những thương hiệu lớn như Jacobs, Miletta, Tchibo… Còn đối với Cộng hòa Dân chủ Đức thì lại không hề đơn giản do hạn chế nguồn ngoại tệ mạnh như USD hay DM Ban đầu họ cũng cố gắng dành chút ngoại tệ để nhập cà phê từ Nam Mỹ, nhưng rồi đến đầu những năm 80 của thế kỷ XX, nguồn ngoại tệ mạnh có phần khan hiếm, các cửa hàng siêu thị ở Đông Berlin và các thành phố Đông Đức cà phê cứ ít dần và nhiều lúc không có để bán Người tiêu dùng đòi hỏi, Chính phủ yêu cầu phải có giải pháp Trong Chính phủ CHDC Đức khi đó được tư vấn đến Việt Nam, vốn trước là thuộc địa của Pháp và nghe nói người Pháp cũng đã từng trồng cà phê phục vụ nhu cầu của họ ở xứ Đông Dương Và thế là một cuộc khảo sát và Thỏa thuận giữa Chính phủ Việt Nam và Chính phủ CHDC Đức được ký kết ngày 28/10/1980 Theo đó, phía CHDC Đức sẽ dành cho Việt Nam khoản tín dụng tương đương
32 triệu Ruble chuyển đổi để phát triển các nông trường cà phê tại Buôn Ma Thuột Đổi lại, đến năm 1991, Việt Nam sẽ thanh toán khoản vay bằng bằng cà phê Ở thành phố Halle, người ta cũng xúc tiến xây dựng một nhà máy liên hợp cà phờ - VEB Kaffee Halle Kỹ sư Kaulfuò được cử sang Việt Nam làm trưởng đoàn chuyên gia để cùng với các bạn Việt Nam xây dựng những viên gạch đầu tiên cho ngành cà phê Việt Nam Đó là vào năm 1980 Việt Nam mới ra khỏi chiến tranh được 5 năm, lại bị cấm vận kinh tế nên nơi nơi cuộc sống còn cực kỳ khó khăn
Khi đó, ở Tây Nguyên, vật liệu nổ còn sót lại sau chiến tranh còn rất nhiều, cuộc sống thiờ́u thốn khó khăn Sigfried Kaulfuò đó cựng đụ̀ng nghiệp người Việt và người dân Tây Nguyên khai phá những nông trường cà phê đầu tiên tại đây Dù hoàn cảnh cực kỳ khó khăn như thế, nhưng người bạn Đức và Việt Nam luụn lạc quan, chăm chỉ Từ đó đờ́n sau này, tổng cộng Sigfried Kaulfuò đó sang Việt Nam hơn 50 lần Năm 1990, đáng lẽ những tải cà phê nguyên liệu đầu tiên từ Việt Nam sẽ được chuyển đến Halle, nhưng khi đó Nhà nước CHDC Đức đã
29 không còn tồn tại nữa Cũng vì thế mà những hạt cà phê Việt Nam không bao giờ đến được nơi mà nó cần phải đến theo thỏa thuận 10 năm trước đó Nước Đức thống nhất năm 1990 không hề biết về cà phê Việt Nam và cũng không muốn nhập cà phờ từ Việt Nam Thờ́ là, Kaulfuò và những người bạn Đức tõm huyết với Việt Nam lại tìm thị trường cho những sản phẩm cà phê nguyên liệu này Nếu không có những cố gắng không mệt mỏi đó của ông thì không biết chúng ta làm gì với những hạt cà phê được trồng theo thỏa thuận giữa chính phủ
Và, những cố gắng tìm đường ra cho hạt cà phê khi ấy đã lát nên con đường để Việt Nam trở thành nhà xuất khẩu thứ hai trên thế giới và đứng đầu trong các nhà nhập khẩu cà phê vào Đức ngày hôm nay
2.3.2 Trên lĩnh vực khoa học – công nghệ
Ngay từ khi thiết lập quan hệ ngoại giao, chủ tịch Hồ chí Minh và chủ tịch Wilhelm Pieck đã có những hợp tác chuyển giao công nghệ từ Đức cho Việt Nam CHDC Đức là một nước công nghiệp hiện đại trong khối các nước Xã hội Chủ nghĩa
Trong giai đoạn Xây dựng Chủ nghĩa Xã hội ở miền Bắc Việt Nam cuối thập niên 50, đầu thập niên 60, CHDC Đức đã giúp đỡ Việt Nam xây dựng các công trình cơ bản, chuyển giao một phần công nghệ luyện kím, chế tạo máy, cơ khí… Đồng thời phía Đông Đức cũng đã giúp ta xây dựng các cơ sở vật chất về ngành dệt may Tuy vậy, những công sức xây dựng cơ sở vật chất và công nghệ này đã bị hủy diệt gần như hoàn toàn bởi bom đạn Hoa Kỳ trong các cuộc chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ
Sau ngày đất nước thống nhất, CHDC Đức lại giúp đỡ chúng ta lại từ đầu về công nghệ khai khoáng, luyện kím, chế tạo máy, cơ khí, vô tuyến điện tử, dệt may, và một số ngành công nghiệp nhẹ khác Tuy vậy, do cơ chế quản lý yếu kém, tư duy quan liêu bao cấp trì trệ và sự khủng hoảng và sụp đổ của nước bạn mà những cơ sở vật chất đã bị bỏ lãng phí, tụt hậu và khả năng sử dụng không
30 còn được cao như thiết kế ban đầu (ví dụ: Công nghệ luyện kim được CHDC Đức chuyển giao một phần tại Tổ hợp Gang thép Thái Nguyên)
Trên lĩnh vực văn hoá – giáo dục – y tế – cơ sở hạ tầng
- Giao lưu, hợp tác về văn hóa:
Hai nước Việt Nam và CHDC Đức trước đây thường xuyên có những chương trình hợp tác, giao lưu văn hóa Đội thiờ́u niờn Ersnt Thọlmann và Đoàn Thanh niờn Tự do Đức FDJ thường xuyên tổ chức hội trại thanh thiếu niên Quốc tế giữa các nước Xã hội Chủ nghĩa; Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh và Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh cũng tham gia các chương trình giao lưu hàng năm này tại Đức
Về phim ảnh, các bộ phim Việt Nam cũng thường được gửi tham gia Liên hoan phim Berlin hàng năm ở Đức Mặt khác, những bộ phim kinh điểm của Đông Đức cũng đã trở nên vô cùng nổi tiếng ở Việt Nam, đặc biệt trong thập niên 80: Hồ Sơ Thần Chết, Mặt Trận Không Khoan Nhượng, Những Đứa Con Của Gấu Mẹ Vĩ Đại… Ngành điện ảnh, nhiếp ảnh Đức cũng đã viện trợ cho Việt Nam nhiều máy quay phim, chụp ảnh của Praktica, VEB Carl-Zeiss Jena… để phục vụ cho nền điện ảnh và nhiếp ảnh nước nhà
Chủ đề Việt Nam cũng là một chủ đề nổi bật trong nền âm nhạc của CHDC Đức Những bài hát ca ngợi chủ tịch Hồ Chí Minh, Quân đội Nhân dân Việt Nam cũng một thời rất nổi tiếng ở Đức: Bài ca Hồ Chí Minh, Sài Gòn tự do, Bài ca Chiến thắng, Pháo binh Việt Nam…
- Hợp tác về giáo dục, đào tạo:
Cộng hòa Dân chủ Đức đã giúp đỡ Việt Nam xây dựng cơ sở vật chất, trang thiết bị nhiều cơ sở dạy học như Trường Trung học phổ thông Việt – Đức (Hà Nội), Trường THPT Ersnt Thọlmann và Trường Kỹ thuật Wilhelm Pieck (Thành phố Hồ Chí Minh)
Rất nhiều học sinh, sinh viên được cử đi học tại những cơ sở giáo dục tại CHDC Đức như Berlin, Leipzig, Potsdam… rất nhiều người trong số họ trở về quê hương và có những đóng góp không nhỏ trong việc xây dựng và phát triển đất nước
Sau ngày tiếp quản Thủ đô, ta tiếp nhận lại từ Pháp một nhà thương Phủ Doãn trống không, chẳng còn lại mấy cơ sở vật chất Nước bạn CHDC Đức đã viện trợ cho ta cơ sở vật chất, trang thiết bị, hỗ trợ đào tạo cán bộ y tế để biến một nhà thương Phủ Doãn hoang tàn trở thành Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức nổi tiếng cả trong và ngoài nước Cho tới tận ngày nay, Bệnh viện Hữu nghị Việt – Đức vẫn là một bệnh viện đầu ngành của cả nước; có trang thiết bị hiện đại và đội ngũ y bác sĩ hàng đầu cả nước
Trường Đại học Y khoa Ernst Moritz Arndt Universitọt tại Cộng hũa Dõn chủ Đức cũng đã tiến hành đào tạo nhiều thế hệ cán bộ y bác sỹ ngành quân y cho Việt Nam Đây là trường y khoa nổi tiếng tại CHDC Đức, chuyên đào tạo cán bộ, y bác sỹ ngành quân y cho Quân đội Nhân dân Quốc gia Đức và các nước Xã hội chủ nghĩa Anh em
- Viện trợ của CHDC Đức về cơ sở hạ tầng
Cộng hòa Dân chủ Đức cũng đã giúp đỡ Việt Nam xây dựng nhiều cơ sở hạ tầng như bệnh viện, trường học như Bệnh viên Việt – Đức, Trường Trung học phổ thông Việt – Đức (Hà Nội), Trường Trung học phổ thông Ersnt Thọlmann và Trường Kỹ thuật Wilhelm Pieck (Thành phố Hụ̀ Chớ Minh)… Ngoài ra Đông Đức cũng đã từng giúp chúng ta xây dựng khu tập thể Quang Trung tại Vinh, Nghệ An bao gồm 21 khối nhà 5 tầng với 1556 căn hộ Đây cũng là một trong nhưng nơi đầu tiên ở Vinh được sử dụng nước máy do nước bạn hỗ trợ
Quan hệ Việt Nam – Cộng hòa Dân chủ Đức trên lĩnh vực hợp tác lao động Xã hội Chủ nghĩa
Từ cuối những năm 1970, CHDC Đức cần rất nhiều lao động Họ mời những người trẻ tuổi đến từ Mozambique, Angola, Cuba, Ba Lan và Việt Nam sang CHDC Đức học để trở thành công nhân lành nghề, rồi sau đó trở thành lực lượng lao động ở đây
Một số lượng lớn người Việt trẻ tuổi đã nghe theo tiếng gọi này Từ một đất nước Việt Nam bị tàn phá nặng nề, ai mà được gọi đi học và sau đó có việc làm ở CHDC Đức thì rất tuyệt vời, một đặc ân
Những người Việt trẻ tuổi này thường là những nhân vật chính nuôi cả một gia đình lớn ở quê hương Ở Việt Nam hồi đó thiếu đủ thứ, được một suất đi học đại học hay học nghề là một điều hiếm hoi Nước họ phải trả nợ, kể cả trả cho CHDC Đức đã giúp miền Bắc Việt Nam rất nhiều tiền của trong cuộc kháng chiến chống Mỹ Đến năm 1989, người Việt Nam là nhóm công nhân đông nhất ở CHDC Đức so với các nhóm công nhân hợp tác khác Chủ yếu họ làm việc trong ngành công nghiệp nhẹ Thời kỳ cuối, số lượng này lên tới 7 vạn người Con số này vượt quá kế hoạch mà chính phủ CHDC Đức dự kiến lúc ban đầu Dần dần lực lượng lao động làm việc không cần có chứng chỉ học nghề, còn tiếng Đức chỉ được dạy trong những khóa cấp tốc Là lực lượng lao động chăm chỉ và đáng tin, công nhân hợp tác lao động Việt Nam đã trở thành lực lượng lao động không thể bỏ qua
Số lượng người lao động Việt Nam tăng lên kéo theo những vấn đề phức tạp như chỗ ăn, ở Trong thời gian làm việc, công nhân hợp tác được chăm lo chu đáo về tất cả các mặt Cần giao dịch đã có phiên dịch, có người phụ trách chăm sóc và đội ngũ bảo vệ đảm bảo định mức lao động và nghiêm chỉnh thực hiện giờ làm việc Trong cuộc sống riêng, kỷ luật của Việt Nam rất nghiêm Nếu một phụ nữ Việt có bầu thì hoặc phải bỏ thai, hoặc phải về nước.Trong thời hạn
33 thường là 5 năm ở CHDC Đức, mục đích duy nhất của những người hợp tác lao động Việt Nam là làm việc và kiếm tiền để giúp gia đình họ ở nhà Họ phát hiện ra một trong những khe hở trong việc cung cấp hàng hóa cho dân Đức Là những người thợ may khéo tay, họ may đồ Jeans đang rất mốt và thịnh hành Việc làm ăn không hợp pháp này lại tiến triển tốt Và như vậy nó chính là mối quan hệ giữa công dân CHDC Đức và công nhân hợp tác Việt Nam Cả hai bên đều rất hài lòng Tuy nhiên, giữa người lao động Việt Nam và người Đức cũng có những mâu thuẫn, đó là việc mua hàng của người Việt trong hoàn cảnh ở CHDC Đức đang rất thiếu hàng
Công nhân hợp tác Việt Nam sau khi hết hạn được phép mang về hai xe máy và năm xe đạp miễn thuế, đó là những “đồ xa xỉ” rất được ưa chuộng trên quê hương họ Ngoài ra còn được phép mang thêm hai máy khâu, 150 mét vải và 100 kg đường Giá trị tài sản của họ trong thời gian ở đây được đóng thùng, nhưng thể tích không được quá 2m 3 và khối lượng không được quá một tấn Khi trở về, mỗi người chỉ được phép đóng một thùng gỗ chứa hàng phù hợp với quy định Ngoài ra hàng tháng họ được phép gửi một thùng hàng về Việt Nam
Không bao lâu sau, bức tường sụp đổ Hiệp định chính phủ không còn giá trị nữa, nền kinh tế của CHDC Đức sụp đổ, hàng nghìn người Việt đứng trước cảnh bị sa thải Phần đông đã nhận tiền bồi thường để về nước, nhưng một bộ phận vẫn còn ở lại, bươn chải kiếm sống, nhiều người đã hành nghề tự lập, ổn định cuộc sống, sinh con để cái và con cái họ học tốt ở các trường và cộng đồng người Việt đã trở thành một cộng đồng được coi là hội nhập tốt vào xã hội Đức
Số liệu thống kê của Cục quản lý Lao động ngoài nước, Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội Việt Nam công bố như sau:
Số lao động Việt Nam tại các nước và theo ngành nghề
Thu nhập bình quân hàng tháng của công nhân
35 Đóng góp ngân sách nhà nước bình quân của mỗi lao động Việt Nam tại nước ngoài
Số lao động Việt Nam tại Công hòa Dân chử Đức lớn thứ 2 trong số các nước tiếp nhận lao động Việt Nam tại Đông Âu, chỉ sau số Liên Xô Lĩnh vực chính mà các lao động Việt Nam làm việc tại Đông Đức là công nghiệp, đặc biệt là các nhà máy ô tô như IFA, Trabant, Wartburg; các nhà máy dệt vải sợi (CHDC Đức cung cấp vải may mặc, quân nhu cho cả Liên Xô, Tiệp Khắc và Ba Lan)
Nguồn thu ngoại tệ từ các lao động hợp tác là một nguồn dữ trự quốc gia quan trọng của Việt Nam trong giai đoạn khó khăn và chịu nhiều kệnh cấm vận, phong tỏa từ các nước đế quốc
Những lao động hợp tác Việt Nam tại các nước Xã hội Chủ nghĩa, đặc biệt là CHDC Đức đã có những đóng góp không nhỏ trong việc phát triển kinh tế đất nước, thu ngân sách nhà nước và nâng cao tinh thần hợp tác quốc tế
Qua chương 2, chúng ta có thể rằng tuy mối quan hệ này ngắn ngủi nhưng những sự giúp đỡ của Cộng hòa Dân chủ Đức đối với Việt Nam là rất to lớn, liên quan đến tất cả mọi mặt của đời sống quốc gia Tình cảm của nhân dân hai nước đã được vun đắp từ cấp lãnh đạo cao nhất của hai đất nước Từ đó những sự viện trợ quân sự, kinh tế, hỗ trợ về an ninh, xây dựng cơ sở hạ tầng, và hợp
36 tác lao động được triển khai một cách tối đa và tốt nhất Chúng ta không thể nào được phép quên đi những điều mà Cộng hòa Dân chủ Đức đã giúp đỡ Việt Nam, chúng ta phải luôn nhớ rằng, khi chúng ta đói khổ, thiếu thốn thì đã có những người anh em đã dang rộng vòng tay ra giúp đỡ hỗ trợ chúng ta hết mình