1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng

204 12 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 204
Dung lượng 3,84 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (26)
    • 1.1. LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (15)
    • 1.2. MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU (18)
    • 1.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU (19)
      • 1.3.1. Đối tượng nghiên cứu (19)
      • 1.3.2. Phạm vi nghiên cứu (19)
        • 1.3.2.1. Phạm vi về không gian (19)
        • 1.3.2.2. Phạm vi về thời gian (20)
        • 1.3.2.3. Phạm vi về nội dung (22)
    • 1.4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU (23)
    • 1.5. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI (25)
    • 1.6. KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU (26)
  • CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG (26)
    • 2.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN (28)
      • 2.1.1. Khái niệm của tài chính toàn diện (28)
      • 2.1.2. Vai trò và ý nghĩa của tài chính toàn diện (31)
        • 2.1.2.1. Tài chính toàn diện và sự ổn định tài chính (31)
        • 2.1.2.2. Tài chính toàn diện và tăng trưởng kinh tế (32)
        • 2.1.2.3. Tài chính toàn diện và phát triển bền vững (34)
      • 2.1.3. Các chỉ số đo lường tài chính toàn diện (39)
        • 2.1.3.1. Các chỉ số riêng lẻ (39)
        • 2.1.3.2. Chỉ số tổng hợp về tài chính toàn diện (41)
    • 2.2. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG (48)
      • 2.2.1. Khái niệm về ổn định hệ thống tài chính (48)
      • 2.2.2. Khái niệm về ổn định hệ thống ngân hàng (50)
      • 2.2.3. Các chỉ số đo lường ổn định hệ thống ngân hàng (53)
        • 2.2.3.1. Chỉ số Zscore (53)
        • 2.2.3.2. Một số chỉ số đo lường khác (55)
      • 2.2.4. Một số nhân tố ảnh hưởng đến ổn định hệ thống ngân hàng (0)
        • 2.2.4.1. Các nhân tố bên trong (57)
        • 2.2.4.2. Các nhân tố bên ngoài (63)
    • 2.3. TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG (64)
      • 2.3.1. Tài chính toàn diện tác động tiêu cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (64)
      • 2.3.2. Tài chính toàn diện tác động tích cực đến ổn định hệ thống ngân hàng (65)
        • 2.3.2.1. Gia tăng tiền gửi bán lẻ ổn định (66)
        • 2.3.2.2. Mở rộng cho vay an toàn (68)
        • 2.3.2.3. Sự phát triển bền vững (70)
    • 2.4. LƯỢC KHẢO CÁC NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN VÀ KHOẢNG TRỐNG NGHIÊN CỨU (71)
      • 2.4.1. Lược khảo các nghiên cứu về tài chính toàn diện (0)
      • 2.4.2. Lược khảo các nghiên cứu về sự ổn định hệ thống ngân hàng (0)
      • 2.4.3. Lược khảo các nghiên cứu về tác động của tài chính toàn diện và ổn định hệ thống ngân hàng (0)
      • 2.4.4. Khoảng trống nghiên cứu (0)
  • CHƯƠNG 3: QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (26)
    • 3.1. QUY TRÌNH NGHIÊN CỨU (81)
    • 3.2. GIẢ THUYẾT (83)
    • 3.3. MÔ HÌNH, CÁC BIẾN VÀ DỮ LIỆU (84)
      • 3.3.1. Mô hình nghiên cứu (84)
      • 3.3.2. Các biến (85)
        • 3.3.2.1. Các biến đại diện của sự ổn định của ngân hàng (85)
        • 3.3.2.2. Các biến đại diện của tài chính toàn diện (86)
        • 3.3.2.3. Biến đại diện cho sự cạnh tranh của ngân hàng (87)
        • 3.3.2.4. Các biến kiểm soát khác (89)
        • 3.3.2.5. Lựa chọn biến công cụ (94)
      • 3.3.3. Nguồn dữ liệu (95)
    • 3.4. PHƯƠNG PHÁP ƯỚC LƯỢNG (95)
  • CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN (0)
    • 4.1. ĐÁNH GIÁ MỨC ĐỘ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN (99)
      • 4.1.1. Mức độ tài chính toàn diện ở các nước khu vực ASEAN (99)
        • 4.1.1.1. Khía cạnh thứ nhất: sự thâm nhập của ngân hàng (99)
        • 4.1.1.2. Khía cạnh thứ hai: tính sẵn có của các dịch vụ ngân hàng (102)
        • 4.1.1.3. Khía cạnh thứ ba: mức độ sử dụng các dịch vụ ngân hàng (105)
        • 4.1.1.4. Đánh giá mức độ tài chính toàn diện thông qua chỉ số tổng hợp IFI (111)
      • 4.1.2. Mức độ ổn định hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ASEAN (113)
    • 4.2. TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN (116)
      • 4.2.1. Thống kê mô tả và tương quan giữa các biến (0)
        • 4.2.1.1. Một số thống kê mô tả các biến trong mô hình (116)
        • 4.2.1.2. Ma trận tương quan giữa các biến trong mô hình (118)
        • 4.2.2.1. Tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng thông (121)
        • 4.2.2.2. Tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng thông (122)
      • 4.2.3. Thảo luận về tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng (0)
    • 4.3. TÁC ĐỘNG CỦA CÁC BIẾN KHÁC ĐẾN SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG TẠI CÁC QUỐC GIA ASEAN (129)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH (0)
    • 5.1. KẾT LUẬN NGHIÊN CỨU (134)
    • 5.2. CÁC HÀM Ý CHÍNH SÁCH (136)
      • 5.2.1. Tiếp tục thúc đẩy tiến trình tài chính toàn diện (136)
        • 5.2.1.1. Thúc đẩy tài chính toàn diện cần được triển khai trên cả ba khía cạnh (137)
        • 5.2.1.2. Gợi ý chiến lược thúc đẩy tiến trình triển tài chính toàn diện (138)
      • 5.2.2. Đảm bảo nền kinh tế tăng trưởng ổn định (0)
      • 5.2.3. Cải thiện các vấn đề nội tại của các ngân hàng ở khu vực ASEAN (0)
    • 5.3. HẠN CHẾ CỦA LUẬN ÁN VÀ HƯỚNG NGHIÊN CỨU TIẾP THEO (142)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (146)
  • PHỤ LỤC (166)

Nội dung

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

LÝ DO LỰA CHỌN ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Trong những năm gần đây, việc thúc đẩy tiếp cận tài chính đã trở thành ưu tiên hàng đầu ở nhiều quốc gia, nhấn mạnh tầm quan trọng của tài chính toàn diện Tài chính toàn diện có nghĩa là mọi thành phần trong nền kinh tế đều có thể tiếp cận và sử dụng các dịch vụ tài chính một cách hiệu quả Khái niệm này không chỉ được các quốc gia xem xét kỹ lưỡng mà còn thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trên toàn cầu.

Nhiều nghiên cứu quốc tế đã chỉ ra khái niệm và phương pháp đo lường tài chính toàn diện, như Iqbal và Sami (2017), Kalunda (2014), và Shankar (2013) Các tác giả cũng phân tích và cung cấp bằng chứng về vai trò tích cực của tài chính toàn diện đối với tăng trưởng kinh tế, cả ở mức vi mô (Dupas và Robinson, 2013a; Brune, Giné, Goldberg và Yang, 2011) và vĩ mô (Demirgỹỗ-Kunt, Honohan và Beck).

In the context of sustainable development, inclusive finance plays a crucial role in eradicating poverty and hunger, as highlighted by various studies (Banerjee & Newman, 1994; Beck et al., 2007; Ashraf et al., 2010; Burgess & Pande, 2005; Jack & Suri, 2014) Additionally, it contributes to reducing food insecurity and enhancing food security, as demonstrated by research conducted by Karlan et al (2014) and Cole et al.

Vickery, 2013; Janzen and Carter, 2013; Brune et al., 2011; v.v.); đạt được sức khoẻ và hạnh phúc (Krishna, 2006; Saksena, Xu and Evans, 2011; Frenk and Knaul, 2002; Klapper, El-

Zoghbi and Hess, 2016; PharmAccess, 2015; Dupas and Robinson, 2013b); tăng cường giáo dục có chất lượng (Thomas and Burnett, 2013; Prina, 2015; Chiapa, Prina and Parker, 2014;

Sau khủng hoảng kinh tế toàn cầu 2008, sự ổn định của hệ thống ngân hàng đã trở thành mối quan tâm hàng đầu của các nhà quản lý, vì nó đóng vai trò quan trọng trong việc giảm thiểu tác động tiêu cực đến kinh tế và xã hội (Ovi, Perera và Colombage, 2014; HKMA, 2017) Sự ổn định này không chỉ đảm bảo phân bổ tối ưu nguồn vốn (Jahn và Kick, 2012) mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho môi trường kinh doanh, bảo vệ khách hàng và duy trì hoạt động hiệu quả của nền kinh tế Hơn nữa, ổn định ngân hàng liên kết chặt chẽ với sự ổn định của hệ thống tài chính, điều này rất quan trọng cho việc ổn định giá cả và phát triển kinh tế bền vững (Segoviano và Goodhart, 2009; BOK, 2020; CBN, 2020) Tuy nhiên, vẫn còn nghi ngờ về vai trò của tài chính toàn diện trong việc duy trì sự ổn định ngân hàng, dẫn đến việc các ngân hàng ngần ngại mở rộng dịch vụ tài chính đến các phân khúc khó khăn (Leyshon và Thrift, 1995) Điều này có thể tạo ra sự đánh đổi giữa mục tiêu ổn định ngân hàng và thúc đẩy tài chính toàn diện (Acharya, Hasan và Saunders, 2006; Hannig và Jansen, 2010) Mặc dù vậy, một số nghiên cứu gần đây cho thấy tài chính toàn diện có thể có tác động tích cực đến sự ổn định ngân hàng, như việc khách hàng thu nhập thấp có tỷ lệ hoàn trả cao và việc giám sát rủi ro hiệu quả hơn (Hannig và Jansen, 2010) Tại cấp quốc gia, tài chính toàn diện cũng có thể nâng cao tính ổn định của trung gian tài chính thông qua việc gia tăng tiết kiệm nội địa, từ đó củng cố chu kỳ tiết kiệm và đầu tư (Prasad, 2010) Ahamed và Mallick (2019) cũng chỉ ra rằng tài chính toàn diện giúp ngân hàng có lượng tiền gửi cao hơn và giảm chi phí cung cấp dịch vụ, qua đó nâng cao sự ổn định của ngân hàng.

Trong các quốc gia ASEAN, tài chính toàn diện đã được chú trọng và có nhiều động thái tích cực (Rahman, 2015; World Bank, 2015) Các quốc gia này có thành tựu về ổn định chính trị và an ninh khu vực, đồng thời là những nền kinh tế đang phát triển tại Châu Á (Hong and Tang, 2010) Hệ thống tài chính chủ yếu dựa vào ngân hàng, vì vậy ngân hàng toàn diện cũng được xem là một phần của tài chính toàn diện (Sarma, 2008, 2012) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng các quốc gia ASEAN đang nỗ lực phát triển tài chính toàn diện qua nhiều cách thức khác nhau, như tìm kiếm thị trường tiềm năng cho công nghệ tài chính (Loo, 2019) và mở rộng khả năng tiếp cận tài chính cho người nghèo (Johnston và Morduch, 2008) Tuy nhiên, sự quan tâm đến ổn định hệ thống ngân hàng, đặc biệt sau khủng hoảng 2008, đặt ra câu hỏi liệu mục tiêu phát triển tài chính toàn diện có mâu thuẫn với sự ổn định ngân hàng hay không Hiện tại, vẫn chưa có nghiên cứu nào xác định tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định ngân hàng ở ASEAN, cho thấy cần bổ sung thêm nghiên cứu trong bối cảnh các ngân hàng đang tìm kiếm cơ hội mới từ hoạt động tài chính vi mô (Harper và Arora, 2005).

Hệ thống tài chính của các quốc gia ASEAN chủ yếu dựa vào ngân hàng, vì vậy việc nghiên cứu tài chính toàn diện từ góc độ ngân hàng là rất cần thiết Tìm hiểu tác động của việc thúc đẩy tài chính toàn diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia ASEAN hiện nay sẽ mang lại ý nghĩa quan trọng cho các nhà hoạch định chính sách.

Để hoàn thiện khoảng trống nghiên cứu, tác giả chọn đề tài “TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG” tại sáu quốc gia ASEAN (Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam) Đề tài nhằm làm rõ tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đặc biệt chú trọng vào vai trò của ngân hàng trong việc cung cấp dịch vụ tài chính cho hộ gia đình và doanh nghiệp Sự hiểu biết về mối liên kết này là quan trọng đối với quản lý và kinh tế vĩ mô Ngoài ra, dữ liệu cần thiết cho phân tích nghiên cứu được thu thập từ các ngân hàng, đảm bảo tính đầy đủ và cập nhật.

MỤC TIÊU VÀ CÂU HỎI NGHIÊN CỨU

Mục tiêu chính của luận án là nghiên cứu ảnh hưởng của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, từ đó đề xuất các chính sách liên quan để nâng cao sự ổn định ngân hàng tại các quốc gia trong khu vực ASEAN.

Trên cơ sở mục tiêu nghiên cứu tổng quát nói trên, các mục tiêu cụ thể được đặt ra như sau:

- Xác định được mô hình tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia ASEAN

- Xác định được mức độ tác động của tài chính diện đối với sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia khu vực ASEAN

Đề xuất các chính sách tài chính toàn diện nhằm nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia ASEAN là rất cần thiết Những chính sách này sẽ giúp cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho mọi tầng lớp dân cư, từ đó thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững Đồng thời, việc tăng cường giám sát và quản lý rủi ro trong ngành ngân hàng sẽ góp phần bảo vệ hệ thống tài chính khỏi những cú sốc bên ngoài Hơn nữa, khuyến khích sự hợp tác giữa các ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng sẽ tạo ra một môi trường tài chính đa dạng và linh hoạt hơn.

Câu hỏi nghiên cứu Để đạt được các mục tiêu nói trên, nghiên cứu cần giải quyết các câu hỏi sau:

Tài chính toàn diện đóng vai trò quan trọng trong việc đo lường và duy trì sự ổn định của hệ thống ngân hàng Để đánh giá tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định ngân hàng, có thể sử dụng các mô hình phân tích, trong đó các biến như khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính, chất lượng dịch vụ, và sự đa dạng hóa sản phẩm tài chính được lựa chọn làm đại diện Những kênh tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định hệ thống ngân hàng bao gồm việc tăng cường lòng tin của người tiêu dùng, giảm rủi ro tài chính, và thúc đẩy sự phát triển kinh tế bền vững.

Mức độ tài chính toàn diện và sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia ASEAN có mối liên hệ chặt chẽ Tài chính toàn diện không chỉ giúp nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ ngân hàng mà còn góp phần tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng trong khu vực Các quốc gia ASEAN đang nỗ lực cải thiện mức độ tài chính toàn diện, điều này có thể dẫn đến sự gia tăng độ tin cậy và bền vững của hệ thống ngân hàng, từ đó thúc đẩy phát triển kinh tế và giảm thiểu rủi ro tài chính.

Các chính sách tài chính toàn diện có thể đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ASEAN Những hàm ý chính sách này bao gồm việc thúc đẩy tiếp cận tài chính cho mọi tầng lớp dân cư, cải thiện cơ sở hạ tầng tài chính và tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính Bên cạnh đó, việc xây dựng khung pháp lý vững chắc và khuyến khích đổi mới sáng tạo trong lĩnh vực tài chính cũng là những yếu tố cần thiết để đảm bảo sự phát triển bền vững và giảm thiểu rủi ro cho hệ thống ngân hàng.

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Tác động của tài chính toàn diện đối với sự ổn định hệ thống ngân hàng ở các quốc gia trong khu vực ASEAN

Luận án nghiên cứu trong phạm vi 102 ngân hàng (xem phụ lục A1) ở sáu quốc gia ASEAN, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan, Việt Nam

Luận án lựa chọn nghiên cứu các quốc gia ASEAN do những thành tựu về ổn định chính trị và an ninh khu vực (Jetin và Mikic, 2016) Bên cạnh đó, các quốc gia này cũng được coi là có nền kinh tế đang phát triển mạnh mẽ trong khu vực Châu Á (Hong và Tang, 2010).

Tác giả chọn sáu quốc gia đại diện cho khu vực ASEAN, bao gồm Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam, để nghiên cứu hệ thống ngân hàng Những quốc gia này có hệ thống ngân hàng phát triển mạnh, chiếm hơn 90% tổng giá trị tài sản trong khu vực từ năm 2014 đến 2017, với tỷ lệ lên tới 97.23% vào năm 2017 (theo số liệu của World Bank, 2017a) Mặc dù chỉ tập trung vào sáu quốc gia, nhưng nghiên cứu vẫn có thể phản ánh tình hình chung của toàn bộ ASEAN trong lĩnh vực ngân hàng.

Sáu quốc gia này đều có hệ thống tài chính dựa vào ngân hàng, theo cấu trúc hoạt động Điều này được làm rõ thông qua các chỉ số được đề xuất bởi Demirgiiu-Kunt và Levine (1999).

Năm 2002, tác giả đã tiến hành đo lường và so sánh mức độ hoạt động của các ngân hàng với thị trường chứng khoán thông qua hai chỉ tiêu chính: tỷ lệ tín dụng tư nhân từ ngân hàng trên GDP và tỷ lệ tổng giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán so với GDP Kết quả được thể hiện trong bảng 1.1 dưới đây.

Bảng 1.1 Tỷ lệ giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán và tỷ lệ tín dụng ngân hàng so với GDP năm 2017 ĐVT:%

Quốc gia Tỷ lệ tín dụng Tỷ lệ giá trị giao dịch

Theo dữ liệu từ Global Financial Development (World Bank, 2017a), tất cả sáu quốc gia ASEAN đều có tỷ lệ tín dụng tư nhân do các ngân hàng cung cấp cao hơn so với tỷ lệ giá trị giao dịch trên thị trường chứng khoán Điều này chứng tỏ rằng hệ thống tài chính của các quốc gia này chủ yếu phụ thuộc vào hệ thống ngân hàng.

Nghiên cứu này nhằm tìm ra các gợi ý chính sách thúc đẩy tài chính toàn diện cho các quốc gia ASEAN, dựa trên đặc điểm chung của hệ thống tài chính ngân hàng tại khu vực Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về mối quan hệ giữa tài chính toàn diện và ổn định hệ thống ngân hàng, phần lớn đều sử dụng mẫu lớn từ các quốc gia khác nhau với các đặc điểm tài chính đa dạng, chưa có sự chú ý đặc biệt đến các quốc gia ASEAN để đưa ra những gợi ý chính sách phù hợp.

Về phạm vi thời gian, tác giả quyết định chọn thời gian từ năm 2008 đến nay, cụ thể là năm

Từ năm 2008 đến 2019, nền kinh tế ASEAN đã phục hồi mạnh mẽ sau khủng hoảng tài chính toàn cầu, trở thành động lực quan trọng cho sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu (Daboub, 2010) Sự ổn định tài chính, bao gồm cả hệ thống ngân hàng, đã thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu (Siddik và Kabiraj, 2018) Tài chính toàn diện trở thành ưu tiên chính sách tại hầu hết các quốc gia ASEAN, với các động thái cụ thể như Malaysia ban hành Đạo luật Ngân hàng Trung ương vào năm 2009 để phát triển hệ thống tài chính toàn diện (Rahman, 2015) Philippines cũng ghi nhận thành công trong lĩnh vực tài chính vi mô từ năm 2008, đưa quốc gia này vào nhóm dẫn đầu thế giới về khung pháp lý tài chính vi mô (Rahman, 2015) Tại Việt Nam, các quy định đầu tiên về tài chính toàn diện được thiết lập vào năm 2010, với nhiều văn bản pháp lý được ban hành sau đó (World Bank, 2015) Indonesia đã công bố chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện vào năm 2012, tập trung vào việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho mọi tầng lớp dân cư (Rahman, 2015) Thái Lan cũng triển khai kế hoạch tổng thể về tài chính giai đoạn 2010-2014, khuyến khích ngân hàng thương mại tiếp cận các phân khúc thu nhập thấp hơn (Tambunlertchai, 2015).

Bộ Tài chính Việt Nam, với sự hỗ trợ từ Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), đã thông qua Chiến lược quốc gia về hòa nhập tài chính nhằm phát triển tài chính vi mô và thúc đẩy tài chính toàn diện cho cá nhân và hộ gia đình.

Tại Singapore, tài chính toàn diện đã được chú trọng từ năm 2004 thông qua Đạo luật Bảo vệ Người tiêu dùng (Thương mại Công bằng) - CPFTA, nhằm đảm bảo quyền lợi và bảo vệ người tiêu dùng trong lĩnh vực tài chính.

Bộ Thương mại và Công nghiệp (MTI) cùng với Ngân hàng Trung ương (MAS) đã hợp tác để triển khai các dịch vụ tài chính toàn diện, nhằm bảo vệ người tiêu dùng thiếu chuyên môn hoặc nguồn tài chính trước các hành vi không công bằng.

2006) Sau khủng hoảng năm 2008, đạo luật này bắt đầu được sửa đổi và hoàn thiện vào năm

Từ năm 2009, tài chính toàn diện tại quốc gia này đã được đánh giá cao trong nhiều báo cáo và nghiên cứu qua các năm, nhờ vào định hướng sớm và sự phát triển bền vững Các tài liệu như ASEAN (2020), Banerjee và Donato (2021), Loo (2019), Trujillo, Sitorus và Aviles (2018), cùng UNCDF (2020) đều ghi nhận sự tiến bộ này.

1.3.2.3 Ph ạ m vi v ề n ộ i dung Đề tài nghiên cứu tài chính toàn diện và ổn định hệ thống ngân hàng, với các giới hạn về nội dung như sau:

(i) chỉ nghiên cứu tác động (một chiều) của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng;

(ii) về tài chính toàn diện, chỉ nghiên cứu về phía các ngân hàng (tức là các tổ chức tài chính cung cấp dịch vụ tài chính chính thức);

Tác giả nghiên cứu sự ổn định của hệ thống ngân hàng một cách riêng lẻ, nhận thấy rằng tài chính toàn diện đang được các quốc gia ASEAN thúc đẩy mạnh mẽ do ảnh hưởng tích cực của nó đến nhiều lĩnh vực Tuy nhiên, vẫn còn nghi ngờ về tác động thực sự của tài chính toàn diện đối với hệ thống ngân hàng, với ý kiến cho rằng nó có thể dẫn đến sự xuất hiện của những người đi vay có mức tín nhiệm thấp, gây mất ổn định Luận án tập trung phân tích tác động một chiều của tài chính toàn diện đến sự ổn định ngân hàng, với trọng tâm là ngân hàng như là kênh chính để điều chỉnh chính sách tài chính toàn diện Hệ thống tài chính của các quốc gia ASEAN chủ yếu dựa vào ngân hàng, do đó việc nghiên cứu tài chính toàn diện từ góc độ ngân hàng là cần thiết Cuối cùng, sự ổn định của hệ thống ngân hàng chỉ có thể đạt được khi từng ngân hàng trong hệ thống ổn định, vì rủi ro tài chính có thể lây lan từ ngân hàng này sang ngân hàng khác, dẫn đến sự bất ổn toàn hệ thống.

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU VÀ DỮ LIỆU

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu tổng quát, tác giả áp dụng kết hợp cả phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng.

Để giải quyết câu hỏi đầu tiên và xác định mô hình phù hợp, nghiên cứu đã áp dụng các phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh và khảo cứu các nghiên cứu trước có liên quan.

Để đánh giá tác động của tài chính diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng ở các quốc gia ASEAN, tác giả sử dụng các phương pháp như thống kê mô tả và mô hình hồi quy System Generalized Method of Moments (SGMM).

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích và tổng hợp để thảo luận các kết quả nghiên cứu định lượng, từ đó đề xuất các hàm ý chính sách nhằm tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng, đặc biệt chú trọng đến các hàm ý liên quan đến tài chính toàn diện.

Các bước nghiên cứu được thực hiện như sau:

Bước 1: Xác định vấn đề nghiên cứu (bao gồm tài chính toàn diện và sự ổn định của hệ thống ngân hàng)

Bước 2: Tóm tắt cơ sở lý thuyết và đề xuất mô hình nghiên cứu Tác giả tiến hành khảo sát các lý thuyết nền tảng và nghiên cứu thực nghiệm toàn cầu cũng như trong khu vực ASEAN liên quan đến vấn đề nghiên cứu.

Bước 3: Thu thập và xử lý dữ liệu nghiên cứu là giai đoạn quan trọng, trong đó luận án sẽ tính toán các số liệu cần thiết để chạy mô hình nghiên cứu dựa trên dữ liệu thu thập được.

Bước 4: Chạy mô hình và kiểm định mô hình nghiên cứu Luận án này sử dụng phần mềm

Stata 16.0 để chạy mô hình và thực hiện các kiểm định

Bước 5 trong quá trình nghiên cứu là trình bày và thảo luận kết quả, trong đó luận án không chỉ thể hiện các phát hiện mới mà còn so sánh chúng với các nghiên cứu trước đó có liên quan.

Bước 6: Kết luận và đưa ra hàm ý chính sách Nghiên cứu đã đưa ra những kết luận quan trọng và đề xuất chính sách nhằm nâng cao mức độ tài chính toàn diện, đồng thời củng cố sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các nước ASEAN.

Để thực hiện đề tài này, tác giả đã sử dụng dữ liệu thứ cấp, bao gồm dữ liệu quốc gia từ Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF FAS, 2020) để tính toán chỉ số tài chính toàn diện, và dữ liệu ngân hàng từ Worldscope (trích xuất từ Datastream, 2020) Thêm vào đó, số liệu về tốc độ tăng trưởng GDP hàng năm cũng được lấy từ nguồn Worldscope.

ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI

So với các nghiên cứu trước đây, luận án này mang lại những đóng góp mới cả về lý luận và thực tiễn Những đóng góp lý luận đáng chú ý bao gồm

Nghiên cứu trước đây cho rằng việc mở rộng tín dụng nhỏ cho nhiều người vay có thể làm mất ổn định hệ thống ngân hàng do sự xuất hiện của các khoản vay dưới chuẩn Tuy nhiên, luận án này đã bổ sung thêm rằng tài chính toàn diện có tác động tích cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, cho thấy rằng có thể đạt được sự cân bằng giữa việc duy trì ổn định ngân hàng và thúc đẩy tài chính toàn diện.

Hiện nay, chưa có nghiên cứu nào trong khu vực ASEAN phân tích tác động của tài chính toàn diện đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, mà chủ yếu tập trung vào đánh giá thực trạng tài chính toàn diện và các chính sách tại các quốc gia trong khu vực Như đã phân tích ở phần trước, các quốc gia ASEAN có hệ thống tài chính chủ yếu dựa vào ngân hàng, do đó, việc nghiên cứu sự ổn định của hệ thống ngân hàng và tác động của tài chính toàn diện là rất cần thiết, nhằm cung cấp thêm bằng chứng thực nghiệm cho khu vực này Đóng góp của luận án không chỉ có giá trị đối với các quốc gia ASEAN mà còn cho những quốc gia có hệ thống tài chính tương tự.

Luận án này mở rộng nghiên cứu về sự ổn định của hệ thống ngân hàng so với các nghiên cứu trước bằng cách không chỉ sử dụng chỉ số Zscore mà còn xem xét sự biến động của tăng trưởng tiền gửi và tỷ lệ nợ xấu Điều này giúp phản ánh khả năng xảy ra hiện tượng tháo chạy khỏi ngân hàng và rủi ro tín dụng Bên cạnh đó, tác giả cũng bổ sung khía cạnh tài chính toàn diện bằng cách đo lường mức độ sử dụng dịch vụ tài chính thông qua tỷ lệ tiền gửi và cho vay so với GDP, từ đó cung cấp bằng chứng thực nghiệm về tác động của tài chính toàn diện đến ổn định hệ thống ngân hàng tại các quốc gia ASEAN.

Luận án đề xuất các hàm ý chính sách liên quan đến tài chính toàn diện nhằm tăng cường sự ổn định của hệ thống ngân hàng tại các quốc gia ASEAN, với các gợi ý rõ ràng theo nhiều khía cạnh của tài chính toàn diện Dựa trên kết quả hồi quy các biến giải thích, tác giả đưa ra các chính sách cho ngân hàng nhằm nâng cao ổn định, giảm thiểu rủi ro rút vốn ồ ạt và rủi ro tín dụng.

KẾT CẤU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu này có năm nội dung chính sau:

CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN VÀ SỰ ỔN ĐỊNH CỦA HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN

2.1.1 Khái niệm của tài chính toàn diện

Tài chính toàn diện đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội, góp phần xoá đói giảm nghèo và giảm bất bình đẳng, được công nhận bởi các nhà nghiên cứu, tổ chức tài chính quốc tế và chính phủ ASEAN đã xác định tài chính toàn diện là một trong ba trụ cột của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC) tầm nhìn 2025 và thành lập nhóm công tác nhằm thúc đẩy lĩnh vực này trong khu vực.

Hiện nay, khái niệm về tài chính toàn diện vẫn chưa được thống nhất trong các tổ chức và quốc gia trên thế giới Các định nghĩa về tài chính toàn diện thường xuất hiện trong các báo cáo của tổ chức quốc tế, chiến lược quốc gia và các nghiên cứu Một số tổ chức như Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), Ngân hàng Thế giới (World Bank) và Liên Hiệp Quốc (UN) đã đưa ra những quan điểm khác nhau về tài chính toàn diện.

Khung chiến lược "Chiến lược 2020" của ADB nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tích hợp tài chính vào phát triển khu vực tài chính, cho rằng nếu không có khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính chính thức, các nhóm xã hội chưa được phục vụ sẽ bị loại trừ khỏi lợi ích phát triển chung Nghiên cứu của ADB đã định nghĩa tài chính toàn diện là việc đảm bảo tất cả các nhóm dân cư, bao gồm cả những người có thu nhập thấp nhất, có thể tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính chính thức.

The term "finance for all" was first introduced in a 2008 study by the World Bank, authored by Demirgüç-Kunt, Honohan, and Beck.

Tài chính toàn diện, hay còn gọi là tiếp cận dịch vụ tài chính mở rộng, là quá trình loại bỏ các rào cản phí và phi phí trong việc sử dụng dịch vụ tài chính Theo báo cáo của World Bank vào năm 2017, tài chính toàn diện được định nghĩa là khả năng của cá nhân và doanh nghiệp trong việc tiếp cận các sản phẩm và dịch vụ tài chính thiết yếu với mức giá hợp lý, đáp ứng nhu cầu về giao dịch, thanh toán, tiết kiệm, tín dụng và bảo hiểm Tất cả các dịch vụ này đều phải được cung cấp theo nguyên tắc trách nhiệm và bền vững.

UN nhấn mạnh tầm quan trọng của tài chính toàn diện, định nghĩa khả năng tiếp cận tài chính với chi phí hợp lý cho nhiều dịch vụ tài chính từ các tổ chức bền vững Điều này không chỉ giúp tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa, mà còn đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các lĩnh vực tài chính và huy động nguồn lực trong nước ở các nước đang phát triển, từ đó góp phần vào sự phát triển kinh tế và xã hội.

Mỗi quốc gia khi xây dựng chiến lược tài chính toàn diện đều có khái niệm riêng để xác định mục tiêu và tầm nhìn Ví dụ, Anh đã thành lập Ủy ban Tài chính toàn diện (FIC) vào năm 2002, với mục tiêu thúc đẩy tài chính toàn diện thông qua việc tạo ra cơ hội cho mọi người tối đa hóa tài sản, trở nên tự chủ và cải thiện sức khỏe thể chất lẫn tinh thần FIC nhấn mạnh rằng tài chính toàn diện không chỉ giúp nâng cao trình độ xã hội mà còn tạo ra một hệ thống phúc lợi hiệu quả hơn và tăng cường khả năng phục hồi quốc gia trước các cú sốc kinh tế.

NHTW Indonesia đã phát triển chiến lược quốc gia về tài chính toàn diện, coi đây là quyền của mỗi cá nhân để tiếp cận đầy đủ các dịch vụ tài chính với thông tin rõ ràng và chi phí hợp lý Mục tiêu là cung cấp dịch vụ tài chính cho mọi tầng lớp xã hội, đặc biệt là người nghèo và những người có thu nhập thấp, nhằm thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, giảm đói nghèo và tạo sự công bằng trong thu nhập Tầm nhìn là xây dựng một hệ thống tài chính mà tất cả mọi người đều có thể tiếp cận, góp phần ổn định hệ thống tài chính tại Indonesia.

Tài chính toàn diện, theo Leyshon và Thrift (1995), là quá trình mà các nhóm xã hội và cá nhân có thể tiếp cận hệ thống tài chính chính thức, trong khi Sinclair (2001) định nghĩa nó là khả năng tiếp cận các dịch vụ tài chính cần thiết một cách thích hợp Để hiểu rõ hơn về tài chính toàn diện, cần chú trọng đến sự phù hợp của dịch vụ và sản phẩm tài chính, bao gồm nhận thức về tài chính, hiểu biết về ngân hàng, các kênh dịch vụ ngân hàng và lợi ích từ việc sử dụng dịch vụ tài chính qua các kênh chính thức Ngoài ra, chất lượng dịch vụ tài chính trong hệ thống toàn diện cũng cần được đảm bảo với mức giá hợp lý, tính thuận tiện và chất lượng phục vụ tốt cho khách hàng.

Tài chính toàn diện khuyến khích người dân không sử dụng dịch vụ ngân hàng chuyển sang sử dụng dịch vụ tài chính chính thức, giúp họ tiếp cận đa dạng các dịch vụ như tiết kiệm, thanh toán, tín dụng và bảo hiểm (Hannig và Jansen, 2010) Quá trình này đảm bảo rằng nhu cầu tín dụng của các nhóm yếu thế, đặc biệt là khách hàng có thu nhập thấp, được đáp ứng với chi phí hợp lý Điều này được thể hiện qua khả năng tiếp cận tài khoản ngân hàng, bao gồm tài khoản tiết kiệm, tín dụng và thanh toán qua tài khoản ngân hàng (Khan, 2011).

Tài chính toàn diện bao gồm ba khía cạnh chính: tiếp cận, sử dụng và chất lượng Đây là một khái niệm đa chiều, thể hiện khác nhau tùy thuộc vào mục tiêu của từng quốc gia Tài chính toàn diện không chỉ cải thiện khả năng tiếp cận tín dụng mà còn nâng cao hiểu biết tài chính và bảo vệ người tiêu dùng Việc triển khai tài chính toàn diện giúp mọi người có quyền tiếp cận và sử dụng các sản phẩm, dịch vụ tài chính chất lượng, tiện lợi và nhanh chóng với chi phí hợp lý Mỗi quốc gia cần nghiên cứu để xác định khái niệm phù hợp với hoàn cảnh và điều kiện thực tế của mình, từ đó xác định mục tiêu, chiến lược và giải pháp để hiện thực hóa tài chính toàn diện một cách hiệu quả và bền vững.

Trong phạm vi nghiên cứu của luận án, tác giả dựa theo quan điểm của Sarma (2012, trang

3) với khái niệm về tài chính toàn diện là “việc đảm bảo sự dễ dàng tiếp cận, sẵn có và mức sử dụng của hệ thống tài chính chính thức cho tất cả các thành viên của nền kinh tế” Theo đó, khái niệm này đặc biệt nhấn mạnh vào các khía cạnh đã phân tích trên, bao gồm tính dễ tiếp cận, sẵn có và mức sử dụng của của hệ thống tài chính, cấu thành nên tài chính toàn diện Các khía cạnh này sẽ liên quan sâu sắc đến nội dung của phần xây dựng chỉ số đo lường tài chính toàn diện Mặt khác, Sarma (2008, 2012) còn xem ngân hàng là tổ chức tài chính chủ đạo trong cung cấp hình thức dịch vụ tài chính cơ bản nhất, do vậy ngân hàng toàn diện

Sự bao gồm ngân hàng được coi là tương đồng với tài chính toàn diện Do đó, trong nghiên cứu này, tài chính toàn diện sẽ được phân tích chủ yếu từ khía cạnh ngân hàng.

2.1.2 Vai trò và ý nghĩa của tài chính toàn diện

Tài chính toàn diện có vai trò và ý nghĩa quan trọng đối với sự ổn định tài chính, tăng trưởng kinh tế và phát triển bền vững

2.1.2.1 Tài chính toàn di ệ n và s ự ổn đị nh tài chính Đứng ở cấp độ vi mô, theo nghiên cứu của Adasme, Majnoni and Uribe (2006) đã cho thấy bằng chứng liên quan tới danh mục đầu tư của các ngân hàng Chi lê, chỉ ra rằng các thiệt hại của các khoản vay nhỏ có rủi ro hệ thống thấp hơn thiệt hại liên quan tới các khoản vay lớn, không thường xuyên và biến động khó dự đoán Như vậy, tài chính toàn diện về mặt tiếp cận tín dụng có thể đồng thời đồng nghĩa với sự ổn định lớn hơn ở cấp độ các nhà cung ứng dịch vụ tài chính Ở cấp độ vĩ mô giữa tài chính toàn diện và sự ổn định tài chính, ở cấp quốc gia, bằng chứng cho thấy tài chính toàn diện có thể dẫn đến tính hiệu quả cao hơn của trung gian tài chính Nói rõ hơn, thông qua trung gian lượng tiết kiệm nội địa lớn hơn, từ đó dẫn tới sự vững mạnh hơn về các chu kỳ tiết kiệm và đầu tư nội địa lành mạnh và theo đó có sự ổn định lớn hơn (Prasad, 2010)

Theo Khan (2011), việc mở rộng tài chính toàn diện có thể góp phần tích cực vào ổn định tài chính thông qua ba cách chính Đầu tiên, tăng cường tín dụng cho các doanh nghiệp nhỏ giúp đa dạng hóa tài sản của hệ thống ngân hàng, từ đó giảm rủi ro tổng thể trong danh mục cho vay Thứ hai, gia tăng số lượng khách hàng gửi tiết kiệm nhỏ không chỉ nâng cao quy mô mà còn ổn định cơ sở tiền gửi, làm giảm sự phụ thuộc của ngân hàng vào nguồn vốn dễ biến động trong thời kỳ khủng hoảng.

CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ SỰ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

Sự ổn định là một vấn đề quan trọng trong chính sách, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ (Beck, 2008) Hệ thống ngân hàng và hệ thống tài chính có mối liên hệ chặt chẽ với nhau (Segoviano và Goodhart, 2009) Do đó, để hiểu rõ về ổn định của hệ thống ngân hàng, cần phải nắm bắt được sự ổn định của hệ thống tài chính và tầm quan trọng của nó.

2.2.1 Khái niệm về ổn định hệ thống tài chính

Sự ổn định tài chính là một chủ đề quan trọng trong chính sách, đặc biệt sau cuộc khủng hoảng nợ dưới chuẩn của Mỹ (Beck, 2008) Thuật ngữ "sự ổn định hệ thống tài chính" được nhiều tổ chức quốc tế và nhà nghiên cứu thảo luận với các quan điểm khác nhau Khái niệm này được tiếp cận từ hai hướng: định nghĩa trực tiếp về ổn định và gián tiếp qua định nghĩa về bất ổn (Alawode và Sadek, 2008) Những định nghĩa này có thể thay đổi theo thời gian, phản ánh sự biến động trong các thành phần cấu thành của tài chính (Schinasi, 2004).

Theo Ngân hàng Thế giới (2020), một hệ thống tài chính ổn định là hệ thống có khả năng phân bổ hiệu quả nguồn lực, quản lý rủi ro tài chính, duy trì việc làm gần với tỷ lệ tự nhiên của nền kinh tế và hạn chế biến động giá của tài sản Hệ thống này không bị mất cân đối tài chính khi xảy ra các sự kiện bất ngờ, có khả năng tự hấp thụ cú sốc và ngăn chặn ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế thực và các hệ thống tài chính khác.

Theo Schinasi (2004), một hệ thống tài chính ổn định có khả năng thúc đẩy hiệu quả nền kinh tế và giảm thiểu bất cân bằng tài chính do các sự kiện không lường trước Hệ thống tài chính này hỗ trợ phân bổ nguồn lực hiệu quả, tăng sản lượng và khuyến khích tiết kiệm, đầu tư, đồng thời duy trì sự ổn định thông qua cơ chế tự điều chỉnh Tác giả nhấn mạnh rằng sự ổn định tài chính là điều kiện cần thiết để các cơ chế quản lý rủi ro hoạt động hiệu quả, đóng góp vào sự phát triển kinh tế Crockett (1996) định nghĩa sự ổn định tài chính là sự thiếu vắng bất ổn, trong khi Mishkin (1999) chỉ ra rằng bất ổn tài chính xảy ra khi các cú sốc làm cản trở dòng chảy thông tin, ảnh hưởng đến khả năng chuyển tiền đến những cơ hội đầu tư Những tác động tiêu cực từ thị trường tài chính có thể làm suy yếu điều kiện tài chính của các đơn vị phi tài chính và gián đoạn hoạt động của các tổ chức tài chính Goodhart (2006) cũng cho rằng ổn định tài chính đồng nghĩa với việc không có khủng hoảng tài chính, mà khủng hoảng tài chính được hiểu là chuỗi sự kiện làm suy yếu vai trò của trung gian tín dụng và phân bổ vốn.

Thuật ngữ “ổn định hệ thống tài chính” bao gồm hai nội hàm chính: đầu tiên, các yếu tố của hệ thống tài chính như thị trường tài chính, các định chế tài chính và hạ tầng tài chính cần thực hiện hiệu quả chức năng của mình để phân bổ nguồn lực kinh tế; thứ hai, việc đánh giá và quản lý rủi ro cấp độ hệ thống là cần thiết để ngăn chặn khả năng sụp đổ của hệ thống tài chính Để duy trì ổn định hệ thống tài chính, cần có sự phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong hệ thống giám sát tài chính quốc gia, trong đó Ngân hàng Trung ương đóng vai trò chủ đạo trong việc thực hiện chức năng ổn định tài chính.

Ổn định tài chính được xác định là yếu tố quan trọng bởi các Ngân hàng Trung ương (NHTW) trên thế giới Ngân hàng Trung ương Hàn Quốc (BOK) nhấn mạnh rằng ổn định tài chính không chỉ cần thiết để duy trì ổn định giá cả, mà còn là điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững của nền kinh tế.

Sự ổn định tài chính là yếu tố then chốt để tạo ra môi trường thuận lợi cho nhà đầu tư và người gửi tiền, nâng cao hiệu quả hoạt động trung gian tài chính và cải thiện phân phối nguồn lực Ngân hàng Trung ương Namibia (CBN) nhấn mạnh rằng ổn định tài chính không chỉ củng cố lòng tin vào hệ thống tài chính mà còn ngăn ngừa các hiện tượng như tháo chạy khỏi ngân hàng, từ đó bảo vệ nền kinh tế Một hệ thống tài chính lành mạnh cũng đảm bảo rằng tiền của công chúng được quản lý một cách an toàn, điều này đặc biệt quan trọng đối với các khoản tiết kiệm và lương hưu.

Mất ổn định tài chính có thể dẫn đến nhiều vấn đề nghiêm trọng như giảm hiệu quả của chính sách tiền tệ, suy yếu chức năng trung gian của hệ thống tài chính, mất niềm tin của người dân vào hệ thống này, và gia tăng chi phí để khắc phục những yếu kém Do đó, nhiều quốc gia đã chú trọng hơn đến việc duy trì ổn định tài chính trong quá trình thực thi chính sách, đặc biệt khi phải đối mặt với các yếu tố mới gây bất ổn, như sự liên kết chặt chẽ giữa các khu vực tài chính và sự phát triển của các công cụ tài chính phức tạp.

2.2.2 Khái niệm về ổn định hệ thống ngân hàng

Sự ổn định hệ thống ngân hàng hiện nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất, gây khó khăn cho các cơ quan giám sát trong việc xác định sự ổn định của ngân hàng truyền thống, tổ chức tài chính phi ngân hàng hay ngân hàng không chính thống (shadow banks) (Ozili, 2018) Có hai hướng tiếp cận để xác định khái niệm này: mô tả trực tiếp ổn định hệ thống ngân hàng và gián tiếp qua sự bất ổn của ngân hàng Một số quan điểm cho rằng ổn định tài chính liên quan đến ngân hàng có thể định nghĩa sự ổn định này, trong khi Crockett (1997) xác định rằng sự ổn định trong lĩnh vực ngân hàng là không có căng thẳng tài chính dẫn đến tổn thất hoặc phá sản Ổn định hệ thống ngân hàng được hiểu là không có khủng hoảng ngân hàng, đạt được thông qua sự ổn định của tất cả các ngân hàng trong hệ thống (Brunnermeier et al., 2009).

Từ đó, nếu xem xét sự phụ thuộc lẫn nhau (interdependence), Segoviano and Goodhart

Sự ổn định của hệ thống ngân hàng, theo Ozili (2018) và Segoviano cùng Goodhart (2009), có thể được hiểu là sự liên kết giữa các ngân hàng thông qua thị trường tiền gửi liên ngân hàng và các khoản cho vay hợp vốn Segoviano và Goodhart (2009) đã phân tích khái niệm này thông qua ba khía cạnh khó khăn của ngân hàng: (i) khó khăn chung trong hệ thống, (ii) khó khăn giữa các ngân hàng cụ thể, và (iii) khó khăn liên kết với một ngân hàng cụ thể Ngalawa, Tchana và Viegi (2016) chỉ ra rằng sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng có thể xảy ra khi có hiện tượng tháo chạy khỏi ngân hàng hoặc vấn đề mất khả năng thanh toán Khi người gửi tiền dự đoán ngân hàng sắp thất bại, họ sẽ vội vàng rút tiền, dẫn đến việc ngân hàng phải thanh lý tài sản thua lỗ và có thể dẫn đến thất bại thực sự Sự tháo chạy này có thể xảy ra ngay cả khi không có thông tin bất lợi nào, do người gửi tiền quan sát thấy người khác xếp hàng dài, từ đó suy luận rằng ngân hàng đang gặp vấn đề (Bryant, 1980; Chari và Jagannathan, 1988).

Sự bất ổn trong hệ thống ngân hàng thường được thể hiện qua khả năng thanh toán của các ngân hàng, đặc biệt là khi có sự gia tăng đáng kể các khoản nợ xấu không lường trước Tình trạng này thường xảy ra nhiều hơn trong các giai đoạn suy thoái kinh tế và sau các đợt "bùng nổ" cho vay tư nhân.

Sự bất ổn của hệ thống tài chính không thể tách rời khỏi hiện tượng lây lan tài chính, nơi rủi ro thanh khoản hoặc mất khả năng thanh toán được truyền từ tổ chức tài chính này sang tổ chức khác (Brown et al., 2014) Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng có nhiều kênh khác nhau dẫn đến hiện tượng lây lan trong lĩnh vực ngân hàng, gây ra rủi ro cho cả hệ thống ngân hàng và tài chính (Allen and Gale, 2000; Acharya, 2009; Brunnermeier and Pedersen, 2009; Dasgupta, 2004; Freixas and Parigi, 1998; Freixas, Parigi and Rochet, 2000; Ibragimov, Jaffee and Walden, 2011; Rochet and Tirole, 1996; Wagner, 2010) Do đó, sự bất ổn của một ngân hàng trong hệ thống có thể dẫn đến sự bất ổn cho toàn bộ hệ thống ngân hàng.

Tóm lại, sự ổn định của hệ thống ngân hàng được hiểu là sự ổn định của từng ngân hàng, bao gồm việc không xảy ra tình trạng mất khả năng thanh toán, không có hiện tượng rút chạy khỏi ngân hàng và không có các khoản nợ xấu bất ngờ.

Sự ổn định của hệ thống ngân hàng là mối quan tâm hàng đầu của các cơ quan quản lý, công ty bảo hiểm tiền gửi và công chúng, vì khả năng lây lan trong lĩnh vực tài chính có thể dẫn đến suy thoái hệ thống tài chính, như đã thấy trong cuộc khủng hoảng tài chính 2007–2009 (Bai và Elyasiani, 2013) Các ngân hàng tương tác trong một mạng lưới quốc tế để cung cấp dịch vụ tài chính, do đó, bất kỳ sự gián đoạn nào trong hoạt động ngân hàng đều có thể ảnh hưởng đến toàn xã hội Sự ổn định của hệ thống ngân hàng là yếu tố then chốt để giảm thiểu tác động kinh tế và xã hội khi các vấn đề phát sinh (HKMA, 2017).

Ngân hàng là tổ chức tài chính cung cấp nhiều dịch vụ tài chính đa dạng, bao gồm tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ thanh toán, có vai trò quan trọng trong mọi khía cạnh của đời sống hàng ngày Sự gián đoạn trong hoạt động ngân hàng có thể ảnh hưởng lớn đến người dân Đảm bảo sự ổn định và lành mạnh của hệ thống ngân hàng là cần thiết để phân bổ nguồn vốn tối ưu, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi cho nhà đầu tư, bảo vệ khách hàng gửi tiền và giúp nền kinh tế hoạt động hiệu quả.

TÁC ĐỘNG CỦA TÀI CHÍNH TOÀN DIỆN ĐỐI VỚI SỰ ỔN ĐỊNH HỆ THỐNG NGÂN HÀNG

Tài chính toàn diện đóng vai trò quan trọng trong việc đảm bảo sự ổn định của hệ thống ngân hàng, nhưng vẫn còn tranh cãi về tác động của nó đối với sự ổn định này Một số nghiên cứu cho thấy tài chính toàn diện có thể ảnh hưởng tích cực đến sự ổn định ngân hàng, trong khi các quan điểm khác lại cho rằng có nhiều yếu tố khác cũng tác động đến hệ thống ngân hàng Bài viết này sẽ trình bày các quan điểm trái chiều và phân tích cách mà tài chính toàn diện ảnh hưởng đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

2.3.1 Tài chính toàn diện tác động tiêu cực đến ổn định hệ thống ngân hàng Ở quan điểm này, có tác giả cho rằng các ngân hàng thu hút một lượng lớn những người đi vay có mức tín dụng thấp (low creditworthy) do tài chính toàn diện, điều này có thể làm mất ổn định hệ thống ngân hàng khi họ cần mở rộng các khoản tín dụng nhỏ cho nhiều người vay hơn Lý giải chi tiết hơn, Rajan (2011) phân tích rằng từ cuộc khủng hoảng dưới chuẩn gần đây, “tín dụng dễ dàng” (easy credit) như một cơ chế để giảm bất bình đẳng thu nhập, nhưng lại có thể tạo ra một “đường đứt gãy” (fault line) dọc theo hệ thống tài chính làm xói mòn sự ổn định tài chính do những căng thẳng lớn Đây được xem như là sự đánh đổi giữa các mục tiêu duy trì sự ổn định của hệ thống và thúc đẩy tài chính toàn diện (Hannig and Jansen, 2010)

Các ngân hàng gặp khó khăn trong việc quản lý các khoản vay cho hộ gia đình cá nhân và doanh nghiệp nhỏ do thiếu thông tin yêu cầu, tài sản đảm bảo và lịch sử tín dụng Việc mở rộng khả năng tiếp cận dịch vụ tài chính cho các nhóm khách hàng này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng và sự ổn định của hệ thống ngân hàng.

Trong bối cảnh tài chính toàn diện, việc các ngân hàng mở rộng tiếp cận và đa dạng hóa theo địa lý có thể dẫn đến sự mất ổn định trong hệ thống ngân hàng Điều này xuất phát từ sự bất cân xứng thông tin liên quan đến các hộ nghèo và doanh nghiệp nhỏ, cùng với việc thiếu chuyên môn trong quản lý và kỹ thuật Ngoài ra, các vấn đề về đại diện cũng góp phần làm tăng độ phức tạp của cơ cấu tổ chức và cấu trúc sản phẩm.

2006) Về vấn đề này, các cuộc điều tra được thực hiện ở Italia (Acharya, Hasan and Saunders,

Nghiên cứu của Goetz, Laeven và Levine (2013) cho thấy rằng ở Hoa Kỳ, không có sự cải thiện nào trong việc đánh đổi giữa lợi nhuận - rủi ro và định giá thị trường khi ngân hàng mở rộng hoạt động địa lý.

Neaime và Gaysset (2018) cho rằng tài chính toàn diện có thể tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế và xóa đói giảm nghèo, vì khả năng tiếp cận tài chính dễ dàng khiến người nghèo khó tích lũy tiết kiệm, xây dựng tài sản để phòng ngừa rủi ro và đầu tư vào các dự án sinh lời.

Tài chính toàn diện, mặc dù có thể gây ra một số tác động tiêu cực đến sự ổn định của hệ thống ngân hàng, nhưng các nhà nghiên cứu cho rằng lợi ích mà nó mang lại là lớn hơn Bài viết này sẽ phân tích các kênh thể hiện tác động tích cực của tài chính toàn diện để làm rõ vấn đề này.

2.3.2 Tài chính toàn diện tác động tích cực đến ổn định hệ thống ngân hàng Ở góc độ này, tài chính toàn diện được nhiều nhà nghiên cứu ủng hộ trong vai trò tích cực thúc đẩy ổn định hệ thống ngân hàng Cụ thể, tác động này được thể hiện thông qua hai kênh chính yếu, bao gồm: tiền gửi và cho vay Ngoài hai kênh này, tác động của tài chính toàn diện còn thể hiện một cách gián tiếp thông qua việc góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển bền vững, tạo môi trường cho hệ thống ngân hàng có được sự ổn định

Lý thuyết danh mục đầu tư hiện đại của Harry Markowitz (1959) nhấn mạnh tính đa dạng hóa trong đầu tư, cho thấy rằng việc chỉ tập trung vào một kênh đầu tư có thể dẫn đến rủi ro cao Tài chính toàn diện có thể giúp các ngân hàng tiếp cận nhiều khách hàng nhỏ lẻ, từ đó đa dạng hóa danh mục tiền gửi và cho vay Việc áp dụng lý thuyết này cho thấy tài chính toàn diện không chỉ gia tăng tiền gửi bán lẻ ổn định mà còn mở rộng cho vay an toàn cho các ngân hàng.

2.3.2.1 Gia t ăng t i ề n g ử i bán l ẻ ổn đị nh

Thông qua tài chính toàn diện và việc mở rộng mạng lưới chi nhánh ngân hàng theo địa lý hoặc nhân khẩu học, các ngân hàng có thể phục vụ nhiều đối tượng khách hàng với chi phí giảm khi đã có cơ sở hạ tầng phù hợp Bằng cách tối ưu hóa quản lý và kỹ thuật, ngân hàng có thể nâng cao hiệu quả hoạt động và doanh thu nhờ vào nguồn vốn rẻ hơn, mở ra cơ hội mới và tạo ra sự ổn định.

Một số tác giả cho rằng tiền gửi bán lẻ có phản ứng chậm và không nhạy cảm với rủi ro, từ đó cung cấp nguồn tài trợ dài hạn, ổn định và chi phí thấp hơn so với nguồn vốn bán buôn, vốn dễ bay hơi và thường tốn kém.

Các khoản tiền gửi bán lẻ thường phản ứng chậm với việc rút tiền do quyết định của người gửi tiền cá nhân, điều này có thể dự đoán được dựa trên quy luật số lượng lớn (Ahamed và Mallick, 2019) Hơn nữa, sự không nhạy cảm với rủi ro của các khoản tiền gửi này một phần là nhờ vào bảo hiểm tiền gửi do chính phủ cung cấp (Kim, Kliger và Vale, 2003; Song và Thakor, 2007) Ví dụ điển hình là trường hợp của Northern Rock, nơi người gửi tiền bán lẻ đã rút tiền ồ ạt khi ngân hàng gần như cạn kiệt tài sản thanh khoản để trả cho các nhà tài chính bán buôn ngắn hạn (Shin, 2009; Goldsmith-Pinkham và Yorulmazer, 2010), cho thấy các nhà tài chính bán buôn thoát vốn nhanh hơn so với người gửi tiền lẻ.

Huang và Ratnovski (2011) chỉ ra rằng các nhà tài chính bán buôn rất nhạy cảm với thông tin hoặc tin đồn tiêu cực, dẫn đến việc họ không muốn rút hoặc chuyển vốn ngắn hạn, mặc dù họ có quyền truy cập thông tin về chất lượng dự án ngân hàng Tuy nhiên, các nhà tài trợ bán buôn có thể ngừng cấp vốn cho những dự án có giá trị âm trừ khi được bù đắp bằng lãi suất cao hơn (Rajan, 1992) Các nghiên cứu gần đây cho thấy rằng các ngân hàng có tỷ lệ tiền gửi bán lẻ cao hơn thường ổn định hơn trong các cuộc khủng hoảng tài chính (Demirgỹỗ-Kunt và Huizinga, 2010; Poghosyan và Čihak).

2011) Cụ thể, Demirgỹỗ-Kunt and Huizinga (2010), sử dụng mẫu cỏc ngõn hàng niờm yết ở

Trong giai đoạn 1995-2007, nghiên cứu trên 101 quốc gia cho thấy tỷ lệ tài trợ không phải là tiền gửi cao hơn, điều này làm gia tăng tính mong manh của hệ thống ngân hàng Ratnovski và Huang đã chỉ ra rằng sự phụ thuộc vào nguồn tài trợ không ổn định có thể dẫn đến rủi ro lớn hơn cho các ngân hàng.

Nghiên cứu năm 2009 chỉ ra rằng nguồn tiền gửi bán lẻ dồi dào đóng vai trò quan trọng trong việc giúp các ngân hàng Canada duy trì khả năng phục hồi tương đối trong bối cảnh khủng hoảng tài chính năm 2008.

QUY TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

Ngày đăng: 17/07/2021, 21:58

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w