Muốn có chất lượng giáo dục tốt thì yêu cầu trẻ phải có mộtsức khỏe tốt để có thể tham gia được tất cả các hoạt động trong nhà trường.. Chúng ta muốn trẻ phát triển khỏe mạnh và sẵn sàng
Trang 1BÁO CÁO KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU, ỨNG DỤNG SÁNG KIẾN
1 Lời giới thiệu
Như chúng ta đã biết mục tiêu cơ bản của giáo dục nhằm xây dựng nhữngcon người và thế hệ thiết tha gắn với lý tưởng độc lập dân tộc và CNXH, có đạođức trong sáng, có ý thức kiên cường, xây dựng và bảo vệ tổ quốc; CNH-HĐHđất nước, giữ gìn và phát huy các giá trị văn hóa của dân tộc, có năng lực tiếpthu tinh hoa văn hóa nhân loại, phát huy tiềm năng của dân tộc và con ngườiViệt Nam Có ý thức cộng đồng và phát huy tính tích cực của cá nhân, làm chủchi thức khoa học và công nghệ hiện đại, có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thựchành giỏi, có tác phong công nghiệp, có tính tổ chức kỷ luật, có sức khỏe, lànhững người thừa kế và xây dựng CNXH vừa “Hồng” vừa “Chuyên” như lờidặn của Bác Hồ
Giáo dục mầm non với tư cách là một ngành học nền tảng của hệ thốnggiáo dục quốc dân có vai trò quan trọng là hình thành ở trẻ những cơ sở ban đầucủa nhân cách con người mới xã hội chủ nghĩa Việt Nam và chuẩn bị những tiền
đề cần thiết cho trẻ vào trường phổ thông Ở lứa tuổi mầm non trẻ còn non nớtcho nên trẻ rất cần có sự yêu thương và chăm sóc Trẻ được học tập, vui chơi vàhọc tập trong một môi trường tốt Đội ngũ cán bộ giáo viên phải có phẩm chấtđạo đức tốt, có kiến thức, có kỹ năng sư phạm với tinh thần trách nhiệm cao.Môi trường hoc có đầy đủ đồ dùng, trang thiết bị dạy và học để trẻ được khámphá tìm tòi và trải nghiệm Để trẻ phát triển toàn diện Đức - Trí - Thể - Mỹ vàlao động Muốn có những con người như vậy thì đòi hỏi ngay từ lứa tuổi mầmnon trẻ cần được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt có như vậy mỗi đứa trẻlớn lên sẽ là hạt nhân tương lai của đất nước
Trách nhiệm này đặt nên vai ngành giáo dục, đòi hỏi cán bộ quản lý, giáoviên mầm non phải không ngừng học tập, trau rồi tri thức bởi đây là lực lượngnòng cốt quyết định chất lượng nuôi dưỡng, chăm sóc giáo dục trẻ trong trườngmầm non Nói đến chất lượng nhà trường là nói đến công tác quản lý và chỉ đạocủa người quản lý Muốn có chất lượng giáo dục tốt thì yêu cầu trẻ phải có mộtsức khỏe tốt để có thể tham gia được tất cả các hoạt động trong nhà trường
Chúng ta muốn trẻ phát triển khỏe mạnh và sẵn sàng tham gia tất cả cáchoạt động trong nhà trường thì trước hết cần phải nâng cao chất lượng chuyên
đề giáo dục phát triển vận động và một số giải pháp trong giáo dục phát triểnvận động Nhằm giúp giáo viên nắm vững phương pháp, hình thức tổ chức cáchoạt động giáo dục phát triển vận động đạt hiệu quả cao
Các hoạt động chưa tích hợp được các nội dung vào hoạt động một cáchlinh hoạt và sáng tạo Với trách nhiệm của người quản lý của nhà trường tôi luônsuy nghĩ và trăn trở mình nói gì, làm gì và làm như thế nào để nhà trường mình
có một chất lượng giáo dục phát triển vận động một cách tốt nhất Để tổ chức tốtcác hoạt động giáo dục phát triển vận động cần có những giải pháp đạt đượchiệu quả tốt hơn Chính vì vậy tôi tìm ra một số biện pháp nâng cao chất lượngchuyên đề giáo dục phát triển vận động trong nhà trường
Trang 22 Tên sáng kiến: “ Một số biện pháp nâng cao chất lượng chuyên đề giáo dục
phát triển vận động ở trường mầm non Văn Tiến - Huyện Yên Lạc - Tỉnh Vĩnh Phúc”
4 Chủ đầu tư tạo ra sáng kiến : Nguyễn Thị kính
5 Lĩnh vực áp dụng sáng kiến : Lĩnh vực giáo dục phát triển vận động trường
mầm non Văn Tiến - Huyện Yên Lạc - Tỉnh Vĩnh Phúc
6 Ngày sáng kiến được áp dụng lần đầu: Ngày 10 tháng 09 năm 2017.
7 Mô tả bản chất của sáng kiến:
7.1 Nội dung của sáng kiến :
7.1.1.Cơ sở lý luận :
Đất nước ta đang trên đà phát triển và hội nhập kinh tế - xã hội - tri thức, đòihỏi con người phải có trình độ học vấn, biết thích ứng với sự biến đổi khôngngừng của xã hội Để có một thế hệ trẻ có kiến thức, có kỹ năng, sáng tạo và cósức khỏe tốt Thì người giáo viên mầm non phải có phẩm chất đạo đức tốt, cótrình độ chuyên môn nghiệp vụ, yêu nghề, mến trẻ, sẵn sàng khắc phục khó khăn
để hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao Tất cả những điều đó thể hiện ở sự họchỏi, bồi dưỡng và tự bồi dưỡng về nội dung, phương pháp chăm sóc giáo dục trẻcủa mỗi cán bộ, giáo viên trong nhà trường Cán bộ, giáo viên là lực lượng quyếtđịnh chất lượng giáo dục ở mỗi nhà trường Về điều kiện cơ sở vật chất đồ dùng,trang thiết bị dạy học cũng quan trọng trong việc tổ chức các hoạt động cho trẻ
Đó là các phương tiện, điều kiện cho giáo viên thực hiện nhiệm vụ nuôi dưỡng,chăm sóc giáo dục
Giáo dục phát triển vận động rất quan trọng đối với sự phát triển toàn diệncủa trẻ mầm non Vì giáo dục phát triển vận động là một trong những nhiệm vụcủa giáo dục phát triển thể chất nhằm góp phần phát triển toàn diện cho trẻ mầmnon Dưới góc độ sinh lý học, vận động là sự chuyển động của cơ thể con ngườitrong đó có sự tham gia của hệ cơ, hệ xương và sự điều khiển của hệ thần kinh.Vận dộng dù ở mức đơn giản hay phức tạp là điều kiện cho sự phát triển cơ thểcon người ở nhiều mặt khác nhau Dưới tác động của giáo dục, các hoạt độngnhằm phát triển vận động cho trẻ sẽ được nghiên cứu, lực chọn tổ chức một cáchkhoa học để đạt được mục tiêu giáo dục đề ra
Về mặt thể chất, giáo dục phát triển vận động góp phần tăng cường và bảo vệsức khỏe:
Các bài tập phát triển vận động vừa sức giúp cơ thể trẻ thoải mái, kích thíchhoạt động của các hệ cơ quan bên trong như hệ tuần hoàn, hệ thần kinh, hệ hôhấp, hệ tiêu hóa …Đặc biệt khi trẻ luyện tập với các yếu tố tự nhiên như : ánh
Trang 3nắng mặt trời, nước và không khí…không chỉ tăng cường hiệu quả luyện tập màcòn giúp trẻ thích nghi với môi trường sống bên ngoài, tăng cường sức đề khángcủa cơ thể trẻ.
Thực hiện các bài tập một cách khoa học giúp phát triển hệ cơ, hệ xương,củng cố khớp, dây chằng tạo khả năng phát triển đúng tỷ lệ giữa các bộ phận cơthể Từ đó phát triển tư thế thân người hợp lý hoặc uốn nắn những tư thế sai chotrẻ mầm non
Về các kỹ năng vận động tố chất vận động, giúp giáo dục trẻ phát triển vậnđộng, giúp hình thành và rèn luyện các kỹ năng vận động, đồng thời phát triểncác tố chất vận động như : nhanh, mạnh, khéo léo, bền bỉ được trú trọng rènluyện một cách đồng đều thông qua nhiều bài tập vận động khác nhau tạo nên sựhài hòa, cân bằng tương đối về tố chất cho mỗi cá nhân Ngoài việc luyện tậptheo nguyên tắc phát triển giáo dục toàn diện cho trẻ mầm non, giáo dục pháttriển tình cảm và kỹ năng xã hội, giáo dục phát triển thẩm mỹ và giáo dục laođộng cho trẻ mầm non
Do đó tôi luôn quan tâm đến việc xây dựng, bồi dưỡng đội ngũ giáo viêntrong nhà trường, trú trọng đến việc đầu tư cơ sở vật chất trang thiết bị để đảmbảo cho việc dạy và học Tạo cho trẻ môi trường giáo dục lành mạnh và an toàn.Nhằm chăm sóc trẻ trước 6 tuổi một cách chất lượng để trẻ phát triển toàn diện.Trên cơ sở một chương trình nuôi dạy trẻ khoa học, một đội ngũ giáo viên tâmhuyết với nghề và hiểu biết nghiệp vụ, hệ thống trường lớp phù hợp Một cơ sởgiáo dục mầm non chuẩn mực, một mạng lưới phổ biến kiến thức và tư vấn nuôidạy trẻ đến từng gia đình
Cần hình thành ở trẻ một số giá trị, nét tính cách, phẩm chất ban đầu của tínhcách giúp trẻ dễ hòa nhập vào cuộc sống vào nhóm/ lớp bước đầu biết đượcnhững quy tắc, nếp sống văn hóa trong sinh hoạt Trẻ mạnh dạn, tự tin, độc lập,sáng tạo, linh hoạt, tự giác, dễ hòa nhập, dễ chia sẻ, dễ cộng tác, bảo vệ môitrường sống, hình thành một số giá trị mang tính nhân văn quốc tế, hình thànhnếp sống văn minh, có hình vi ứng xử giao tiếp theo quy tắc chuẩn mực phù hợplứa tuổi Trẻ tham gia tích cực vào các hoạt động, có một cơ thể phát triển hàihòa cân đối cần trú trọng đến việc nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vậnđộng
Nâng cao chất lượng giáo dục phát triển vận động trong nhà trường làtrách nhiệm của cán bộ, giáo viên Mỗi cán bộ, giáo viên cần có một ý thức, tinhthần trách nhiệm và nêu cao vai trò của mình trong việc thực hiện nhiệm vụ Tôinhận thấy rằng mình cần phải đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo để đạt được chấtlượng giáo dục phát triển vận động trong nhà trường hiện nay
7.1.2 Thực trạng chất lượng giáo dục phát triển vận động:
* Đặc điểm tình hình nhà trường:
Trường mầm non Văn Tiến được thành lập từ năm 1963, mặc dù đã đượcthành lập và đi vào hoạt động cho đến nay là 55 năm nhà trường đã có sự pháttriển nhanh chóng Số lượng cán bộ, giáo viên, nhân viên là 25 đồng chí đều cótrình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn; tỷ lệ trên chuẩn đạt 96% Cũng như số trẻ
ở các độ tuổi đến trường ngày càng tăng hơn Năm học 2017 - 2018 có tổng số
Trang 4học sinh là 467 trẻ; số lớp là 16 nhóm/lớp số trẻ được phân theo đúng độ tuổi.
Tỷ lệ trẻ ăn bán trú đạt 100% Về cơ sở vật chất của nhà trường dần được khangtrang có đầy đủ các phòng học, các phòng chức năng đảm bảo đủ các điều kiệnphục vụ hoạt động chăm sóc và giáo dục trẻ Có đầy đủ các trang thiết bị hiệnđại như: Máy chiếu đa năng, ti vi, đầu video, đàn… Qua các đợt kiểm tra đánhgiá của Phòng giáo dục - đào tạo Huyện Yên Lạc, Sở giáo dục - đào tạo tỉnhVĩnh Phúc nhà trường được công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc giamức độ II tháng 5 năm 2015, trường đạt chuẩn chất lượng giáo dục cấp độ 3
Thuận lợi:
Được sự quan tâm của Đảng ủy, Uỷ ban nhân dân xã Văn Tiến, các banngành đoàn thể, các bậc phụ huynh học sinh tạo điều kiện giúp đỡ, động viên vềtinh thần, vật chất để cán bộ, giáo viên hoàn thành tốt nhiệm vụ nuôi dưỡng,chăm sóc giáo dục trẻ
Chi bộ nhà trường luôn có sự chỉ đạo sát sao, phát huy được vai trò tính tiênphong của Đảng Nêu cao tinh thần trách nhiệm của mỗi cán bộ, Đảng viêntrong mọi lĩnh vực hoạt động của nhà trường
Ban giám hiệu năng động, sáng tạo, vững vàng về chuyên môn, có năng lực
tổ chức quản lý, chỉ đạo nhà trường
Tập thể cán bộ, giáo viên, nhân viên trong trường đoàn kết, luôn phát huyđược tinh thần dân chủ Có trình độ đào tạo chuẩn và trên chuẩn, luôn tích cựchọc tập nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ
Điều kiện cơ sở vật chất đồ dùng, đồ chơi, trang thiết bị đảm bảo cho việcdạy và học và tổ chức các hoạt động trong nhà trường
Các bậc phụ huynh đã có nhận thức về tầm quan trọng của giáo dục mầmnon, phối hợp chặt chẽ với nhà trường trong việc thống nhất các biện pháp trongviệc chăm sóc giáo dục trẻ, tích cực ủng hộ nhà trường về tinh thần và cơ sở vậtchất
Bên cạnh những thuận lợi, nhà trường còn gặp một số khó khăn sau:
Khó khăn:
Đội ngũ giáo viên trẻ nhiệt tình, song kinh nghiệm chăm sóc giáo dục trẻcòn hạn chế Một số giáo viên mới vào trường chưa nắm chắc phương pháp tổchức các hoạt động, kỹ năng sư phạm còn nhiều lúng túng trong việc tổ chức cáchoạt động theo chương trình GDMN Do đó chưa thu hút được sự chú ý của trẻvào giờ học Việc sử dụng và ứng dụng CNTT vào các hoạt động chưa có nhiềusáng tạo và linh hoạt Tổ chức các hoạt động giáo dục phát triển vận động chưađược trú trọng chưa đạt hiệu quả
* Kết quả khảo sát ban đầu:
Tình hình giáo viên trong nhà trường đã có trình độ đào tạo chuẩn và trênchuẩn Song do hậu quả của việc tuyển chọn giáo viên những năm trước đâykhông chú trọng đến trình độ văn hóa, chuyên môn, nghiệp vụ Trình độ đào tạocủa giáo viên chủ yếu là vừa làm, vừa học cho nên chất lượng của việc họckhông cao Việc áp dụng kiến thức vào thực tế giảng dạy còn nhiều hạn chế
Để nắm được tình hình giáo viên trong trường Tôi tiến hành khảo sát banđầu và thu được kết quả như sau:
Trang 5Xếp loại giáo viên
Để đánh giá được kết quả giảng dạy của giáo viên tôi tiến hành tổng hợpkết quả khảo sát các tiết dạy của giáo viên:
Biểu 2: Khảo sát đánh giá kết quả giảng dạy của giáo viên thông qua giờ thể dục:
Kết quả đánh giá xếp loại tiết dạy
Trang 6Để đánh giá được kết quả học tập của học sinh tôi tiến hành khảo sát cáclớp như sau:
Biểu 3: Khảo sát kết quả trên trẻ:
Trang 7Qua kết quả khảo sát cho thấy, kết quả tiết dạy của giáo viên chưa sáng tạo,chưa mang tính linh hoạt, nội dung truyền thụ chưa sâu, chưa phát huy được tínhtích cực của trẻ Do vậy mà kết quả đạt được trên trẻ chưa cao, số trẻ đạt loại tốtcòn thấp: 75/156 đạt 48%; đạt loại khá: 56/156 đạt 36% Số trẻ đạt yêu cầu còncao: 18/156 đạt 12%; chưa đạt: 7/156 đạt 4% Từ kết quả trên bản thân tôi tìm raphương pháp, biện pháp bồi dưỡng chuyên môn cho đội ngũ giáo viên trong nhàtrường Để đội ngũ giáo viên có kiến thức, có kỹ năng tổ chức tốt các hoạt độnggiáo dục phát triển vận động cho trẻ có nhiều tiết dạy tốt, không còn tiết dạy đạtyêu cầu
Từ những thuân lợi, khó khăn và thực trạng của nhà trường tôi đã tìm ranhững giải pháp để nâng cao chất lượng chuyên đề giáo dục phát triển vận độngđạt hiệu quả cao hơn trong nhà trường
7.1.3 Một số biện pháp nâng cao chất lượng chuyên đề giáo dục vận động trường mầm non Văn Tiến - Huyện Yên Lạc - Tỉnh Vĩnh Phúc.
1.Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức tư tưởng chính trị cho cán bộ, giáo viên:
Triển khai ngay từ đầu năm học các Chỉ thị, Nghị Quyết chủ trươngđường lối của Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước, của ngành học Các
cuộc vận động “Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”; Thực hiện tốt các phong trào thi đua “Hai tốt”; phong trào “Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”; “Mỗi thầy giáo, cô giáo là tấm gương tốt cho học sinh noi theo”
Mỗi cán bộ, giáo viên đều phải nắm được Luật giáo dục, Điều lệ trườngmầm non và nhiệm vụ năm học 2017 - 2018 và các nội dung trọng tâm đểCB,GV năm được nhiệm vụ của mình trong thực hiện chức trách và nhiệm vụmột cách sâu sắc Ý thức và tinh thần của các đồng chí cán bộ, giáo viên cầnphải được xác định rõ ràng, được đánh giá một cách nghiêm túc và khách quan
Cử cán bộ, giáo viên đi học tập các lớp bồi dưỡng về chính trị, chuyên môn,nghiệp vụ nhằm nâng cao trình độ nhận thức Thường xuyên quan tâm đến việcphát triển Đảng viên trong chi bộ cơ quan
Tổ chức hội nghị cán bộ công chức triển khai nhiệm vụ năm học củangành học, của huyện, của Tỉnh Xây dựng quy chế hoạt động của nhà trường.Phát động các phong trào thi đua trong năm học Ngoài ra tổ chức công đoànphát động các phong trào thi đua của công đoàn Sau mỗi đợt tổ chức có đánhgiá xếp loại Qua đó đánh giá được ý thức học tập, nhận thức của giáo viên Đưaphần nhận thức tư tưởng chính trị vào đánh giá thi đua Từ đó mỗi cán bộ, giáoviên có ý thức tinh thần trách nhiệm hơn hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao
Xây dựng tập thể nhà trường hoạt động theo “Kỷ cương, tình thương, trách nhiệm” trong đó mỗi cán bộ, giáo viên là tấm gương sáng cho học sinh noi
theo
2.Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch thực hiện chuyên đề:
Thực hiện nhiệm vụ GDMN năm học 2017 - 2018 Nhà trường xây dựngmục tiêu, kế hoạch giáo dục phát triển vận động vào các hoạt động giáo dục chotrẻ
Trang 8- Thông qua các hoạt động giáo dục trong trường mầm non nhằm tăng cườngthời lượng vận động cho trẻ.
- Nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm của giáo viên trong việc tổ chức cáchoạt động giáo dục phát triển vận động cho trẻ mầm non
Triển khai cụ thể hóa kế hoạch theo từng ngày, tuần, tháng tới từng giáoviên, tích cực tuyên truyền về giáo dục phát triển vận động cho các bậc phụhuynh song song với việc tham mưu, tranh thủ sự ủng hộ của các cấp lãnh đạo,chính quyền địa phương đầu tư thiết bị phục vụ cho chuyên đề Tiếp tục bồidưỡng giáo viên kiến thức, kỹ năng phù hợp từng đối tượng, sưu tầm, sáng táccác trò chơi vận động để lồng ghép vào các hoạt động trong ngày nhằm phát huytối đa tính tích cực hoạt động của trẻ Thường xuyên kiểm tra giáo viên tổ chứccác hoạt động vận động cho trẻ, theo dõi giám sát làm tiêu chí bình xét thi đuahàng tháng đồng thời có biện pháp bồi dưỡng nâng cao kiến thức, kỹ năng chogiáo viên chuyên môn còn hạn chế
3.Biện pháp 3: Tạo môi trường kích thích trẻ tích cực vận động:
Nhà trường phân công giáo viên tạo môi trường ngoài trời và bổ sung thêm
đồ dung, đồ chơi ngoài trời với các đồ chơi cho trẻ hoạt động mang tính chấtphát triển vận động nhằm luôn đặt ra cho trẻ những thử thách tìm tòi, khám phátrong các hình thức hoạt động phát triển vận động hấp dẫn, lôi cuốn trẻ tích cựchứng thú tham gia vận động một cách tự nguyện và tự giác
Môi trường trong lớp: chỉ đạo 100% các nhóm/lớp sắp xếp một khoảngkhông gian đủ rộng để những trẻ dư cân béo phì tăng cường vận động, nhữngvận động rèn luyện khả năng giữ thăng bằng, phát triển tố chất khéo léo, mạnh
mẽ thông qua các thiết kế vận động: Đi thăng bằng trên trên ghế thể dục, némcòn, ném vòng vào chai Ngoài ra các lớp còn treo các quả bóng ở độ cao thấpkhác nhau để trẻ có thể nhảy lên đánh bóng, một vài thùng các tông để trẻ chuiqua đường hầm, những hình khối để trẻ có thể tự sắp xếp, leo trèo, bật nhảy…
4.Biện pháp 4 : Lồng ghép các trò chơi vận động vào các hoạt động giáo
dục:
Trong quá trình tổ chức các hoạt động giáo dục như: Tạo hình , âm nhạc, văn
học, môi trường xung quanh, làm quen với toán , 100% giáo viên đã tiến hànhlồng ghép các trò chơi vận động trong tất cả các lĩnh vực nhằm làm tăng thêm sựhứng thú tích cực vận động Qua đó giúp trẻ thực hiện nhiệm vụ học tập mộtcách nhẹ nhàng, tự nhiên thoải mái không khuôn phép, gò bó hay áp đặt:
Ví dụ: Tiết cho trẻ “Làm quen với văn học”, chủ đề “Thế giới thực vật”
Truyện “Chú đỗ con” đối với trẻ 4 - 5 tuổi, giáo viên đã tích hợp trò chơi vậnđộng như sau:
Phần gây hứng thú, giới thiệu bài: Cho trẻ tham gia chương trình “Vườn cổtích” Cô dẫn dắt vào trò chơi vận động như: “Trước khi bước vào chương trìnhvườn cổ tích cô Tiên Xanh muốn nhờ các bạn nhỏ trồng thêm những cây xanhvào trong khu vườn của mình, nhưng đến khu vườn của cô Tiên Xanh thì rất khó
đi Để trồng được cây vào trong khu vườn, các bạn phải bật qua những chiếc
Trang 9vòng màu sắc này” (trẻ bật qua chướng ngại vật và trồng cây vào trong vườntrên nền nhạc bài “Trồng cây”).
- Phần đàm thoại, trích dẫn, giúp trẻ hiểu nội dung tác phẩm, giáo viên tíchhợp trò chơi vận động là cho trẻ chơi trò chơi “Gieo hạt”
- Kết thúc câu chuyện, giáo viên cho trẻ vận động bài “Em yêu cây xanh”.Kết quả: 100% trẻ tham gia các hoạt động một cách hào hứng, sôi nổi, tựnguyện Trẻ rất thích tham gia vào các hoạt động phát triển vận động
5.Biện pháp 5: Một số phương pháp giáo dục phát triển thể chất:
a Phương pháp trực quan:
Như chúng ta đã biết; nét nổi bật của phương pháp trực quan: Nó tác độngchủ yếu thông qua hệ thống tín hiệu thứ nhất, tạo nên hình ảnh cụ thể của hiệnthực Đó là cách dạy bằng hình ảnh cụ thể, tác động trực tiếp đến các giác quan,đảm bảo tính rõ ràng Phương pháp trực quan đảm bảo sự rõ ràng của sự nhậnthức những cảm giác về động tác, cần thiết đối với sự xuất hiện những biểutượng toàn vẹn và cụ thể hơn về vận động của trẻ Phương pháp này giúp trẻ cụthể hóa các biểu tượng của bài tập vận động, đồng thời phát triển khả năng cảmthụ của trẻ
- Trong quá trình sử dụng phương pháp trực quan giáo viên cần phải phânbiệt và xác định rõ các phương pháp có tính trực quan trực tiếp và các phươngpháp trực quan gián tiếp Phương pháp trực quan trực tiếp gồm có các hình thứckhác nhau về biểu diễn bằng người thực hiện, làm động tác mẫu các động tác.Phương pháp trực quan gián tiếp là sử dụng tài liệu trực quan, tranh ảnh, sơ đồ,phim, đèn chiếu về các bài tập vận động
* Làm mẫu: Là thông qua thị giác để hình thành biểu tượng trực quan về bài
tập vận động Phương pháp này sử dụng khi dạy bài mới cho trẻ:
- Lần đầu, giáo viên cung cấp cho trẻ biểu tượng khái quát về bài tập Sau đólàm mẫu chậm từng phần lần lượt để trẻ nắm được cách tập từng bước
VD: Bài tập vận động “Ném trúng đích”, lần đầu giáo viên làm mẫu toàn bộ,
sau đó chú ý đến tư thế chuẩn bị, tư thế của chân, tay cầm túi cát, cuối cùng làcách lấy đà và ném Khi trẻ nắm được các phần cơ bản của bài tập, thì giáo viêncho trẻ quan sát mẫu của bạn mình, tự nhận xét, nhận ra cái sai của bạn mình
- Khi làm mẫu giáo viên chọn vị trí tập sao cho tất cả các cháu đều nhìn thấy
và nhận đúng mẫu Khi làm mẫu giáo viên phải tập đúng, chính xác, nhẹ nhàng
để trẻ có biểu tượng đúng về bài tập vận động và kích thích trẻ thực hiện tốt
* Sử dụng âm nhạc:
Chúng ta đều biết âm nhạc có tác dụng nâng cao cảm xúc của trẻ, xác địnhtính chất vận động và điều chỉnh nhịp điệu, âm điệu của nó, giúp trẻ tham giavận động một cách hứng thú và tích cực hơn khi vận động
- Khi giáo viên điều khiển các vận động bằng âm thanh như đàn, sắc xô,tiếng vỗ tay, lời bài hát, bản nhạc không lời, chuông, còi… thì giáo viên cầnchọn âm thanh làm sao cho phù hợp với bài dạy, và phù hợp với chủ đề, và sử
Trang 10dụng âm thanh đúng lúc, đúng chỗ để thu hút trẻ đồng thời không làm phân tán
sự tập trung chú ý của trẻ:
VD: Tiết học thể dục cho trẻ tập bài tập “Khởi động”, ở chủ đề “Bản thân” đối với trẻ mẫu giáo, giáo viên có thể cho trẻ tập kết hợp với nhạc không lời
hoặc có lời, ở bài tập khởi động giáo viên có thể chọn những bản nhạc hoặc bài
hát có giai điệu vui nhộn như bài hát “Bé khoẻ, bé ngoan” Hoặc với bài tập
“Phát triển chung” ở chủ đề này cô có thể lựa chọn bài hát như “Con cào cào”
để cho trẻ tập
- Với sự lựa chọn và sưu tầm những bản nhạc có tính chất vui nhộn, phù hợpvới nội dung bài dạy và phù hợp với chủ đề thì sẽ giúp trẻ hứng thú khi tham giahoạt động, đồng thời trẻ sẽ yêu thích môn học hơn
- Trong quá trình dạy cô giáo có thể sử dụng tiếng còi khi trẻ tập:
VD: Đối với “Bài tập vận động cơ bản” “Chạy theo đường dích dắc”, đối
với trẻ 4, 5 tuổi, giáo viên có thể dùng âm thanh để làm hiệu lệnh đó là sử dụngtiếng còi để trẻ thực hiện bài tập một cách dứt khoát, và tập trung vào bài tập, vàthực hiện bài tập một cách nhanh chóng và hứng thú hơn khi tham gia hoạtđộng
b Nhóm phương pháp dùng lời nói:
Trong quá trình giáo dục phát triển thể chất, lời nói có các chức năng đadạng Nhờ lời nói mà giáo viên có thể truyền thụ những kiến thức trở nên tíchcực và sâu lắng hơn
Lời nói giúp trẻ quan sát bài tập vận động có mục đích, hiểu sâu sắc hơn cácbước thực hiện, tạo điều kiện cho trẻ tiếp thu bài vận động chính xác và đầy đủhơn
Khi sử dụng phương pháp này yêu cầu lời nói của giáo viên phải có sức cuốnhút, giáo viên phải nói rõ ràng, mạch lạc, ngắn gọn và dễ hiểu
* Sử dụng tên gọi bài tập:
Tên gọi bài tập vận động nhằm gợi lên cho trẻ, những hình ảnh biểu tượng vềbài tập đó, phát huy ở trẻ khả năng tưởng tượng và gợi nhớ những bài tập mà trẻ
đã biết
Các bài tập đều có tên gọi, thông qua tên gọi đó phản ánh đặc điểm của bàitập Tên gọi của bài tập được diễn đạt dưới hai hình thức: tên gọi đích thực vàtên gọi theo nghĩa bóng được thể hiện dạng yếu tố chơi, thi đua, với hình thứcnày giúp trẻ nắm bắt bài tập một cách tích cực và hứng thú hơn khi tham gia bài
vận động:
Ví dụ 1: Bài tập vận động cơ bản là “Chạy nhanh 20m”, giáo viên có thể giới thiệu với trẻ tên vận động là “Vận động viên nào chạy nhanh”.
Ví dụ 2: Bài tập vận động cơ bản là “Bật xa 35cm”, ở trẻ mẫu giáo 4 – 5 tuổi,
thì giáo viên có thể giới thiệu với trẻ là trò chơi “Qua suối”
* Miêu tả:
Miêu tả bài tập vận động là lời nói của giáo viên kết hợp với làm mẫu từngphần liên tục của bài tập, là sự diễn đạt từng phần liên tục theo một trình tự nhất
Trang 11định, hay miêu tả là tường thuật lại một cách toàn vẹn và lần lượt những đặcđiểm kỹ thuật của bài đã học Khi miêu tả cô chú ý sử dụng lời miêu tả sao chotrẻ dễ hiểu, dễ nhớ, và ngôn ngữ miêu tả cần phải chính xác.
VD: Với bài tập vận động cơ bản là “Đập bóng xuống sàn và bắt bóng” thì
cô có thể vừa làm mẫu vừa miêu tả như sau “Cô đứng thẳng, chân rộng bằngvai, hai tay cầm bóng, cô dùng hai tay đập bóng xuống sàn phía trước mũi chân,mắt nhìn theo bóng và bắt bóng bằng hai tay khi bóng nảy lên, không làm rơibóng”
* Giải thích:
Giải thích được sử dụng khi trẻ đã có biểu tượng chung về bài tập vận động,tiến hành sau khi làm mẫu ở bài tập vận động đó, mục đích nhằm nhấn mạnh,đào sâu vào phần cơ bản của kỹ thuật bài tập, như vận động tay, thân, chân…tiến tới thực hiện toàn bộ bài tập
VD: Khi dạy trẻ “Ném trúng đích”, muốn trẻ nắm vững vận động đó thì giáo viên phải giải thích vào phần cơ bản của bài tập: “Khi các cháu đứng ở tư thế chuẩn bị thì chân, tay phải như thế nào, khi ném tay vung và tư thế chuyển ra sao” Dần dần ở trẻ hình thành biểu tượng cơ bản về vận động này.
Khi giải thích cho trẻ thì lời giải thích của cô đòi hỏi phải ngắn gọn, chínhxác, dễ hiểu Nội dung của việc giải thích thay đổi phụ thuộc vào nhiệm vụ cụthể của từng tiết học, vào đặc điểm cá biệt của trẻ Giải thích làm tích cực hóaquá trình tư duy của trẻ, giúp trẻ hiểu thấu đáo về kỹ thuật bài tập vận động Giải thích còn hướng sự chú ý của trẻ lên một động tác, thao tác nào đó củabài tập hoặc nhấn mạnh, làm sâu hơn tri giác của trẻ về mặt này hay mặt kháccủa bài tập đã học:
VD: Bài vận động cơ bản “Bật xa” Sau khi trẻ bật xa, lúc hạ hai chân xuống
đất – tiếp đất, thường trẻ không biết để tay ở tư thế nào, thì giáo viên giải thíchthêm cho trẻ
* Chỉ dẫn:
Khi chỉ dẫn cho trẻ về bài tập vận động, giáo viên cần nói ngắn gọn, nhằmcủng cố kỹ năng, kỹ xảo vận động, tránh trước hoặc sửa sai Vì vậy khi chỉ dẫncho trẻ có thể đưa ra trước hoặc trong thời gian trẻ thực hiện bài tập
Trong trường hợp đầu giáo viên sử dụng chỉ dẫn như là một phương phápngăn chặn trước những sai sót có thể xảy ra:
Ví dụ: “động tác bụng” khi cúi tay chạm ngón chân, thân phải thẳng, thì việc
chỉ dẫn của giáo viên tiến hành trước khi thực hiện bài tập là nhắc nhở trẻ khicúi không khuỵu gối
Sau khi trẻ thực hiện bài tập giáo viên nhận xét kịp thời về chất lượng thựchiện bài tập, tạo điều kiện làm củng cố thêm biểu tượng của trẻ về những thaotác, giúp trẻ nhận ra những chỗ sai của mình của mình và của bạn để kịp thờisửa đổi
Lời chỉ dẫn được tiến hành dưới hai hình thức: khẩu lệnh và mệnh lệnh:
Trang 12Khẩu lệnh là lời chỉ dẫn truyền ra dưới dạng xác định với nội dung chínhxác
Khi truyền khẩu lệnh:
Ví dụ: “Nghiêm, bên phải quay, hoặc đi đều, bước” giáo viên phải đứng ở tư
thế “đứng nghiêm”, giọng nói của giáo viên phải tự tin, dõng dạc, rõ ràng để tổ
chức trẻ, yêu cầu trẻ tập bài tập nhanh nhẹn chính xác
Khẩu lệnh bao gồm: dự lệnh và động lệnh Dự lệnh là phần trước khi truyềnlệnh, chỉ ra cần vận động như thế nào, lời truyền cần kéo dài
Ví dụ: “Bên phải…”, chữ “phải” cần phải kéo dài.
Động lệnh là phần thực hiện, là lời truyền kéo dài “quay” dứt khoát.
Khi truyền khẩu lệnh và mệnh lệnh thì cường độ giọng nói của giáo viên cầnphải phù hợp với khu vực tập luyện, nơi diễn ra việc tập luyện và điều chủ yếu
là làm sao cho tất cả trẻ đều nghe rõ và hiểu được việc truyền lệnh của giáo viên
Có như vậy trẻ mới nhận được lệnh và thực hiện đúng, cùng nhau
Mệnh lệnh là những lời nói do giáo viên tự nghĩ ra:
VD: Giáo viên nói: “Đi đến cửa sổ, quay lại cầm bóng”, “quay sang bên trái của gậy”
Ở lứa tuổi nhà trẻ và mẫu giáo bé, giáo viên cần sử dụng mệnh lệnh khi trẻthực hiện bài tập, sau đó dần dần cho trẻ làm quen với khẩu lệnh
Khi truyền khẩu lệnh và mệnh lệnh giáo viên cần chú ý đến cường độ giọngnói phải phù hợp với khu vực tập luyện, nơi diễn ra việc luyện tập Chú ý khitruyền khẩu lệnh và mệnh lệnh làm sao cho tất cả các trẻ đều nghe rõ và hiểuđược việc truyền lệnh của giáo viên Có như vậy, trẻ mới nhận được lệnh vàthực hiện đúng, cùng nhau
Nếu giáo viên cho trẻ tập bài tập vận động theo nhạc, thì phần dự lệnh củakhẩu lệnh phải bằng lời nói, còn động lệnh, tín hiệu để thực hiện sẽ sử dụng hợp
âm đầu tiên
Ví dụ: Trước khi vào phần chơi “kéo co”, giáo viên có thể hỏi trẻ như: “Bạn
nào nhắc lại cho cô cách chơi của trò chơi kéo co?”
Trong quá trình tập luyện, giáo viên có thể hỏi trẻ là bạn tập như vậy có đúngkhông? Những câu hỏi này giúp trẻ nhận ra những sai sót