Kết quả chính và kết luận Hệ thống hóa những vấn đề về lý luân và thực tiễn về phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại Nghiên cứu và phân tích, đánh giá thực t
Cơ sở lý luận và thực tiễn về dịch vụ ngân hàng điện tử tại ngân hàng thương mại
Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
Theo luật sửa đổi, bổ sung của Luật tổ chức tín dụng số 17/2017/QH14 có hiệu lực từ ngày 20/11/2017 định nghĩa:
Ngân hàng thương mại là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan nhƣ: nhận tiền gửi, cấp tín dụng và cung cấp các dịch vụ thanh toán qua tài khoản, nhằm mục tiêu lợi nhuận
Luật này còn định nghĩa: Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân
Như vậy, có thể đưa ra khái niệm về Ngân hàng thương mại: Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh …, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan NHTM là tổ chức tài chính trung gian cung cấp danh mục các dịch vụ tài chính đa dạng nhất
Ngân hàng điện tử, hiểu theo nghĩa trực quan nhất là sự kết hợp hoạt động của ngân hàng với phương tiện điện tử Đây là kết quả tất yếu của quá trình phát triển công nghệ thông tin đƣợc ứng dụng trong hoạt động kinh doanh ngân hàng Các ngân hàng trên thế giới đã và đang phát triển mạnh các hoạt động dịch vụ của ngân hàng điện tử Đối với nước ta đây là lĩnh vực hoạt động hoàn toàn mới, hiện đã có một số dịch vụ đƣợc phát triển riêng lẻ mang nội dung hoạt động ngân hàng điện tử nhƣ xây dựng và phát triển trang Web riêng của ngân hàng; dịch vụ HomeBanking; MobileBanking, internet banking, Các trang web hiện chủ yếu để để quảng bá dịch vụ, lĩnh vực hoạt động và cơ cấu tổ chức, mô hình quản lý của ngân hàng Đây chỉ là những ý tưởng ban đầu để phát triển hoạt động ngân hàng điện tử, hoạt động ngân hàng qua mạng di động, mạng iternet đã đƣợc phát triển với nhiều tiện ích như cung cấp thông tin về tài khoản, thông tin về thị trường (tỷ giá, lãi suất, giá cả, giao dịch chứng khoán chuyển tiền)… Hiện nay, công nghệ điện tử viễn thông đang là điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của hoạt động ngân hàng điện tử tại các ngân hàng thương mại tại Việt Nam
Hoạt động ngân hàng điện tử không chỉ giới hạn trong phạm vi mạng Internet và các mạng thông tin khác mà còn mở rộng đối với tất cả các giao dịch được thực hiện bằng phương tiện điện tử Sự phát triển của hoạt động ngân hàng điện tử phụ thuộc vào sự phát triển của các phương tiện điện tử, những thành tựu mới của khoa học công nghệ có ảnh hưởng lớn tới sự phát triển hoạt động ngân hàng điện tử và cũng đặt ra những vấn đề mới đối với môi trường pháp lý, trình độ dân trí cũng như tính khả thi và hiệu quả khi áp dụng những hoạt động này tại các ngân hàng thương mại ở Việt Nam
Quá trình nhận thức từ biết và hiểu đến và nắm vững cũng nhƣ quản lý và kiểm soát tốt hoạt động ngân hàng điện tử và những rủi ro liên quan là một quá trình lâu dài và không đơn giản Rất nhiều người nhầm tưởng hoạt động ngân hàng điện tử với hoạt động cung cấp dịch vụ ngân hàng điện tử qua mạng Internet, nhƣng thực tế không phải nhƣ vậy Hoạt động ngân hàng điện tử là một khái niệm rộng hơn nhiều và có thể đƣợc định nghĩa một cách tổng quát nhƣ sau:
Hoạt động ngân hàng điện tử là hoạt động cung ứng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua các kênh điện tử (electronic banking hay E-banking)
Hoạt động ngân hàng điện tử có thể bao gồm từ những sản phẩm dịch vụ truyền thống nhƣ nhận tiền gửi, cho vay, thanh toán hóa đơn … cho đến việc phát hành, cung ứng và chấp nhận thanh toán tiền điện tử Tất cả những hoạt động này đều có điểm chung ở bản chất của kênh phân phối mà qua đó khách hàng tiếp cận đƣợc với các sản phẩm dịch vụ Dù đó là Internet banking, telephone banking, hay PC banking và sử dụng hệ thống mạng đóng (là mạng hạn chế tiếp cận trong phạm vi những người tham gia thông qua các thỏa thuận về điều kiện thành viên) hay mạng mở (là mạng không hạn chế và không có những yêu cầu về tƣ cách thành viên) thì đều có một điểm chung là sử dụng các kênh phân phối điện tử
2.1.1.3 Dịch vụ ngân hàng điện tử
Khoảng hơn hai thập kỷ trước đây hàng loạt các ngân hàng bắt đầu cung ứng một chương trình phần mềm cho khách hàng nhằm giúp khách hàng có thể xem số dƣ tài khoản, đồng thời thực hiện một loạt thanh toán cho một số dịch vụ công Đến năm 1995, nghiệp vụ ngân hàng điện tử (E-banking) chính thức đƣợc triển khai thông qua phần mềm Quicken của công ty Intuit Inc , với sự tham gia của 16 ngân hàng lớn nhất nước Mỹ Khi đó khách hàng chỉ cần một máy vi tính, một modem và phần mềm Quicken là có thể sử dụng đƣợc dịch vụ này Ngày nay dịch vụ E-bankinh đã được nhân rộng ra khắp các châu lục, ở các nước phát triển, dịch vụ này khá quen thuộc với khách hàng vì tính tiện lợi và hiệu quả của nó
- Với dịch vụ Ngân hàng điện tử, khách hàng có khả năng truy nhập từ xa nhằm: thu thập thông tin; thực hiện các giao dịch thanh toán, tài chính dựa trên các tài khoản lưu ký tại Ngân hàng, và đăng ký sử dụng các dịch vụ mới
- Dịch vụ Ngân hàng điện tử là một hệ thống phần mềm vi tính cho phép khách hàng tìm hiểu hay mua dịch vụ Ngân hàng thông qua việc nối thiết bị điện tử của mình với hệ thống mạng công nghệ thông tin của Ngân hàng
Các khái niệm trên đều khái niệm Ngân hàng điện tử thông qua các dịch vụ cung cấp hoặc qua kênh phân phối điện tử Khái niệm này có thể đúng ở từng thời điểm nhƣng không thể khái quát hết đƣợc cả quá trình lịch sử phát triển cũng như tương lai phát triển của Ngân hàng điện tử Do vậy, nếu coi Ngân hàng cũng nhƣ một thành phần của nền kinh tế điện tử, một khái niệm tổng quát nhất về Ngân hàng điện tử có thể đƣợc diễn đạt nhƣ sau: “Ngân hàng điện tử là Ngân hàng mà tất cả các giao dịch giữa Ngân hàng và khách hàng (cá nhân và tổ chức) dựa trên quá trình xử lý và chuyển giao dữ liệu số hóa nhằm cung cấp sản phẩm dịch vụ Ngân hàng.”(Nguồn: Bộ thương mại)
Nhƣ vậy dịch vụ ngân hàng điện tử đƣợc hiểu là các nghiệp vụ, các sản phẩm ngân hàng truyền thống trước đây được phân phối trên các kênh mới nhƣ internet,điện thoại, mạng không dây…thì hiện nay ngân hàng điện tử tồn tại dưới hai hình thức: Hình thức ngân hàng trực tuyến chỉ tồn tại dựa trên môi trường internet, cung cấp dịch vụ 100% thông qua môi trường mạng và mô hình kết hợp giữa hệ thống NHTM truyền thống và điện tử hóa các dịch vụ truyền thống tức là phân phối các sản phẩm dịch vụ cũ trên những kênh phân phối mới Ngân hàng điện tử Việt Nam chủ yếu phát triển theo mô hình này
2.1.1.4 Phát triển dịch vụ ngân hàng điện tử
Sự ra đời của dịch vụ ngân hàng điện tử đã làm thay đổi hoàn toàn mối quan hệ giữa người sử dụng dịch vụ và ngân hàng Trước đây, khách hàng phải đến giao dịch trực tiếp với nhân viên ngân hàng, thì nay họ có thể thực hiện rất nhiều giao dịch với ngân hàng từ xa, mang lại tiện ích và giảm chi phí cho khách hàng, hoạt động dịch vụ NHĐT ngày càng phát triển trên cả qui mô, số lƣợng giao dịch, doanh số giao dịch Phát triển dịch vụ NHĐT là quá trình từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp lên cao, từ chƣa hoàn thiện đến hoàn thiện…
Trên thế giới, dịch vụ ngân hàng điện tử đã trải qua cả một quá trình dài phát triển trên tất cả các mặt để đạt đến mức độ phổ biển nhƣ hiện nay Phát triển trong dịch vụ ngân hàng điện tử đƣợc hiểu là sự phát triển cả về chất và lƣợng của dịch vụ từ sự gia tăng số lƣợng dịch vụ, gia tăng các tiện ích đến sự gia tăng về chất lƣợng dịch vụ nhƣ tốc độ xử lí, tính ổn định, độ an toàn tin cậy… để đạt đƣợc mục tiêu cuối cùng mà ngân hàng đề ra đó là mục tiêu lợi nhuận
Hiện nay do sự cạnh tranh quyết liệt, các ngân hàng đều chú trọng đi đôi giữa sự tăng cường chất lượng dịch vụ như tăng cường tính năng bảo mật, tăng cường tốc độ xử lí, độ ổn định nhưng vẫn đảm bảo an toàn, giảm thiểu những rủi ro Thực tế chứng minh hầu hết các Ngân hàng đều phát triển các dịch vụ Ngân hàng điện tử từ mức đơn giản (truy vấn, kiểm tra thông tin, số dƣ,…) cho đến mức phức tạp (chuyển khoản, thanh toán hóa đơn, thanh toán dịch vụ, )
Cơ sở thực tiễn
2.2.1 CÁC HOẠT ĐỘNG NGÂN HÀNG ĐIỆN TỬ
Hệ thống thanh toán điện tử liên ngân hàng
Hiện nay tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam đang áp dụng nhiều hệ thống thanh toán cùng song song hoạt động đó là:
- Hệ thống chuyển tiền điện tử liên ngân hàng
- Hệ thống thanh toán song phương
- Hệ thống bù trừ điện tử
- Hệ thống chuyển tiền liên chi nhánh
- Hệ thống chuyển tiền quốc tế (S.W.I.F.T)
Với những hệ thống thanh toán này, ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam có thể đáp ứng đƣợc hầu hết những nhu cầu thanh toán của khách hàng một cách nhanh chóng, chính xác
Hệ thống tập trung hóa tài khoản kế toán
Với việc triển khai thành công hệ thống hiện đại hóa ngân hàng thì tại ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt Nam đã áp dụng hệ thống tập trung hóa tài khoản kế toán Việc lập các báo cáo quản lý và báo cáo quyết toán của các chi nhánh đã đƣợc Hội sở chính hỗ trợ bằng việc kết xuất các dữ liệu từ hệ thống thông tin tập trung nên đã giảm thiểu thời gian cũng nhƣ tăng tính chính xác trong hoạt động kinh doanh và quản trị điều hành hoạt động tại chi nhánh Đồng thời, với hệ thống chuyển giao chi nhánh BDS (Branch Delivery System) đƣợc triển khai tới tất cả các chi nhánh trên toàn quốc cho phép khách hàng của ngân hàng TMCP Đầu tƣ và Phát triển Việt nam có thể giao dịch tại bất kỳ chi nhánh nào trong cùng hệ thống
Các hoạt động khác a, BIDV Home banking
Homebanking là kênh phân phối của dịch vụ Ngân hàng điện tử BIDV, cho phép khách hàng có thể ngồi tại nơi làm việc thực hiện hầu hết các giao dịch trên tài khoản tiền gửi của khách hàng tại BIDV
Các dịch vụ do BIDV-Homebanking cung cấp:
- Vấn tin tài khoản: Các tài khoản tiền gửi thanh toán; Các tài khoản tiền vay chính; Tài trợ thương mại
- Thanh toán: Tương tự như soạn Uỷ nhiệm chi tại quầy nhưng được thực hiện trên máy tính của khách hàng; Có chức năng soạn điện offline để tiết kiệm chi phí b, Dịch vụ gửi – nhận tin nhắn qua mạng (BSMS)
BSMS là dịch vụ gửi - nhận tin nhắn qua mạng điện thoại di động, tập trung và thống nhất trong toàn hệ thống BIDV, cho phép khách hàng của BIDV chủ động vấn tin về các thông tin liên quan đến tài khoản khách hàng và liên quan đến ngân hàng và/hoặc nhận đƣợc các tin nhắn tự động từ BIDV thông qua một số điện thoại duy nhất trên toàn quốc (1900545499)
Các thông tin cung cấp qua dịch vụ BSMS:
- Thông tin tài khoản tiền gửi: bao gồm các thông tin về số dƣ tài khoản, giao dịch tài khoản vừa thực hiện, 05 giao dịch gần nhất, giao dịch phát sinh khi tài khoản đƣợc ghi Có, ghi Nợ;
- Thông tin tài khoản tiền vay: bao gồm các thông tin về kỳ hạn trả nợ gần nhất tiếp theo của khách hàng, tình hình trả nợ vay của khách hàng, tin nhắn chuyển nợ quá hạn;
- Các thông tin về BIDV: thông tin về tỷ giá, lãi suất của BIDV, thông tin về địa điểm đặt máy ATM…
- Thông tin khác: cước phí dịch vụ BSMS khách hàng đã sử dụng trong tháng, huỷ bỏ và đăng ký lại các dịch vụ đã đăng ký, thay đổi mật khẩu,
- Thông tin về chứng khoán: thông tin về chỉ số chứng khoán, thông tin về mã chứng khoán, thông tin tài khoản chứng khoán của khách hàng, thông tin giao dịch khớp lệnh, thông tin về lịch sử giao dịch, thông tin tự động về kết quả giao dịch của khách hàng, thông tin tự động về chỉ số chứng khoán cuối phiên c, Vấn tin tài khoản trên Internet (Directbanking)
BIDV-DirectBanking là một kênh dịch vụ mới do BIDV cung cấp cho khách hàng vấn tin tài khoản trên Internet thông qua website http://www.BIDV.com.vn Thông qua việc truy nhập tại địa chỉ này, khách hàng hoặc những người được khách hàng ủy quyền (đối với trường hợp khách hàng là tổ chức), có quyền tra cứu thông tin các tài khoản của khách hàng tại BIDV Sử dụng dịch vụ BIDV-DirectBanking, khách hàng có thể vấn tin các tài khoản tiền gửi (CA, SA, FD) và tài khoản tiền vay d, Dịch vụ thanh toán hóa đơn
+ Dịch vụ thanh toán hoá đơn điện EVN: Là dịch vụ cho phép khách hàng thông qua hệ thống ngân hàng (quầy giao dịch, ATM, các kênh thanh toán khác nhƣ SMS, Internetbanking,…) thanh toán hoá đơn tiền điện cho công ty Điện lực tại địa phương thông qua hệ thống dữ liệu kết nối trực tiếp giữa BIDV và các công ty Điện lực tại địa phương
Khách hàng có thể thanh toán hóa đơn qua các phương thức sau đây:
- Thanh toán bằng tiền mặt: Khách hàng mang thông báo cước phí tiền Điện đến quầy giao dịch gần nhất của BIDV tại địa phương và yêu cầu thanh toán
- Thanh toán bằng chuyển khoản: Khách hàng mang thông báo cước phí tiền Điện đến quầy giao dịch gần nhất của BIDV tại địa phương và yêu cầu chuyển khoản thanh toán cước phí
- Thanh toán qua máy ATM: Khách hàng sử dụng thẻ ATM của BIDV đến các máy ATM của BIDV gần nhất tại địa phương, thực hiện thanh toán theo hướng dẫn trên màn hình mà không phải đăng ký trước với ngân hàng Khách hàng cần ghi nhớ mã khách hàng của dịch vụ Điện ghi trên thông báo cước để thực hiện thanh toán
- Thanh toán qua nhờ thu tự động: Khách hàng ký hợp đồng uỷ quyền thanh toán hoá đơn qua ngân hàng với BIDV trên tờ rơi này Khách hàng chỉ cần ký hợp đồng 1 lần duy nhất và BIDV sẽ tự động thanh toán các hóa đơn đến hạn cho Khách hàng Đối tƣợng Khách hàng: Là các khách hàng cá nhân, khách hàng doanh nghiệp có hoá đơn sử dụng điện của công ty Điện lực tại địa phương