1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Chân khớp ăn thịt, kí sinh của sâu bộ cánh phấn cây hại vừng v6 tại huyện yên thành và nghi lộc tỉnh nghệ an, năm 2002

60 4 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Chân Khớp Ăn Thịt, Ký Sinh Của Sâu Bộ Cánh Phấn Gây Hại Vừng V6 Tại Huyện Yên Thành Và Nghi Lộc - Tỉnh Nghệ An, Năm 2002
Tác giả Nguyễn Đình Vinh
Người hướng dẫn TS. Trần Ngọc Lân
Trường học Trường Đại Học Vinh
Chuyên ngành Sinh học
Thể loại luận văn tốt nghiệp
Năm xuất bản 2002
Thành phố Nghệ An
Định dạng
Số trang 60
Dung lượng 1,37 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bảng 3 Thành phần loài sâu hại vừng V6 bộ cánh phấn ở Yên Bảng 4 Diễn biến số lượng sâu non bộ cánh phấn trên sinh quần ruộng vừng V6 tại Yên Thành, vụ vừng xuân 2002 30 Bảng 5 Diễn biến

Trang 1

-

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Cử nhân khoa học ngành Sinh học

chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu

bộ cánh phấn gây hại vừng V6 tại huyện

Yên Thành và Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An, năm 2002

Vinh

Lân

NĂM 2003

Trang 2

Lời cảm ơn

Đề tài “Chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu bộ cánh phấn gây hại

vừng V6 tại huyện Yên Thành và Nghi Lộc tỉnh Nghệ An năm

2002” được thực hiện từ tháng 3 đến tháng 12 năm 2002 Trong

suốt quá trình thực hiện đề tài tôi đã nhận được rất nhiều sự giúp đỡ

của các nhà khoa học, các thầy cô giáo và cán bộ bảo vệ thực vật ở

địa phương - nơi nghiên cứu đề tài

Trước tiên tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành và sâu sắc tới

Tiến sỹ Trần Ngọc Lân - người thầy kính quý luôn tận tình hướng

dẫn và giúp đỡ từ những bước đi đầu tiên trong lĩnh vực nghiên cứu

khoa học của tôi

Tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm khoa Sinh học,đặc

biệt là thầy cô và cán bộ trong tổ bộ môn Động vật học - khoa Sinh

học đã tạo điều kiện giúp đỡ về thời gian cũng như cơ sở vật chất,

thiết bị thí nghiệm cho tôi làm việc trong thời gian qua

Xin cảm ơn cán bộ của sở NN & PTNT, Chi cục BVTV Nghệ

An đã cung cấp những số liệu qúi báu để tôi hoàn thành luận văn

Xin cảm ơn những người thân, bạn bè xa gần và đồng nghiệp

đã động viên giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.

Vinh, tháng 5/2003 Tác giả: Nguyễn Đình Vinh

Trang 3

BẢNG CHỮ CÁI VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN

IPM Quản lý dịch hại tổng hợp (Integrated Pest Management)

P pseu Pardosa pseudoanulata

MỤC LỤC

Trang 4

Mục Nội dung Trang

1 Tầm quan trọng và ý nghĩa của việc nghiên cứu chân

Chương I Tổng quan tài liệu

1.1.1 Cấu trúc và tính ổn định của quần xã sinh vật 11

1.1.4 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến cấu trúc quần

14

1.2 Tình hình nghiên cứu sâu hại vừng và thiên địch của chúng 16

1.3 Một vài đặc điểm về điều kiện tự nhiên và kinh tế xã hội

Chương II Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Chương III Kết quả nghiên cứu

3.1 Sự đa dạng của sâu hại vừng và chân khớp ăn thịt, ký

sinh trên sinh quần ruộng vừng ở yên thành và nghi lộc

3.2 Sâu hại vừng V6 bộ Cánh phấn ở Yên Thành và Nghi

Trang 5

Lộc, Tỉnh Nghệ An năm 2002 27

3.3 Chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu bộ Cánh phấn gây

hại vừng V6 ở Yên Thành và Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An

31

3.3.1 Thành phần loài chân khớp ăn thịt của sâu hại vừng V6 31

3.2.2 Thành phần loài chân khớp ký sinh sâu hại vừng V6 33

3.4 Diễn biến số lượng sâu non hại vừng V6 và Chân khớp

ăn thịt, ký sinh trong sinh quần ruộng vừng V6, năm

3.4.1 Diễn biến số lượng sâu hại vừng V6 và chân khớp ăn

3.5 Chân khớp ăn thịt, ký sinh của Sâu xanh (Heliothis

3.5.1 Tập hợp loài chân khớp ký sinh sâu non sâu xanh 42

3.5.2 Diễn biến số lượng chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu

3.6 Chân khớp ăn thịt, ký sinh của Sâu khoang Spodoptera

3.6.1 Tập hợp loài chân khớp ký sinh sâu non sâu khoang 48

3.6.2 Diễn biến số lượng chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu non

sâu khoang trên sinh quần ruộng vừng V6, năm 2002 48

3.7 Sự sai khác về mật độ sâu hại bộ cánh phấn, chân khớp

ăn thịt, tỷ lệ ký sinh giữa ruộng vừng không phun thuốc

Trang 6

Bảng 3 Thành phần loài sâu hại vừng V6 bộ cánh phấn ở Yên

Bảng 4 Diễn biến số lượng sâu non bộ cánh phấn trên sinh quần

ruộng vừng V6 tại Yên Thành, vụ vừng xuân 2002 30 Bảng 5 Diễn biến số lượng sâu non bộ cánh phấn trên sinh quần

ruộng vừng V6 tại Nghi Lộc, vụ vừng hè thu 2002 31 Bảng 6 Thành phần loài chân khớp ăn thịt sâu hại vừng V6 ở

Bảng 7 Thành phần loài chân khớp ký sinh sâu bộ cánh phấn

gây hại vừng V6 ở Yên Thành và Nghi Lộc, năm 2002 34 Bảng 8 Số loài côn trùng ký sinh của các loài sâu bộ cánh phấn

Bảng 9 Số lượng cá thể các loài côn trùng ký sinh sâu hại bộ

Bảng 10 Biến động số lượng sâu hại bộ cánh phấn và chân khớp

ăn thịt, ký sinh của chúng trên sinh quần ruộng vừng

Bảng 11 Biến động số lượng sâu hại bộ cánh phấn và chân khớp

ăn thịt, ký sinh của chúng trên sinh quần ruộng vừng

Bảng 12 Mật độ quần thể sâu non bộ cánh phấn gây hại vừng V6

và chân khớp ăn thịt, ký sinh ở ruộng vừng không phun

Bảng 13 Tập hợp loài côn trùng ký sinh sâu xanh, năm 2002 42 Bảng 14 Biến động số lượng sâu xanh và chân khớp ăn thịt, ký

sinh của chúng trên sinh quần ruộng vừng V6, vụ xuân

Bảng 15 Biến động số lượng sâu xanh và chân khớp ăn thịt, ký

sinh của chúng trên sinh quần ruộng vừng V6, vụ hè thu

Bảng 16 Mật độ quần thể sâu xanh và chân khớp ăn thịt, ký sinh

ở ruộng vừng không phun thuốc và ruộng vừng phun

Bảng 17 Tập hợp loài côn trùng ký sinh sâu khoang, năm 2002 48

Trang 7

Bảng 18 Biến động số lượng sâu khoang và chân khớp ăn thịt, ký

sinh của chúng trên sinh quần ruộng vừng V6, vụ xuân

Bảng 19 Biến động số lượng sâu khoang và chân khớp ăn thịt, ký

sinh của chúng trên sinh quần ruộng vừng V6, vụ hè thu

Bảng 20 Mật độ quần thể sâu khoang và chân khớp ăn thịt, ký

sinh ở ruộng vừng không phun thuốc và ruộng vừng

Bảng 21 So sánh sự sai khác giữa công thức I và công thức II, vụ

Bảng 22 So sánh sự sai khác giữa công thức I và công thức II, vụ

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang 8

Hình 1 Biến động số lượng sâu non bộ cánh phấn và chân

khớp ăn thịt, ký sinh ở ruộng vừng không phun

Hình 2 Biến động số lượng sâu non bộ cánh phấn và chân

khớp ăn thịt, ký sinh ở ruộng vừng phun thuốc, vụ

Hình 3 Biến động số lượng sâu non bộ cánh phấn và chân

khớp ăn thịt, ký sinh ở ruộng vừng không phun

Hình 4 Biến động số lượng sâu non bộ cánh phấn và chân

khớp ăn thịt, ký sinh ở ruộng vừng phun thuốc, vụ

Hình 5 Biến động số lượng sâu xanh và chân khớp ăn thịt,

ký sinh ở ruộng vừng không phun thuốc, vụ vừng

Hình 6 Biến động số lượng sâu xanh và chân khớp ăn thịt,

ký sinh ở ruộng vừng phun thuốc, vụ vừng xuân

Hình 7 Biến động số lượng sâu xanh và chân khớp ăn thịt,

ký sinh ở ruộng vừng không phun thuốc, vụ hè thu

Hình 8 Biến động số lượng sâu xanh và chân khớp ăn thịt,

ký sinh ở ruộng vừng phun thuốc, vụ hè thu 2002 47 Hình 9 Biến động số lượng sâu khoang và chân khớp ăn

thịt, ký sinh ở ruộng vừng không phun thuốc, vụ

Hình 10 Biến động số lượng sâu xanh và chân khớp ăn thịt,

ký sinh ở ruộng vừng phun thuốc, vụ vừng xuân

Hình 11 Biến động số lượng sâu khoang và chân khớp ăn

thịt, ký sinh ở ruộng vừng không phun thuốc, vụ hè

Hình 12 Biến động số lượng sâu khoang và chân khớp ăn

thịt, ký sinh ở ruộng vừng phun thuốc, vụ hè thu

2002

52

MỞ ĐẦU

Trang 9

1 TẦM QUAN TRỌNG VÀ Ý NGHĨA CỦA VIỆC NGHIÊN CỨU CHÂN KHỚP

ĂN THỊT, KÝ SINH SÂU HẠI VỪNG

Cây vừng là một trong 60 loài của họ Pedaleacae, trong họ có 37 loài thuộc giống sesame, nhưng chỉ có Sesamum indicum là loài duy nhất được sử dụng trong trồng trọt Sesamum indicum là cây có dầu cổ xưa nhất được con

người gieo trồng rộng khắp từ các vùng nhiệt đới đến ôn đới, phổ biến ở Châu phi, Địa Trung Hải, Trung Á, Ấn Độ, các nước Đông dương, Trung Quốc, Nhật Bản, Trung và Nam Mỹ Người Ai Cập cổ đại và một số dân tộc khác ở Châu Phi đã coi vừng như là một dược liệu từ 2000 năm trước Công nguyên [25]

Hạt vừng bình quân chứa khoảng 50% dầu, 25% prôtêin, 5% chất khoáng, 1% canxi, 3% axit, 4% chất xơ, Giá trị sử dụng của vừng chủ yếu là làm thực phẩm, kể cả dạng dầu tinh khiết cũng như hạt thô Thành phần axít hữu cơ chủ yếu của dầu vừng là hai loại axít béo không no là axít ôlêic (C18H34O2), chiếm 45,3 - 9,4% và axít linolêic (C18H32O2), chiếm 37,7 - 41,2% Dầu vừng thơm, dễ bảo quản hơn nhiều loại dầu thực vật khác, gần đây trong nhiều nghiên cứu về

ăn chay người ta đánh giá rất cao vai trò của vừng trong việc củng cố và nâng cao sức khoẻ con người, nhất là khả năng phòng và trị một số bệnh hiểm nghèo [25 ]

Hiện nay trên thế giới vừng được gieo trồng với diện tích không nhiều nhưng vừng có mặt ở khắp các châu lục, sản lượng vừng hàng năm trên thế giới khoảng 2 triệu tấn Các vùng trồng vừng chính là Châu Á, chiếm 55- 60%, Châu Mỹ chiếm 18-20%, Châu Phi chiếm 18-20%, ngoài ra Châu Âu, Châu Đại Dương cũng có trồng rải rác nhưng không đáng kể Các nước đứng đầu thế giới về sản xuất vừng là Ấn Độ (400.000 tấn/năm); Trung Quốc (320.000 - 350.000 tấn/năm); SuDan (150.000 - 200.000 tấn/năm) Mêxico (150.000 - 180.000 tấn/năm)

Đối với nước ta vừng là một loại thực phẩm truyền thống, hạt vừng làm tăng vị bùi cho tấm bánh đa, cho chiếc kẹo lạc, cho bánh mè xửng, cơm nắm chấm muối vừng đã đi theo người lính trên nhiều chiến trường trong các cuộc chiến tranh giữ nước của dân tộc ta Việc gieo trồng vừng ở nước ta đã

có từ lâu, ít nhất đã vài ba thế kỷ Trong sách “Vân đài loại ngữ” nhà bác học

Trang 10

Lê Quý Đôn đã từng tổng kết “Phép làm ruộng tốt thì nên trồng đỗ xanh trước sau đó đến các đậu nhỏ và vừng”[25]

Với khả năng chống chịu hạn tốt của cây vừng cho nên nó chủ yếu được gieo trồng ở những vùng khô hạn, không chủ động tưới tiêu, ở những vùng khô hạn chưa có cây trồng nào đạt được hiệu quả kinh tế cao như cây vừng Diện tích gieo trồng vừng của nước ta tập trung chủ yếu vào hai vùng chính là vùng đồng bằng ven biển miền Trung và vùng đất bạc màu Hà Bắc Nghệ An là một trong số ít vùng chuyên canh vừng ở Việt Nam, với diện tích 3.316 ha, và năng suất 1,3 tấn/ha (1989); 4.098 ha (1990) và năng suất 2,4 tấn/ha; 4.370 ha (1993) năng suất 3,0 tấn/ha Cho đến năm 1994 ngoài các giống vừng địa phương như vừng đen, vừng vàng thì ở Nghệ An đã đưa vào khảo nghiệm thêm một giống vừng mới là vừng trắng (vừng V6) Tổng diện tích gieo trồng vừng ở Nghệ An năm 1994 là 5.681ha, trong đó vừng V6 là 5ha và đến năm 1995 diện tích gieo trồng vừng V6là 500ha/tổng diện tích 5.710ha [2] Trong năm 2001 diện tích vừng ở tỉnh Nghệ An là 9.909ha, đặc biệt trong năm 2002 diện tích gieo trồng lên đến 12.000ha, trong đó vụ hè thu gieo trồng là 7.600ha, vừng V6 chiếm 6000ha với năng suất 800 - 1000kg/ha (Báo cáo của sở NN và PTNN Nghệ An, năm 2002)

Có thể nói cây vừng (Sesamum indicum) được mệnh danh là “Hoàng

hậu của cây có dầu”, cây công nghiệp ngắn ngày, cây xuất khẩu và là cây thực phẩm quan trọng ở Việt Nam Tiềm năng phát triển của cây vừng còn rất lớn, như tăng diện tích gieo trồng vừng với các tiến bộ kĩ thuật về canh tác, giống mới và phòng trừ sâu bệnh Trên thực tế trong phòng trừ sâu bệnh hại vừng, người nông dân ở hầu hết các địa phương đều dựa hoàn toàn vào thuốc trừ sâu hoá học, những thiệt hại do sâu bệnh gây ra hầu như không giảm Việc mở rộng diện tích trồng vừng và thâm canh với những giống mới năng suất cao chắc chắn sẽ kéo theo sự phát triển của những loại sâu hại vừng, trong đó có những loại trước đây chưa bùng nổ thành dịch Để đóng góp những dẫn liệu khoa học cho biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) sâu hại vừng chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu đề tài:

“Chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu bộ cánh phấn gây hại vừng V6

tại huyện Yên Thành và Nghi Lộc - tỉnh Nghệ An, năm 2002”

Trang 11

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Trên cơ sở nghiên cứu chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu bộ cánh phấn gây hại vừng V6 tại Nghi Lộc và Yên Thành tỉnh Nghệ An, nhằm góp phần cung cấp các dẫn liệu làm cơ sở khoa học cho việc sử dụng chân khớp ký sinh, ăn thịt trong biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) sâu hại vừng

3 ĐỐI TƢỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

- Sâu hại vừng: Nhóm sâu ăn lá, sâu đục quả thuộc bộ cánh phấn (Lepidoptera)

- Chân khớp ăn thịt: Nhện lớn ăn thịt, cánh cứng ăn thịt,

- Côn trùng ký sinh: Ong ký sinh (Hymenoptera), ruồi ký sinh (Diptera)

- Cây vừng: giống vừng V6

- Các nghiên cứu, được tiến hành trên sinh quần ruộng vừng V6 tại xã Nghi Phong huyện Nghi Lộc và xã Sơn Thành huyện Yên Thành tỉnh Nghệ

An

Trang 12

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN TÀI LIỆU

1 1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI

1.1.1 Cấu trúc và tính ổn định của quần xã sinh vật

Tính ổn định và năng suất quần thể của một loài được xác định do rất nhiều yếu tố, một phần các yếu tố đó là cấu trúc của quần xã sinh vật (Watt, 1976) [26] Cấu trúc của quần xã sinh vật bao gồm 3 nhóm yếu tố:

(a) Mạng lưới dinh dưỡng trong quần xã (thể hiện quan hệ dinh dưỡng trong quần xã)

(b) Sự phân bố không gian của sinh vật

(c) Sự đa dạng loài của quần xã

Cũng như ở các hệ sinh thái khác, trong hệ sinh thái đồng ruộng luôn tồn tại mối quan hệ về mặt dinh dưỡng và đó là một quan hệ tất yếu trong mỗi quần xã sinh vật cũng như hệ sinh thái, một loại sinh vật thường là thức ăn, là điều kiện tồn tại cho một loài sinh vật khác Quan hệ phổ biến giữa các loài sinh vật là quan hệ phụ thuộc lẫn nhau vô cùng phức tạp, nhưng có quy luật, đặc biệt là quan hệ dinh dưỡng (thể hiện qua chuỗi thức ăn và lưới thức ăn)

1.1.2 Quan hệ dinh dưỡng

Tập hợp các quần thể gắn bó với nhau qua những mối quan hệ được hình thành trong một quá trình lịch sử lâu dài và sinh sống trong một khu vực lãnh thổ nhất định tạo thành quần xã sinh vật Ngoài mối quan hệ tổng hợp giữa các quần thể trong quần xã với các yếu tố vô sinh, thì trong quần xã các quần thể còn có mối quan hệ tác động qua lại với nhau, đặc biệt là quan hệ dinh dưỡng, trong đó các dạng quan hệ như hiện tượng ăn thịt, ký sinh có ý nghĩa quan trọng không những đối với lý luận mà còn đối với thực tiễn, gắn với các biện pháp phòng trừ các loài sinh vật gây hại

Hiện tượng ăn thịt là một dạng quan hệ trong đó một loài (vật ăn thịt) săn bắt một loài khác (vật mồi) để làm thức ăn và thường dẫn đến cái chết của

con mồi trong một thời gian ngắn Để hoàn thành sự phát triển, mỗi cá thể vật

ăn thịt thường phải tiêu diệt rất nhiều con mồi (trừ một số trường hợp bọ rùa nhỏ ăn rệp sáp lớn) Các loài ăn thịt có hai khả năng ăn mồi: Vật ăn thịt có thể

Trang 13

nhai nghiền con mồi (như cánh cứng ăn thịt, chuồn chuồn, ) hoặc chúng có thể hút dịch dinh dưỡng từ con mồi (như bọ xít ăn thịt, nhện lớn ăn thịt, )

Hiện tượng ký sinh là một dạng quan hệ tương hỗ giữa các loài sinh vật rất phức tạp và đặc trưng Có nhiều định nghĩa về ký sinh, Dogel (1941) gọi các loài ký sinh là những sinh vật sử dụng các sinh vật sống khác (vật chủ) làm nguồn thức ăn và môi trường sống Bondarenko (1978) định nghĩa ký sinh là loài sinh vật nhờ vào loài sinh vật khác (vật chủ) trong thời gian dài, dần dần làm vật chủ chết hoặc suy nhược Viktorov (1976) định nghĩa hiện tượng ký sinh là một dạng quan hệ tương hỗ lợi một chiều trong đó loài được lợi (ký sinh) đã sử dụng loài sinh vật sống khác (vật chủ) làm thức ăn và nơi ở trong một phần nào đó của chu kỳ vòng đời của nó [15]

Đối với các loài sâu hại thì hiện tượng ký sinh có tính chất chuyên hoá cao về tương quan giữa loài sâu hại và loài ký sinh, pha sinh trưởng phát triển

và đặc biệt tương ứng với thời vụ sản xuất cây trồng Hiện tượng ký sinh là hiện tượng phổ biến trong tự nhiên, đặc biệt là côn trùng ký sinh, trong đó thông thường vật ký sinh (loài ký sinh) sử dụng hết hoàn toàn các mô của cơ thể vật chủ và vật ký sinh thường gây chết vật chủ ngay sau khi chúng hoàn thành chu kỳ phát triển

Sự liên quan mật thiết giữa các loài sâu hại với côn trùng ăn thịt, côn trùng ký sinh trong quá trình phát triển trong quần xã có ý nghĩa to lớn không những trong lý luận mà còn có ý nghĩa trong thực tiễn Và việc nghiên cứu, xem xét và thiết lập mối quan hệ tương hỗ đó đã góp phần quan trọng trong các biện pháp phòng trừ dịch hại nông nghiệp theo xu hướng bảo vệ sự đa dạng, cân bằng trong hệ sinh thái nông nghiệp

tố biến động số lượng đều tác động đến các quá trình này khi chúng làm thay đổi sức sinh sản, tỷ lệ chết, và sự di cư của các cá thể Các yếu tố vô sinh mà

Trang 14

trước tiên là điều kiện khí hậu thời tiết tác động đến biến đổi lên côn trùng được thực hiện trực tiếp hoặc gián tiếp thông qua thức ăn, thiên địch Sự điều hoà thông qua các mối quan hệ tác động qua lại đó đã phản ánh ảnh hưởng của mật độ quần thể lên sức sinh sản, tỷ lệ tử vong và di cư trong đó tồn tại mối quan hệ trong loài và bằng sự thay đổi tính tích cực của thiên địch và đặc điểm của thức ăn Sự tồn tại của các mối quan hệ này đảm bảo những thay đổi đền bù cho sự bổ sung và sự giảm sút số lượng cá thể của quần thể Chính

sự tác động thuận nghịch đó đã san bằng những sai lệch ngẫu nhiên trong mật

độ quần thể [15]

Thức ăn

Quan hệ trong loài

Yếu tố

vô sinh

Mật độ quần thể

Sức sinh sản, tỷ lệ tử vong, di cư

Ăn thịt

ký sinh

Sơ đồ chung của động thái số lượng côn trùng

(Viktorov, 1967)

Trang 15

Các sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá có khả năng thực hiện sự điều hoà số lượng côn trùng ở các mật độ thấp được xác nhận trong thực tiễn của phương pháp sinh học đấu tranh chống côn trùng gây hại Khác với sinh vật

ăn côn trùng đa thực, các côn trùng ký sinh và ăn thịt chuyên hoá có thể hoạt động trong khoảng phạm vi rộng hơn của mật độ quần thể vật chủ (con mồi) nhờ khả năng tăng số lượng với sự tăng mật độ của sâu hại Điều này được ghi nhận trong thực tế ở những trường hợp khả năng khống chế sự bùng phát sinh sản hàng loạt của côn trùng ăn thực vật bởi sinh vật ăn côn trùng chuyên hoá Vai trò quan trọng của ký sinh, ăn thịt được coi là yếu tố điều hoà số lượng côn trùng và được thể hiện ở hai phản ứng đặc trưng là phản ứng số lượng và phản ứng chức năng [15]

- Phản ứng số lượng: Thể hiện khi gia tăng số lượng quần thể vật mồi

và vật chủ thì kéo theo sự gia tăng số lượng vật ăn thịt (vật ký sinh)

- Phản ứng chức năng: Biểu thị ở chỗ khi quần thể vật mồi (vật chủ) mật độ gia tăng thì số lượng cá thể của chúng bị tiêu diệt bởi vật ăn thịt, (vật

ký sinh) cũng tăng lên

Hiện nay có hàng loạt dẫn liệu thực tế xác nhận khả năng điều hoà của các cơ chế điều hoà ở các mức độ khác nhau của số lượng quần thể Cơ chế

đó được thực hiện liên tục kế tiếp nhau tham gia tác động, khi mật độ quần thể được điều hoà vượt ra khỏi giới hạn hoạt động của yếu tố điều hoà trước

đó

Phòng trừ tổng hợp sâu bệnh hại cây trồng (IPM) dựa trên mối quan hệ tương hỗ giữa cây trồng - sâu hại - thiên địch của sâu hại trong hệ sinh thái nông nghiệp, các nguyên tắc sinh thái và đa dạng sinh học của hệ sinh thái nông nghiệp

1.1.4 Ảnh hưởng của thuốc bảo vệ thực vật đến cấu trúc quần xã

Khi sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, đặc biệt là các loại thuốc hoá học trên đồng ruộng để phòng trừ sâu hại bảo vệ cây trồng và nông sản, thuốc không chỉ tác động đến những loài thuộc đối tượng phòng trừ mà còn ảnh hưởng đến những loài khác trong quần xã Pimentel (1974) cho biết, ở Mỹ người ta đã sử dụng các loại thuốc trừ sâu để phòng trừ khoảng 1.000 loài sâu

Trang 16

hại cây trồng, các thuốc này đã tác dụng đến khoảng 2.000.000 loài động vật, thực vật mà các loài đó không chỉ là loài gây hại mà có nhiều loài có lợi

Thuốc hoá học bảo vệ thực vật gây ra những xáo động trong hệ sinh thái, tuỳ từng trường hợp, các thuốc bảo vệ thực vật có thể tác động ở những mức độ khác nhau đến các loài thuộc các khu hệ sinh vật khác nhau và gây ra những biến đổi ở những mức độ khác nhau đến cấu trúc của sinh quần Hậu quả trực tiếp của những tác động nói trên đã gây ra nhiều khó khăn cho công tác bảo vệ cây trồng như gây hại cho kẻ thù tự nhiên của dịch hại (thiên địch), gây hiện tượng tái phát của dịch hại, xuất hiện những loài dịch hại mới có khi nguy hiểm hơn, khó phòng trừ hơn Những tác động xấu của thuốc bảo vệ thực vật đối với sự biến đổi cấu trúc quần thể dịch hại được thể hiện qua các trường hợp sau (chưa kể đến sự ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khoẻ con người) [18]

(1) Thuốc bảo vệ thực vật và mối cân bằng trong tự nhiên

Tất cả các loài sinh vật trong hệ sinh thái đều tham gia vào chu trình tuần hoàn vật chất và mối quan hệ dinh dưỡng trong quần xã sinh vật hình thành nên các tương quan số lượng phù hợp với nhu cầu của từng loài, tạo nên trạng thái cân bằng trong thiên nhiên, được gọi là “cân bằng sinh học” Trong

hệ sinh thái nông nghiệp giữa các loài cũng biểu hiện một mối cân bằng, tuy nhiên tính ổn định của mối cân bằng đó rất mong manh, mối cân bằng này luôn chịu tác động của những biện pháp canh tác, thâm canh, đặc biệt là bảo

vệ thực vật Sự phát sinh dịch hại của loài dịch hại tàn phá mùa màng chính là biểu hiện của sự mất cân bằng trong hệ sinh thái nông nghiệp

(2) Sự suy giảm về tính đa dạng trong sinh quần

Một hệ sinh thái đa dạng, bao gồm nhiều chủng loại sinh vật thường cho năng suất sinh học cao và tương đối ổn định Trong hệ sinh thái nông nghiệp luôn bị tác động của con người, cho dù không sử dụng thuốc hoá học

để bảo vệ cây trồng Không ít trường hợp người ta quan sát thấy ở những vùng dùng thuốc, chẳng những có sự suy giảm về số lượng cá thể trong các loài sinh vật mà còn có sự suy giảm về số lượng loài ở nơi đó Theo Brown (1977) cho biết, trong vườn táo có phun thuốc trừ sâu syana và chì axepat, chỉ thu thập được 421 loài côn trùng thuộc 315 giống trong 106 họ của 15 bộ

Trang 17

Còn trong vườn táo không phun thuốc trừ sâu thu được 763 loài, 545 giống thuộc 158 họ của 15 bộ khác nhau Đặc biệt thuốc trừ sâu hoá học đã làm ảnh hưởng đến khả năng hoạt động và tồn tại của các loài thiên địch (như thiên địch ăn thịt, ký sinh) Theo nghiên cứu của Ulrichlt (1968) khi ong trưởng

thành Trichogramma cacoeciae (một loài ký sinh trứng sâu hại) tiếp xúc với

dư lượng của nhiều loại thuốc trừ nấm khác nhau Sau 56 giờ tiếp xúc, không loại thuốc nào làm chết 100% ong thí nghiệm, song ảnh hưởng đến khả năng hoạt động và khả năng ký sinh của chúng [18]

(3) Sự tái phát của dịch hại và xuất hiện những đối tượng gây hại mới Hiện tượng tái phát sinh dịch hại (pest resurgence) thường được quan sát và nghiên cứu nhiều đối với các loài thuộc nhóm côn trùng

Sau ngày phun thuốc phòng trừ một loài sâu hoặc nhện hại cây, mật độ của những loài này giảm đi rõ rệt, chứng tỏ loại thuốc sử dụng có tính độc khá cao Nhưng chỉ sau một thời gian nhất định, loài sâu hoặc nhện này lại phát sinh một đợt mới với mật độ cao hơn trước, gây hại nhiều hơn trước Năm

1976, quan sát thấy hiện tượng tái phát của rầy nâu Nilaparvata lugens trên

lúa nương có phun thuốc loại Decamethrrin, Wofatox và Diasinon (Theo Viện

nghiên cứu lúa quốc tế – IRRI, 1977)

Một trong những ảnh hưởng lâu dài của phun thuốc bảo vệ thực vật là

sự xuất hiện ở địa phương những đối tượng gây hại mới Trên cây bông, việc

sử dụng Lindan phòng trừ rệp, bọ đầu dài (Anthonomus garandis), sâu xanh (Heliothis spp.) đã làm xuất hiện những loại nhện mới gây hại nặng cho cây

bông Việc sử dụng hỗn hợp thuốc trừ sâu clo hữu cơ với những thuốc như Malathon, Wofatox để phòng trừ những loài sâu ăn lá, bọ đầu dài đã gây ra trận dịch hại sâu xanh và nhện đỏ (Becrel, 1947, Newsom 1967)

1.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU SÂU HẠI VỪNG VÀ THIÊN ĐỊCH CỦA CHÚNG

Trên thế giới đã có một số công trình nghiên cứu về sâu hại vừng, tuy nhiên về thiên địch của chúng thì ít thấy đề cập tới Các nghiên cứu chỉ dừng lại ở mức độ thống kê và mô tả các loài sâu hại Chẳng hạn trong nghiên cứu của Strickeland và Smith (1991) về các loài côn trùng gây hại vừng ở Australia, đã chỉ ra trên thế giới có khoảng 20 loài sâu chính gây hại vừng thuộc 12 họ của 8 bộ, trong đó bộ có số loài nhiều nhất là bộ cánh phấn

Trang 18

(Lepidoptera) Và tại Australia có tới 14 loài thuộc 8 họ của 8 bộ, trong đó bộ cánh phấn (Lepidoptera) có số loài nhiều nhất (8 loài) Theo Patil et al (1992) nghiên cứu việc sản xuất vừng tại India thì việc kiểm soát các loài sâu hại có thể làm giảm thiệt hại hơn 35% [27]

Tại Việt Nam, trong “Kết quả điều tra cơ bản côn trùng trong hai năm 1967-1968” đã thống kê được 28 loài sâu hại vừng (Viện BVTV, 1976) [19] Theo Trần Văn Lài và nnk (1993) cây vừng có nhiều loài sâu hại, nhất là vừng chuyên canh như các loài câu cấu (bọ vừng), sâu cuốn lá, sâu đục thân, sâu róm, rệp, bọ xít, sâu xanh, sâu đo Cho đến nay đã biết sâu hại vừng ở Việt Nam có 39 loài thuộc 5 bộ: cánh phấn, cánh cứng, cánh nửa, cánh tơ, cánh giống (Thống kê của Cục BVTV, 1991)

Những năm gần đây các công trình nghiên cứu và tài liệu phổ biến về gieo trồng vừng ở Việt Nam chỉ đề cập đến biện pháp phòng trừ sâu hại vừng bằng thuốc hoá học, như trong “Kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu vừng” (Nxb Nông nghiệp, 1993) việc phòng trừ sâu hại vừng chỉ đề cập phương pháp hoá học với các loại thuốc hoá học như Dipterex, Servin, [7]

Những năm gần đây ở Việt Nam việc nghiên cứu thiên địch các loài sâu hại chỉ mới tập trung vào các cây trồng phổ biến như thiên địch của sâu hại lúa, với các công trình của Vũ Quang Côn (1985, 1992), Phạm Văn Lầm (1985, 1997), Trần Ngọc Lân (2000) nghiên cứu thiên địch của sâu hại lúa ở Nghệ An

Tại Nghệ An, theo báo cáo của Chi cục BVTV Nghệ An: “Sâu bệnh hại chính trên cây vừng và biện pháp phòng trừ” chỉ mới dừng lại ở mức độ thống

kê và mô tả sơ lược các loài sâu chính như sâu khoang, sâu xanh, rệp vừng và khuyến cáo biện pháp phòng trừ bằng thuốc hoá học như Match 50ND, polytrin 440ND, Sherpa 25EC (Báo cáo của Sở NN và PTNT Nghệ An, 2002) [5]

Ngày nay, việc phòng trừ sâu hại sẽ không đạt được hiệu quả cả về kinh tế và môi trường nếu không sử dụng các phương pháp khác Trong phòng trừ sâu hại, sử dụng thiên địch tự nhiên là một tiềm năng quan trọng, đóng góp cho sự thành công của biện pháp phòng trừ tổng hợp (IPM) và bảo

vệ môi trường của hệ sinh thái nông nghiệp

Trang 19

1.3 MỘT VÀI ĐẶC ĐIỂM VỀ ĐIỀU KIỆN TỰ NHIÊN VÀ KINH TẾ XÃ HỘI NGHỆ AN

1 Điều kiện tự nhiên

Nghệ An là một tỉnh thuộc vùng Trường Sơn Bắc, có tọa độ địa lý từ

- Hưng Nguyên

Khí hậu Nghệ An mang đặc tính nhiệt đới gió mùa, với đặc điểm cơ bản là nóng ẩm và mưa nhiều theo mùa Hàng năm, đất Nghệ An nhận được trung bình 120 - 140 kcal/cm2 bức xạ mặt trời, nhiệt độ trung bình 23-240C,

độ ẩm không khí là 85%, lượng mưa trung bình cả năm từ 1.600 - 2.000 mm (Lê Văn Phượng, 1982) [13]

2 Đặc điểm kinh tế - xã hội

Nghệ An là một trong những tỉnh đông dân, với dân số 2.865.409 người (tính đến 31/12/1995), mật độ trung bình toàn tỉnh 152 người/km2

Dân cư phân bố không đều giữa các vùng, vùng đồng bằng chiếm 10% diện tích, nhưng tập trung đến 80% dân số; vùng núi và gò đồi chiếm 90% diện tích nhưng chỉ có 20% dân số [4]

Ngoài ra, cùng với sự thay đổi cơ cấu cây trồng, giống vừng mới (vừng

V6) năng suất cao, với việc đầu tư phân hoá học, thuốc trừ sâu, thuỷ lợi tưới tiêu Đặc biệt, là từ những năm 70, tỉnh Nghệ An đã chuyển đổi mùa vụ, coi

vụ hè thu là một trong ba vụ sản xuất chính trong năm Sự thay đổi mùa vụ, cùng với việc đầu tư các loại giống vừng mới với năng suất cao có ảnh hưởng

Trang 20

không nhỏ đến hệ sinh thái đồng ruộng, trước hết là sâu hại và thiên địch của chúng

1.4 CÂY VỪNG Ở NGHỆ AN

Cây vừng (Sesamum indicum) là cây có dầu cổ xưa nhất được con

người gieo trồng trải dài từ các vùng nhiệt đới đến ôn đới Đối với nước ta, vừng là loại thực phẩm truyền thống được gieo trồng từ rất lâu, ít nhất đã vài

ba thế kỷ Nghệ An là một trong số ít vùng chuyên canh lớn nhất ở Việt Nam

Từ năm 1993 trở về trước, tại Nghệ An chủ yếu gieo trồng các giống vừng địa phương như vừng nâu, vừng vàng Diễn Châu, vừng đen Hương Sơn [24] Các giống vừng này tuy thích nghi với điều kiện thời tiết, khí hậu khô hạn, nắng nóng nhưng năng suất thấp, hàm lượng dầu, protein không cao

Cho đến 1994, Nghệ An đã đưa vào khảo nghiệm và sản xuất giống vừng nhập nội V6 Từ vị trí một cây trồng phụ trong cơ cấu cây trồng trước đây, đến nay vừng là cây công nghiệp ngắn ngày chủ đạo đặc biệt là giống vừng V6 Hiện nay toàn tỉnh có khoảng 1 vạn ha vừng với sản lượng 3.500 – 4.000 tấn/năm, sản xuất vừng đang mở ra một hướng phát triển mới cho nền nông nghiệp Nghệ An.[5]

Bảng 1 Diện tích và năng suất vừng ở Nghệ An qua các năm

Diện tích (ha) Năng suất (tạ/ha) Sản lượng

(tấn/năm) Tổng

Trang 21

CHƯƠNG II

NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

1) Điều tra thành phần sâu bộ cánh phấn gây hại vừng V6

2) Điều tra thành phần loài chân khớp ăn thịt, ký sinh của sâu bộ cánh phấn gây hại vừng V6

3) Nghiên cứu biến động số lượng và mối quan hệ giữa một số loài sâu

bộ cánh phấn gây hại vừng V6 và chân khớp ăn thịt, ký sinh của chúng

4) Nghiên cứu ảnh hưởng của thuốc trừ sâu đến sâu bộ cánh phấn gây hại vừng V6và chân khớp ăn thịt, ký sinh của chúng

2.2 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

2.2.1 Địa điểm nghiên cứu

1) Địa điểm điều tra cố định

- Vụ vừng xuân năm 2002: xã Sơn Thành - huyện Yên Thành - Tỉnh Nghệ An

- Vụ vừng hè thu 2002: xã Nghi Phong - huyện Nghi Lộc - Tỉnh Nghệ

2.3 VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

- Các loại sâu hại vừng thuộc bộ cánh phấn (Lepidoptera)

- Các loại chân khớp ký sinh: ong ký sinh (Hymenoptera), ruồi ký sinh (Diptera)

- Các loài chân khớp ăn thịt: nhện ăn thịt, cánh cứng ăn thịt

- Giống Vừng V6: vừng trắng

Trang 22

2.4 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Phương pháp điều tra nghiên cứu sâu hại và thiên dịch tuân thủ theo các phương pháp thường quy về nghiên cứu côn trùng và bảo vệ thực vật (tổ côn trùng - UBKHKT Nhà nước, 1967; Viện BVTV, 1997; tiêu chuẩn BVTV Việt Nam, 2001)

2.4.1 Bố trí thí nghiệm

- Công thức I (CTI): ruộng vừng V6 không phun thuốc trừ sâu

- Công thức II (CTII): ruộng vừng V6 có phun thuốc trừ sâu

2.4.2 Thí nghiệm đồng ruộng

2.4.2.1 Thu mẫu định lượng

Tiến hành thu mẫu định kỳ 5 - 7 ngày/lần quan sát và đếm số lượng sâu hại và thiên địch trên tổng số các cây vừng tương ứng với 3m2

trên 5 điểm chéo góc trong một ruộng vừng theo các công thức định sẵn

Thu thập trứng, sâu non, nhộng của các loài sâu hại bộ cánh phấn, nuôi

và theo dõi trong phòng thí nghiệm, phân tích và xác định tỷ lệ nở (%) tỷ lệ

ký sinh (%), pha ký sinh (sâu non, nhộng, trứng) và các loài ký sinh

2.4.2.2 Thu mẫu định tính

Sử dụng vợt, ống nghiệm thu thập các loài ong ký sinh, ruồi ký sinh và các loài chân khớp ăn thịt trên ruộng vừng Xác định sự có mặt của chúng vào các thời điểm, giai đoạn khác nhau trong vụ vừng, thời gian hoạt động của chúng trong ngày

2.4.2.3 Thí nghiệm phun thuốc

Sau khi xác định các ruộng thí nghiệm theo các công thức, ruộng vừng

có phun thuốc trừ sâu (CTII) được tiến hành phun thuốc theo định kỳ (Theo thử nghiệm của Chi cục BVTV Nghệ An)

- Phun định kỳ 2 lần/vụ:

+ Vụ Vừng xuân: Phun thuốc 2 lần trong một vụ, lần 1 phun vào

28 ngày sau khi gieo, lần 2 phun vào 56 ngày sau khi gieo

+ Vụ Vừng hè thu: Phun thuốc 2 lần/ vụ: lần 1 phun vào 20 ngày sau khi gieo, lần 2 phun vào 50 ngày sau khi gieo

Trang 23

- Loại thuốc được sử dụng: Match 50ND

- Liều lượng: 20ml/1sào

- Thời điểm phun thuốc: 17 – 18 giờ

2.4.3 Thí nghiệm trong phòng

Nuôi vật chủ (trứng, sâu non, nhộng) trong các ống nghiệm (kích thước

15 - 20 x 2cm) có nút bằng bông thấm nước sạch hoặc chất liệu xốp và trong ống nhựa (kích thước 7 - 10cm, h = 9 - 12cm) có nút bằng vải phin thông khí Các ống nghiệm nuôi vật chủ được đánh theo ký hiệu (Etiket) tương ứng với phiếu theo dõi

Thức ăn của các loại sâu ăn lá thuộc bộ cánh phấn là lá vừng V6

“sạch”; sâu đục quả thì thức ăn là quả vừng V6 được thu hái ngoài ruộng và được bảo quản trong phòng thí nghiệm Động vật - Trường Đại học Vinh và theo dõi các cá thể ký sinh, loài ký sinh

2.4.4 Xử lý bảo quản vật mẫu

Các mẫu vật được xử lý và bảo quản theo quy định xử lý côn trùng Mẫu vật được lưu giữ bằng phương pháp giữ mẫu nước bằng Formol 5% hoặc cồn 700

*Địa điểm thu mẫu:

*Thời gian thử mẫu:

*Phương pháp thử mẫu:

2.4.5 Phương pháp định loại

2.4.5.1 Tài liệu định loại

- Việc định loại sâu hại Vừng thuộc bộ cánh phấn theo các tài liệu sâu hại cây trồng ở Việt Nam như Vũ Đình Ninh và nnk (1976), Cục BVTV (1986), Nguyễn Xuân Thành (1996)

Trang 24

- Việc định loại chân khớp ăn thịt, ký sinh theo các tài liệu Barrion et al (1994), Nishida et al (1970), Lê Xuân Huệ (1997), Khuất Đăng Long (1994),

2.4.4.2 Cách thức định loại

Cách thức định loại được tiến hành theo Mayer (1974) [9]

Tất cả các cá thể côn trùng ký sinh vũ hoá từ vật chủ (trứng, sâu non, nhộng) mà vật chủ được thu nhập tại ruộng vừng V6 vào một kỳ thu mẫu định

kỳ, là một mẫu

Tất cả các cá thể chân khớp ăn thịt được thu thập trên ruộng vừng V6

và một kỳ thu mẫu định kỳ là một mẫu

2.4.4.3 Phân tích định loại mẫu vật

Quá trình phân tích, định loại mẫu vật được tiến hành như sau:

1) Từ mẫu thu thập được phân chia các cá thể giống nhau thành các phenon Mỗi loài có thể có nhiều phenon khác nhau như phenon khác nhau về giới tính, sự khác nhau về giai đoạn sinh truởng,

2) Từ các phenon đã được phân chia, lấy các cá thể trưởng thành điển hình đại diện đo kích thước (mm) chiều rộng, chiều dài, sau đó tiến hành định loại

Việc định loại dựa vào tài liệu định loại và phân tích đặc điểm hình thái, cấu tạo, các đặc điểm các bộ phận trên cơ thể (như gân cánh, phần phụ miệng ) xem bằng kính hiển vi, hiển vi soi nổi

Tra khoá định loại để xác định từ bộ đến họ, từ họ đến giống, và từ giống đến loài

3) Đối chiếu các đặc điểm hình thái của mẫu vật đã được định loại đến loài với đặc điểm mô tả trong tài liệu, đối chiếu từ đặc điểm này đến đặc điểm khác trên cơ sở các vật mẫu

4) So sánh mẫu vật và các dấu hiệu định loại với các đặc điểm dấu hiệu trong hình vẽ của tài liệu tra cứu

Sau đó kiểm tra sự phân bố của loài, nếu chưa khớp với tài liệu thì phải quay lại xác định lại từ đầu

Trang 25

5) Sau khi loài đã được định loại, loài đó được đem đối chiếu với mẫu vật mà các chuyên gia đầu ngành đã xem xét để tránh sự sai sót trong quá trình định loại

2.4.6 Các chỉ tiêu theo dõi sâu hại, chân khớp ăn thịt, ký sinh

- P%: Phần trăm của một loài hoặc một nhóm loài

- N: Tổng số cá thể của tất cả các loài trong các mẫu

- P: Số cá thể của một loài hoặc một nhóm loài

Tổng số sâu theo dõi của loài đó (con)

Mật độ (con/m2) =

Tổng số sâu bắt gặp (con) Tổng diện tích điều tra (m2)

Trang 26

+ Công thức tính độ thường gặp (chỉ số có mặt): c =

P

100

pTrong đó: p là tần số lấy mẫu có loài nghiên cứu

P là tổng số địa điểm các lần lấy mẫu

c > 50%: Loài thường gặp 25% < c < 50%: Loài ít gặp

c < 25%: Loài ngẫu nhiên

+ Công thức tính trung bình cộng:  

k

1 i

ixnn

1X

+ Công thức tính phương sai - Độ lệch chuẩn:

i(X xi)n

n

Trong đó:

- X: Giá trị trung bình

- xi: Giá trị biến thiên

- ni: Tần suất của giá trị xi

+ Công thức tính hệ số tương quan:

)Xx((

)Yy)(

Xx(

n

1 i

2 i

n

1 i

2 i

n

1 i

i i

Trong đó:

r: Hệ số tương quan ( -1 < r< +1)

xi: Mật độ sâu hại qua các lần thu mẫu

yi: Mật độ chân khớp ăn thịt hoặc tỷ lệ ký sinh qua các lần thu mẫu

X : Giá trị trung bình của xi

Y : Giá trị trung bình của yi

+ Kiểm định thống kê bằng T - student

ã Kiểm định giả thiết Ho: m1 = m2 của hai phân phối chuẩn với đối thiết

H1: m1 ạ m2, trường hợp không biết phương sai

ã Quy tắc: Để kiểm định giả thiết H0: m1 = m2 với đối thiết

Trang 27

H1: m1ạ m2 của hai phối chuẩn N(m1, S2), N(m2, S2) trong trường hợp chưa biết phương sai S2

, ta lấy mẫu dung lượng n1 và n2 trong hai đám đông, tính

X, S1, Y, S2 và phương sai chung S

ã Công thức tính phương sai chung S của 2 mẫu :

S2 =

2nn

S)1n(S)1n(

2 1

2 2 2

2 1 1

1 S

Y X

Trong đó:

- X: Là giá trị trung bình của ruộng 1

- Y: Là giá trị trung bình của ruộng 2

- S : Là phương sai chung Với mức ý nghĩa a (a = 0,05) và số bậc tự do (n1+n2-2), tra trong bảng phân phối T-Student, tìm số Ta/2

Nếu Tt < Ta/2: H0 được chấp nhận - nghĩa là sự sai khác được coi là không đáng kể (H0 : m1 = m2)

Nếu Tt > Ta/2 bị bác bỏ - nghĩa là sự sai khác được coi là đáng kể (H1:

m1 ạ m2)

2.4.8 Hoá chất, thiết bị, dụng cụ

- Hoá chất: cồn 960, formol 40%

- Thiết bị: kính hiển vi, kính lúp soi nổi 2 mắt, tủ sấy, kính lúp cầm tay

- Dụng cụ: ống nghiệm, lọ nhựa, vải phin, đĩa petri, kim mũi mác, thước đo, giấy bóng ghi nhãn, bút chì, vợt côn trùng

Trang 28

CHƯƠNG III

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

3.1 SỰ ĐA DẠNG CỦA SÂU HẠI VỪNG VÀ CHÂN KHỚP ĂN THỊT, KÝ SINH TRÊN SINH QUẦN RUỘNG VỪNG Ở YÊN THÀNH VÀ NGHI LỘC (TỈNH NGHỆ

AN, NĂM 2002)

Trên sinh quần ruộng vừng V6 ở Yên Thành và Nghi Lộc đã bước đầu xác định được 38 loài chân khớp thuộc 22 họ của 8 bộ, trong đó có 10 loài gây hại (Lepidoptera) và 28 loài có ích (19 họ,7 bộ).Trong đó bộ Hymenoptera có số loài nhiều nhất (10 loài), bộ Coleoptera có 6 loài, bộ Araneida có 5 loài, các bộ còn lại có số loài ít hơn (bảng 2)

Bảng 2 Số lượng bộ, họ, loài sâu hại bộ cánh phấn và chân khớp ăn thịt, ký sinh của chúng trên sinh quần ruộng vừng, năm 2002

hại

Loài có ích

Trang 29

sâu phá hại Sâu hại vừng đã ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của vừng như phá hoại lá, hoa, thân và quả Từ khi cây nảy mầm cho đến khi thu hoạch, vừng V6 bị nhiều loài sâu gây hại và là nguyên nhân chủ yếu giảm

năng suất của vừng, có khi tới 25-30% [27]

Qua điều tra nghiên cứu trên sinh quần ruộng vừng V6 trong hai vụ vừng xuân và vụ vừng hè thu năm 2002 tại Yên Thành và Nghi Lộc tỉnh Nghệ

An đã thu thập được 10 loài sâu hại thuộc 3 họ của bộ Cánh phấn (Lepidoptera) (Bảng 3)

Trong đó họ Noctuidae có số loài nhiều nhất, 6 loài (chiếm 60%), còn các họ khác có số loài ít hơn Sự suất hiện của các loài sâu hại bộ Cánh phấn trên sinh quần ruộng vừng V6 ở các giai đoạn sinh trưởng khác nhau cũng khác nhau

Giai đoạn I (35 NSG): xuất hiện 7 loài sâu hại và phổ biến là loài Sâu

cuốn lá (Lamprosema indicata Fabr.)

Giai đoạn II (35-63 NSG): xuất hiện 10 loài sâu hại, trong đó loài sâu

xanh (Heliothis armigera Hub.) và Sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.) là 2

loài sâu phổ biến và gây hại chính trên sinh quần ruộng vừng V6

Giai đoạn III (63 NSG đến khi thu hoạch): xuất hiện 8 loài sâu hại và

phổ biến là loại sâu xanh (Heliothis armigera Hub.)

Trang 30

Bảng 3 Thành phần loài sâu hại vừng V6 bộ Cánh phấn (Lepidoptera)

ở Yên Thành và Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An năm 2002

Giai đoạn sinh trưởng

1 Bộ Lepidoptera Bộ cánh phấn

3 Họ Lymantridae Họ ngài sâu róm

Ghi chú:

Giai đoạn III: 63 NSG đến khi thu hoạch + Ít gặp

3.2.2 Những loài sâu chính gây hại vừng V6

Điều tra trên sinh quần ruộng vừng V6 thu thập được 10 loài sâu hại bộ Cánh phấn, nhưng trong đó có 2 loài sâu phổ biến và có mức độ phá hại

nghiêm trọng nhất là sâu xanh (Heliothis armigera Hub.) và sâu khoang (Spodoptera litura Fabr.)

3.2.3 Diễn biến sâu hại vừng V6 bộ Cánh phấn

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:49

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Cục BVTV, 1986 - Phương pháp điều tra phát hiện sâu bệnh hại cây trồng. Nxb Nông nghiệp, H.,87-89 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp điều tra phát hiện sâu bệnh hại cây trồng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[2] Cục Thống kê Nghệ An, 1999 - Số liệu cơ bản kinh tế - xã hội 1996 - 1998 tỉnh Nghệ An, H., 1-110tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Số liệu cơ bản kinh tế - xã hội 1996 - 1998 tỉnh Nghệ An
[3] Đường Hồng Dật và nnk, 1974 - Những nghiên cứu về bảo vệ thực vật. Nxb KH&amp;KT, 9-73. (Tài liệu dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nghiên cứu về bảo vệ thực vật
Nhà XB: Nxb KH&KT
[4] Trần Kim Đôn, 2001 - Nông nghiệp Nghệ An quy hoạch và những tìm tòi phát triển. Nxb Nghệ An, 132-142 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nông nghiệp Nghệ An quy hoạch và những tìm tòi phát triển
Nhà XB: Nxb Nghệ An
[5] Nguyễn Hữu Hơn, 2002 – Sản xuất vừng tại Nghệ An và hướng phát triển. Tài liệu phổ biến khoa học – kỹ thuật (Sở khoa học, công nghệ và môi trường Nghệ An) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sản xuất vừng tại Nghệ An và hướng phát triển
[6] Hà Quang Hùng, 1998 - Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp(IPM). Nxb Nông nghiệp, H., 120tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phòng trừ tổng hợp dịch hại cây trồng nông nghiệp(IPM)
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[7] Trần Văn Lài và nnk, 1993 - Kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng. Nxb Nông nghiệp, H., 1-25 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kỹ thuật gieo trồng lạc, đậu, vừng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[8] Phạm Văn Lầm, 1995 - Biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp . Nxb Nông nghiệp, H., 236tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Biện pháp sinh học phòng chống dịch hại nông nghiệp
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[9] Trần Ngọc Lân, 2000 - Thành phần loài thiên địch và hướng lợi dụng chúng trong việc hạn chế mật độ quần thể một số loài sâu hại luá ở vùng đồng bằng tỉnh Nghệ An . Tóm tắt luận án Tiến sĩ Sinh học, H.,24tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài thiên địch và hướng lợi dụng chúng trong việc hạn chế mật độ quần thể một số loài sâu hại luá ở vùng đồng bằng tỉnh Nghệ An
[10] Mayr E., 1969- Những nguyên tắc phân loại động vật. Nxb KH&amp;KT, H.,1974, 349tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những nguyên tắc phân loại động vật
Nhà XB: Nxb KH&KT
[11] Phạm Thị Nhất, 2001 - Sâu bệnh chính hại một số cây thực phẩm và biện pháp quản lý. Nxb Nông nghiệp, H., 102tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu bệnh chính hại một số cây thực phẩm và biện pháp quản lý
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[12] Vũ Đình Ninh và nnk, 1976 - Sổ tay sâu hại cây trồng. Nxb Nông nghiệp, H., 1-126tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay sâu hại cây trồng
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[13] Lê Văn Phượng, 1982 - Một số đặc điểm khí hậu Nghệ Tĩnh có liên quan nhiều đến sản xuất nông nghiệp. Nxb Nghệ Tĩnh, 1-56tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm khí hậu Nghệ Tĩnh có liên quan nhiều đến sản xuất nông nghiệp
Nhà XB: Nxb Nghệ Tĩnh
[14] Phạm Bình Quyền, 1976 - Đời sống côn trùng. Nxb KH&amp;KT, 144- 227 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đời sống côn trùng
Nhà XB: Nxb KH&KT
[15] Phạm Bình Quyền, 1994- Sinh thái học côn trùng . Nxb Giáo dục, H.,120tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sinh thái học côn trùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục
[16] Nguyễn Thị Thanh, 2002 - Thành phần loài và biến động số lượng Chân khớp ăn thịt, ký sinh một số sâu chính hại Lạc ở Diễn Châu, Nghi Lộc - Nghệ An. Luận văn Thạc sỹ Sinh học, 99tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thành phần loài và biến động số lượng Chân khớp ăn thịt, ký sinh một số sâu chính hại Lạc ở Diễn Châu, Nghi Lộc - Nghệ An
[17] Nguyễn Xuân Thành, 1996 - Sâu hại bông đay và thiên địch của chúng ở Việt Nam. Nxb Nông nghiệp, H., 1-166tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sâu hại bông đay và thiên địch của chúng ở Việt Nam
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
[18] Lê Trường, 1985 - Thuốc bảo vệ thực vật và sinh cảnh. Nxb KH&amp;KT, 251tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thuốc bảo vệ thực vật và sinh cảnh
Nhà XB: Nxb KH&KT
[19] Lê Khánh Trai, Hoàng Hữu Như, 1979 - Ứng dụng xác suất thống kê trong y, sinh học. Nxb KH&amp;KT, 193tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ứng dụng xác suất thống kê trong y, sinh học
Nhà XB: Nxb KH&KT
[20] Tổ Côn trùng học - UBKHKT Nhà nước, 1967 - Quy trình và kỹ thuật sưu tầm, xử lý và bảo quản côn trùng . Nxb KH&amp;KT, H., 62tr Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quy trình và kỹ thuật sưu tầm, xử lý và bảo quản côn trùng
Nhà XB: Nxb KH&KT

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w