1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Thiết kế bài giảng điện tử hỗ trợ dạy học phần các định luật chất khí vật lí lớp 10 thpt

50 10 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 50
Dung lượng 838,1 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cùng với sự đổi mới, phát triển của KHKT, Đảng và nhà nước ta cũng xác định cần phải có sự đổi mới về nôị dung, phương pháp, hình thức đào tạo theo hướng tích cực hoá thông qua việc sử d

Trang 1

I mở đầu

1 Lý do chọn đề tài

Trong thời đại ngày nay, tin học đã phát triển mạnh mẽ tạo ra cuộc cách mạng trong mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội Trong lĩnh vực Giáo dục - Đào tạo, ở các nước phát triển đã nhanh chóng ứng dụng các thành tựu của khoa học - công nghệ nói chung, MVT nói riêng trong việc hiện đại hoá quá trình giáo dục - đào tạo Ở nước ta, Bộ chính trị đã ra chỉ thị 58_CT/TW về đẩy mạnh phát triển CNTT phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước

Cùng với sự đổi mới, phát triển của KHKT, Đảng và nhà nước ta cũng xác định cần phải có sự đổi mới về nôị dung, phương pháp, hình thức đào tạo theo hướng tích cực hoá thông qua việc sử dụng các PTDH hiện đại để nâng cao chất lượng đào tạo, tạo điều kiện cho HS làm quen với phương thức dạy học hiện đại, các nền sản xuất tiên tiến Ở nước ta hiện nay tại các viện nghiên cứu, các trường đại học, các công ty Tin học đã hình thành nhiều nhóm nghiên cứu về ứng dụng các thành tựu của CNTT làm PTDH, xây dựng các phần mềm ứng dụng bước đầu đã đem lại hiệu quả trong quá trình dạy học

Đã có nhiều đề tài nghiên cứu về ứng dụng CNTT nói chung và MVT nói riêng để hỗ trợ cho quá trình dạy học, nó không còn là đề tài quá xa lạ hiện nay Áp dụng thành tựu kỹ thuật hỗ trợ cho quá trình dạy học là cách tốt nhất

để GV và HS làm quen với nền giáo dục điện tử góp phần đổi mới nội dung

và PPDH

Hiện nay việc dạy học còn mang nặng tính chất "thông báo,tái hiện”, tình trạng dạy chay, học chay còn rất phổ biến vì vậy HS thường tiếp thu kiến thức một cách thụ động và không phát huy được tính tích cực

Trang 2

Với những đặc thù riêng của môn Vật lý thì đổi mới phương pháp dạy học bằng cách áp dụng những thành tựu KHKT đặc biệt là những thành tựu của CNTT làm PTDH hiện đại là điều cấp thiết

- Đi sâu nghiên cứu cụ thể nôi dung, vị trí và vai trò của phần "Các định luật chất khí" trong chương trình vật lý phổ thông

- Thiết kế BGĐT hỗ trợ dạy học phần "Các định luật chất khí” trong SGK Vật lý lớp 10 THPT và đề xuất phương án sử dụng chương trình đó trong dạy

học nhằm góp phần nâng cao chất lượng dạy học vật lý ở trường THPT

3 Nội dung nghiên cứu

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng MVT làm PTDH vật lý

- Xác định vị trí, vai trò và nội dung phần "Các định luật chất khí" trong chương trình Vật lý lớp 10 Tìm hiểu thực tiễn giảng dạy phần này ở một số trường THPT

- Nghiên cứu một số phần mềm hỗ trợ thiết kế BGĐT

- Thiết kế một số giáo án để giảng dạy phần "Các định luật chất khí” trong SGK vật lý 10 với sự hỗ trợ của MVT

- Áp dụng để giảng dạy ở trường THPT khi TNSP

4 Phương pháp nghiên cứu

4.1 Nghiên cứu lý thuyết

- Nghiên cứu các văn kiện của Đảng và nhà nước về đổi mới PPDH

Trang 3

- Nghiên cứu lý luận về những vấn đề lý thuyết của việc sử dụng các phương tiện trực quan trong dạy học vật lý

- Nghiên cứu các tài liệu về giáo dục học, tâm lý học, LLDH và PPDH vật lý cần cho việc xây dựng tiến trình dạy học và nâng cao hiệu quả của hoạt động học tập của HS

- Nghiên cứu tài liệu về PTDH vật lý, các tài liệu, văn bản về việc áp dụng MVT trong dạy học và các phần mềm hỗ trợ dùng để thiết kế BGĐT

- Nghiên cứu SGK Vật lý lớp 10 và các tài liệu tham khảo

5 Khách thể, đối tượng và phạm vi nghiên cứu

 Khách thể: Quá trình dạy học vật lý ở trường THPT

 Đối tượng: Nội dung, phương pháp dạy học vật lý ở trường THPT, MVT với các phần mềm tiện ích

 Phạm vi: Nghiên cứu, sử dụng MVT với các phần mềm hỗ trợ cho việc thiết kế BGĐT Áp dụng để giảng dạy khi thực nghiệm sư phạm

6 Giả thuyết khoa học

Nếu thiết kế được các BGĐT hỗ trợ quá trình dạy học thì đáp ứng được các yêu cầu về mặt sư phạm và kỹ thuật, đồng thời nếu biết sử dụng một cách hợp lí sẽ tăng cường tính trực quan, sinh động, kích thích hứng thú học tập,

Trang 4

tích cực hoá hoạt động học tập của HS Do đó góp phần hiện đại hoá và nâng cao chất lượng của quá trình dạy học

Phần nội dung gồm 3 chương:

+ Chương I : Cơ sở lý luận của việc sử dụng MVT làm PTDH

+ Chương II: Thiết kế BGĐT hỗ trợ dạy học phần "Các định luật chất khí" trong chương trình Vật lý lớp 10

+ Chương III: Thực nghiệm sư phạm

Trang 5

II nội dung Chương I: Cơ sở khoa học của việc sử dụng MVT

làm phương tiện dạy học

1.1 Cơ sở khoa học của việc sử dụng MVT làm PTDH

1.1.1 Cơ sở tâm lý học

Ngày nay sự phát triển của KHKT và Công nghệ đã tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong đời sống kinh tế - xã hội Nó đã thâm nhập vào mọi lĩnh vực của cuộc sống Trong giáo dục, sự thâm nhập của KHKT đã tạo ra những cách thức tổ chức dạy học, những PTDH, những PPDH mới tạo điều kiện thực hiện thành công chủ trương đổi mới PPDH

Các công trình nghiên cứu về tâm lý học và thực tiễn dạy học trên phạm

vi toàn thế giới đã khẳng định vai trò to lớn của các PTDH hiện đại trong việc nâng cao hiệu quả, chất lượng của quá trình dạy học

Người ta đã khẳng định rằng cách tốt nhất để cho HS có thể lĩnh hội được tri thức một cách tích cực, chủ động, sáng tạo là có sự "giao lưu” qua lại giữa GV và HS, thống nhất giữa lời nói và hành động với các hình ảnh trực quan Với các phương tiện trực quan sẽ hình thành cho HS những biểu tượng

cụ thể vào ký ức của HS Chính vì lẽ đó việc hướng dẫn tri giác của HS một cách có mục đích là vô cùng quan trọng Để đạt được điều đó đòi hỏi phải tăng cường việc sử dụng các PTDH nhất là các PTDH hiện đại có khả năng kích thích tư duy sáng tạo ở HS trong quá trình học, nhất là các môn khoa học

tự nhiên trong đó có môn vật lý

Là một phương tiện đa năng, MVT có khả năng phối hợp một cách nhuần nhuyễn giữa màu sắc, âm thanh, văn bản, đồ hoạ, kỹ năng tính toán và

Trang 6

xử lý thông tin Điều này có tác động tích cực đến các giác quan của HS gây hứng thú đối với HS Trong dạy học tính trực quan không chỉ đóng vai trò minh hoạ cho bài giảng của GV mà còn làm cho HS quen với các đặc tính bên ngoài và bên trong sự vật, đảm bảo cho HS nhận biết sâu sắc các vấn đề đó và tiếp thu kiến thức dễ dàng hơn Tính trực quan trong hoạt động dạy học thường được thể hiện qua các PTDH

PTDH làm cho học sinh phát huy tất cả các giác quan trong quá trình lĩnh hội kiến thức, cụ thể:

Quá trình tiếp thu kiến thức khi học đạt được:

1% qua nếm; 1,5% qua sờ; 3,5% qua ngửi; 11% qua nghe; 83% qua nhìn

Tỷ lệ kiến thức nhớ được sau khi học:

10% qua những gì nghe được; 30% qua những gì nhìn được; 50% qua những

gì nhìn và nghe được; 80% qua những gì nói được; 90% qua những gì nói và làm được

Việc sử dụng MVT tạo cơ sở cho HS phát triển các năng lực tư duy như phân tích, tổng hợp, so sánh, khái quát hoá, trừu tượng hoá góp phần rèn luyện kỹ năng, kỹ xảo kích thích hứng thú học tập của HS

Ngoài ra khi học tập với MVT, HS huy động tối đa các hoạt động: tay viết - mắt nhìn - tai nghe - óc suy nghĩ Chính điều này có tác dụng tích cực hoá quá trình học tập của HS, hình thành ở các em những kỹ năng, kỹ xảo tương ứng Tâm lý học hành động đã khẳng định "trong quá trình học tập kiến thức của HS sẽ được nâng cao, nếu HS được sự tác động của các lĩnh vực nghe, nhìn, làm, tư duy " Hơn nữa nó tránh được việc tiếp thu tri thức một cách thụ động

Khi học tập với MVT cùng với những tác động sư phạm của người GV,

HS có khả năng phân tích sự kiện, hình thành, phát triển khái niệm, khái quát hoá vấn đề với hệ thống kiến thức được đưa ra một cách logic

Trang 7

Tâm lý học khẳng định "Dạy học phải đi liền với sự phát triển, dẫn dắt

sự phát triển trí tuệ HS” Việc sử dụng MVT làm PTDH góp phần quan trọng trong việc thực hiện nhiệm vụ này Thông qua MVT với các thao tác xử lý trên MVT sẽ góp phần phát triển khả năng lĩnh hội và ghi nhớ kiến thức của

HS

1.1.2 Cơ sở LLDH

Quá trình dạy học là một quá trình hoạt động có mục đích, có tổ chức và

kế hoạch của GV và HS Trong quá trình dạy học mục đích - nội dung - phương pháp có mối quan hệ biện chứng trong đó mục đích là nhân tố đầu tiên của quá trình Căn cứ vào mục đích để đưa ra nội dung dạy học và để thực hiện nội dung một cách tốt nhất, đạt hiệu quả sư phạm cao nhất thì GV phải biết vận dụng, phối hợp nhiều PPDH tối ưu sao cho có thể tích cực hoá quá trình học tập của HS Trong hoạt động của con người nói chung, hoạt động dạy học nói riêng thì ba phạm trù nội dung - phương pháp - phương tiện luôn có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Với mỗi nội dung thì phải có phương pháp phương tiện thích ứng

Trong xu thế phát triển như hiện nay cần phải có sự đổi mới, điều chỉnh nội dung dạy học đi kèm với cải tiến và hiện đại hoá PTDH

1.1.2.1 MVT là một phương tiện dạy học hiện đại

Trong dạy học nói chung và dạy học vật lý nói riêng, MVT được sử dụng như một PTDH hiện đại Ngoài những chức năng như các PTDH khác thì MVT còn có chức năng nổi bật mà các phương tiện khác không thể có được:

- MVT có khả năng làm tăng tính trực quan trong học tập, kích thích hứng thú và tạo chú ý của HS ở mức độ cao

- MVT có thể mô phỏng, minh họa các hiện tượng, quá trình vật lý mà không thể quan sát trực tiếp bằng các giác quan

Trang 8

- MVT có khả năng lặp lại vô hạn lần một vấn đề, MVT có lòng kiên nhẫn

vô hạn, điều này rất khó đối với người GV

- Dạy học với MVT không bị hạn chế, gò bó theo thời gian biểu, có thể tổ chức dạy học ở tình huống "không lớp” Ngoài ra còn có khả năng giảm thời gian lên lớp của GV vì không mất thời gian vào việc biểu diễn thông tin

- Với MVT, HS có thể học tập độc lập với nhịp độ thích hợp với khả năng của bản thân

- MVT có thể đưa ra lời khen ngợi mỗi khi HS thực hiện tốt một nội dung học tập và cũng phê phán một cách không gay gắt mỗi khi làm không tốt Vì vậy HS thấy mình được tôn trọng hơn, được cư xử công bằng và khách quan Qua đó HS đánh giá đúng khả năng học tập của mình, hình thành ở HS tính trung thực, nghiêm khắc với bản thân, rèn luyện tính độc lập, tự chủ,

- MVT có thể lưu lại kết quả học tập của HS, giúp GV có thể đánh giá, nhận xét quá trình học tập của HS một cách nhanh chóng và chính xác

- MVT kết nối vào mạng tạo điều kiện tiến hành đào tạo từ xa một cách thuận tiện, thông qua mạng GV và HS có thể truy cập thông tin cần thiết Nhờ kết nối mạng HS có thể "học mọi nơi và học bất cứ khi nào”

- Ngoài ra việc sử dụng MVT trong dạy học cũng làm thay đổi nội dung và PPDH, các PPDH tích cực cũng có thể được hoàn thiện, bổ sung và sử dụng rộng rãi hơn khi có MVT

- Trên đây là một số chức năng của MVT với vai trò là một PTDH vật lý, trong khuôn khổ một luận văn chúng tôi chưa thể khai thác được hết những chức năng của nó Nhưng với những chức năng trên đây chúng tôi thiết nghĩ đưa MVT vào dạy học là một vấn đề cấp thiết phù hợp với mục tiêu đổi mới PPDH ở nước ta hiện nay

1.1.2.2 Khả năng của MVT trong việc thực hiện chức năng của LLDH

LLDH nói chung và LLDH vật lý nói riêng có các chức năng:

- Củng cố trình độ xuất phát về tri thức và kỹ năng cho HS

Trang 9

- Xây dựng tri thức và kỹ năng mới

- Ôn tập, củng cố và khắc sâu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo

- Tổng kết và hệ thống hoá tri thức một cách logic

- Kiểm tra, đánh giá trình độ tri thức và kỹ năng của HS

Các chức năng này được thực hiện đan xen phối hợp với nhau trong quá trình dạy học Thực tiễn đã chứng tỏ rằng với vai trò là PTDH hiện đại MVT

có thể sử dụng có kết quả các chức năng của LLDH

+ Với chức năng thứ nhất - củng cố trình độ xuất phát về tri thức và kỹ năng cho HS; có thể sử dụng MVT để tóm tắt các kiến thức đã truyền thụ, đưa ra các hiện tượng, câu hỏi có nội dung thực tế cho HS giải thích Cũng có thể đưa ra các hình ảnh để mô phỏng một quá trình, hiện tượng mới dẫn dắt HS vào tình huống có vấn đề Từ đó xuất hiện nhu cầu nhận thức mới, dẫn dắt HS vào bài giảng một cách nhẹ nhàng nhưng hiệu quả Cần chú ý khi sử dụng MVT vào mục đích này: phải rõ ràng, ngắn gọn sát với nội dung bài học, phục vụ cho việc nắm tri thức kỹ năng mới

+ Với chức năng LLDH thứ hai - xây dựng tri thức và kỹ năng mới; ở chức năng này MVT có khả năng thực hiện rất hiệu quả Việc sử dụng các phần mềm mô phỏng, minh hoạ các hiện tượng, quá trình vật lý, các thí nghiệm với MVT vừa là nguồn cung cấp tri thức, vừa là phương tiện để xây dựng tri thức mới Việc sử dụng phối hợp các hình ảnh tĩnh, hình ảnh động giúp HS hình thành những biểu tượng ban đầu trong trí nhớ và những quan niệm ban đầu về vấn đề được nghiên cứu Việc mô phỏng, minh hoạ có thể làm nổi rõ mối quan hệ giữa sự kiện đang khảo sát với các hiện tượng đã biết Từ đó dẫn dắt

tư duy HS theo hướng khái quát hoá để xây dựng trí thức mới

+ Với chức năng LLDH thứ ba - củng cố và khắc sâu tri thức, kỹ năng, kỹ xảo; MVT có khả năng rất lớn HS có thể tự ôn tập với các chương trình đã được cài đặt trên MVT GV có thể yêu cầu HS giải quyết nhiệm vụ ôn tập và vận dụng kiến thức đã lĩnh hội

Trang 10

+ Với chức năng LLDH thứ tư - tổng kết và hệ thống hoá tri thức Sử dụng MVT để thực hiện nhiệm vụ này có nhiều thuận lợi, có thể dùng các phần mềm để xây dựng chương trình tổng kết, hệ thống hoá tri thức theo từng modul chương trình Có thể điều khiển tiến trình tổng kết, hệ thống hoá một cách có hệ thống đảm bảo tính logic cao của nội dung Với phần mềm ôn tập,

HS có thể lựa chọn nội dung ôn tập với số lần thích hợp không hạn chế, dễ dàng chuyển đổi giữa các nội dung cần ôn tập

+ Với chức năng LLDH thứ năm - kiểm tra, đánh giá trình độ tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của HS; MVT có rất nhiều ưu điểm Trước hết là tính chính xác, khách quan của việc đánh giá với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm, có thể kiểm tra trong phạm vi khá rộng của tri thức bộ môn Việc xử lý, tổng hợp kết quả kiểm tra cũng được thực hiện một cách nhanh chóng nhằm tiết kiệm thời gian

để có thể kiểm tra được nhiều HS với khối lượng tri thức nhiều hơn so với việc kiểm tra đánh giá truyền thống Hơn nữa phương pháp trắc nghiệm khách quan giúp GV nắm được mức độ tiếp thu kiến thức của HS

1.1.2.3 MVT trong việc thực hiện các nhiệm vụ dạy học vật lý

Theo quan điểm chung nhất của dạy học vật lý thì dạy học vật lý có nhiệm vụ cơ bản là truyền thụ cho HS hệ thống tri thức vật lý làm phát triển năng lực tư duy sáng tạo, giáo dục nhân cách, đạo đức và góp phần thực hiện giáo dục kỹ thuật tổng hợp và hướng nghiệp cho HS Các nhiệm vụ dạy học vật lý được thực hiện hài hoà, liên tục trong quá trình dạy học

Có ý kiến cho rằng, sử dụng MVT trong dạy học vật lý làm giảm đi khả năng thực hiện các nhiệm vụ của quá trình dạy học vật lý Song thực tế cho thấy quan điểm đó không đầy đủ và thiếu chính xác Khi sử dụng MVT, HS được hình thành những kỹ năng thực hành cần có trong thời đại thông tin Qua đó HS có điều kiện tiếp cận với nền khoa học công nghệ mới Nói cách khác việc sử dụng MVT làm PTDH không làm giảm khả năng thực hiện các nhiệm vụ dạy học vật lý

Trang 11

Bên cạnh đó có ý kiến cho rằng, sử dụng MVT làm PTDH có thể thực hiện hiệu quả các nhiệm vụ dạy học vật lý mà không cần sự hướng dẫn trực tiếp của GV Ý kiến này đã quá cường điệu vai trò của MVT, coi MVT là

"máy dạy học" có thể thay thế hoàn toàn vai trò của GV Thực tiễn dạy học trong những năm qua cho thấy, đây là quan điểm sai lầm Nếu hiểu theo quan điểm này thì kết quả của quá trình dạy học sẽ cho ra đời thế hệ trẻ phát triển không toàn diện Trong quá trình học tập như thế HS không có điều kiện trao đổi, trình bày ý kiến của mình, không có sự "giao lưu" với GV vì vậy hạn chế năng lực giao tiếp Đây là hạn chế lớn của việc sử dụng MVT trong quá trình dạy học

Tóm lại: với vai trò là PTDH, MVT tỏ ra có nhiều ưu thế nổi trội Tuy nhiên cần hiểu rằng, nó không phải là "chìa khoá vạn năng", dù nó phát triển đến mức độ nào thì cũng không thể thay thế vai trò của GV Vì vậy, trong qúa trình dạy học GV phải vận dụng một cách hợp lý để phát huy tối đa những thế mạnh và hạn chế những yếu điểm của MVT

1.1.3 Cơ sở thực tiễn

Những cơ sở của việc sử dụng MVT làm PTDH chỉ ra trên đây cần phải được thực tiễn của hoạt động dạy học kiểm nghiệm Các khả năng của MVT với tư cách là một PTDH chỉ trở thành hiện thực trong những điều kiện thực tiễn của nhà trường Kết qủa của thực tế ứng dụng sẽ là minh chứng tốt nhất, đáng tin cậy nhất đối với việc lựa chọn hay không lựa chọn MVT làm PTDH Lịch sử phát triển của nhà trường, của ngành giáo dục cho thấy sự phát triển của KHKT đã làm biến đổi mọi mặt của nền sản xuất xã hội, nó tác động đến việc cải tiến, phát triển nội dung dạy học, PPDH Sử dụng có hiệu quả MVT trong dạy học là bước hiện đại hoá PTDH Hiện nay các PTDH được chú trọng phát triển ở nhiều nước, các đĩa chương trình học tập có khả năng lưu trữ lượng thông tin lớn giúp HS rèn luyện khả năng tự học, tạo điều kiện cho HS làm quen với phong cách lao động trong một xã hội tự động hoá

Trang 12

Ở Việt Nam, những thành công trong sự nghiệp đổi mới của hơn một thập niên qua đã tạo tiền đề cho việc ứng dụng các thành tựu của CNTT vào nhà trường Môn tin học đã được đưa vào giảng dạy với nhiều mức độ khác nhau Với giá thành ngày càng giảm tạo điều kiện cho mọi người, mọi nhà có khả năng trang bị MVT cho mục đích học tập, kinh doanh

Trước yêu cầu của sự nghiệp Công nghiệp hóa - Hiện đại hoá đất nước,

để theo kịp nhịp độ phát triển của thế giới trong xu thế hội nhập và hợp tác kinh tế toàn cầu đòi hỏi thế hệ trẻ Việt Nam phải là những con người năng động, sáng tạo, tự chủ có khả năng sử dụng thành thạo các ứng dụng của CNTT vào lĩnh vực công tác của mình trong tương lai

Hiện nay ở một số trường Đại học sư phạm, Cao đẳng sư phạm sinh viên

đã được học Tin học cùng với các môn về ứng dụng CNTT nói chung, MVT nói riêng để làm PTDH Đây là bước khởi đầu tốt tạo điều kiện cho người

GV tương lai làm quen, tiếp cận với các PTDH hiện đại Trong chương trình đào tạo, những sinh viên sư phạm vật lý được học các môn: "PTDH vật lý”,

"Tin học ứng dụng ” đề cập đến những ứng dụng cụ thể của MVT trong việc xây dựng, phát triển, hiện đại hoá các PTDH như các phần mềm dạy học, các thí nghiệm vật lý có sự trợ giúp của MVT

Kết quả của việc ứng dụng CNTT vào dạy học trên thế giới và trong nước trong những năm qua đã khẳng định việc nghiên cứu, ứng dụng các thành tựu của CNTT vào việc phát triển, hiện đại hoá các PTDH nhằm hiện đại hoá nhà trường, gắn hoạt động giáo dục với thực tiễn đời sống xã hội là một đòi hỏi có tính tất yếu ở hầu hết các nước trên thế giới

1.2 Chức năng của MVT trong dạy học vật lý

1.2.1 Tăng cường tính trực quan

Máy tính có khả năng lưu trữ thông tin lớn Các văn bản, hình ảnh, bảng biểu, sơ đồ, các quá trình vật lý được lưu trữ trên đĩa từ, đĩa CD_ROM có

Trang 13

thể mô phỏng lại nhờ MVT Sử dụng các chương trình này HS có thể xem được các hình ảnh mô phỏng cho nội dung vật lý cần nghiên cứu

Với khả năng xử lý các kiểu dữ liệu khác nhau, năng lực đồ hoạ phong phú có thể xây dựng các phim dạy học làm trực quan hoá các hiện tượng, quá trình dưới dạng hình ảnh động

Với các chương trình mô phỏng, minh họa các quá trình vật lý, HS sẽ hiểu rõ hơn bản chất của các hiện tượng vật lý

1.2.2 Lưu trữ, truyền dẫn và xử lý thông tin

MVT có khả năng lưu trữ nội dung thông tin đa dạng dưới nhiều hình thức Khi kết nối MVT vào hệ thống mạng, đặc biệt là mạng Internet thì khả năng tìm kiếm, lưu trữ thông tin trên MVT càng được phát huy mạnh mẽ MVT có khả năng xử lý thông tin một cách chính xác và nhanh chóng, tuỳ vào mục đích sử dụng mà người dùng MVT có thể lựa chọn nội dung, sắp xếp, phân loại một cách hợp lý So với các PTDH khác MVT có thể tạo ra được môi trường tương tác mạnh hơn và linh hoạt hơn

Chức năng truyền dẫn thông tin của MVT được sử dụng nhiều để thực hiện tương tác giữa GV và HS Trong hình thức đào tạo từ xa, các bài học, bài tập, bài kiểm tra được truyền đi thông qua hệ thống mạng máy tính Thông qua mạng máy tính GV, HS cũng có thể truy cập được các thông tin cần thiết phục vụ cho mục đích của mình từ đó cải tiến phương pháp học tập

1.2.3 Hỗ trợ học sinh ôn tập

Sau khi học xong kiến thức mới, ôn tập là một khâu rất quan trọng trong qúa trình dạy học Ôn tập giúp HS khắc sâu kiến thức, hình thành các kỹ năng, kỹ xảo Với chương trình ôn tập cho một bài, một chương được lưu trên MVT giúp HS có thể sử dụng để ôn tập Việc ôn tập giúp HS phát triển khả năng khái quát hoá, phát triển năng lực tổng hợp các vấn đề một cách lôgic

1.2.4 Kiểm tra, đánh giá kiến thức HS

Trang 14

Đây là một trong những thế mạnh của MVT, với hệ thống câu hỏi trắc nghiệm HS tự lựa chọn phương án trả lời còn MVT thực hiện việc đánh giá một cách khách quan Kết quả đánh giá được lưu trữ làm cơ sở cho việc cung cấp thông tin hai chiều giữa GV và HS một cách nhanh chóng, làm căn cứ cho việc điều chỉnh hoạt động dạy học

1.2.5 MVT trong việc thiết kế mô hình, tự động hoá các thí nghiệm vật lý

Nhờ các phần mềm đồ hoạ, phần mềm thiết kế có thể mô phỏng các hiện tượng, qúa trình nghiên cứu thông qua các dấu hiệu, mối quan hệ có tính bản chất của các đối tượng đã tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình nhận thức của

HS Đặc biệt với MVT, có thể xây dựng và quan sát mô hình tĩnh hay động ở góc độ khác nhau trong không gian với đủ loại màu sắc trong tự nhiên

1.2.6 MVT với hệ thống đa phương tiện

Một PTDH kết hợp được nhiều yếu tốt nghe, nhìn và điều khiển sẽ phát triển khả năng tiếp thu tri thức cũng như khả năng ghi nhớ kiến thức một cách vững chắc đối với HS

Với đĩa CD-ROM và các thiết bị ngoại vi như máy quét ảnh, máy in, máy khuếch đại có thể xây dựng được hệ thống PTDH có khả năng nghe, nhìn và điều khiển góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ dạy học

Có thể nói MVT là một PTDH đa năng mà ta chưa thể khai thác hết được các chức năng của nó

1.3 Các hình thức sử dụng MVT trong dạy học vật lý

Với tư cách là một PTDH hiện đại MVT có thể được sử dụng dưới các hình thức sau đây:

 GV sử dụng MVT làm phương tiện giảng dạy, truyền thụ kiến thức

GV sử dụng MVT để thực hiện các chức năng hội thoại, mô phỏng, minh hoạ đã được thiết kế còn HS quan sát những diễn biến trên màn hình để thu

Trang 15

nhận thông tin và tham gia vào quá trình xử lý thông tin MVT có thể đưa ra các chỉ dẫn, một số kiến thức bổ trợ để HS chủ động tích cực trong việc tìm tòi tri thức mới dưới sự hướng dẫn của GV Qúa trình này đòi hỏi HS phải thực hiện các hoạt động tư duy để cùng tham gia xây dựng tri thức MVT cũng có thể đóng vai trò của người GV ở một số khâu trong quá trình dạy học Tuy nhiên xét toàn bộ quá trình dạy học thì MVT chỉ là công cụ của người

GV mà không thể thay thế hoàn toàn vai trò của người GV

 HS sử dụng MVT dưới sự hướng dẫn của GV Trong trường hợp này đòi hỏi HS phải có những kỹ năng nhất định trong việc sử dụng MVT GV giao cho HS nhiệm vụ cụ thể, hướng dẫn, theo dõi và điều chỉnh quá trình học tập của HS một cách phù hợp HS phát huy tính độc lập, sáng tạo để tìm cách hoàn thành nhiệm vụ được giao

 HS độc lập sử dụng MVT Hình thức này áp dụng khi HS đã có trình

độ tin học nhất định Với hình thức này HS phát huy được tính tích cực trong học tập, chủ động sáng tạo và có thể tìm ra phương pháp tự học có hiệu quả Với những HS có khả năng tư duy tốt thì đây là một phương pháp học góp phần phát triển tính tự lực của HS

1.4 Những hạn chế cần khắc phục khi sử dụng MVT làm PTDH

Chúng ta biết rằng không có bất cứ một phương pháp, PTDH nào được coi là vạn năng Nó có thể tốt cho người này, cho mục đích này nhưng chưa hẳn đã tốt với người khác và mục đích khác MVT với vai trò là một PTDH vật lý hiện đại cũng không năm ngoài quy luật đó, phải khẳng định rằng MVT

là một PTDH đa năng chứ không phải là PTDH vạn năng

Sau đây là những hạn chế khi sử dụng MVT làm PTDH và phương án khắc phục một số hạn chế:

Thứ nhất, về việc tổ chức giảng dạy: với máy tính có màn hình nhỏ thì việc sử dụng để giảng dạy cho lớp có đông HS là rất khó khăn Nó không đảm bảo được yêu cầu về mặt sư phạm của một PTDH Tuy nhiên hạn chế này có

Trang 16

thể khắc phục nếu ta tổ chức lớp học hợp lý, bằng cách chia lớp học thành nhiều nhóm nhỏ Tuy nhiên đây chưa phải là phương án tối ưu Với KHKT phát triển như hiện nay, việc kết hợp MVT với tổ hợp các thiết bị ngoại vi như máy chiếu khuếch đại là có thể thực hiện được, và có thể đảm bảo các yêu cầu về mặt sư phạm

Thứ hai, đánh giá kết qủa của HS: trong các phần mềm dạy học, việc đánh giá kết quả học tập của HS thường sử dụng phương pháp trắc nghiệm khách quan Ngoài những ưu thế nổi trội so với các phương pháp khác thì có những hạn chế như: khi tổ chức kiểm tra trắc nghiệm, kết quả mà GV nhận được từ HS thường là cuối cùng, những lí luận, phép tính trung gian không được gới thiệu vì vậy GV không phát hiện được những sai sót trong quá trình

tư duy của HS Để khắc phục hạn chế này GV cần phải phối hợp với các phương pháp kiểm tra thông thường

Thứ ba, về phương pháp sư phạm: khi sử dụng các phần mềm có sẵn nhiều khi tuỳ thuộc vào sự hiểu biết của một số người Về mặt kiến thức mặc

dù đã được chuẩn hoá, tuy nhiên nếu xét về góc độ sư phạm thì chưa hẳn đã

có giá trị cao Vì vậy có thể phù hợp với người này nhưng lại không thể áp đặt cho nghười khác Đây là hạn chế lớn khi sử dụng các phần mềm dạy học có sẵn

Bên cạnh đó học tập với các chương trình cài đặt trên MVT hạn chế về mặt giao tiếp giữa GV và HS GV không phải là người trực tiếp dẫn dắt, hướng dẫn HS từng bước cụ thể do vậy không thu được những ý kiến phản hồi từ HS GV không có điều kiện đặt ra tình huống có vấn đề để HS giải quyết

Thứ tư, ảnh hưởng của điều kiện xã hội: với điều kiện cuộc sống còn khó khăn như hiện nay việc đầu tư kinh phí cho các trường học để mua sắm thiết bị hiện đại là khó khăn Mặt khác để sử dụng MVT làm PTDH đạt hiệu quả cao đòi hỏi trình độ tin học của người GV Thực tế hiện nay cho thấy đa

Trang 17

số GV phổ thông chưa sử dụng thành thạo MVT và hầu như các GV chưa đầu

tư thời gian cho lĩnh vực này nhất là các trường vùng sâu, vùng xa

Để khắc phục hạn chế này cần có chính sách hỗ trợ đầu tư thích đáng Cần tổ chức các lớp đào tạo tin học định kỳ về ứng dụng CNTT trong dạy học cho GV Nhất là phải đưa các chương trình tin học ứng dụng vào giảng dạy cho sinh viên sư phạm

Trên đây là một số hạn chế khi sử dụng MVT làm PTDH Tuy nhiên nếu biết sử dụng một cách hợp lý thì có thể khắc phục đáng kể các hạn chế trên

1.5 Kết luận chương I

Qua phân tích cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn của việc sử dụng MVT làm PTDH ta thấy với tư cách là một PTDH hiện đại, việc sử dụng MVT trong quá trình dạy học nói chung, dạy học vật lý nói riêng là hoàn toàn hợp

lý Nó phù hợp với các cơ sở lý luận cũng như cơ sở thực tiễn

MVT với vai trò là một PTDH hiện đại tỏ ra là một PTDH có nhiều thế mạnh, có thể sử dụng ở mọi giai đoạn và thực hiện được các chức năng của quá trình dạy học Tuy nhiên khi sử dụng MVT làm phương tiện hỗ trợ dạy học cần lưu ý các điểm sau:

Cần phải đầu tư đúng mục đích và những yêu cầu về mặt sư phạm của tiến trình dạy học

Cần phải đầu tư đúng mức, khai thác hết công suất, khả năng của loại PTDH hiện đại này

GV phải được bồi dưỡng, đào tạo một số kiến thức cơ bản về tin học, những kiến thức lý luận của việc ứng dụng CNTT trong dạy học và rèn luyện một số kỹ năng cơ bản cần thiết trong việc sử dụng PTDH này

Với vai trò là một PTDH hiện đại, MVT có khả năng thực hiện mọi chức năng của LLDH cũng như mọi nhiệm vụ của quá trình dạy học vật lý Có thể

sử dụng MVT dưới nhiều hình thức khác nhau trong quá trình dạy học và tỏ

Trang 18

ra có nhiều thế mạnh so với PTDH truyền thống Vì vậy việc sử dụng MVT làm PTDH vật lý trong các trường phổ thông ở nước ta hiện nay là hoàn toàn phù hợp với quy luật và sự phát triển PTDH và hiện đại hoá PTDH

Chương II thiết kế BGĐT hỗ trợ dạy học phần “các định luật chất khí” - vật lý 10 THPT 2.1 Lựa chọn công cụ thiết kế BGĐT

2.1.1 Yêu cầu về phương diện công cụ

Việc lựa chọn các công cụ thiết kế BGĐT đóng một vai trò quan trọng Các công cụ được lựa chọn phải đạt các tiêu chuẩn cơ bản sau:

- Hiện đại: công cụ lựa chọn phải kết hợp được âm thanh, hình ảnh, hoạt hình, văn bản có như vậy mới tạo ra những phần mềm có giá trị khoa học và tính sư phạm cao

- Dễ thiết kế: phù hợp với khả năng tin học của số đông GV và HS

Trang 19

- Sử dụng tiện lợi và mang lại hiệu quả cao trong dạy học

2.1.2 Công cụ thiết kế BGĐT

Hiện nay có rất nhiều phần mềm hỗ trợ thiết kế BGĐT, mỗi phần mềm đều có ưu và nhược điểm riêng của nó Trong luận văn này chúng tôi đã lựa chọn và sử dụng một trong các công cụ để thiết kế BGĐT đó là phần mềm PowerPoint Nó không đòi hỏi phải lập trình bằng các ngôn ngữ bậc cao, người sử dụng không nhất thiết phải theo học chính quy chuyên ngành CNTT Phần mềm Microsoft PowerPoint là một trong những phần mềm của bộ Microsoft Office Nó là một phần mềm trình diễn mạnh, linh hoạt và dễ học Chương trình có thế mạnh làm gia tăng các chất liệu cho trình diễn có minh hoạ, nhờ đó có thể thiết kế các mẫu chủ yếu cho bài báo cáo, bài giảng với các trang tiêu đề, văn bản, các biểu bảng, biểu đồ, các hình minh hoạ, ảnh chụp được quét vào MVT, các hoạt hình, film video và âm thanh Vì vậy PowerPoint là một công cụ mạnh để soạn thảo các bản trình bày phục vụ cho các cuộc hội thảo, các Seminar khoa học và đặc biệt là thiết kế các BGĐT PowerPoint cho phép liên kết với tất cả các dạng dữ liệu trên môi trường Windows Vì vậy với các công cụ Web được xây dựng trên PowerPoint có thể bắt đầu với một bản trình bày PowerPoint chuẩn và tự động biến đổi nó thành dạng thức ngôn ngữ đánh dấu siêu văn bản (HTML) Mặc dù sự biến đổi này chưa thật sự hoàn hảo nhưng các trang Web được tạo ra sẽ đầy đủ các chức

năng của nó

2.2 Vai trò của MVT trong sự phát triển của nền giáo dục điện tử

2.2.1 Khai thác những khả năng hỗ trợ dạy học của PowerPoint

Khi sử dụng phần mềm PowerPoint soạn thảo các BGĐT sử dụng trong giảng dạy chúng tôi nhận thấy PowerPoint là một công cụ mạnh Cụ thể, nó

có những khả năng hỗ trợ trong quá trình dạy học như sau:

Trang 20

- Khi sử dụng PowerPoint để soạn các bài giảng điện tử cho phép tạo ra một tập các slide theo cấu trúc logic của bài giảng Mỗi một slide thường chứa đựng một đơn vị kiến thức cần truyền thụ của bài giảng Các slide được liên kết với nhau trong một file và lần lượt xuất hiện theo một trật tự được quy định bởi người soạn Người soạn có thể đặt tên các hiệu ứng xuất hiện tuỳ ý cho mỗi nội dung chứa đựng trong slide Vì vậy GV có thể thực hiện được trình tự logic của việc xây dựng kiến thức quy định bởi cấu trúc của bài học Như vậy, giáo án thể hiện được toàn bộ kế hoạch hoạt động của thầy và trò trong tiết học để đạt mục đích đã đặt ra

- Khi sử dụng BGĐT trên máy tính không chỉ cho phép lưu trữ hệ thống các bài giảng của từng môn học theo từng năm mà nó còn cho phép cập nhật, sửa đổi để nâng cao chất lượng của bài giảng theo Có thể thêm, bớt các slide bởi

vì số lượng các slide cũng như số liên kết giữa chúng là không hạn chế Đây

là điều mà các giáo án thông thường khó có thể thực hiện được

- Một trong những đặc điểm nổi bật của các chương trình ứng dụng trên Windows là chúng có thể phát huy cao độ khả năng đồ hoạ của máy tính Cũng như vậy, PowerPoint cho phép tạo ra các slide với các dáng vẻ khác nhau (màu viền, kiểu chữ, kiểu dáng slide ) rất đa dạng và phong phú, chính

vì lẽ đó mà kích thích sự chú ý, hứng thú của HS, tránh được tâm lý buồn chán, mỏi mệt khi chỉ làm việc với bảng đen và phấn trắng

- Bên cạnh đó PowerPoint còn có khả năng sử dụng thêm các công cụ khác

để phục vụ cho tiến trình dạy học như: vẽ biểu bảng, biểu đồ, đồ thị, xử lí số liệu thuận lợi cho việc thiết kế các BGĐT

- PowerPoint có thể thực hiện các hiệu ứng tác động đến mỗi đối tượng trong bài giảng như hiệu ứng xuất hiện các dòng văn bản, hình vẽ, ảnh chụp, thí nghiệm ảo Khả năng trình diễn các hoạt cảnh, phim video, ghi âm lời thuyết minh không chỉ làm cho hoạt động dạy học diễn ra phù hợp với logic của quá trình nhận thức mà còn có tác dụng làm cho thế giới khách quan được tái tạo

Trang 21

lại một cách có chọn lọc và sinh động Vì vậy kích thích hứng thú, tăng cường

sự chú ý và niềm tin của HS, làm cho bài giảng trở nên sinh động

- Với chức năng Power Option, PowerPoint cung cấp một công cụ viết hoặc

vẽ trên nền các slide để đánh dấu các vấn đề chính trong nội dung trình bày Sau đó có thể dễ dàng xoá đi mà không ảnh hưởng tới các đối tượng đã được tạo ra trước đó trên slide Đây là một chức năng rất ưu việt, thường được dùng

để nhấn mạnh một nội dung kiến thức nào đó trong khi giảng dạy

- Việc trình bày các slide theo thời gian có thể được thực hiện ở ba chế độ: chế độ tự động, có định thời gian hoặc không định thời gian Biết sử dụng hợp

lý ba chế độ này sẽ cho phép giám sát và khống chế được thời gian trình bày Nhờ vậy, bài giảng luôn luôn được thực hiện đúng theo tiến trình đã được định sẵn và GV chủ động điều khiển quá trình dạy học

- Các Slide thể hiện bằng tiếng Việt do đó dễ sử dụng

Trên đây là một số chức năng nổi bật của PowerPoint trong lĩnh vực thiết

kế bài giảng điện tử hỗ trợ cho quá trình dạy học Biết khai thác các ưu thế này ta sẽ phát huy được tối đa các chức năng của nó

2.2.2 Các chức năng hỗ trợ dạy học cuả BGĐT

2.2.2.1 Chức năng hỗ trợ hoạt động dạy học của GV

Đối với các môn học khác nhau thì khả năng hỗ trợ dạy học của BGĐT

là khác nhau Khai thác những thế mạnh khác nhau của BGĐT để phục vụ cho tính đặc thù của bộ môn Ví dụ với vật lý học, là môn khoa học thực nghiệm, vì vậy người ta quan tâm nhiều hơn ở những khả năng hỗ trợ trong các thí nghiệm, ngoài những hỗ trợ cho các chức năng dạy học chung như: tính tích cực hoá, phát triển tư duy, hứng thú học tập, sáng tạo của HS Cụ thể, ta có thể chỉ ra một số chức năng hỗ trợ dạy học của BGĐT như sau:

Trang 22

- Sử dụng BGĐT sẽ hỗ trợ GV điều khiển được mức độ thực hiện kế hoạch, lịch trình giảng dạy Mặt khác nó giảm thời gian lên lớp của GV do đó giảm bớt chi phí về sức lực, trí tuệ trong quá trình chuẩn bị lên lớp

- Sử dụng BGĐT kết hợp với công cụ truyền thống sẽ phát huy được tính sáng tạo và nâng cao hiệu quả sử dụng của các công cụ truyền thống

- Với hệ thống bài học được thiết kế công phu, sáng tạo có khả năng hỗ trợ GV rất nhiều trong việc truyền thụ kiến thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo Các thí nghiệm ảo, mô hình cung cấp cho HS những hình ảnh trực quan với

tư cách là những cơ sở thực nghiệm giúp HS khái quát hoặc kiểm chứng các kiến thức vật lý

- Bên cạnh đó việc sử dụng BGĐT dạy học còn tạo cho GV thói quen, kỹ năng làm việc trong thời đại thông tin Ngoài ra nó còn nâng cao uy tín của nhà trường, tạo niềm tin của xã hội đối với giáo dục

2.2.2.2 Chức năng hỗ trợ học tập của HS

Chúng ta biết rằng khi thiết kế BGĐT hỗ trợ hoạt động dạy học thì nhà thiết kế luôn luôn phải đặt ra các yêu cầu về mặt sư phạm và kỹ thuật Khi thiết kế BGĐT ngoài các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn nó phải đảm bảo cơ

sở LLDH bộ môn Chính vì lẽ đó nó luôn có những tác dụng tích cực khi sử dụng BGĐT với chức năng hỗ trợ hoạt động học tập của HS Sử dụng BGĐT

HS có thể ôn bài cũ, hệ thống hoá kiến thức, rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức đã học hoặc xem trước tài liệu mới vào bất cứ thời gian nào nếu HS có máy tính

Đặc biệt khi sử dụng chức năng mô phỏng các quá trình, hiện tượng vật

lý có thể thao tác trên máy tính như đang tiến hành với thí nghiệm thật Từ đó góp phần rèn luyện phương pháp thực nghiệm cho HS trong điều kiện không thể tiến hành thí nghiệm thật

Trang 23

Với hệ thống câu hỏi kiểm tra trắc nghiệm trong BGĐT sẽ phát huy tính tích cực, tự chủ của HS Nó cho phép GV đánh giá một cách nhanh chóng, chính xác những kiến thức mà HS tiếp thu

Như vậy, khi sử dụng BGĐT trong dạy học tạo ra môi trường học tập mới, góp phần nâng cao chất lượng học tập của HS trên nhiều mặt: kích thích hứng thú, tạo sự chú ý, tăng cường trí nhớ, mở rộng, đào sâu kiến thức, phát triển tư duy, bồi dưỡng các phương pháp nhận thức, chiếm lĩnh tri thức một cách tự lực, tự giác Đây chính là mục đích của quá trình dạy học trong mọi thời đại, nhất là thời đại CNTT và truyền thông như ngày nay

2.3 Thực trạng dạy học phần "Các định luật chất khí" trong chương trình vật lý 10 - THPT

2.3.1 Nội dung, vị trí, vai trò của các định luật chất khí trong chương trình vật lý phổ thông lớp 10

2.3.1.1 Nội dung của các định luật chất khí trong SGK Vật lý 10

"Các định luật chất khí" được trình bày trong 3 tiết (tiết 53, 54, 55) SGK trình bày nội dung này theo cấu trúc sau đây:

- Định luật Bôilơ - Mariốt

- Định luật Saclơ

- Độ không tuyệt đối và nhiệt giai Kelvin Định luật Sáclơ viết theo độ K

- Từ định luật Saclơ viết theo nhiệt độ K và định luật Bôilơ-Mariốt xây dựng phương trình trạng thái của khí lý tưởng viết theo nhiệt độ K Định luật Gay Luyxắc

Trong giáo trình vật lý phổ thông các định luật chất khí được hình thành theo hai con đường: quy nạp và diễn dịch Ban đầu nghiên cứu định luật Bôilơ

- Mariốt và định luật Saclơ rồi khái quát hoá thu được phương trình trạng thái Còn định luật Gayluyxắc được hình thành theo phương pháp diễn dịch: sau

Trang 24

khi thiết lập phương trình trạng thái suy ra định luật Gay Luyxăc Tuy nhiên cần phải hiểu rằng chúng đều là những định luật thực nghiệm

Nội dung cụ thể của ba định luật như sau:

* Định luật Bôilơ - Mariôt:

Vào bài SGK đưa ra khái niệm quá trình đẳng nhiệt: đó là quá trình biến đổi trạng thái nhiệt của môt lượng khí trong đó thể tích và áp suất thay đổi còn nhiệt độ không đổi

Sau đó SGK mô tả thí nghiệm và kết quả thí nghiệm để từ đó đưa ra định luật: "Ở nhiệt độ không đổi áp suất và thể tích của một khối lượng khí xác định tỉ lệ nghịch với nhau”

Từ biểu thức trên suy ra : P1V1 = P2V2 hay PV=const

Phát biểu định luật bằng cách khác: "Ở nhiệt độ không đổi tích của thể tích và

áp suất của một khối lượng khí xác định là một đại lượng không đổi”

SGK đã chỉ rõ: định luật này được nhà vật lý học người Anh Bôilơ tìm ra năm 1662 và nhà bác học vật lý người Pháp Mariôt tìm ra năm 1676 hoàn toàn độc lập với nhau

Tiếp theo SGK trình bày đồ thị của định luật (Đường đẳng nhiệt) và cuối cùng là phạm vi ứng dụng của định luật

1

V

V p

p

t p

p

0 0

Trang 25

Hay: pt = p0(1+t) Từ đó phát biểu định luật: "Khi thể tích không đổi,

áp suất của một khối lượng khí xác định biến thiên theo hàm bậc nhất đối với nhiệt độ" Sau khi phát biểu định luật, SGK trình bày đồ thị của định luật (đường đẳng tích)

Tiếp theo SGK định nghĩa khái niệm độ không tuyệt đối và nhiệt giai Kelvin, đưa ra mối liên hệ giữa nhiệt độ t trong nhiệt giai Cenxiut với T trong nhiệt giai Kenlvin

T= (t+273)K

Từ đó tìm được hệ thức giữa áp suất và nhiệt độ tuyệt đối:

Có thể phát biểu định luật như sau: "Khi thể tích không đổi, áp suất của một khối lượng khí xác định tỉ lệ thuận với nhiệt độ tuyệt đối”

Kết thúc bài học SGK đưa ra phạm vi ứng dụng của định luật

* Phương trình trạng thái của khi lý tưởng :

Sau khi xây dựng định luật Bôilơ - Mariôt và định luật Saclơ SGK đã

sử dụng hai định luật này để xây dựng phương trình trạng thái của khí lý tưởng

Phương trình trạng thái khí lý tưởng được xây dựng từ định luật Bôilơ - Mariôt và định luật Saclơ viết theo nhiệt độ K bằng cách dùng các đồ thị để biểu diễn các quá trình và các biểu thức của định luật

Phương trình trạng thái khí lý tưởng:

Từ phương trình trạng thái, SGK suy ra định luật Gayluyxắc:

2

1 2

1

T

T p

p

2

2 2

1

1 1

T

V p T

V p

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Dương Trọng Bái - Tô Giang - Nguyễn Đức Thâm - Bùi Gia Thịnh: SGK Vật lý lớp 10. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý lớp 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Dương Trọng Bái - Tô Giang - Nguyễn Đức Thâm - Bùi Gia Thịnh: Sách giáo viên vật lý lớp 10 . NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên vật lý lớp 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
3. Lê Văn: Vật lý phân tử và nhiệt học (sách Đại học sư phạm) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vật lý phân tử và nhiệt học
4. L.I.REZNIKOV - S.JA.SHAMASH - G.B.KUPERMAN: PPGD vật lý phân tử trong trường phổ thông. NXB Giáo dục, 1981 Sách, tạp chí
Tiêu đề: PPGD vật lý phân tử trong trường phổ thông
Nhà XB: NXB Giáo dục
6. Dương Trọng Bái - Tô Giang - Nguyễn Đức Thâm - Bùi Gia Thịnh: Sách bài tập vật lý lớp 10 . NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách bài tập vật lý lớp 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
7. M.E.TULRINXKI: Những bài tập định tính về vật lý cấp 3. NXB Giáo dục,1978 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những bài tập định tính về vật lý cấp 3
Nhà XB: NXB Giáo dục
8. Vũ Thanh Khiết (Chủ biên): Bài tập định tính và câu hỏi thực tế vật lý 10. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài tập định tính và câu hỏi thực tế vật lý 10
Nhà XB: NXB Giáo dục
10. Nguyễn Hữu Chương và nhóm tác giả: Tư liệu giảng dạy vật lý cấp III - Tập I. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tư liệu giảng dạy vật lý cấp III - Tập I
Nhà XB: NXB Giáo dục
11. Nguyễn Quang Lạc - Mai Văn Trinh: MVT làm phương tiện mô phỏng và minh hoạ trong dạy học Vật lý, Bài giảng cho sinh viên Cao học chuyên ngành PPGD vật lý. Đại Học Vinh, 1998 Sách, tạp chí
Tiêu đề: MVT làm phương tiện mô phỏng và minh hoạ trong dạy học Vật lý
12. Nguyễn Quang Lạc: Lí luận dạy học vật lý ở trường phổ thông. ĐHSP Vinh, 1997 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lí luận dạy học vật lý ở trường phổ thông
13. Mai Văn Trinh: Luận án tiến sĩ giáo dục. Vinh, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Luận án tiến sĩ giáo dục
14. Dương Trọng Bái - Đàm Trung Đồn: Bài tập vật lý phân tử và nhiệt học. NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dương Trọng Bái - Đàm Trung Đồn: "Bài tập vật lý phân tử và nhiệt học
Nhà XB: NXB Giáo dục
5. Nhiệt học và vật lý phân tử - Sách bồi dưỡng thường xuyên chu kỳ 1997 - 2000 cho giáo viên THPT . NXB Giáo dục Khác
9. Nguyễn Văn Đồng (Chủ biên): Phương pháp giảng dạy vật lý ở trường phổ thông Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w