Tuy vậy, người nghiên cứu cũng đã rút ra những kết luận cần thiết nhằm hướng dẫn hoạt động dạy học kịch: "Vấn đề khó nhất đối với kịch đram là phần diễn trên sân khấu, còn với kịch bản v
Trang 1MỞ ĐẦU
I - Lý do chọn đề tài
1- "Tôi tiếp nhận kịch như một nghệ thuật của hình bóng…"(Thomas Mann) Là một thể loại văn học ra đời từ rất sớm, bên cạnh tự sự và trữ tình, kịch làm cho đời sống văn học trở nên phong phú hơn Khi sáng tác hay tiếp nhận kịch, chúng ta đều đứng trước một nghịch lý lạ lùng: vừa bị hút vào, vừa
bị đẩy ra Ju.Olesha đã khái quát "Kịch là một sự thử thách nghiêm ngặt và sự bay bổng của tài năng là thử thách của cảm giác hình thức và tất cả những cái độc đáo lạ lùng làm thành tài năng " [ 101, 13] Cũng với ý tưởng đó, Bunis
đã phát biểu: "Đành phải nén tư tưởng vào những hình thức chính xác Nhưng chính đó lại là chỗ hấp dẫn " [ 101, 13] Như vậy, so với tự sự và trữ tình, kịch
là một thế giới hấp dẫn nhưng không dễ gì chiếm lĩnh được
2- Hiện nay, kịch đã được đưa vào trường phổ thông ở cả hai cấp học THCS và THPT Học sinh THCS chủ yếu được học kịch dân gian (chèo, tuồng); còn THPT thì học kịch hiện đại Nhưng việc dạy học kịch hiện nay ở phổ thông còn nhiều hạn chế Thứ nhất tác phẩm đưa vào chương trình quá ít, chủ yếu học sinh PTTH chỉ được học kịch bản văn học nước ngoài; thứ hai,
về phương pháp dạy học, rất nhiều giáo viên chưa được phân biệt được phương pháp dạy học kịch với phương pháp dạy học tự sự
3- Sở dĩ có những hiện tượng trên một phần là do hiện nay việc nghiên cứu về phương pháp dạy học kịch bản văn học chưa được chú trọng, vì thế, dạy học kịch trở thành mảnh đất quen mà lạ đối với giáo viên và học sinh Luận văn của chúng tôi ra đời nhằm góp một phần nhỏ vào việc tháo gỡ
sự bế tắc đó của việc nghiên cứu phương pháp dạy học kịch bản văn học trong nhà trường phổ thông hiện nay
Trang 2II - Lịch sử vấn đề
Như ở trên đã nói, kịch là một trong 3 loại cơ bản của văn học, nó có một vị trí ngang hàng với tự sự và trữ tình Kịch ra đời từ rất sớm, được biểu diễn và dạy học từ lâu, nhưng việc nghiên cứu phương pháp dạy học kịch bản văn học ở nước ta thì mới chỉ được bắt đầu cách đây chưa lâu lắm và số công trình cũng hãy còn ít ỏi
Đầu tiên cần kể đến bài viết có tên gọi là Kịch và giảng dạy kịch của Huỳnh Lý, in trong cuốn Vấn đề giảng dạy tác phẩm văn học theo loại thể
(Nxb Giáo dục, 1971) Đây là công trình mở đầu cho việc nghiên cứu phương pháp dạy học kịch bản văn học Sau khi đã trình bày tương đối có hệ thống về
các khái niệm như kịch, hành động, kịch tính, ngôn ngữ… đồng thời khái quát
được quá trình phát triển kịch nói ở Việt Nam và giới thiệu những vở kịch được học trong chương trình cấp III trước đây, tác giả đã nêu được nhiều gợi
ý quý báu về phương pháp dạy học kịch Tác giả viết: "… Thầy giáo, tức là một nhà phê bình, phải nắm những đặc thù của diễn xuất ở mức độ nhất định mới giảng dạy kịch tốt được " 239, 6 ở đây tác giả đã lưu ý chúng ta dạy học kịch bản văn học từ góc nhìn sân khấu, nghĩa là đề cao tính chất biểu diễn trong dạy học để làm giờ học sinh động Tác giả gợi ý: "ở cấp III, dù chỉ giảng văn một đoạn trích cũng phải liên hệ và khuyến khích học sinh đọc trọn tác phẩm; đối với kịch thì nên khuyến khích xem diễn" 276, 6 ở đây, tác giả đã đưa ra biện pháp khắc phục mặt hạn chế của việc học trích đoạn kịch đồng thời đã nhấn mạnh tầm quan trọng của hoạt động đọc - một hoạt động cơ bản trong cơ chế tiếp nhận văn học và đặt biệt đã nêu sự cần thiết của việc cho học sinh xem các buổi diễn kịch
Với công trình này, tác giả chủ yếu nghiên cứu kịch bản văn học về mặt
lí luận chứ chưa đi sâu vào việc dạy học kịch Về phương pháp, tác giả mới chỉ dừng lại ở những "lưu ý, "chú ý”, “gợi ý” có tính chất mở đầu
Trang 3Công trình thứ hai là cuốn Dạy học tác phẩm văn chương theo loại thể
(Nguyễn Viết Chữ, Nhà xuất bản ĐHQGHN, 2001) Trong cuốn sách này tác giả chú trọng nhiều hơn đến phương pháp dạy học hai thể loại tự sự và trữ tình, còn đối với kịch thì tác giả lại bàn rất ít, chỉ khoảng hơn một trang trong tổng số 203 trang của cuốn sách Tuy vậy, người nghiên cứu cũng đã rút ra những kết luận cần thiết nhằm hướng dẫn hoạt động dạy học kịch: "Vấn đề khó nhất đối với kịch đram là phần diễn trên sân khấu, còn với kịch bản văn học là phân tích cho được mâu thuẫn, khởi đầu, diễn biến và kết thúc…", hay:
"… trong quá trình phân tích kịch bản văn học nên thường xuyên lưu ý liên hệ tới kịch đram (sự thể hiện của nó trên sân khấu)", "… có thể hoạt động liên môn xem trích đoạn trước khi nghiên cứu kịch bản văn học”, "Trong quá trình dạy học kịch bản có thể sử dụng đọc thể hiện phân vai, kết hợp với những câu hỏi hình dung tưởng tượng tái tạo vào những tình huống gay go nhất, có phẩm chất tư tưởng nghệ thuật cao nhất Kết hợp phương pháp đọc sáng tạo với nghiên cứu, có thể so sánh với các loại kịch trường để hiểu kịch bản văn học mà ta đang nghiên cứu “145, 2
Những nhận xét trên của Nguyễn Viết Chữ tuy xác đáng nhưng thiếu sự chỉ dẫn cụ thể và chưa toàn diện Đọc bài viết này chúng tôi có cảm giác tác giả hình như không muốn khơi sâu tìm hiểu về vấn đề dạy học kịch bản trong nhà trường
III - Phạm vi nghiên cứu của đề tài
Chính tên gọi đề tài (Một số vấn đề về phương pháp dạy học kịch bản văn học trong trường phổ thông) đã nói rõ phạm vi nghiên cứu của luận văn:
nghiên cứu kịch bản văn học dưới góc độ của phương pháp dạy học Tuy nhiên, trong luận văn này mới chỉ là những khám phá mở đầu đơn giản
Thuật ngữ "kịch " mà chúng tôi dùng ở đây là chỉ kịch bản văn học - tức là văn bản ngôn từ mà nhà văn sáng tác, bao gồm lời thoại của nhân vật và các chú thích sân khấu - như một kế hoạch đã vạch sẵn ở đây cần phân biệt
Trang 4kịch bản văn học với kịch bản của sân khấu điện ảnh; hay kịch bản văn học với "vở kịch"
Đề tài đi sâu vào nghiên cứu phương pháp dạy học kịch bản văn học chủ yếu trong phạm vi nhà trường THPT Nói cách khác, đê tài chỉ đưa ra phương pháp dạy học kịch hiện đại, còn kịch dân gian và kịch thơ do chỉ có mặt ở chương trình văn học THCS, vì thế chúng tôi chưa có điều kiện nghiên cứu
IV - Mục đích nghiên cứu của đề tài
Trong xu thế đổi mới phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học văn nói riêng, việc nghiên cứu phương pháp dạy học kịch bản văn học là một việc làm thiết thực và bổ ích Thiết lập một quan điểm dạy học kịch bản văn học với cái nhìn hiện đại - đó là một yêu cầu cấp bách trong giai đoạn hiện nay Mục đích lớn nhất của đề tài chúng tôi là xây dựng được hệ thống phương pháp, biện pháp dạy học kịch bản văn học có hiệu quả, dựa trên những hiểu biết về loại thể văn học, từ đó xây dựng những
mô hình thiết kế thử nghiệm dạy học một kịch bản văn học có trong chương trình văn học THPT
V - Phương pháp nghiên cứu
Trong luận văn này chúng tôi sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
1- Phương pháp so sánh - đối chiếu: tự sự, trữ tình, kịch là ba loại cơ bản của văn học, tồn tại song song và có mối liên hệ gần gũi với nhau, nhưng mỗi thể loại có những đặc trưng riêng Vì thế cần so sánh kịch với tự sự, trữ tình
để thấy được những đặc trưng riêng biệt của kịch qua đó đề ra được phương pháp dạy học kịch phù hợp với đặc điểm loại thể
Mặt khác, cần so sánh kịch nói hiện đại với kịch dân gian (chèo, tuồng)
để thấy được sự phát triển của kịch hiện đại và sự tiếp thu giá trị truyền thống của nó
Trang 5Do luận văn ra đời trong thời điểm chương trình ngữ văn tích hợp đang được dự thảo, còn chương trình chỉnh lý hợp nhất năm 2000 vẫn còn được sử dụng nên chúng tôi muốn đối sánh hai chương trình để rút ra những nhận xét cần thiết
2- Phương pháp thống kê
3- Phương pháp liên ngành: luận văn của chúng tôi sử dụng những thành tựu và phương pháp nghiên cứu của nhiều ngành khoa học khác như: lý luận văn học, triết học, giáo dục học, phương pháp dạy học văn…
VI- Cấu trúc của luận văn
Ngoài các phần Mở đầu, Phụ lục, Kết luận và Tài liệu tham khảo, phần Nội dung gồm 3 chương như sau:
Chương 1- Những đặc trưng cơ bản của kịch bản văn học
Chương 3 - Phương pháp và biện pháp dạy học kịch bản văn học
3.1- Nhóm phương pháp cắt nghĩa sâu nhằm làm sáng rõ giá trị nội dung, nghệ thuật của tác phẩm
Trang 63.1.1- Phương pháp đọc diễn cảm - đọc phân vai trong dạy học kịch 3.1.2- Xác định hành động kịch trước và sau đoạn trích được học - một hoạt động tóm tắt cốt truyện kịch
3.1.3- Phương pháp gợi mở, đặt câu hỏi xoay quanh xung đột trung tâm, hành động trung tâm và nhân vật trung tâm
3.1.4- Phương pháp giảng bình trong kịch
3.2- Nhóm phương pháp, biện pháp tổ chức hình thức dạy học nhằm tạo
ra giờ học kịch sinh động
Trang 7NỘI DUNG
CHƯƠNG 1 : NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA KỊCH BẢN VĂN HỌC
1.1- Khái niệm
Theo cuốn Từ điển thuật ngữ văn học ( Lê Bá Hán, Trần Đình Sử,
Nguyễn Khắc Phi ), thuật ngữ kịch được dùng ở hai cấp độ: cấp độ loại hình
và cấp độ loại thể
Ở cấp độ loại hình, kịch là một trong ba loại cơ bản của văn học (kịch, tự
sự, trữ tình) Kịch vừa thuộc sân khấu vừa thuộc văn học Nó được sáng tác ra vừa để diễn lại vừa để đọc Kịch bản chính là phương diện văn học của kịch Song nói đến kịch phải nói đến sự biểu diễn trên sân khấu của các diễn viên bằng hành động, cử chỉ, điệu bộ và lời nói
Ở cấp độ loại thể, thuật ngữ kịch (dram) được dùng để chỉ một thể loại văn học - sân khấu có vị trí tương đương với bi kịch và hài kịch Với ý nghĩa này, kịch cũng được gọi là chính kịch (hoặc kịch đram) Cũng giống như hài kịch, kịch tái hiện cuộc sống riêng của con người bình thường nhưng mục đích không phải là cười nhạo, chế diễu các thói hư tật xấu mà là mô tả cá nhân trong các mối quan hệ chứa đựng kịch tính đối vơí xã hội và cũng giống như bi kịch, kịch tái hiện những mâu thuẫn gay gắt, song những xung đột của
nó không căng thẳng đến tột độ, không mang tính chất vĩnh hằng và về nguyên tắc có thể giải quyết được ổn thoả Còn các tính cách của kịch không
có gì đặc biệt phi thường 42,8
Aritstote trong cuốn Nghệ thuật thơ ca đã xác định bản chất của kịch:
"Là sự mô phỏng một hành động quan trọng và trọn vẹn có một quy mô nhất định, [sự mô phỏng] đó nhờ vào ngôn ngữ - Ngôn ngữ này trong mỗi phần có
Trang 8sự trau chuốt khác nhau; bằng hành động chứ không phải qua các câu chuyện
kể, bi kịch*, qua cách [khêu gợi lên] sự xót thương và sợ hãi, thực hiện sự thanh lọc các cảm xúc đó" 1,34
Trên cơ sở lý luận văn học hiện đại, Huỳnh Lý cũng đồng tình với quan điểm của Aritstote và đưa ra khái niệm về kịch như sau: "Kịch là sự tái hiện nghệ thuật hoá (chứ không phải bắt chước, rập khuôn, khôi phục một cách tự nhiên) một sự kiện cho rằng đã xẩy ra bằng cách tái hiện các nhân vật trong những quan hệ giữa họ với nhau, với hành động và lời nói của nhân vật, khiến khán giả có cảm giác là mình nghe thấy và nghe trực tiếp chứ không thông qua ngôn ngữ của một "người thứ ba" diễn thuật "214, 6
Tóm lại, kịch là một nghệ thuật tổng hợp vừa thuộc văn học vừa thuộc sân khấu, nó là nghệ thuật tổng hợp các loại hình nghệ thuật khác: hội hoạ, kiến trúc, âm nhạc, vũ đạo… Kịch còn là sự tổng hợp hai phương pháp biểu hiện của văn học, phương pháp tự sự và trữ tình: "Kịch là sự dung hợp của các yếu tố đối lập của tính khách quan tự sự và tính chủ quan trữ tình" (Bêlinxki) Bên cạnh đó, kịch còn là một loại hình nghệ thuật biểu diễn, nói như nhà văn Nga Gôgôn: "Kịch chỉ sống đời sống trọn vẹn trên sân khấu Nếu không có sân khấu thì kịch giống như người có tâm hồn mà không có thể xác" Tuy nhiên, ở trong trường phổ thông, do bị quy định về mặt thời gian, không gian và các yếu tố khác trong cấu trúc của quá trình dạy học, kịch không được nghiên cứu trong đời sống trọn vẹn của nó và người ta chỉ dạy học kịch với tư cách là kịch bản văn học
Kịch bản văn học là gì?
Kịch bản (dramaturgie) "Là cơ sở kết cấu cốt truyện của các vỡ diễn và
bộ phim Nó có thể có hoặc là hình thức kịch văn học (một tác phẩm trong đó chủ yếu gồm các lời nói của các nhân vật), hoặc là hình thức kịch bản (scenario) (một tác phẩm trong đó bên cạnh lời nói của các nhân vật còn có vai trò lớn của việc miêu tả những cái mà về sau khán giả sẽ nhìn thấy trên
Trang 9sân khấu hoặc màn ảnh) Hình thức kịch bản có trong nghệ thuật điện ảnh - sân khấu kịch phần nhiều dựa vào vở kịch do nhà văn học sáng tác, vở kịch này sau sẽ được đạo diễn dựng vở chuyển thành kịch bản (scenaro) và sau đó chuyển thành vở diễn" 115,13
Kịch bản văn học khác với kịch bản điện ảnh, sân khấu Nếu kịch bản điện ảnh gắn liền với hình tượng thị giác, tập trung miêu tả các yếu tố thấy được của đối tượng thì kịch bản văn học lại biểu hiện nhân vật, hành động, xung đột, cốt truyện… qua ngôn ngữ của các nhân vật Kịch bản và văn học làm cơ sở để xây dựng tác phẩm điện ảnh và truyền hình Có thể thấy rõ điều này khi chúng ta biểu diễn quan điểm của G N Pospelov qua sơ đồ sau:
Kịch bản văn học Kịch bản điện ảnh Vở kịch
(do nhà văn sáng tác) (đạo diễn) (Diễn viên)
Kịch bản văn học là tác phẩm ghi lại lời nói của nhân vật Nhưng vì nó còn là cơ sở cho vở diễn trên sân khấu, nên nó không chỉ có lời nói của nhân
vật mà còn có các yếu tố khác nữa Do đó, kịch bản văn học là một kế hoạch,
thể hiện ở những chỉ dẫn sân khấu "Sự sắp xếp gặp gỡ của nhân vật, ghi tuổi tác, quan hệ giữa họ với nhau, địa điểm thời gian xẩy ra sự việc chính, bài trí, trang phục, những chú dẫn cần thiết về hành động thậm chí có tác giả cẩn thận, sợ đạo diễn và diễn viên không đủ thông minh để qua lời nói và nghiệm
ra nhân vật phải làm gì, nên ghi cả những khi cần phải cười, khóc, đau đớn, giận giữ, quát, đập bàn… như vậy đúng kịch bản là một kế hoạch"242,6 Luận điểm trên là cơ sở để chúng tôi xác định đặc trưng của kịch bản văn học đồng thời xác định phương pháp dạy học kịch bản văn học trong trường phổ thông, về đặc trưng của kịch bao gồm hai phần: phần đặc trưng cơ bản và phần phụ trợ Phần cơ bản bao gồm các yếu tố: xung đột, hành động, nhân vật, ngôn ngữ Phần phụ trợ bao gồm các yếu tố: chú dẫn sân khấu (tuổi,
Trang 10số nhân vật trang phục, bài trí, ánh sáng ); chú dẫn về hành động (cười, khóc, đau đớn, quát, giận giữ, đập bàn…) Như vậy, dạy học kịch bản văn học trong trường phổ thông không chỉ là việc giúp các em hiểu giá trị nội dung - nghệ thuật của tác phẩm mà còn là việc dạy cho học sinh hiểu về nghệ thuật biểu diễn (chí ít cũng phải giúp cho các em tổ chức được giờ học kịch thực sự sinh động và có màu sắc khác với giờ học thơ hay truyện) Từ nhận thức trên, chúng tôi chia phương pháp dạy học kịch bản văn học trong trường phổ thông
ra làm hai nhóm: nhóm phương pháp cắt nghĩa sâu nhằm làm sáng rõ nội dung tư tưởng của tác phẩm và nhóm phương pháp tổ chức hoạt động cho học sinh nhằm tạo ra giờ học kịch sinh động
1.2- Đặc trưng của kịch bản văn học
1.2.1- Xung đột kịch
Theo nghĩa chung nhất xung đột kịch đó là "Sự đối lập, sự mâu thuẫn, được dùng như một nguyên tắc để xây dựng các mối quan hệ tương tác giữa các hình tượng của tác phẩm nghệ thuật"638, 8
Xung đột kịch là những mâu thuẫn tồn tại trong hiện thực đã đạt đến một giai đoạn phát triển nhất định và bộc lộ rõ bản chất cuả cuộc sống được biểu hiện rõ nhất qua tính chất căng thẳng của các quan hệ trong hệ thống nhân vật
và có khi trong chính quan điểm của nhân vật
Ví dụ: vở Âm mưu và tình yêu của Sile là một vở kịch lôi cuốn người
xem từ đầu đến cuối, có nhiều nguyên nhân nhưng cái làm nên sức mạnh to lớn của vở kịch chính là tác giả đã xây dựng được những xung đột kịch gay cấn căng thẳng tạo ra cho người đọc, người xem những hình dung về số phận của nhân vật qua đó thấy được những phẩm chất đáng quý của nhân vật chính diện là Phecđinăng, cha con nhạc công Mile… đồng thời cũng thấy được bản chất tàn ác của giai cấp thống trị - tập đoàn phong kiến đứng đầu là quan tể tướng Vante Xung đột chính trong vở kịch là cuộc đấu tranh không khoan nhượng giữa hai hệ ý thức tiêu biểu cho thời đại của Sile Phecđinăng - là con
Trang 11trai của tể tướng - đại diện cho hệ thức mới, tiến bộ, đòi tự do dân chủ, trong khi Van te, Vuôm, Kabơ là những kẻ đối lập ,với bản chất bảo thủ, ngoan cố bảo vệ chế độ phong kiến mục ruỗng ở Đức và hệ tư tưởng phản tự do, dân chủ, phản nhân văn của chế độ này
* Xung đột là đặc trưng cơ bản của kịch
"Trong kịch cái được đề lên hàng đầu nhất thiết phải là những hoàn cảnh đời sống có gắn với những sự đối kháng mâu thuẫn, va chạm nào đó" Phađêep cũng từng khẳng định: "Xung đột là cơ sở của kịch"
Nói điều đó không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn yếu tố xung đột trong các thể loại khác Với thơ ca, trong sự vận động hình tượng nghệ thuật cũng bộc lộ mâu thuẫn giữa những trạng thái tình cảm khác biệt của cảm xúc: vui - buồn; hạnh phúc - đau khổ Trong tác phẩm tự sự như tiểu thuyết, truyện cười, truyện ngắn, các yếu tố mâu thuẫn tồn tại ngay trong sự vận động của cốt truyện và trong sự phát triển của các tính cách nhân vật Nhưng ở kịch, yếu tố xung đột mang một sắc thái thẩm mĩ khác Sự khác biệt ấy chính là
tính chất tập trung cao độ của xung đột kịch, sự chi phối trực tiếp đến cấu
trúc tác phẩm, đến nhịp độ vận động dồn dập khác thường của cốt truyện Thực vậy, xung đột là động lực thúc đẩy sự phát triển của các hành động kịch nhằm xác lập nên những quan hệ mới giữa các nhân vật vốn được coi là kết thúc tất yếu của tác phẩm kịch Thiếu xung đột tác phẩm kịch sẽ mất
đi đặc trưng cơ bản đầu tiên của thể loại sẽ trở thành vô nghĩa hoặc chỉ có thể
là "những vở kich tồi" Gơt trong bức thư gửi cho Sile đã nhận xét: Đối với kịch các duyên cớ liên tục đẩy hành động đi tới là đặc trưng nổi bật hơn hẳn
so với tự sự Nói đến kịch là nói đến tính chất căng thẳng của hành động kịch điều đó biểu hiện ở chỗ tập trung sự việc biến cố dồn nén một cách tối đa trong một khoảng thời gian, không gian bó hẹp hạn chế Hành động kịch là yếu tố trực tiếp thể hiện nội dung xung đột kịch nhưng chính xung đột kịch lại
là yếu tố quy định chọn lọc và tổ chức hành động kịch
Trang 12Ví dụ: Trong đoạn trích Cha vẫn kiên quyết không chuyển chăng (trích
âm mưu và tình yêu - SGK văn 11) có xung đột giữa Vate với Phecđinăng
cùng gia đình Mile.Van te muốn chia cắt tình yêu của hai người (Phecđinăng
và Luydơ) nên đã hạ nhục Luydơ và bắt giam ông Mile Để bảo vệ người yêu
và hạnh phúc của mình trước sự tàn ác của cha, Phecđinăng đã thuyết phục, cầu xin, cuối cùng đe doạ và kết thúc đoạn trích là chàng đã thắng và Vante thất bại phải bỏ ra về.Từ xung đột của hai phía một bên ra sức phá vỡ một bên
ra sức chống đỡ, bảo vệ quyết liệt Mỗi bên giữ một lập trường riêng biệt và lập trường ấy đã quyết định cho mỗi nhân vật thực hiện một chuỗi hành động riêng Tể tướng Vante chửi rủa, thoá mạ người khác đòi bắt giam hạ ngục gia đình Mile, ép Phecđinăng rời bỏ người yêu … ngược lại Phecđinăng thì từ khuyên nhủ đến cầu xin và đe doạ
Xung đột kịch quy định những giai đoạn chính của sự phát triển cốt
truyện: trình bày, khai đoan, thắt nút, phát triển, kết thúc Ví dụ, vở kịch Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng kể về bi kịch của một kiến trúc sư tài hoa,
vì muốn xây dựng điểm tô đất nước bằng những công trình to lớn hùng vĩ sánh ngang với nước Tàu, nước Xiêm, ông đã dựa vào ông vua Lê Tương Dực để xây Cửu Trùng Đài, là một công trình kiến trúc to lớn, vì thế gây nhiều tổn thất cho cuộc sống của nhân dân vốn đã cơ cực bởi phu phen, tạp dịch … Cuối cùng, Trịnh Duy Sản đã cùng với nhân dân lao khổ đã nổi lên giết vua Hồng Thuận đốt cháy Cửu Trùng Đài và đem ra xử trảm người kiến trúc sư tài hoa Vũ Như Tô
Xung đột chính trong vở kịch chính là vấn đề giải quyết mối quan hệ giữa quyền lợi dân tộc và quyền lợi của nhân dân Quyền lợi dân tộc đại diện
là vua Hồng Thuận, quyền lợi nhân dân tiêu biểu là thợ thuyền, người dân lao khổ, Thị Nhiên … Trong hai bình diện ấy Vũ Như Tô đứng ở đâu? Xung đột này dẫn đến số phận bi kịch của Vũ Như Tô Hoàn cảnh lịch sử xã hội về bản thân Vũ đã không thể tự dung hoà được hai thứ quyền lợi ấy Đọc tác phẩm,
Trang 13chúng ta sẽ thấy khi đứng trên lập trường bảo vệ quyền lợi của nhân dân, Vũ Như Tô đã chống lại triều đình, đem cả vợ con bỏ trốn, khi bị bắt chỉ chịu nhận cái chết chứ quyết không hợp tác với vua Hồng Thuận Ngược lại, khi phục vụ cho quyền lợi của dân tộc, muốn đất nước mình không thua nước bạn
Vũ Như Tô đã vô tình đứng về phía kẻ thù của nhân dân - là tập đoàn phong kiến vô lại, là vua Hồng Thuận và lũ cung nữ dâm ô Trong mối quan hệ này
Vũ Như Tô đã đi ngược với quyền lợi của nhân dân, kết cục nhân dân nổi dậy, ra tay chấm dứt cái đại sự phục vụ dân tộc vốn đầy thiện chí của con người yêu quý giống nòi Vũ Như Tô
Xung đột này xuyên thấm trong suốt cả vở kịch trên bề mặt hình thức và quá trình vận động cốt truyện ở giai đoạn trình bày; Vũ Như Tô bị bắt giải về kinh, nói chuyện với vua Hồng Thuận, nhưng Vũ kiên quyết chịu chết chứ không hợp tác - ở đây chính là Vũ đang đứng trên lập trường bảo vệ quyền lợi của nhân dân Vở kịch được thắt nút ở biến cố Đan Thiềm coi giữ Vũ Như Tô
và diễn ra cuộc trò chuyện giữa hai con người "đồng bệnh " Đan Thiềm là người cung nữ tài sắc mà thâm trầm, người học trò xuất sắc của án Anh, con người say đắm với sự vẻ vang của non sông nước Việt Nàng đã thức tỉnh ở
Vũ Như Tô cái thiên chức của một người nghệ sĩ muốn được thể hiện, muốn được đem tài năng điểm tô đất nước ; nàng khuyên ông rằng : "Ông biết một
mà không biết hai, ông có tài, cái tài ấy phải đem cống hiến cho non sông đất nước không nên để mục nát với cỏ cây… Chấp kinh phải tòng quyền Đây là lúc ông nên mượn tay vua Hồng Thuận mà thực hiện cái mộng lớn của ông … Vua Hồng Thuận và lũ cung nữ sẽ mất đi nhưng sự nghiệp của ông sẽ còn lại với muôn đời Dân ta nghìn thu được hãnh diện không phải thẹn với những cung điện đẹp của nước ngoài, thế là đủ Hậu thế sẽ xét công cho ông và nhớ
ơn ông mãi mãi …" Nghe lời khuyên ấy Vũ Như Tô như bừng tỉnh thiên chức người nghệ sĩ và ông đã vào cuộc với quyết tâm tạo tác một kì công kiến trúc lớn lao trác tuyệt cho dân Việt Sau bước ngoặt này, tác phẩm phát triển theo
Trang 14một giai đoạn mới Vũ Như Tô xây dựng Cửu Trùng Đài dần dần xa rời và đối lập với nhân dân mà đầu tiên là những người thợ dưới quyền ông, công việc bộn bề buộc ông phải ra tay đánh đập, thậm chí chém giết những người phu làm cho ông trở thành trung tâm của những mối căm thù trong lòng người dân khốn khổ, vở kịch được giải quyết khi nhân dân nổi dậy đốt Cửu Trùng Đài giết vua Hồng Thuận và xử trảm Vũ Như Tô
Đặc điểm thứ hai của xung đột kịch đó là xung đột kịch phải đạt đến tính chân thực và điển hình Bởi vì do nhu cầu phản ánh cuộc sống đến mức tối đa trong khi kịch vốn sinh ra là để biểu diễn nên phụ thuộc rất nhiều vào không gian, thời gian của sân khấu, do đó người viết kịch phải tập trung vào những mâu thuẫn cơ bản trung tâm mang tính đối lập cao Trong một vở kịch, nếu thiếu đi tính điển hình vở kịch đó chỉ sự mô phỏng những mâu thuẫn vụn vặt, tầm thường của đời sống Thiếu ý nghĩa chân thực vở kịch chỉ là sự giả tạo, là những dòng lí thuyết suông Công chúng tìm đến nghệ thuật kịch là tìm đến một sự đồng cảm hoặc phản bác đối với tác giả trước những vấn đề quan trọng của đời sống Nghệ thuật kịch, vì vậy, luôn luôn là diễn đàn tư tưởng của cuộc sống là mối giao cảm sâu xa giữa tác giả và khán giả
Trong vở kịch phải đảm bảo tính chân thực, điều đó không có nghĩa là phủ nhận hoàn toàn tính chất ước lệ trong kịch, Những xung đột mang tính chất thực là xung đột được nảy sinh trên nền tảng mâu thuẫn của hiện thực khách quan Tuỳ theo các thể loại kịch khác nhau xung đột kịch cũng khác nhau Xung đột giữa cái cao cả với cái cao cả nảy sinh cảm hứng bi kịch Xung đột giữa cái cao cả với cái thấp hèn tạo ra cảm hứng anh hùng ca, xung đột giữa cái thấp hèn và cái cao cả thì tạo ra cảm hứng trào phúng
Nếu nhìn một cách khái quát về những thành tựu rực rỡ của thể loại kịch trên thế giới thì những tác phẩm ưu tú là những tác phẩm xoáy sâu vào các xung đột xã hội sâu sắc: bi kịch cổ đại Hi Lạp là xung đột giữa khát vọng của con người với những quy luật nghiệt ngã của định mệnh (Etsilơ, Xôphôclơ);
Trang 15bi kịch của Sêchxpia là xung đột giữa lí tưởng nhân nhân văn cao cả với những trở lực đen tối của xã hội Kịch Sêkhôp đi từ nỗi bế tắc của mỗi số phận để phản ánh những vấn đề sâu xa của xã hội Cả Sile, Ipxen, Acbuđôp, Brêch… và những tên tuổi tài năng khác đã đi từ những xung đột cụ thể của dân tộc mình, thời đại mình, để vươn tới tầm phản ánh lớn lao cho đời sống của toàn nhân loại
* Các loại xung đột trong kịch bản văn học
Các xung đột trong kịch thường xuất hiện dưới dạng những va chạm tức
là những đụng độ trực tiếp, sự chống đối giữa các thế lực hoạt động được mô
tả trong tác phẩm Cụ thể có các loại xung đột sau đây:
- Xung đột nội tâm : đây là trạng thái phân thân của nhân vật, là sự đụng
độ một cách quyết liệt nhưng âm ỷ trong chính một con người, đó có thể là sự giằng xé trong tâm hồn của nhân vật kịch trước một sự việc, một tình huống
éo le Với xung đột nội tâm, ta thường hay bắt gặp trong kịch của Raxin với những nhân vật ham mê quyền lực, tình yêu, bàn tay nhuốm đầy tội lỗi và họ luôn phải sống trong sự dằn vặt đau khổ và phải luôn "tự vấn" lương tâm
mình Đó là Orest, trong vở Angđrômac, sau những toan tính hắn đã phát điên
vì vỡ mộng, vì hối hận và xót xa run sợ, hắn tự hỏi : "Những con rắn đang phun phì phì trên đầu các ngươi là dành cho ai ? " Hay là trường hợp nữ chúa Hồi giáo Roxane trong vở Bajazet đã căm hờn rít lên quyết đi gặp ngay Bajazet đẹp đẽ kiêu hãnh để hỏi xem chàng có yêu mình không, rồi nàng lại
tự bảo với lòng mình rằng :
" Ta đi gặp Bajazet đây Ta sẽ không thể nói được gì
Nếu không biết trái tim chàng có hoà nhập với tim ta không ? "
Tiêu biểu nhất cho kiểu xung đột nội tâm đó là màn Sống hay không sống - Đó là vấn đề (Văn học 10),ở đây diễn ra cuộc xung đột của chàng
Hoàng tử Hămlet về vấn đề lựa chọn giữa sự sống - hành động và cuộc sống thụ động bất lực:"Sống hay không sống - Đó là vấn đề Chịu đựng tất cả
Trang 16những viên đá mũi tên của số mệnh phũ phàng hay là cầm vũ khí vùng lên mà chống lại sóng gió của biển khổ, chống lại để mà diệt chúng đi đằng nào cao quý hơn ?"
- Xung đột giữa tính cách và hoàn cảnh: tính cách ở đây được hiểu là
những con người cá thể Những con người này mang những quan điểm của một lực lượng nào đó trong xã hội và đại diện cho lực lượng đó mâu thuẫn với một thế lực khác cản trở kìm hãm đấu tranh với tính cách đó
Điều này thể hiện rõ trong vở Tôi và chúng ta của Lưu Quang Vũ Vở
kịch xây dựng hình tượng trung tâm là Hoàng Việt, giám đốc mới của xí nghiệp Thắng Lợi một xí nghiệp "luôn luôn thất bại" luôn ở trong tình trạng
"lỗ thật lãi giả" công nhân không có việc làm sống lay lắt bằng đồng lương chết đói ấy thế mà nó vẫn tồn tại trong "vòng tay bao cấp" của cơ chế Hoàng Việt muốn bứt phá muốn cải tạo hoàn toàn phương thức sản xuất kinh doanh của xí nghiệp theo cung cách mới "muốn được quyền chủ động công việc muốn thay đổi những điều quá ư bất hợp lí trong cơ chế quản lí " Nhưng tất cả ham muốn ấy đều bị cơ chế cũ khống chế gắt gao bị bủa vây bởi những nguyên tắc đã lỗi thời nhưng vẫn còn hiệu lực Hoàng Việt đã thẳng thắn trả lời một vị lãnh đạo : "Trong khi trên chưa kịp sửa đổi thì cho phép chúng tôi được tự sửa đổi" Một quan điểm táo bạo và chắc chắn phải gánh chịu nhiều nguy hiểm Anh còn khoát đạt nói với công nhân của mình : "Xây dựng Chủ nghĩa xã hội có nghĩa là gì các đồng chí có biết không ? là đi từ thế giới của cái tôi, sang thế giới của chúng ta Không còn "tiền của tôi " "của cải của tôi
" "quyền lợi của riêng tôi " mà là quyền lợi của chúng ta, của cải của chúng ta, hạnh phúc chung cho tất cả chúng ta! Và cái Chúng ta ấy phải được làm bằng khả năng của cái Tôi cụ thể "
- Xung đột ở quan điểm của nhân vật đối với sự việc diễn ra: có nghĩa là
ở đây kịch tính hấp dẫn không nằm trong sự xung đột giữa tính cách nhân vật khác nhau, cũng không nằm trong sự diễn biến của các sự việc xảy ra đối với
Trang 17nhân vật - Vì những sự việc đó nhiều khi đối với một số vở kịch cuả một số phong cách tác giả không có ý nghĩa quyết định - mà chính là ở cái quan điểm của nhân vật đối với những sự việc xẩy ra, nó bộc lộ phần sâu kín nhất của tâm hồn mỗi con người Đó là trường hợp những xung đột kịch diễn ra trong
các tác phẩm kịch của Sêkhôp mà tiêu biểu là 2 vở Chim hải âu và Cậu Vania
Trong vở Chim hải âu xung đột chính của vở kịch nằm ở quan điểm
của các nhân vật về vấn đề tình yêu và nghệ thuật Như nhân vật Nina Zaretrnaia, một cô gái xinh đẹp và trong trắng như một con chim hải âu cô đã bước vào đời với tấm lòng khát khao tình yêu và nghệ thuật Thế nhưng chính
ở đây tác giả đã xây dựng tình huống để xuất hiện xung đột kịch trong chính quan điểm của Nina Với tình yêu, cô đã từng ruồng bỏ tình yêu của người tình chân thực là T'replev để chạy theo tiếng gọi của T'rigorin, cô đã bị hắn phụ bạc một cách tàn nhẫn nhưng vẫn chung thuỷ Như chính Nina đã nói với T'replev: "khi nào anh gặp T'rigorin, đừng nói gì với ông ta cả Em yêu ông
ta Có phần em còn yêu ông ta mãnh liệt hơn trước nữa (…) em yêu ông ấy, yêu tha thiết, yêu đến tuyệt vọng " Với nghệ thuật, cô say mê nghệ thuật, thích được làm nữ diễn viên nổi tiếng, có lần cô cô đã nói với T'rigorin "Để
có cái hạnh phúc được trở nên một nữ sĩ hay một nữ diễn viên, tôi có thể bằng lòng để cho họ hàng ruồng bỏ, chịu mọi thiếu thốn, thất vọng, tôi có thể sẵn sàng sống trong những gian phòng sát nóc, chỉ ăn bánh mì đen; tôi đau khổ vì những nhược điểm của mình, cứ bất mãn với chính mình, nhưng ngược lại tôi đòi hỏi phải có danh vọng… Một cái danh vọng thực sự, lẫy lừng…" và vì thế
cô đã đi theo cái hư vinh của nghệ thuật Sau này cô đã thất bại: "… dần dần
cả tôi nữa, tôi cũng hết tin ở sân khấu, tôi đâm ra chán nản… Cộng vào đấy là những chuyện yêu đương, ghen tuông, chuyện lo lắng ngày đêm cho thằng con… tôi không còn biết sử dụng đôi tay ra làm sao, không biết đứng trên sân khấu như thế nào và không làm chủ được giọng nói của mình nữa " sau này,
Trang 18tuy sa chân lỡ bước nhưng cuối cùng cô đã đạt được mục đích, giữ được lòng tin và nhìn thấy chân lí: "Bây giờ thì em biết rồi, em hiểu rồi, anh Coxtia ạ, rằng cái chính trong nghề chúng ta - dù là nghề sân khấu hay là nghề viết văn
- cái chính không phải là danh vọng, hình thức, hào nhoáng, hoặc là những thứ em đã ước mơ, cái chính chỉ là biết kiên nhẫn mà thôi… Phải biết chịu đựng và có một lòng tin "
Tương tự như vậy, trong vở Cậu Vania cũng thể hiện xung đột kịch qua
quan điểm của các nhân vật đối với sự việc xẩy ra, xung đột của vở kịch thể hiện qua quan niệm của nhân vật chính là cậu Vania Vania cùng với một người bạn của mình là Xonia già nửa đời người hi sinh cho một thần tượng,
đó là lão Xerebriacov, một giáo sư đại học hồi hưu con người viết về nghệ thuật mà không hiểu tí gì về nghệ thuật, trong hai mươi lăm năm liền đã giữ một chức vụ, một địa vị không phải của mình Lão già nua tật bệnh, cáu kỉnh, khinh mạn, suốt đời sống ăn bám vào sức lao động của mẹ vợ, em vợ, con gái; và cuối cùng, lão muốn chiếm đoạt cả gia sản bằng cách định bán nó đi,
để hưởng thụ một mình, lão đã lộ rõ là một kẻ ích kỷ, vô ơn bạc nghĩa, táng tận lương tâm Vania trước đó hy sinh, tận tuỵ với lão vì lầm tưởng lão là người có tài năng, đạo đức và có tư tưởng tiến bộ… khi nhận ra bản chất đê tiện của lão Xerebriacov, Vania quyết liệt phản kháng còn định giết lão giáo
sư để trả thù, nhưng cuối cùng vẫn nhẫn nhục làm việc Như vậy xung đột của nhân vật Vania là ở chính quan niệm của anh về chính là mẫu hình lí tưởng
mà anh tôn thờ, nhưng thực tế, anh lại nhận ra đó một kẻ độc ác, bất tài vô dụng như một cục đất thó, là "Con khỉ thông thái" mà thôi Tiếp đến là sự xung đột củaVania khi đã nhận ra sự bỉ ổi của lão Xerebriacov, anh định giết lão, nhưng rồi lại nhẫn nhục và không giết được lại tiếp tục làm việc một cách
bế tắc, nghẹt thở không có lối thoát
1.2.2 Hành động kịch
Trang 19Thuật ngữ dram (kịch) có nguồn gốc từ tiếng Hi Lạp cổ là drao, có nghĩa là hành động Với cách gọi tên này phần nào gợi lên vai trò quan trọng trong thể loại kịch
Từ thời cổ đại Aritxtôt khi phân biệt anh hùng ca với bi kịch đã khẳng định : Hành động là đặc trưng của kịch Theo ông, nếu anh hùng ca phản ánh bằng hình thức kể chuyện thì bi kịch là bằng hành động Sau này khi Hêghen
đề cập đến các phương thức phản ánh trong văn học cũng cho rằng: "Nội dung chủ yếu cuả tự sự là sự kiện của trữ tình là tâm trạng và của kịch là hành động"
Trong kịch nếu xung đột được coi là điều kiện cần thiết để làm nảy sinh tác phẩm, thì hành động là yếu tố duy trì sự vận hành của tác phẩm Trong mối giao lưu đó, xung đột là nơi quy tụ, chọn lọc, tổ chức hành động kịch, còn hành động là nơi thể hiện trực tiếp nội dung xung đột kịch Tính kịch của tác phẩm nằm trong xung đột, nhưng hành động lại là yếu tố giải toả nội dung của xung đột ấy, vì vậy nó là yếu tố đặc trưng không thể thiếu được đối với bất kỳ kịch bản văn học nào
Do thời gian và không gian sân khấu hạn chế về quy mô và quá trình biểu diễn, cũng do sự thưởng thức cùng lúc của một tập thể khán giả cùng theo dõi buổi trình diễn, cho nên hành động trong kịch phải tập trung thống nhất;, và phải thật dồn nén Chính vì thế aritxtot nói : "Không nên sáng tác bi kịch bằng lối kết cấu sử thi Tôi hiểu lối kết cấu sử thi là nội dung bao gồm
Trang 20nhiều cốt truyện " Arburôp nhà viết kịch Liên Xô cũng viết: "Trong kịch không có những yếu tố tuỳ hứng mà người nghệ sĩ có quyền dùng như điều khiển số phận những con người trong các tiểu thuyết và các truyện, ở đây có khuôn khổ rất chặt chẽ, đây là tám mươi lăm trang viết kín không có thì giờ mạn đàm, giải thích, luận bàn,ta không có quyền làm những việc đó" Thực vậy, trong tiểu thuyết còn có những yếu tố "phi cốt truyện" ở đó có miêu tả phong cảnh, khắc hoạ nội tâm những đoạn triết lí bình luận, tiêu biểu cho yếu
tố ngoài cốt truyện này là những ngoại đề của tiểu thuyết Nhà thờ Đức bà Pari và Những người khốn khổ của V Huygô Còn trong kịch bản văn học
chỉ có cốt truyện, "thuần tuý" Hơn nữa cốt truyện ở đây phải thật dồn nén, chỉ chứa những tình tiết thật sự tiêu biểu và cần thiết, có ý nghĩa tượng trưng khái quát cao
1.2.2.2 Hành động trong kịch phải là hành động có ý nghĩa
Hành động kịch khác với hành động bên ngoài đời thường ở chỗ : hành động kịch phải là những hành động nào có chủ định, được xây dựng nhằm phục vụ mục đích nào đó, nghĩa là phải được quyết định bởi ý thức của người viết, còn hành động ngoài đời đôi khi không hoàn toàn như vậy, có lúc, có hành động chỉ là do vô thức hoặc là do thói quen ở trong kịch thì không thể
có hành động vì ngẫu nhiên
Hành động có ý nghĩa tồn tại trong kịch là những hành động được quyết định một trạng thái tâm lý của nhân vật Qua hành động điệu bộ, cử chỉ nhân vật bộc lộ tâm trạng thái độ, tình cảm của mình đối với hiện thực được đặt ra trong tác phẩm
Hành động mang ý nghĩa trong kịch còn được hiểu mối quan hệ giữa nó với những hành động trước và sau nó Có nghĩa là hành động ấy phải là kết quả của hành động đã diễn ra ở phía trước và đồng thời là nguyên nhân cho
Trang 21hành động tiếp theo Người ta không thể hình dung trong một vở kịch mà diễn viên chỉ đứng trên sân khấu đọc lời thoại, kể lể những công việc đã qua và sắp tới của mình Lại càng không thể tin được rằng nếu diễn viên có hành động, thì hành động ấy chỉ là những động tác vô thức Đó tuyệt nhiên không phải là kịch.Ý nghĩa của hành động trong kịch là hành động ấy phải nhằm đạt một
mục đích nào đó Ví dụ, trong vở Bắc Sơn của Nguyễn Huy Tưởng ở hồi
bốn là một hồi thành công khi Thái và hai cán bộ cách mạng đi "nhầm " vào nhà Thơm trong lúc Ngọc chồng của Thơm đang ra sức truy đuổi họ Thơm
đã che dấu hai người trong buồng của mình Ngọc về, với những câu nói ỡm ờ tình tứ của Thơm, cùng với những cử chỉ âu yếm của nàng đối với chồng, đã đánh tan mối hoài nghi của Ngọc và giúp Thơm cứu được hai cán bộ cách mạng
1.2.2.3 Hành động trong kịch là hành động phải đưa tới một sự kết thúc
Cần phải hiểu sự kết thúc ở đây là hoạt động chấm dứt, cuối cùng và giải quyết được mâu thuẫn Sẽ không phải là kịch nếu nhân vật chứng kiến sự bất công của xã hội, sự quan liêu của cán bộ, và nỗi khổ của công nhân… nhân vật suy nghĩ, chửi bới, khiêu kích, bôi bác những cán bộ lạc hậu, tội nghiệp cho công nhân, thông cảm với họ trong cuộc sống trong muôn vàn khó khăn bởi đồng lương eo hẹp… Đến đó là chấm hết Một vở kịch thật sự phải có thêm đoạn kết sau cùng, người lãnh đạo ấy phải tìm cách cải tổ trong sản xuất, quản lí phải mạnh dạn đi đầu phá bỏ những cái cũ kĩ, lỗi thời và tìm ra đưa xí nghiệp ấy đi lên, đưa cuộc sống của công nhân ấm no, đầy đủ hơn …
1.2.2.4 Cốt truyện và các hành động trong kịch được liên kết theo quy luật nhân quả
1.2.3- Ngôn ngữ kịch
Nếu trong ngôn ngữ thơ và văn xuôi, lời nói của tác giả giữ vị trí chủ chốt, thì trong ngôn ngữ kịch, hệ thống đối thoại của các nhân vật chiếm ưu thế hoàn toàn, vì ở đây tác giả không thể "mách bảo" gì cho người xem, tính
Trang 22cách các nhân vật kịch hoàn toàn do lời lẻ tạo nên Tác giả xây dựng nhân vật bằng ngôn ngữ hội thoại chứ không bằng ngôn ngữ miêu tả Đôi khi ta bắt gặp những đoạn độc thoại trong vở kịch, nhưng đó cũng là lời nói có đối tượng, cũng là một hình thức giao lưu Bởi vì con người thường có những mâu thuẫn bên trong , khi thì giữa hai quan niệm, khi thì giữa tình cảm và lí trí… Độc thoại chính là một biến dạng đặc biệt của đối thoại, là sự giao lưu giữa mình với mình giữa hai thế lực bị "tách đôi" trong bản thân một con người Vì thế
có thể nói tính đối thoại là đặc trưng bao trùm nhất của ngôn ngữ trong tác phẩm kịch Độc thoại không phải là ngôn ngữ một chiều trong kịch, mà là một ngôn ngữ có tính hành động, vì nó góp phần thúc đẩy mâu thuẫn kịch vận động và phát triển
Ngôn ngữ trong kịch bao giờ cũng là lời nói của những nhân vật có tính cách rõ nét, mà những tính cách đó thông thường được thể hiện một cách tập trung trong một xung đột căng thẳng, vì thế, ngôn ngữ ấy mang màu sắc cá tính hoá rất nổi bật Trong tay nhà viết kịch hầu như không có vật liệu gì khác
để xây dựng tính cách nhân vật ngoài ngôn ngữ của chính các nhân vật Do
đó, một trong những dấu hiệu tài năng viết kịch là biết sử dụng một cách thành thạo nhất, với những hiệu quả cao nhất chất liệu này sao cho nó vừa bộc
lộ được nét độc đáo của tính cách, vừa góp phần thúc đẩy tình huống kịch phát triển Nhà viết kịch Nga nổi tiếng A.Ôxtơrôpxki có lần nói : "Chúng tôi coi điều kiện trước tiên của tính nghệ thuật trong việc miêu tả một điển hình nhất định là sự truyền đạt đúng lời ăn tiếng nói tức là ngôn ngữ, và thậm chí
cả kiểu nói vốn có tác dụng qui định bản thân giọng điệu của vai kịch" Qua đoạn đối thoại sau đây, ta thấy hiện lên rất rõ thói bờm xơm của một tên cường hào và tính bốp chát không biết sợ là gì của một người phụ nữ nông thôn :
"Xã trưởng : - Ơ, mẹ Đốp dạo này trông nhuận sắc ấy nhỉ ! Này, mày được mấy con rồi ?
Trang 23Mẹ Đốp : Nhà cháu hiếm hoi, mới được có chín cháu, với cháu này là mười…
Xã trưởng : - Tốt nái đấy ! Này mẹ Đốp … Hôm nào mát giời, cho tao sang gửi mày một đứa nhé…
Mẹ Đốp : - ấy chết ! Thầy là người lớn mà ăn nói sàm sỡ thế ? Thế thầy không sợ bố cháu nó nghe thấy à ?
Xã trưởng : - ờ, cái con mẹ này, rõ thật : Nhật nhật đa hỷ, lộng giả thành chân Ra mày hỗn láo thật ! Tao thấy mày mát tay nuôi trẻ thì tao gửi mày một đứa nuôi hộ chứ … Dờ hồn, rồi sao cũng có ngày … "
(trích - Quan Âm Thị Kính)
Cũng vì bị chi phối bởi tính đối thoại nói trên mà so với ngôn ngữ thơ và văn xuôi, ngôn ngữ kịch gần gũi nhất với khẩu ngữ, với lời nói hàng ngày con người trong xã hội Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch bao giờ cũng là tiếng nói phát ra từ cửa miệng các nhân vật nên nó có tính linh hoạt và gợi cảm như sự tái hiện trực tiếp trong đời sống Nghe lời nói của nhân vật cụ Lang trong vở
"Chén thuốc độc" của Vũ Đình Long ta thấy đúng là giọng điệu của các ông
"Lang băm " rất quen thuộc trong xã hội cũ: "- Phong tà nhập não, phù du chi hoả bốc lên hai thái dương nên cố Thông nhức đầu, ta sai anh xuyên khung, anh bạch chỉ kéo cổ bác phù du chi hoả xuống, nhưng sợ rằng hai anh đó kéo khoẻ quá ta thêm anh thăng ma cho bốc bớt lên … (đưa đơn cho cụ Thông)
Cứ đơn này mà uống ba hôm, bệnh tất lui rầm rầm Thôi, tôi xin kiếu cụ, tôi còn phải lên Thuỵ, cứu một người vạn tử nhất sinh … " Hay đoạn đối thoại dưới đây giữa Thái tử Chiêm Thành với một người thợ khi xây dựng Cửu
Ttrùng Đài, trong vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng:
Thái tử - Gió mạnh quá nhỉ (trông chung quanh ) Đài này kể ra đẹp thực! Người An nam họ cũng tài, mà đây là họ mới bắt đầu đấy Đến khi xong
cả thì đẹp biết chừng nào trông lớn lao đồ sộ thực
Trang 24Người thợ - Tưởng Thái tử không nên xây giúp họ cái đài này mới phải Nào tải đá, nào kén thợ, nào mộ phu để bây giờ thuyền đắm, người chết hàng nghìn Họ lại mượn cớ không cho Thái tử vì nước nữa !
Thái tử : - Mi hiểu làm sao được Ta giúp họ xây đài là vì hai cớ Cớ thứ nhất là để được chóng về nước Cớ thứ hai là để báo thù cho giống Hời ta Người thợ : - Bẩm giúp họ xây cái đài thì sao gọi là báo thù được ?
Thái tử : - Mi ngu lắm Họ với ta có cái thù truyền kiếp họ đã cướp đất giết dân ta, bắt hàng vạn người về làm nô tì Vua Chế Bồng Nga xưa dùng võ
để báo thù không xong; nay ta muốn dùng kế khác Thấy vua họ xây Cửu Trùng Đài, ta mừng lắm, họ trúng kế ta Mi có biết không ? Nước ta bại chỉ vì nay làm đền mai đẽo tượng , rút cục cả vua lẫn dân chết vì đền đài, còn họ chỉ nai lưng, khơi sông, đắp đê, khai khẩn ruộng hoang cho nên dân họ đông nước họ mạnh, người họ hùng cường mới lấn áp ta được, mi bảo nước ta xây đài cho đẹp có ích gì không ? Thế mà bây giờ họ lại bắt chước ta, nên ta nên
cố gắng giúp cho vua họ xây đài, cho hao người tốn của, cho họ quyệt quệ như ta Bao nhiêu tinh anh họ đổ cả vào cái đài này Mi đã biết chưa ? Rồi họ chết!…"[484,18]
Ở đặc điểm này, kịch hiện đại giống với kịch dân gian đặc biệt là trong tuồng hài, ngôn ngữ tự nhiên, ít có sự khác biệt so với lời nói bình thường
hàng ngày, ví dụ: lời Ngáo đòi phật trả lại tiền trong vở tuồng hài Trương
Ngáo
Cả tiếng kêu anh Phật Đem tiền trả cho tôi (ủa ! lạ nầy ! )
Đòi sao hãy còn ngồi Hỏi sao không thèm lại ? (Tôi nghĩ lại anh cũng chẳng nghèo ngặt chi mà! )
Nhà thời lợp ngói
Trang 25Mình lại thếp vàng Anh thiệt kẻ giàu sang Chẳng phải người đói khó Sao không xấu hổ ?
Mà chẳng toan lo ? Dầu chối cãi ai cho ! Làm thinh hông muốn trốn (Hay mần răng đó ! nầy nầy !)
Đã không hoàn vốn Thời khá trả lời Phen này chẳng vị người Quyết nhảy lên kéo áo Lời thơ sinh động đến mức ta tưởng như Ngáo đương vung tay, múa máy trước tượng Phật sơn son thếp vàng, ngự trên toà sen mơ màng thăm thẳm trong cõi im lặng siêu hình
Gắn liền với sự vận động khẩn trương của mâu thuẫn, sự phát triển mạch lạc và căng thẳng của hành động, ngôn ngữ kịch cũng thiên về tình hành động, tức là chắc gọn, cảm xúc không có "độ thừa": Nhiều từ và câu có giá trị trọng điểm, từ và câu "chốt" lại nhanh chóng tạo ra được tính kịch
Ví dụ: Vở Vũ Như Tô của Nguyễn Huy Tưởng - Khi Trịnh Duy Sản cấu
kết với quan trong triều và lính phu xây Cửu Trùng Đài nổi dậy giết vua… một tên thái giám chạy vào cung báo tin:
Trung mại : - Bẩm cụ lớn nguy đến nơi rồi Kìa mụ Đan Thiềm sao lại
ở đây ? Mụ ta là giống quái…
Nguyễn Vũ: - Có việc chi, Trung Mại ?
Trung Mại :- Bẩm cụ lớn Trịnh Duy Sản mưu với Lê Quảng Đô, Trịnh Tri Sâm lập vua khác, đêm qua đã kéo quân vào cửa Bắc thần
…………
Trang 26Trung Mại : - Bẩm , Trịnh Duy Sản sắm sửa thuyền bè khí giới …
Nguyễn Vũ : (Nóng ruột, dậm chân gắt ) - Thiên tử đâu ? Nói mau lên
Trung Mại : Hoàng thượng trông thấy lửa ( ) chạy ra cửa Bảo Khánh(…)
đến ao Chu Tước ở phường Bích Câu thì vừa gặp Duy Sản
…
Nguyễn Vũ : - Gặp Duy Sản ? Trời ! thế thì còn gì ? Nói mau lên
Trung Đại : - Ngài hỏi nó : Giặc ở đâu ? nó không đáp, ngoảnh mặt đi
cười nhạt Ngài quất ngựa về phía Tây, nó sai võ sĩ là tên
Hạch đuổi theo, đâm vua ngã ngựa rồi giết chết (khóc)
Nguyễn Vũ : - Hoàng thượng ơi ! Hạ thần mới nghe qua câu chuyện đã
đoán ngay có cơ sự này (cảm động quá ngã xuống)
Trung Mại : (Nức nở ) - Khốn nạn, Khâm đức Hoàng hậu thương vua
cũng nhảy vào lửa chết … (Không nói được nữa …)
Ngoài ra, ngôn ngữ kịch có khả năng xây dựng được những bức chân
dung chân thực về nhân vật Đó là lời phát biểu của các nhân vật khác về con
người của Hămlet:
"Rôdencran - Thưa thật đúng là một người lịch thiệp "
"Ôphêlia " - Ôi một tâm hồn cao quý … đôi mắt của nhà thông thái,
thanh gươm của trang hiệp sĩ, miệng lưỡi của người hào hoa, niềm hy vọng,
đoá hồng tươi của quốc gia gấm vóc, gương sáng của thời trang, kiểu mẫu của
mọi người, bao người thán phục …"
Hay là chân dung của Poxia tuyệt đẹp qua lời ca tụng của Baxanio trong
vở Người lái buôn thành Vơnidơ của Sêchxpia:
Baxaniô - " Có vị á thần nào đã gần hoá công được đến thế này?
Đôi mắt kia động đậy chăng ? hay là, trập trùng trên đôi đồng tử của mắt ta,
nó có vẻ như là động đậy ? Kìa, đôi môi hé mở được tách ra bởi một hơi thở
ngọt ngào như mật ong: Một đôi bạn êm ái thế thì phải được ngăn cách bằng một tầng rào êm ái như thế Trong mái tóc kia nhà hoạ sĩ làm giống như con
Trang 27nhện chăng tơ, đã dệt một mạng lưới bằng vàng để bẫy trái tim của người ta một cách chắc chắn hơn là mạng nhện bẩy ruồi, nhưng đôi mắt của nàng, hoạ
sĩ đã làm thế nào trông thấy mà vẽ nên nhỉ ? ta tưởng chừng cứ vẽ xong một con mắt thôi cũng đủ làm cho hoạ sĩ mù cả đôi mắt của mình và bỏ dở dang tác phẩm Nhưng hãy trông kìa : Cái hình bóng kia còn thua xa sự thực bao nhiêu, thì những lời ca tụng của ta cũng thua xa cái hình bóng đó bấy nhiêu "
1.2.4 Nhân vật kịch
Nhân vật kịch chính là hệ thống diễn viên biểu diễn, sắm vai trên sân khấu Như Thomat Mann đã nhận xét đó là "… con người được kể ra như một hình tượng có khối lượng, toàn vẹn, có thực và tạo hình [ 99, 13 ]
Nhân vật nếu hiểu theo nghĩa đối tượng thì kịch khác thơ: Thơ có thể không có nhân vật nó vẫn đảm bảo chức năng "tự biểu hiện " của mình bằng cảm xúc của chủ thể trữ tình ; kịch cũng khác với tiểu thuyết , ở tiểu thuyết ngoài nhân vật ra còn có nhiều yếu tố khác như không gian, thời gian, ngôn ngữ người kể chuyện …Nhưng kịch muốn tồn tại thì phải có nhân vật và chỉ duy nhất nhân vật mới thể hiện được xung đột và những bước phát triển của hành động kịch
Do sự hạn chế về thời gian, không gian sân khấu cho nên nhân vật trong kịch thường ít, hiếm có dạng "nhân vật quần chúng" như trong kịch bản sân khấu, điện ảnh hay trong tự sự Tuy nhiên ở trong kịch lại được phân ra nhân vật chính và nhân vật phụ, nhân vật chính là những nhân vật tiêu biểu, là người tập trung những xung đột và xung đột kịch được giải quyết bởi nhân vật này Nhân vật phụ hay còn gọi là "vai phụ" là những người có ý nghĩa bổ sung cho hành động, tính cách của nhân vật chính Đặc biệt trong kịch không
có nhân vật người kể chuyện như trong tự sự Như Gorki đã từng nói: "Trong tiểu thuyết, trong truyện, những con người được tác giả miêu tả hành động với
sự giúp đỡ của tác giả, tác giả ở bên cạnh họ , kịch bản không cho phép tác giả được tự do can thiệp vào như vậy, kịch bản loại trừ việc trong mách nước
Trang 28cho độc giả Trong mỗi kịch bản văn học tác giả vẫn có những chỉ dẫn sân khấu, song đó không phải ngôn ngữ của người kể chuyện bởi nó không bao hàm một thái độ tư tưởng nào cả, lời chỉ dẫn sân khấu đơn thuần của là những gợi dẫn về hành động, hoặc bố cục , vai diễn, nhân vật giúp cho đạo diễn và diễn viên thực hiện đúng ý đồ của tác giả
Nhân vật kịch không thể được khắc hoạ với nhiều khía cạnh tỉ mỉ hay quá phức tạp như trong tự sự, vì nó sẽ không phù hợp với việc thưởng thức tiếp của một tập thể khán giải trong một thời gian ngắn ngủi nhất định Do đó, tính cách của nhân vật kịch phải thật nổi bật, thật ấn tượng Timôphêep đã giải thích:"Hình tượng kịch phản ánh những mâu thuẫn của đời sống đã chín muồi gay gắt và nhất đã được xác định, chính vì vậy nó được xác định trên cơ
sở nhấn mạnh trong các tính cách con người sự cảm xúc phiến diện do các mâu thuẫn trên quy định"
Nhân vật kịch do trực tiếp xuất hiện trước đông đảo khán giả nên hình dạng, ngoại hình nhân vật không thể có điều kiện miêu tả tỉ mỉ mà chủ yếu nó được chú ý khắc hoạ ở lĩnh vực biểu diễn sân khấu, ở lĩnh vực nghệ thuật biểu diễn ngoại hình nhân vật được hoá trang phù hợp với tính cách nhân vật, nó ít nhiều mang tính ước lê.Ví dụ: trong tuồng, chèo cách hoá trang phù hợp với tính cách:
Người trung ; Mặt đỏ , râu dài
Người gian : Mặt trắng
Vai hề : Mặt nhiều màu sặc sỡ, đầu buộc khăn …
Trong kịch, nhân vật thường có tính cách đối sánh nhau, điều này là một trong những yếu tố cơ sở tạo nên xung đột kịch, biểu hiện cụ thể của nó là xung đột tính cách Chẳng hạn đó là xung đột căng thẳng giữa Vũ Như Tô - Đan Thiềm là những con người tài hoa, biết sáng tạo và biết quý cái đẹp đối lập với vua Lê Tương Dực - cùng bọn cung nữ dâm dật, lăng loàn ngu muội,
Trang 29độc ác Nói dựa vào tính cách đối lập giữa các nhân vật để xác định được xung đột kịch là vì vậy
Tóm lại: kịch là một loại hình nghệ thuật tổng hợp các loại nghệ thuật như: âm nhạc, điêu khắc, hội hoạ… Đồng thời kịch cũng là loại hình nghệ thuật tổng hợp hai phương thức tự sự và trữ tình Để phân biệt kịch và các loại hình nghệ thuật khác cần phải dựa trên những đặc trưng của nó đó là đặc trưng về xung đột, hành động, ngôn ngữ và nhân vật
Trang 30CHƯƠNG 2: DẠY HỌC KỊCH BẢN VĂN HỌC TRONG NHÀ TRƯỜNG
PHỔ THÔNG - NHỮNG KHÓ KHĂN VÀ THUẬN LỢI
2.1 Chương trình dạy học kịch bản văn học trong nhà trường
Do luận văn của chúng tôi được thực hiện trong giai đoạn giao thời: hiện tại chương trình chỉnh lí hợp nhất năm 2000 đang được dạy học, mặt khác chương trình tích hợp đang nằm trong dự thảo và dần dần được hoàn thiện, dự kiến sẽ được bắt đầu đưa vào trường học vào năm học 2004- 2005 (Theo nghị quyết số 40 ngày 9 /12/2000 của Quốc hội khoá X về đổi mới chương trình giáo dục phổ thông), vì vậy để thuận lợi cho việc dạy học hiện tại chúng tôi cũng sẽ giới thiệu sơ lược về chương trình đang hiện hành, tất yếu chúng tôi cũng sẽ giới thiệu chương trình dạy học kịch bản văn học theo dự thảo của
Bộ Giáo dục và đào tạo
Nhìn chung phần kịch bản văn học ở chương trình chỉnh lí hợp nhất
2000 và chương trình tích hợp 2004 - 2005 có những điểm tương đối gần gũi trong việc lựa chọn tác phẩm, nhưng chủ yếu vẫn là sự khác biệt giữa hai chương trình này Vì lí do đó chúng tôi đưa cả hai chương vào để làm một phép đối sánh, nhưng quan trọng hơn là để chúng ta có một cái nhìn hệ thống, liền mạch và biện chứng
2.1.1 Chương trình lí hợp nhất năm 2000
Năm 2000 Bộ giáo dục và đào tạo đã thực hiện thống nhất chương trình dạy học trên phạm vi cả nước, cụ thể đã hợp nhất được chương trình của hai miền Nam - Bắc thành một chương trình chung dựa trên cơ sở hợp nhất hai bộ sách giáo khoa do trường Đại học sư phạm Hà Nội và Hội nghiên cứu và giảng dạy văn học thành phố Hồ Chí Minh biên soạn
Kết quả lớn nhất mà chương trình lí hợp nhất năm 2000 đạt được đó là tạo ra một chương trình dạy học thống nhất trong cả nước, tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập và thi cử của tất cả các học sinh
Trang 31Đối với phần kịch bản văn học, trong chương trình chỉnh lí hợp nhất
2000 chỉ học ở lớp 10, lớp 11 và chỉ được tìm hiểu các tác phẩm kịch bản tiêu biểu của nước ngoài chứ không có kịch bản văn học trong nước Cụ thể, chương trình được xây dựng như sau :
Lớp 10 : Chỉ nghiên cứu một tác giả duy nhất của thời đại Phục hưng
Đó là Sêchspia ở đây có một bài văn học sử và giới thiệu hai vở bi kịch:
Rômêô và Juliét và Hamlet Trong đó có hai bài trích giảng văn học:
- Thề hẹn (trích Rômêô và Juliet)
- Sống hay không sống - đó là vấn đề (trích Hamlet)
Một bài đọc thêm :
- Sự lựa chọn của Baxaniô ( trích Người lái buôn thành Vơnizơ)
Lớp 11: Học sinh được tìm hiểu Sile qua các đoạn trích :
- Cha vẫn kiên quyết không chuyển chăng?
- Có ai đau khổ hơn anh (đọc thêm)
( trích Âm mưu và tình yêu )
Phải thấy rằng, kịch bản văn học đã đưa vào trong chương trình chỉnh lí hợp nhất 2000 quá ít về cả tác giả lẫn tác phẩm, tổng số trong cả hai văn học chỉ có 6 tiết , trong đó lớp 10 (4 tiết ) lớp 11 (2 tiết ) Chương trình mới chỉ giới thiệu được hai tác giả tiêu biểu là Sếchspia và Sile, trong khi đó những tác giả tiêu biểu khác như : Gơt, Sêkhôp, Gorki, B Brêch… thì chưa được đưa vào, thậm chí chỉ ở trong bài văn học sử Chủ yếu mới chỉ dừng lại giới thiệu kịch bản văn học nước ngoài ở thời kì trung đại, chưa giới thiệu kịch bản Việt Nam Đặc biệt là chưa mở rộng giới thiệu kịch bản ở các thời kì cổ đại và thời kì hiện đại Mà ở Việt Nam kịch bản văn học dân gian là một di sản văn học truyền thống cũng chưa được đưa vào trong chương trình
2.1.2 Chương trình tích hợp (dự thảo)
Chương trình cải cách môn Ngữ văn ở bậc phổ thông trung học được
Bộ giáo dục và đào tạo dự thảo sẽ ban hành vào năm 2004 -2005 đối với lớp
Trang 3210 Chương trình cải cách nhằm mục đích xây dựng một nội dung mới theo quan điểm tích hợp : "Là quan niệm về quá trình học tập trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có
dự tính trước những điều cần thiết cho học sinh., nhằm phục vụ cho quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hoà nhập học sinh vào cuộc sống lao động …
Ngoài những qúa trình học tập đơn lẻ cần thiết cho các năng lực đó còn dự định những hoạt động tích hợp trong đó học sinh học cách sử dụng phối hợp những kiến thức, những kĩ năng và những động tác đã lĩnh hội một cách rời rạc … "
(Xavier Roegiers - Khoa sư phạm tính hợp - Nxb Giáo dục – 1996)
Cũng theo Roegiers, khoa sư phạm tích hợp nhằm 4 mục tiêu lớn :
1- Làm cho quá trình học tập có ý nghĩa 2- Phân biệt cái cốt yếu và cái ít quan trọng hơn 3- Dạy sử dụng kiến thức trong tình huống 4- Lập mối liên hệ giữa các khái niệm đã học Chương trình môn Ngữ văn bậc THPT ở nước ta được tích hợp theo kiểu "Tích hợp các môn học xung quanh những mục tiêu chung cho nhiều môn học" (Roegiers) cụ thể là tích hợp ba phân môn : Giảng văn, Tập làm văn, Tiếng Việt thành môn Ngữ văn Mà mục tiêu chung của môn học là :
1- "Trên cơ sở vốn tri thức Ngữ văn học sinh đã tiếp thu được ở THCS, chương trình môn Ngữ văn THPT nhằm giúp các em nâng cao trình độ hiểu biết lên một bước mới về những thành tựu tiêu biểu của văn học Việt Nam và một thành tựu quan trọng của văn học thế giới; nắm đượcmột số vấn đề của lịch sử văn học Việt Nam, một số khái niệm cơ bản của lí luận văn học, ngôn ngữ học và văn hoá Việt Nam giúp cho việc đọc hiểu tác phẩm văn học một cách chủ động, có hiệu quả Thông qua thực hành, tiếp tục củng cố các kiến thức và kỹ năng đã học ở THCS, trang bị thêm một số tri thức cơ bản, thiết
Trang 33thực về Tiếng Việt, các quy tắc hoạt động của Tiếng Việt, những hiểu biết về văn bản và tạo lập các loại văn bản "
2- Tiếp tục hình thành và rèn luyện cho học sinh những kĩ năng cơ bản
về Ngữ văn, từ các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết đến các kĩ năng phân tích, tổng hợp, khái quát chú trọng kĩ năng đọc hiểu tác phẩm Tạo cho học sinh năng lực cảm thụ thẩm mỹ và khả năng phân tích đánh giá văn học ở mức độ cần cho đời sống của con người có văn hoá, khả năng diễn tả về tình cảm và suy nghĩ của mình bằng tiếng mẹ đẻ một cách trong sáng, trôi chảy, mạch lạc" ( GDTĐ - số 69 - 2002)
Trong chương trình THPT mới, môn Ngữ văn được chia thành hai ban : Ban KHTN và Ban KHXH và nhân văn Mỗi ban lại thực hiện theo những mục tiêu cụ thể riêng nhưng cùng phục vụ cho mục tiêu chung đã trình bày ở trên.Kịch bản văn học được xây dựng trong chương trình THPT mới như sau :
* Ở Ban Khoa học tự nhiên :
Lớp 11 : Có hai tác phẩm :
- Người lái buôn thành Vơnidơ (Sêchxpia)
- Vũ Như Tô ( Nguyễn Huy Tưởng)
Đọc thêm: Kịch của Nguyễn Đình Long hoặc Vi Huyền Đắc
Lớp 12 : Có hai tác phẩm của Lưu Quang Vũ:
Trang 34- Hồn Trương Ba da hàng thịt
(Lưu Quang Vũ ) Đọc thêm : - Kịch của Vũ Đình Long hoặc Vi Huyền Đắc
- Giấc mơ (Nguyễn Đình Thi)
Thành công lớn nhất của chương trình tích hợp đó là về phạm vi lựa chọn của tác phẩm, các soạn giả đã đưa vào chương trình không chỉ những kịch bản văn học tiêu biểu của nước ngoài mà còn giới thiệu nhiều tác phẩm của kịch bản văn học Việt Nam Điều này góp phần làm phong phú hơn nội dung của kịch bản, giúp học sinh có cái nhìn biện chứng hơn đối với việc học tập kịch bản văn học trong nước và nước ngoài
Việc đưa kịch bản văn học Việt Nam vào chương trình là một quan điểm đúng, khắc phục được cả một thời gian dài trong trường phổ thông học sinh chỉ biết kịch bản văn hoc phương Tây, và có lẽ không ít gây ra hiểu nhầm với học sinh : ở Việt nam không có kịch bản văn học !
Hiện nay, bên cạnh việc học sinh được học Sêchxpia các em sẽ được tiếp xúc với các nhà soạn kịch tiêu biểu của Việt nam đó là: Nguyễn Huy
Tưởng - nhà văn, nhà viết kịch nổi tiếng từ trước cách mạng với vở Vũ Như
Tô, Cột đồng Mã Viện … và trưởng thành sau cách mạng với vở Những người ở lại , Bắc Sơn Học sinh còn được học một ngòi bút viết kịch bóc trần phơi bày mặt trái xã hội với vở Tôi và chúng ta , Hồn Trương Ba da hàng thịt" học sinh còn được tiếp xúc với phong cách kịch của Nguyễn Đình Thi
qua vở kịch mang âm hưởng giọng điệu của kịch dân gian đó là vở kịch thơ
Giấc mơ Ngoài ra, soạn giả sách giáo khoa đưa hai tác giả Vũ Đình Long, Vi
Huyền Đắc vào trong phần đọc thêm cũng làm cho học sinh tiếp xúc một cách rộng rãi với các tác phẩm kịch bản văn học tiêu biểu trước cách mạng tháng Tám
Tuy nhiên, chương trình mới cũng có những hạn chế nhất định Thứ nhất , tác phẩm kịch bản văn học phân bố không đều ở các lớp; lớp10 không
Trang 35có tác phẩm, học sinh chỉ học kịch ở lớp 11, 12 Các tác phẩm trong chương trình ở mỗi ban không thống nhất, ban KHTN : Lớp 11 có hai vở :
- Người lái buôn thành Vơnidơ (Shêchxpia)
- Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng)
Ban Khoa học xã hội và Nhân Văn :
Lớp 11 : - Người lái buôn thành Vơnidơ (Shêchxpia) Lớp12 :- Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng )
Như vậy, ở ban Khoa học Tự nhiên Vũ Như Tô của Nguyễn Huy
Tưởng được học ở lớp 11, còn ban Khoa học xã hội và Nhân văn thì lại chuyển sang chương trình lớp 12
Thứ hai, ở cả hai ban KHTN và KHXH và Nhân văn đều có sự phân bố không đều giữa kịch bản văn học Việt Nam và kịch bản văn học nước ngoài, suốt cả thời kì THTH học sinh chỉ được học một tác phẩm kịch bản nước
ngoài, còn lại là kịch bản văn học Việt Nam, với 3 tác phẩm : Vũ Như Tô (Nguyễn Huy Tưởng), Tôi và chúng ta , Hồn Trương Ba da hàng thịt (Lưu
Quang Vũ) với hai tác giả trong bài đọc thêm ở ban KHTN, còn ở ban KHXH và Nhân văn thì ngoài những tác phẩm trên còn có thêm vở kịch thơ
"Giấc mơ" của Nguyễn Đình Thi…
Sự chênh lệch này, một mặt có phần nào làm cho việc học tập của học sinh thuận lợi hơn ở chỗ hạn chế được sự khó khăn về nhiều mặt của học sinh đối với việc cảm thụ một kịch bản văn học nước ngoài: đó là việc dịch thuật liên quan đến vấn đề học sinh chỉ học tác phẩm qua bản dịch, thói quen sử dụng ngôn ngữ và cách ứng xử văn hoá khác nhau giữa chúng ta với phương Tây… Thế nhưng, một vấn đề đặt ra: hiện nay có quá ít hay không khi học sinh chỉ học một tác phẩm của một tác giả, trong khi kịch bản văn học nước ngoài rất nhiều, rất tiêu biểu có nhiều đỉnh cao như Coocnây, Raxin, Sêkhôp, Gorky, Brêch…
Trang 36Thứ ba, khi giới thiệu kịch bản văn học Việt Nam soạn giả mới chỉ dừng lại ở kịch bản văn học hiện đại, cụ thể là giai đoạn 1930 đến nay Còn phần kịch bản dân gian: Tuồng, chèo,… thì chưa được giới thiệu ở trên chúng tôi trình bày một số vấn đề mà chương trình THPT mới đạt được và những vấn đề còn bất cập Tiếp theo chúng tôi sẽ đi vào giới thiệu một số sơ
lược tác phẩm được dạy học trong chương này
Vũ Như Tô là một tác phẩm khởi đầu văn nghiệp của Nguyễn Huy
Tưởng đây là vở kịch lịch sử góp phần hình thành và khẳng định Nguyễn Huy Tưởng với tư cách là một nhà viết kịch, xung quanh kịch Nguyễn Huy Tưởng
đã có nhiều đánh giá khác nhau nhưng có sự thống nhất chung ở việc ghi nhận đóng góp quan trọng của kịch Nguyễn Huy Tưởng cho nền kịch nói Việt Nam trước và sau cách mạng Điểm dễ nhận thấy trong kịch của ông là chất sử thi, dựa trên cơ sở khai thác những mâu thuẫn cơ bản của thời đại, những xung đột liên quan đến vận mệnh của cả dân tộc Hoặc chí ít cũng là những vấn đề
xã hội được đặt ra để làm nền cho hoạt động tâm lí, cho sự giải bày tâm trạng thông qua số phận của từng nhân vật Do vậy những vấn đề ông đặt ra trong kịch thường có tầm khái quát rộng rãi và nhân vật cũng giàu chất sống nội tâm Ngòi bút sử thi mang màu sắc lịch sử kết hợp với phong vị lãng mạn, trữ
tình là đặc điểm cơ bản của kịch Nguyễn Huy Tưởng
Vũ Như Tô được hoàn thành từ năm 1941 và khoảng một năm sau tác
giả bổ sung đề tựa, rồi đăng trên tạp chí Tri Tân từ 18/11/1943 đến 20/4/1944 đây là một vở kịch tiêu biểu và xuất sắc nhất, đồng thời cũng có thể xem như một tuyên ngôn nghệ thuật cuả Nguyễn Huy Tưởng Từ đó đến nay hơn nửa
thế kỉ trôi qua, những vẫn đề đặt ra trong Vũ Như Tô dường như cũng chưa đi đến hồi kết thúc Vũ Như Tô là bi kịch của một nghệ sĩ có tài Một mặt tuy
không muốn đem tài năng của mình để phục vụ cho chế độ hôn quân, bạo chúa, nhưng mặt khác lại muốn mượn bàn tay của vua Hồng Thuận để xây dựng một công trình nghệ thuật ghi tên tuổi với muôn đời làm vẻ vang cho
Trang 37dân tộc Hành động của Vũ Như Tô đã đi ngược lại quyền lợi của nhân dân khiến cho dân chúng oán giận nổi dậy đốt Cửu Trùng Đài cùng với bọn hôn quân bạo chúa và giết luôn cả người nghệ sĩ tài hoa Trước khi chết Vũ Như
Tô vẫn còn ngơ ngác không hiểu mình có tội gì , cái băn khoăn, ngơ ngác, mâu thuẫn trong con người Vũ Như Tô chính là sự kí gửi nỗi niềm của Nguyễn Huy Tưởng khi đứng giữa "Ngả sáu của tâm cảnh xã hội Việt Nam lúc đó"
Đã có rất nhiều bài viết của nhiều nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu lí giải nguyên nhân dẫn đến bi kịch của Vũ Như Tô Có thể xem Hà Minh Đức, Phan Cự Đệ là những người đầu tiên đụng chạm đến vấn đề này Hà Minh Đức cho rằng sở dĩ có bi kịch của Vũ Như Tô đó là vì tác giả của nó "đã phóng đại và lý tưởng hoá, những sai lầm của nhân vật này không bị phê phán triệt để là do mâu thuẫn trong thế giới quan cuả tác giả " Phan Cự Đệ cũng cho rằng "Bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của sự nhận thức ? " Chính Vũ Như Tô đã làm "thức tỉnh những nghệ sĩ tách rời nghệ thuật với quần chúng lao khổ " (Nguyễn Đình Thi) Nguyễn Phương Chi trong bài viết của mình đã bày tỏ quan điểm "Bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của một tri thức thuần tuý, xa rời với cuộc sống của nhân dân" Phong Lê cho rằng về phương diện sáng tạo nghệ thuật giữa Vũ Như Tô và Nguyễn Huy Tưởng có sự đồng điệu trong niềm khát khao về sự bất tử của nghệ thuật Ông nhìn thấy ở con người Nguyễn Huy Tưởng "một nỗi khắc khoải lớn khi đi tìm câu hỏi và lời giải cho mục tiêu của nghệ thuật" Sau này các nhà nghiên cứu Tất Thắng, Phan Trọng Thưởng đã có quan niệm khách quan và toàn diện hơn Phan Trọng Thưởng cho rằng bi kịch của Vũ Như Tô là bi kịch của người nghệ sĩ "Sinh bất phùng thời" Khát khao sáng tạo trong một xã hội không có chỗ cho sự khát khao đó Bi kịch của Vũ được coi có 3 nguyên nhân chính
1- Do nhận thức của chính bản thân tác giả
2- Do tác động của lịch sử
Trang 383- Do ý thức sâu sắc về thiên chức nghệ sĩ của mình
Phan Trọng Thưởng đã phân biệt Vũ Như Tô - công dân và Vũ Như Tô
- nghệ sĩ Mâu thuẫn giữa con người công dân và con người nghệ sĩ đã đẩy
Vũ đến cái chết oan uổng
Tóm lại, có rất nhiều ý kiến trái ngược nhau về vở kịch Vũ Như Tô của
Nguyễn Huy Tưởng, bàn về bi kịch của Vũ Như Tô có người đã cho đó là sự
yếu kém "lúng túng" trong nhận thức của tác giả, ngược lại có người lại bênh cho Nguyễn Huy Tưởng và nói rằng đó không phải là do tác giả mâu thuẫn trong thế giới quan mà chỉ vì ông đặt ra vấn đề "nghệ thuật thuần tuý" trong một con người nghệ sĩ tách rời đời sống của nhân dân … Tình hình đó, khi dạy học tác phẩm này chúng ta cần có cái nhìn khách quan , toàn diện về cái thành công của tác giả và điều tác giả đặt ra mà chưa giải quyết được trong tác phẩm để từ đó có cách nhìn nhận thoả đáng về Nguyễn Huy Tưởng cũng
như tác phẩm Vũ Như Tô Tất nhiên qua những bài viết tranh luận sôi nổi của
các nhà phê bình chúng ta mới thấy tác phẩm của Nguyễn Huy Tưởng đã đặt
ra nhiều vấn đề, cho đến ngày nay vẫn còn nguyên giá trị và qua đó chúng ta
có thể xem Vũ Như Tô là một trong những sáng rạo hay nhất thành công nhất
của Nguyễn Huy Tưởng
Lưu Quang Vũ được đánh giá là nhà viết kịch xuất sắc trong thời kỳ hiện đại "Trong lịch sử sân khấu nước ta, thời kì kịch của Lưu Quang Vũ có
lẽ là thời kì sôi động, giàu sức sống nhất "* Những năm 80, kịch của Lưu
Quang Vũ xuất hiện làm thay đổi tư duy của người biểu diễn cũng như công chúng yêu sân khấu Lưu Quang Vũ cũng là một trong những "người đi trước" trong phong trào đổi mới văn hoá văn nghệ, dùng ngòi bút của mình góp phần đem lại những điều tốt đẹp cho con người và xã hội Trong khoảng
10 năm Lưu Quang Vũ đã sáng tác hơn 50 vở kịch, hầu hết được viết rất công phu, đạt đến một chất lượng nghệ thuật nhất định Điều đó có thể thấy qua hội diễn sân khấu 1985, 8 vở kịch của Lưu Quang Vũ tham gia thì có 6
Trang 39vở được tặng thưởng Huy chương vàng, 2 vở huy chương bạc Trong số đó có
2 vở kịch được sách giáo khoa phổ thông chọn giảng dạy đó là vở Tôi và chúng ta và Hồn Trương Ba da hàng thịt
Hồn Trương Ba da hàng thịt dựa trên một câu chuyện cổ tích Việt
Nam: một anh Trương Ba giỏi cờ, hiền lành nhưng bị Nam Tào gạch sổ bắt phải chết oan, trong khi người đáng chết là anh hàng thịt Sau đó người vợ của Trương Ba đã lên thiên đình đi kiện, cuối cùng Ngọc Hoàng phải tìm cách giải quyết hậu quả bằng cách buộc phải bắt anh hàng thịt chết đi và đưa hồn Trương Ba nhập vào thân xác anh hàng thịt, sau đó một loạt các hiểu nhầm xẩy ra đối với hai gia đình của Trương Ba và gia đình của anh hàng thịt Cuối cùng Trương Ba đã tìm cách giải quyết mọi mâu thuẫn bằng cách quyết định trút bỏ vĩnh viễn cái thân xác không phải là của mình
Qua vở kịch chúng ta thấy tác giả đặt ra những tình huống trớ trêu nhưng lại chính là vấn đề đặt ra đối với toàn nhân loại Một vở kịch dựa theo truyện cổ tích nhưng lại chứa đựng những vấn đề triết học, biến truyện cổ tích, huyền thoại thành truyện thời sự, dùng cái hư để nói cái thực, dùng cái thô lỗ để khẳng định cái cao quý Vấn đề mà Lưu Quang Vũ đặt ra trong tác phẩm đã được hai nhà triết học Husserl, Derida khẳng định: Hạnh phúc của con người đó là : mình phải là chính mình Người ấn Độ cũng có quan niệm giống như vậy trong cách ứng xử văn hoá truyền thống của dân tộc, họ khẳng định : Chiến thắng vẻ vang nhất chính là chiến thắng bản thân mình
Triết lý nhân sinh về lẽ sống, lẽ làm người là vấn đề được Lưu Quang
Vũ thể hiện rất rõ trong tác phẩm của mình Qua sự sống vay mượn, chắp vá, không có sự hài hoà giữa hồn và xác chỉ đem lại bi kịch cho con người Cuộc sống chỉ có giá trị khi con người sống đúng là mình
Cái hay, cái xuất sắc của vở kịch Hồn Trương Ba da hàng thịt còn ở
chỗ tác giả đã đưa một câu chuyện cổ tích xa xưa trở thành câu chuyện hiện
Trang 40đại mang ý nghĩ thời sự sâu sắc ở đây có người đã cho Lưu Quang Vũ là một
"Môlie ở Việt Nam" (C Hoche)
Tác giả phê phán thói quan liêu, vô trách nhiệm của Nam Tào, Bắc Đẩu
đã tước đi mạng sống của người dân vô tội và gây nên bao nhiêu chuyện rắc rối Sự sửa sai chắp vá của Đế Thiên ,Đế Thích lại là tiền đề bất hạnh cho cuộc đời hồn nọ xác kia không hoàn chỉnh của Trương Ba Quả như giáo sư Phan Ngọc đã nhận xét :" Mọi người từ Ngọc Hoàng đến anh hàng thịt không
ai có được cái hồn của mình trong cái xác của mình" Thế mới biết, mọi sự sửa sai không đúng chỗ đều chứa đựng trong nó nhiều bi kịch hơn niềm vui Quyết định vĩnh viễn từ bỏ cuộc sống vay mượn giả tạo của Trương Ba ở phần kết là một sự phản kháng mãnh liệt và đau đớn
Không chỉ thành công ở những vở kịch có đề tài cổ tích, lịch sử, Lưu Quang Vũ còn rất thành công ở những đề tài của cuộc sống thời hiện đại, tiêu
biểu nhất ở đề tài này là vở Tôi và chúng ta là một vở kịch chính luận, mang
tính thời sự nóng bỏng, Lưu Quang Vũ thể hiện một dự báo đầy dũng khí, thực tiễn và táo bạo sắc sảo, quyết liệt và "Thấm đẫm tinh thần nhân văn xã hội chủ nghĩa" ( Vũ Hà )
Vở kịch ra đời trong thời kỳ khó khăn, bế tắc nhất của công cuộc xây dựng CNXH trên toàn thế giới nói chung và ở nước ta nói riêng Để tồn tại và phát triển, đòi hỏi một sự thay đổi căn bản về nhận thức, cần có một "cơn bão táp" cách mạng về tư tưởng và hành động Đó là công cuộc đổi mới do Đảng
khởi xướng và lãnh đạo Đổi mới tư duy ! tự cứu trước khi trời cứu !… Tôi và chúng ta ra đời vào mùa hè 1984 là một sự dự báo đầy thuyết phục chứng tỏ
khả năng nhạy bén với thời cuộc của một người nghệ sĩ yêu nghề và yêu nước
Trong Tôi và chúng ta, hình tượng trung tâm là Hoàng Việt giám đốc
mới của Thắng Lợi, một xí nghiệp "Luôn luôn thất bại" luôn ở tình trạng "Lỗ thật lãi giả" công nhân không có việc làm sống lay lắt bằng đồng lương chết