1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sự thể hiện những nghịch lý của đời sống trong truyện ngắn nguyễn minh châu sau 1975

57 28 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 586,47 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương là một trong những vấn đề được nghiên cứu nhiều, bởi đây là một phương diện khá nổi bật trong thơ Nôm của bà.. Người thì cho

Trang 1

Mục lục trang

Lời nói đầu

A Phần mở đầu

B 1 Lý do chọn đề tài 3

2 Phạm vi giải quyết 4

3 Phương pháp nghiên cứu 5

4 Lịch sử vấn đề 5

B Phần nội dung Chương 1 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

10 1.1 Giới thuyết về nghệ thuật trào phúng 10

1.1.1 Khái niệm về Cái hài 10

1.1.2 Đôi nét về trào phúng và đối tượng của trào phúng

11 1.1.3 Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình 13

1.2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

14 1.2.1 Tình hình chung về thơ Nôm Đường luật

14 1.2.2 Các tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

16 1.2.3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

17 Chương 2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương

18 2.1 Những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương

18 2.2 Đặc điểm trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương 20 2.2.1 Đối với tầng lớp Nho sĩ 21

2.2.2 Đối với tầng lớp sư, vãi (trí thức trong nhà chùa.) 28

2.2.3 Đối với nhân vật phụ nữ 33

2.2.4 Đối với tầng lớp trên (vua, quan, hiền nhân, quân tử)

38 2.3 Ngôn ngữ trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương 43

Trang 2

2.3.1 Ngôn ngữ văn hoá dân gian 43 2.3.2 Các biện pháp tu từ trong thơ Nôm trào phúng

của Hồ Xuân Hương 48

C Phần kết luận

52

D Thư mục tài liệu tham khảo .55

Lời nói đầu

Hồ Xuân Hương sáng tác thơ Nôm không nhiều, thậm chí số lượng bài thơ có thể xem là ít nhất trong các nhà thơ cổ điển Việt Nam Song từ trước tới nay, những học giả nghiên cứu thơ Nôm của Nữ sĩ không thể không đánh giá cao một phong cách nghệ thuật và một hiệu quả thẩm mỹ độc đáo như một hiện tượng “độc nhất vô nhị” này

Thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương đã được quan tâm nghiên cứu kể cả những học giả trong và ngoài nước Với nhiều công trình nghiên cứu trên các phương diện nghệ thuật khác nhau Ở mỗi khía cạnh đều có những cách nhìn nhận đánh giá rất sắc sảo Nhưng vẫn chưa có sự thống nhất, thậm chí còn trái ngược nhau

Gần một thế kỷ qua, việc nghiên cứu giới thiệu thơ Nôm Đường luật

Hồ Xuân Hương thường trực gắn với những vấn đề “bất khả giải” hay thái độ

“kính nhi viễn chi” đối với tiểu sử và thơ văn của bà Mặc dù vậy, càng ngày càng có nhiều người muốn cắt nghĩa, giải thích “hiện tượng lạ” này một cách sâu sắc và thấu đáo hơn thông qua nhiều cách tiếp cận mới mẻ đầy thú vị

Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương là một trong những vấn đề được nghiên cứu nhiều, bởi đây là một phương diện khá nổi bật trong thơ Nôm của bà Người thì cho rằng thơ Nôm trào phúng

Hồ Xuân Hương là vũ khí để đả kích, châm biếm mọi đối tượng trong xã hội;

có người lại cho rằng thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương là để tạo ra tiếng cười (u mua) hài hước; có người lại cho rằng thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương là trào phúng để trữ tình Vậy vấn đề này sẽ được thống nhất như thế nào? Luận văn của chúng tôi sẽ phần nào giải quyết vấn đề trên

Với mục đích tìm hiểu “Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương” chúng tôi không chỉ thống nhất lại khái niệm cái hài,

Trang 3

trào phúng và trữ tình, ngoài ra còn chỉ ra những giá trị nhân văn cao cả biểu hiện cụ thể của nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương Từ đó, thấy được bản chất, mục đích của hiện tượng trào phúng thông qua các đối tượng cụ thể

Trong quá trình tìm tòi và suy nghĩ, em đã được sự quan tâm giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, của các thầy, cô trong tổ Văn học Việt Nam Trung đại Đặc biệt là sự chỉ bảo tận tình của thầy giáo hướng dẫn cùng sự động viên, giúp đỡ của bạn bè

Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới các thầy, các cô và toàn thể các bạn

A PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Thơ Nôm Đường luật là một trong những thể loại độc đáo vào bậc nhất của văn học Việt Nam Trung đại Dù đây là một thể loại Việt hoá một thể thơ ngoại nhập (có nguồn gốc từ Trung Quốc) nhưng trong quá trình phát triển nó

đã trở thành một thể loại ngang hàng với bất cứ thể loại nào của văn học dân tộc Có được những thành tựu ấy, ta không thể không nhắc tới sự đóng góp to lớn của Nguyễn Trãi, Lê Thánh Tông, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân Hương, Nguyễn Công Trứ, bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Khuyến, Tú Xương Nhưng người đưa thơ Nôm Đường luật thực sự trở thành thể thơ có đóng góp quan trọng vào di sản thi ca truyền thống phải kể đến “Bà chúa thơ Nôm” -

Hồ Xuân Hương

Thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương được chú ý, sưu tầm từ đầu thế

kỷ XX đến nay đã hơn một thế kỷ Nhiều công trình nghiên cứu, khảo luận, chuyên luận, phê bình và trong hàng loạt các tài liệu nghiên cứu ấy Hồ Xuân Hương được tôn vinh là “Nhà thơ cách mạng”, “Ngọn hải đăng”,

“Người lạ mặt”, “Nữ sĩ bình dân”, “Thiên tài huê nguyệt”, là “Nhà thơ trào phúng” bậc nhất [35;13] Tuy vậy, hiện vẫn còn nhiều vấn đề lý thú đặt ra khi nghiên cứu thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương

Điều đang còn mập mờ hiện nay là mặc dù trải qua một thời gian dài nghiên cứu về thơ Nôm Hồ Xuân Hương nhưng vẫn còn nhiều câu hỏi chưa được giải đáp thoả đáng Đó là: Hồ Xuân Hương là nhà thơ trữ tình hay nhà

Trang 4

thơ trào phúng? Đối tương trào phúng ở đây là những ai? Mức độ trào phúng như thế nào? Vẫn đang cần lời giải đáp thoả đáng

Hiện nay, từ các trường Phổ thông đến các trường Đại học (Nghành Văn khoa, sư phạm) đều có dạy và học thơ Hồ Xuân Hương Vì vậy, việc xác định và tìm hiểu nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương là điều rất cần thiết

Kể từ khi giới nghiên cứu và phê bình Việt Nam đề cao và vận dụng lý thuyết thi pháp học của M.Bakhtin (do một học giả người Nga N.I.Niculin vận dụng) để nghiên cứu thơ Hồ Xuân Hương thì người ta thấy trong thơ của

bà có “tiếng cười lưỡng trị”1

- Đó là tiếng cười trào phúng và tiếng cười phát hiện (tiếng cười hướng ngoại) Riêng tiếng cười trào phúng, ông nói: Làm cho đối tượng trở thành “Lộn trái, đảo ngược”- lộn trái giữa thực và giả, giữa xấu

và tốt, giữa cái tự nhiên và cái bất tự nhiên

Tuy vậy, nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương vẫn còn là một vấn đề khá trừu tượng, chưa thể giải đáp một cách triệt

để, chính xác và thống nhất Điều này làm cho chúng tôi băn khoăn, trăn trở

và quyết định đi sâu vào tìm hiểu, lý giải vấn đề này

2 Phạm vi giải quyết

Cho đến nay, về mặt văn bản thơ ca của Hồ Xuân Hương gồm hai bộ phận: Văn bản chữ Nôm và văn bản chữ Hán Trong bộ phận văn bản chữ Nôm có hai loại: Thơ Nôm truyền tụng và thơ Nôm trong tập thơ chữ Hán (Lưu Hương ký - tập thơ này được Trần Thanh Mại phát hiện giới thiệu vào tháng 10/1964 Theo từ điển thuật ngữ văn học tập 1, Nxb KHXH, HN.1983)

Theo Hoàng Xuân Hãn, cùng một số nhà nghiên cứu khác cho rằng: Loại thơ Nôm truyền tụng là thơ viết thời gian khi thi sĩ còn trẻ, do đó nội dung phản ánh mang đậm yếu tố đùa nghịch, trào lộng, chế giễu rất rõ Còn đối với thơ Nôm trong tập “Lưu Hương ký” được tác giả viết lúc đã luống tuổi, từng trải nên giọng thơ không còn bông đùa như trước, mà rất nghiêm

1

Lại Nguyên Ân, Tinh thần phục hưng trong thơ Hồ Xuân Hương, tạp chí văn học số 3-1991 (Bút danh Tam

Trang 5

trang Vì vậy, chúng tôi chỉ tìm hiểu thơ Nôm Đường luật được truyền tụng (lưu truyền) hồi nhà thơ còn trẻ trong phạm vi đề tài này

Nội dung phản ánh trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương đa giọng điệu, nhưng chủ yếu là thơ trữ tình, còn thơ trào phúng thì số lượng không nhiều lắm Tuy vậy, chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thông qua những bài thơ trào phúng - đây là đối tượng tìm hiểu chính của đề tài, nhưng vẫn có thể tham chiếu, đối sánh với những bài thơ trữ tình khi cần thiết

3 Phương pháp nghiên cứu

Trong đề tài này, chúng tôi dùng phương pháp thống kê, phân loại, so sánh, đối chiếu để làm sáng tỏ nội dung chính của đề tài Thông qua đó, chúng tôi dùng phương pháp miêu tả và phân tích để hiểu rõ thêm đặc trưng

cơ bản của những bài thơ Nôm trào phúng của Hồ Xuân Hương Từ đó khái quát lại những vấn đề đã nêu trên những cứ liệu của sự phân tích

Ngoài ra, việc tìm hiểu dựa trên hai quan điểm khoa học:

- Quan điểm duy vật lịch sử: Tức là đặt thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương trong mối quan hệ với văn học Trung đại và các tác giả thơ Nôm cùng thời gian lịch sử

- Quan điểm duy vật biện chứng: Đặt những bài thơ Nôm trào phúng của Hồ Xuân Hương trong mối quan hệ giữa nội dung và hình thức Đặc biệt

là đặt chúng trong chỉnh thể, cấu trúc nghệ thuật mà mỗi bài thơ là một yếu tố tạo thành để thấy rõ đặc điểm nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương

Trang 6

Khi tiếp xúc với thơ Nôm Hồ Xuân Hương, người ta dễ dàng phát hiện

ra tiếng cười và họ cứ cười sau đó mới hiểu xem đằng sau tiếng cười đó là vấn đề gì mà tác giả gửi gắm

Có thể nói, trong thơ Xuân Hương tràn ngập tiếng cười Nhưng để tìm hiểu xem tiếng cười trong thơ Hồ Xuân Hương thuộc cấp độ nào của Cái hài? Bài nào là hài hước (u mua), bài nào là trào phúng hoặc đả kích, châm biếm thì không phải là công việc giản đơn

Về trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, từ trước tới nay có rất nhiều công trình nghiên cứu Bên cạnh đó còn nhiều ý kiến nằm lẫn trong các vấn đề khác, nhưng vẫn chưa tìm được tiếng nói chung thật sự Do thực tế nghiên cứu cũng như do phạm vi giới hạn là một khoá luận nên chúng tôi chỉ giới thiệu một số bài viết tiêu biêủ đề cập đến nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật được truyền tụng của Hồ Xuân Hương

Trong giáo trình “ Văn học Việt Nam từ nửa cuối thế kỷ XVIII - hết thế

kỷ XIX” (Nxb GD, 1999) của tác giả Nguyễn Lộc; trong cuốn “Hồ Xuân Hương tác gia và tác phẩm” (Nxb GD, HN, 2001) của Nguyễn Hữu Sơn, Vũ Thanh, tuyển chọn và giới thiệu một số bài viết có liên quan đến nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Trước hết là tác giả Phạm Thế Ngũ trong “Đặc sắc Hồ Xuân Hương”

đã nói: “Một tính chất phổ biến và biểu hiện nữa của Hồ Xuân Hương là tính chất trào phúng Mỗi khi và cầm bút để giễu cợt, phúng thích Đi vào phân tích thi tập của bà, ta thấy bà đã bắn mũi tên trào phúng vào đủ mọi hạng người trong xã hội” và từ đó tác giả đi đến kết luận thơ Nôm Hồ Xuân Hương

có “cái cười trào phúng”

Hoa Bằng cho in “Hồ Xuân Hương nhà thơ cách mạng” Ông đã nhiệt liệt ca ngợi nữ sĩ “Bà chẳng những là nhà đại thi hào, mà là nhà đại tư tưởng, đại cách mạng” và đề cao tinh thần phản kháng chống nam quyền (chương VII), chống phong kiến (chương VIII), chống quan niệm kính trời của nhà Nho (chương XI), chống thành kiến trọng nam khinh nữ của xã hội đương thời (chương X), chống tăng lữ (chương XI), chống những cái bấy lâu nay ngược đãi người chửa hoang (chương XII) - Điều này cho thấy tác giả thừa nhận sự “cách mạng” trong thơ của Hồ Xuân Hương và đưa ra những đối

Trang 7

tượng trào phúng của bà thông qua những thói hư tật xấu trong xã hội phong kiến

Cùng một ý kiến đó, Nguyễn Hồng Phong trong bài “Nữ sĩ bình dân Hồ Xuân Hương” đã khẳng định: “Hồ Xuân Hương là một thi sĩ châm biếm, trào lộng và trữ tình mà châm biếm trào lộng là chủ yếu Ngay trong lúc trữ tình tha thiết nhất vẫn cười cợt mỉa mai”

Nguyễn Sĩ Tế trong “Khảo và luận thơ Hồ Xuân Hương” lại có ý kiến khác khi bàn về nghệ thuật trào phúng thơ Hồ Xuân Hương: “Chúng ta đã nói khía cạnh tình cảm mới nhiều khía cạnh bao quát thơ bà Chính vì đó mà cái cười châm biếm của bà không mấy khi thuần chất Mặc dù đả phá người đời

bà vẫn để lộ cái cảm quan nghệ sĩ, nghĩa là nhẹ nhàng, dễ dãi, giàu tưởng tượng, dễ giận dỗi, nhưng lại dễ quên hay hờn mát, tinh nghịch” Với bài viết này tác giả đã thừa nhận mặt trữ tình và trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Trương Tửu trong “Văn nghệ bình dân” lại khái quát thơ Hồ Xuân Hương như sau: “Thơ Hồ Xuân Hương trữ tình đến ai hoài trào phúng đến chua cay, huê nguyệt đến dâm đãng” và ông thừa nhận rằng “Thơ Hồ Xuân Hương là một chuỗi ấm ức, oán hận, nguyền rủa, yếu vẫn không chịu thua, ngã vẫn không chịu đầu hàng kỷ luật phong kiến” Điều này chứng tỏ những bài thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương luôn xuất hiện hai yếu tố “dâm và tục”

Phát triển mạch này, Nguyễn Lộc trong giáo trình văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX (trang 268) khẳng định cái trữ tình

và trào phúng trong con người Hồ Xuân Hương, tác giả viết: “Con người cười nhiều mà cười sâu chẳng bao giờ là người bộc tuệch, trống rỗng, ruột để ngoài

da mà là người có nhiều suy nghĩ, nhiều cảm xúc Trữ tình và trào phúng không đối lập nhau cũng như cảm xúc và trí tuệ; trí tuệ càng sáng suốt thì cảm xúc khoẻ khoắn, càng phong phú Và những nhà văn nhà thơ lớn hai mặt đó vẫn thường thống nhất để nói lên tính chất đa diện của cuộc sống cũng như của tâm hồn tác giả” và ông đi đến khẳng định Hồ Xuân Hương cũng là một trường hợp như thế

Trang 8

Xuân Diệu trong “Các nhà thơ cổ điển Việt Nam” cũng đưa ra ý kiến của mình về hiện tượng trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương, ông viết:

“Trong xã hội cũ, thơ của họ cũng là máu và nước mắt mặc áo trào phúng đó thôi”, Xuân Diệu đi đến khẳng định: “Hồ Xuân Hương mượn cái cười để đánh cho đau vào cái xã hội cũ những đời Nàng, trái tim Nàng, bị nghiến trong cái guồng oan nghiệt của nó Trào phúng của Hồ Xuân Hương gắn chặt với trữ tình”

Trong quá trình tìm hiểu đề tài này, chúng tôi đã được tiếp cận với một

số hướng khai thác mới mẻ về thơ Hồ Xuân Hương, cũng như nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm của bà Nhà Việt Nam học người Nga N.I.Niculin trong lời giới thiệu cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương” (Nxb, Matxcơva, 1968) đã vận dụng phương pháp luận mà M.Bakhtin đã sử dụng trong cuốn “Sáng tác của F.Rabơle và nền văn hoá phục hưng châu Âu” để đi đến lý giải hiện tượng thơ

Hồ Xuân Hương, ông khởi xướng: “Rõ ràng ở đây cần áp dụng một thuật ngữ

do M.Bakhtin đưa ra “tiếng cười lưỡng trị” - trong đó, có sự chửi mắng và khen ngợi, sự phủ định và khẳng định, sự chết đi và sự sinh thành đều hoà nhập vào nhau như hai mặt của một quá trình “tái sinh” thông qua sự hạ thấp” [32;168]

Ở hướng tiếp cận khác theo “Xã hội học”, “Phân tâm học”, “Từ nguyên

lý hoá trang” (Carnava les que) Đỗ Lai Thuý trong cuốn Hồ Xuân Hương hoài niệm phồn thực” (Nxb, VHTT 1999) đã tiếp cận theo hướng “Văn hóa học” với lý luận “thơ Hồ Xuân Hương là thơ của triết lý phồn thực” đồng thời khẳng định “Trào phúng của Hồ Xuân Hương là trào phúng hoà đồng tiếng cười đưa con người trở lại cội nguồn soi sáng ý thức con người” [32;185]

Nhìn lại các hướng tiếp cận này, đặc biệt là ý kiến của học giả Niculin, nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hương đã được nhìn nhận ở một khía cạnh mới mẻ, phản ánh được những giá trị nhân văn to lớn Tuy nhiên, bản chất nghệ thuật trào phúng này là gì thì vẫn chưa khái quát lên được

Tóm lại, trên đây là một số ý kiến về nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương mà trong điều kiện hạn chế của mình chúng tôi được tiếp cận Tựu trung lại, bàn về nghệ thuật trào phúng, các nhà

Trang 9

nghiên cứu đã chỉ ra biểu hiện cụ thể của nó Song về bản chất của hiện tượng này thì chưa có được một ý kiến thống nhất

Xác định được nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

là điều rất cần thiết Từ việc xác định đúng bài nào thuộc thơ trào phúng, đâu

là đối tượng, mục đích chính của trào phúng Ta có thể thấy; việc chưa xác định thống nhất nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương bắt nguồn

từ lý do sau:

- Chưa xác định rõ khái niệm cái hài và các cấp độ của nó

- Chưa làm rõ được hai khái niệm trào phúng và trữ tình Vì vậy, mà chưa hiểu được đối tượng chính của nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương chỉ nhằm để gây cười, để trào phúng, để châm biếm đả kích hay để trữ tình? Điều này có thể gây ra sự tranh cãi trong việc xác định bản chất của nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

- Chưa có một điểm nhìn đúng đắn xuất phát từ một quan điểm nghệ thuật khi nghiên cứu Từ đó, dẫn đến ý kiến cho rằng: Thơ Hồ Xuân Hương

đả kích tầng lớp vua, quan, hiền nhân, quân tử và đi đến kết luận nghệ thuật trào phúng Hồ Xuân Hương là tiếng cười đả kích châm biếm

Ngoài ra chưa xem xét toàn bộ mảng thơ Nôm truyền tụng của bà để xác định rõ bài nào thuộc thơ trào phúng, bài nào chỉ là hài hước, trào lộng

Vì vậy, dẫn đến cái nhìn phiến diện khi xem xét nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương

Từ những vấn đề trên, luận văn của chúng tôi sẽ cố gắng khắc phục một phần hạn chế này của những người đi trước để góp thêm tiếng nói của mình vào những điều đã nhiều người nói, đang tiếp tục nói, tiếp tục được đề cập và

sẽ còn bàn tới rất nhiều trong tương lai

Trang 10

B PHẦN NỘI DUNG

Chương 1 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

1.1 Giới thuyết về nghệ thuật trào phúng

1.1.1 Khái niệm về Cái hài

Xã hội loài người vương quốc của cái hài Ở đâu có cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu thì ở đó có cái hài xuất hiện Mâu thuẫn xã hội, sự tan rã của kỷ cương, sự thống trị của quyền lực kinh tế là những nguyên nhân sâu xa làm xuất hiện cái hài trong cuộc sống

Ở nước ta vào khoảng thế kỷ XVIII đến hết thể kỷ XIX cái hài nảy nở rất đa dạng Nó vạch trần bọn quan lại tham lam, bọn Nho sĩ dốt nát thích khoe chữ và hám danh, nó tố cáo mọi bất công của xã hội chiết toả cuộc sống con người, nó chỉ ra sự suy vi rường cột của chế độ phong kiến phản dân hại nước

Ở mỗi hình thái xã hội “Cái hài thường nở rộ để giã từ quá khứ một cách vui vẻ” [8;21] Vào đầu mỗi thời kỳ đang lên, mọi sự vụng về bỡ ngỡ cũng tạo nên cái hài Tuy vậy, tính chất hài hước của hiện tượng cũ và mới, tiến bộ và lạc hậu có các cấp độ khác nhau Không một chế độ nào là hoàn hảo, không một người nào là không có chỗ yếu, mọi cái đều được nổi bạt lên tiếng cười Vì vậy, trong cuộc sống người ta xác định sáu cấp độ khác nhau của cái hài

- Hài hước: Bông đùa, bông lơn

- Sự cười nhạo: Chỉ bảo, gợi mở

- Trào lộng: Hình thức sắc sảo của cái hài

- Trào phúng: Khoan trúng, đánh sâu vào điểm yếu

- Châm biếm: Kết án cái xấu, phủ định trên mọi cương lĩnh lý tưởng

- Đả kích: Đánh mạnh và trực diện

Vậy cái hài là một phạm trù mỹ học phản ánh một hiện tượng phổ biến của thực tế đời sống vốn có khả năng tạo ra tiếng cười ở những cung bậc sắc thái khác nhau Đó là sự mâu thuẫn, sự không tương xứng mà người ta có thể cảm nhận được về phương diện xã hội - thẩm mỹ Trong đó, hoặc là chính

Trang 11

bản thân mâu thuẫn là một trong những mặt của nó đối lập với thế giới thẩm

mỹ cao đẹp [23;35]

Từ thời cổ đại, Arixtốt đã đề cập đến cái hài Tiếp đến là hài kịch của Sêchxpia, Môlie thời phục hưng và tiếng cười ra nước mắt vì đồng tiền táng tận lương tâm của Gôgôn, của T.Sêkhốp Do đó, ta thấy được cái hài có nhiều cấp độ khác nhau và trào phúng chỉ là một trong những cấp độ của cái hài Từ đây ta có thể thấy một điều rằng: Nếu chỉ đơn thuần khẳng định nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương là tiếng cười trào phúng hay trào phúng để châm biếm, đả kích đối tượng thì chưa thật chính xác Vì thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương mới ở cấp độ thứ tư của cái hài nghĩa là khoan trúng đánh sâu vào điểm yếu của đối tượng Vậy từ đây ta sẽ tìm hiểu

về khái niệm trào phúng

1.1.2 Đôi nét về trào phúng và đối tượng của trào phúng

Trào phúng là một vấn đề phức tạp, chưa có được ý kiến xác đáng đánh giá thống nhất trong giới nghiên cứu văn học Có người xem trào phúng như một loại hình văn học, có người cho trào phúng thuộc thể loại hoặc như một nguyên tắc đặc biệt phản ánh hiện thực

Vậy, trào phúng là một loại đặc biệt của sáng tác văn học đồng thời cũng là một nguyên tắc phản ánh nghệ thuật trong đó các yếu tố của tiếng cười mỉa mai, châm biếm, phóng đại, khoa trương chỉ trích, tố cáo, phản kháng những tiêu cực xâu xa, lỗi thời độc ác trong xã hội

Trào phúng theo từ nguyên là dùng lời lẽ bóng bẩy, kín đáo để cười nhạo, mỉa mai kẻ khác Song trong lĩnh vực văn học trào phúng gắn liền với phạm trù mỹ học và cái hài với các cung bậc hài hước, u mua, châm biếm Văn học trào phúng bao hàm một lĩnh vực rộng lớn với các cung bậc của cái hài khác nhau, từ chuyện cười tiếu lâm đến tiểu thuyết, từ các vở hài kịch đến những bài thơ trào phúng châm biếm [23;306]

Nói như vậy, theo nghĩa hẹp trào phúng thuộc cung bậc thứ tư của cái hài, còn nghĩa rộng thì văn học trào phúng xuất hiện ở các cấp độ khác nhau tuỳ theo đối tượng và mức độ trào phúng như thế nào để đạt được mục đích

Trang 12

Đối tượng mà văn học hướng tới là con người Tuy nhiên, do tính chất đặc thù của nó, việc nhận thức đối tượng trào phúng trong văn học có ý nghĩa quan trọng đặc biệt Nhà văn châm biếm Nga Xatưcốp-Sêdrin nói: “Muốn cho văn học châm biếm thực sự trở thành văn học châm biếm và đạt được mục đích của nó thì nó phải nhận thức được một cách rõ ràng đối tượng mà chính mình chĩa mũi nhọn vào” [22;199]

Không xác định được chính xác đối tượng trào phúng tiếng cười rất dễ trở nên lạc điệu, thậm chí độc ác Điều này thuộc về tư tưởng của nhà văn Bởi một nhà văn chân chính bao giờ cũng là một nhà nhân đạo chủ nghĩa sâu sắc, bao giờ cũng có cái nhìn chính xác trước hiện tượng cuộc sống, phân biệt

rõ ràng chính và tà, biết nâng niu trân trọng cái chân - thiện - mỹ và căm giận trước những cái giả dối rỗng tuếch những xấu xa độc ác huỷ hoại nhân tính Gôgôn từng nói: “Nghệ thuật chân chính không dạy người ta cười cái mũi bị vẹo mà dạy người ta cười một tâm hồn lệch lạc” [6;144]

Nghệ thuật trào phúng thực hiện sự phê phán bằng một cảm xúc thẩm

mỹ đặc biệt, tấn công vào cái xấu, nhưng không phải bất cứ cái xấu nào cũng

là đối tượng của văn học trào phúng Đó là những cái xấu tiêu cực về đạo đức,

về nhân cách, về lối sống, về những cái không phù hợp với hoàn cảnh tự nhiên bình thường xung quanh, lại được che đậy bởi một vỏ bọc tưởng là tốt đẹp, có ý nghĩa Cái hài bao giờ cũng là kết quả của sự mâu thuẫn, đối lập, sự không tương xứng, hài hoà giữa thực chất bên trong và vẻ bề ngoài mà hiện tượng ấy muốn có hoặc giả vờ Tiếng cười bong ra khi bất ngờ chủ thể nhận thức được mâu thuẫn chứa đựng trong đối tượng, nói cách khác là nhận thức được bản chất của đối tượng

Văn học trào phúng có thể hướng tiếng cười vào nhiều đối tượng khác nhau Mọi hiện tượng của đời sống đều trở thành đối tượng của văn học trào phúng khi bản thân nó chứa đựng mâu thuẫn như đã nêu Ta thấy trong văn học trào phúng có hai đối tượng đó là: Đối tượng trào phúng khách thể - tức là đối tượng trào phúng hiện thực khách quan ngoài bản thân tác giả và đối tượng trào phúng chủ thể - tức là đối tượng trào phúng ngay trong bản thân tác giả (tác giả là đối tượng chính của trào phúng - hiện tượng tự trào)

Trang 13

Văn học trào phúng xuất hiện và phát triển khi có cái hài tương ứng trong hiện thực xã hội Có thể nói, hiện thực xã hội phong kiến Việt Nam là mảnh đất tốt cho văn học trào phúng nảy mầm và phát triển

Một nền văn học muốn trở nên chân chính, tiến bộ, có đóng góp cho đời sống xã hội giúp con người ngày càng hoàn thiện mình theo hướng chân - thiện - mỹ thì không thể không có văn học trào phúng

1.1.3 Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình

Như chúng tôi đã trình bày, khái niệm trào phúng và đối tượng của trào phúng là gì Vậy muốn biết mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình ra sao trước hết xin đưa ra một ví dụ điển hình

Trong thơ của Nguyễn Khuyến, ta bắt gặp nhiều lần hình ảnh của ngọn núi An Lão Nhưng khi thì xuất hiện với dáng vẻ đáng yêu mang nhiều tâm

Nhưng có khi lại xuất hiện qua tiếng cười nhưng không phải là tiếng cười sảng khoái mà mang tâm sự trước thế sự, trước cuộc đời

Mặt nước mênh mông nổi một hòn Núi già nhưng tiếng vẫn còn non Mảnh cây thưa thớt đầy như trọc Ghềnh đá long lanh ngấn chửa mòn

Qua hai bài thơ này, ta dễ dàng nhận thấy nguồn cảm hứng trào phúng chẳng qua cũng là nguồn cảm hứng trữ tình Vì nếu như thơ trào phúng: “Dùng tiếng cười để xác định tư tưởng, tình cảm cho con người chống lại cái xấu xa lạc hậu, thoái hoá rởm đời hoặc để vạch mặt kẻ thù, đánh vào những tư tưởng, hành động mang bản chất thù địch với con người” [23;269] Thì trữ tình là một trong ba phương thức thể hiện đời sống làm cơ sở cho việc phân chia loại hình

Trang 14

tác phẩm văn học ( ) Trữ tình phản ánh cuộc sống bằng cách bộc lộ trực tiếp ý thức của con người, nghĩa là con người tự cảm thấy mình qua những ấn tượng

ý nghĩa, cảm xúc chủ quan của mình đối thế giới và nhân sinh Thơ trữ tình thuộc loại hình trữ tình trong đó những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống được thể hiện trực tiếp [23;369]

Vì thế có thể khẳng định trào phúng là một dạng trữ tình, một cách bộc

lộ tình cảm đặc biệt Ở trào phúng tình cảm mà tác giả thể hiện là tình cảm phê phán phủ nhận cái xấu để hướng tới khẳng định cái đẹp thống qua tiếng cười Tiếng cười đó bao giờ cũng được xuất phát từ một lý tưởng tiến bộ Trào phúng và trữ tình luôn có quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và tác động lẫn nhau, cái này là nền tảng của cái kia Như vậy, có thể khẳng định trào phúng chỉ là cái vỏ che đậy bên ngoài còn hạt nhân bên trong của nó lại là trữ tình

1.2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

1.2.1 Tình hình chung về thơ Nôm Đường luật

Lịch sử hình thành và phát triển của văn học dân tộc Việt Nam, thơ Nôm Đường luật có vị trí quan trọng Vì nó có đóng góp hết sức to lớn, làm phong phú thêm cho thể loại văn học ở cả hai phương diện đó là: Thực tiễn sáng tác và ý nghĩa lý luận Vì thế, thơ Nôm Đường luật được xem như là một hiện tượng tiêu biểu lại vừa độc đáo Tiêu biểu ở chỗ nó phản ánh được những điều kiện, bản chất quy luật của quá trình giao lưu và tiếp nhận văn học Độc đáo là vì thơ Nôm Đường luật lại là thơ mô phỏng theo thể thơ Đường luật (Trung Quốc) nhưng nó lại có vị trí đáng kể bên cạnh những thể thơ dân tộc Theo tác giả Lã Nhâm Thìn (trong cuốn thơ Nôm Đường luật, Nxb GD 1997) cho rằng: Để có những thành tựu này thơ Nôm Đường luật phải dựa vào hai điều kiện

- Điều kiện văn học

- Điều kiện ngoài văn học

Tác giả chứng minh các điều kiện văn học có sự gần gũi của ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán, đó là sự tương đồng ở phương diện: Không biến hình, đơn âm và tuyến tính Ngoài ra còn có sự gần gũi về thanh điệu Và thể thơ

Trang 15

Đường với kết cấu niêm luật chặt chẽ cũng có lợi khi tiếp xúc văn hoá Với những điều kiện ngoài văn học đó là điều kiện lịch sử đặc biệt của dân tộc ta từ thế kỷ X và mối quan hệ giao lưu, ảnh hưởng của các tư tưởng văn hoá cũng có tác động mạnh mẽ đến sự xuất hiện của thơ Nôm Đường luật

Thơ Nôm Đường luật được xác định là xuất hiện từ khoảng cuối thế kỷ XIII (theo Đại Việt sử ký ghi lại: Năm nhâm Ngọ (Thiên Bảo) thứ tư, năm 1282) Tuy nhiên văn bản chữ viết đầu tiên còn giữ lại được là: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi thế kỷ XV Tiếp sau đó là: “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông, “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đến giai đoạn nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa thể kỷ XIX có “Bà chúa thơ Nôm”- Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, sau này xuất hiện hai tác giả khá nổi tiếng là Nguyễn Khuyến và Tú Xương

Đề tài và chủ đề của thơ Nôm giai đoạn mười thế kỷ này có nhiều điểm khác biệt Nếu như từ thế kỷ XVIII trở về trước thơ Nôm Đường luật thường

“Nặng mùi đạo, nhẹ mùi đời”, thơ là để nói chí khí của nhà Nho “Thi dĩ ngôn chí” hoặc “Văn dĩ tải đạo” Dù đó là ý thức hệ Phật, Lão, hay Nho thì con người cũng chỉ tự khẳng định mình một cách rất hạn chế Đến nửa cuối thế kỷ XVIII trở về sau ta thấy nhu cầu của con người được khẳng định Chữ “thân”, chữ “tài” đặc biệt là chữ “tình” đã trở thành một khái niệm để con người tự ý thức về mình Đặc biệt với Hồ Xuân Hương thơ Nôm Đường luật phát triển với đỉnh cao và vượt qua vòng cương toả có ý thức hệ phong kiến Thơ Hồ Xuân Hương xuất hiện như một hiện tượng lạ, độc đáo và hết sức mới mẻ Thơ của

bà đã giải toả hoàn toàn giáo điều phong kiến, là sự đoạn tuyệt khá triệt để với tinh thần đẳng cấp Nho giáo Với Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật không còn ở địa vị “đẳng cấp trên” trong hệ thống thể loại văn học Trung đại Tác giả Đặng Thanh Lê trong cuốn “Hồ Xuân Hương và dòng thơ Nôm Đường luật” (Tài liệu bồi dưỡng Giáo viên, theo sách giáo khoa văn 10 mới ĐHSP Hà Nội 1996) nhận xét: “Với nhà thơ, thể thơ Đường luật đã xa phong cách trữ tình trang nghiêm “cao quý” để đi thẳng vào cuộc sống đích thực không chỉ là dân tộc mà còn hết sức dân dã”

Thật vậy, với thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương ta thấy thơ bà

đã chuyển sang con đường “dân chủ hoá” đánh dấu một bước phát triển vượt

Trang 16

bậc, độc đáo và riêng có của Hồ Xuân Hương Trong thơ Nữ sĩ đã có một sự cách tân, sáng tạo đó là sự rút ngắn khoảng cách giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ đời sống

1.2.2 Các tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

Như chúng ta đã biết, “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông chính là sự tìm tòi mở hướng cho nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Và được khẳng định rõ nét hơn ở thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm - một nhà Nho, một nhà đạo đức mực thước, nhưng đứng trước thế thái nhân tình đào lộn, đạo đức suy vi ông đã có những vần thơ phản ánh sự xuống cấp của xã hội

- Còn bạc, còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hết ông tôi

- Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng bướm Nghe bui thinh thỉnh lại đồng tiền

Nhưng đến Hồ Xuân Hương, Đường luật Nôm đã thực hiện một cuộc cách tân đầy ý nghĩa Thơ bà cuộc sống đời thường, nguyên sơ, chất phát, dân

dã, đã trở thành đối tượng thẩm mỹ, là trung tâm của quá trình miêu tả cái bản năng tự nhiên của con người, cái trần tục vốn xa lạ với phong cách trang trọng cao quý của Đường luật trở nên phù hợp với phong cách trào phúng của Nữ sĩ

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ

Này này chị bảo cho mà biết

Chốn ấy hang hùm chớ mó tay

(Trách Chiêu Hổ)

Thật là thiếu sót khi chưa nhắc đến các tác giả viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật như Nguyễn Công Trứ và sau này xuất hiện hai tác giả cổ điển cuối cùng của văn học Trung đại là Nguyễn Khuyến và Tú

Trang 17

Xương Kể từ khi Hồ Xuân Hương cho đến các tác giả sau này đã khẳng định chức năng trào phúng to lớn của thơ Nôm Đường luật

1.2.3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

Như trên đã giới thiệu qua về quá trình hình thành và phát triển của thơ Nôm Đường luật cùng với sự đóng góp to lớn của các tác giả tiêu biểu Phần nào thấy được qua mười thế kỷ thơ Nôm Đường luật xuất hiện và kết thúc có thể nói là: “Không có tuổi trẻ nhưng cũng không biết đến tuổi già”

Những sáng tác của tác giả kể trên chủ yếu dựa trên ba quan điểm sau:

- Họ đứng trên lập trường đạo đức phong kiến để trào phúng đả kích

- Họ vạch ra cái xấu cần phê phán (đây được xem là một kiểu trào phúng)

- Thể hiện sự khủng hoảng, bất lực, bế tắc của ý thức hệ phong kiến trước sự đổi thay của lịch sử (đôi khi ta thấy các nhà thơ này xuất hiện hiện tượng tự trào trong văn chương Điều này nói lên bi kịch uất ức, bế tắc của các nhà Nho lúc bấy giờ trước xã hội như Tú Xương, Nguyễn Khuyến)

Nghệ thuật trào phúng không chỉ là đặc điểm của thơ Nôm Đường luật

mà ở thời nào cũng có, cũng bộc lộ khi muốn vạch mâu thuẫn của sự vật, mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và cái bên trong để đưa người đọc nhận thấy ý nghĩa mỉa mai, trào lộng [23;269] Nếu như nghệ thuật trào phúng của văn học dân gian thường hay dựa vào các quy luật của tự nhiên để vạch ra cái trái tự nhiên của đối tượng trào phúng Ngược lại trong văn học viết, hiện tượng trào phúng trong các nhà Nho thường dựa vào cương thường đạo lý của xã hội phong kiến để vạch trần ra cái phi đạo lý - tiếng cười này thường hết sức thâm thuý, hóm hỉnh Còn tiếng cười trong văn học dân gian là tiếng cười tự do thoải mái mang đậm tính chất bình dân, trần tục đời thường Hồ Xuân Hương cũng nằm trong mạch nguồn tạo nên bởi sự hợp lưu hai dòng chảy lớn: dòng chảy của văn học dân gian và dòng chảy của văn chương bác học

Trang 18

Chương 2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm

Đường luật Hồ Xuân Hương

2.1 Những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương

Như chúng ta đã biết, thơ thơ Nôm trào phúng là “dùng tiếng cười để xây dựng tư tưởng, tình cảm cho con người, chống lại cái xấu xa, lạc hậu, thoái hoá, rởm đời, hoặc đả kích vạch mặt kẻ thù, đánh vào những tư tưởng, hành động mang bản chất thù địch đối với con người”

Hơn nữa hiện tượng dùng thơ Đường luật Nôm vào mục đích trào phúng khôg phải là điều mới lạ Nhưng cái mới lạ ở đây là một giọng thơ trào phúng bậc nhất lại “kết phát nhằm đúng một người mà ít ai ngờ tới; một người đàn bà chỉ được xã hội dành cho một “chỗ ngồi” nhỏ bé riêng trong gia đình: Hồ Xuân Hương” [35;101]

Có thể xem, Hồ Xuân Hương là nhà thơ nữ đầu tiên làm thơ diễu đời ở nước ta Nhưng chúng ta đi sâu vào tìm hiểu thơ trào phúng của bà thì đối với việc bà làm thơ loại đó không còn là một chuyện lạ nữa đối với bao sự lạ khác

Trong khi khảo sát những bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, chúng tôi đã tham khảo một số sách nghiên cứu, chuyên luận, phê bình về vấn đề này

Tác giả Trần Thanh Mại “Thử bàn về vấn đề tục dâm trong thơ Hồ Xuân Hương” (nghiên cứu văn học số 4 1961) đã chia thơ Nữ sĩ ra làm ba loại:

Loại thứ nhất: Gồm những bài thơ có tính tư tưởng cao và phương nghệ thuật thanh nhã

Loại thứ hai: Đó là những bài có yếu tố tục nhưng những yếu tố tục nhằm mục đích yêu cầu tiến bộ Theo ông thì đó là những bài thơ dùng để đả kích một từng lớp nào đó, hoặc một thói hư tật xấu của con người, đồng thời lại nói lên được ý chí vươn lên của họ

Trang 19

Loại thứ ba: Gồm những bài có tính chất khiêu gợi, không lành mạnh, những bài có yếu tố dâm [35;323]

Chia như vậy, vô hình trung loại thứ hai được xem là thơ trào phúng Tuy nhiên xét ở một phương diện nào đó cách chia này cũng quá rạch ròi Bởi trong hơ Nôm của Hồ Xuân Hương, những bài thơ trữ tình cũng có đan cài giọng thơ trào phúng và những bài tưởng chừng chỉ dùng để trào phúng, đả kích châm biếm hay u mua trào lộng lại cũng rất trữ tình và cả hai loại thơ này vẫn xuất hiện những yếu tố mà người ta quen gọi là “tục, dâm” Bởi thơ

Hồ Xuân Hương là sự kết hợp nhuần nhuỵ cả ba yếu tố ấy để tạo nên một thứ thơ - Thơ Hồ Xuân Hương

Tác giả Nguyễn Lộc trong cuốn “Thơ Hồ Xuân Hương” (Nxb Vh, H.1982) lại lấy tiêu chí phong cách để phân chia, lựa chọn thơ bà Tuy nhiên tác giả mới chỉ đưa ra những ý kiến xác đáng về phong cách chứ chưa thật sự

áp dụng phương pháp này vào thơ Hồ Xuân Hương môt cach hợp lý được

Đỗ Lai Thuý, “Hồ Xuân Hương - hoài niệm phồn thực” (Nxb,vhtt 1999) đã đưa ra một số cách tiếp cận thơ Hồ Xuân Hương như “tiếp cận xã hội học”, “tâm lý học” hay từ “nguyên lý hội hoá trang” (Carnavalesque), tiếp cận “phân tâm học” và bằng cả con đường “đường đến nhân học văn hoá” để tìm hiểu thơ Hồ Xuân Hương và ông đã có rất nhiều khám phá mới mẻ độc đáo Ông đã tôn vinh Hồ Xuân Hương là nhà thơ “Hoài niệm phồn thực”

Biết bao thế hệ yêu thích và tìm hiểu thơ bà Con đường của những kẻ hậu sinh chúng tôi “hành trình” thì bắt gặp hai câu thơ của Tam Nguyên Yên

Đổ viết về bà “Thơ thánh thơ tiên đời vẫn có/Tung hoành thơ quỷ hiếm hoi thay” - Một lời khen tặng và nể phục! Còn Tản Đà cho rằng “Thi trung hữu quỷ” nghĩa là trong thơ có ma, quỷ! Nếu “chiết lọc” bỏ qua mất cái đáng sợ

ấy, cái ma quỷ ấy thì sẽ mất luôn cả cái đẹp, cái riêng có trong thơ Hồ Xuân Hương

Từ những ý kiến đó chúng tôi đi đến tìm hiểu khảo sát gàn 50 bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương xem bài thơ nào là đối tượng chính cần quan tâm của chúng tôi Ngoài việc dựa vào kinh nghiệm của những người đi trước; cùng các cấp độ của cái hài, xác định khái niệm trào phúng; thông qua

sự tìm hiểu và phân tích cụ thể để đưa ra một số bài thơ được xem là trào

Trang 20

phúng, bài nào chỉ mức độ trào lộng, bông đùa Dưới đây là một số bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương:

- “Mắng học trò dốt” bài (1), (2)

- “Trách Chiêu Hổ” (Xướng hoạ với Chiêu Hổ) bài (1), (2), (3)

- “Vịnh sư”(Cái kiếp tu hành, Sư bị ong châm, Sư hổ mang)

Ngoài ra, còn một số bài thơ như: “Vịnh nữ vô âm”, “Vịnh cái quạt”,

“Đánh đu”, “Quả mít”, “Ông cử võ” có người cho rằng đây là những bài thơ trào phúng Nhưng theo ý kiến của chúng tôi, những bài thơ này chưa đến mức “khoan trúng, đánh sâu vào điểm yếu của đối tượng”, mà nó chỉ thuộc phạm vi hài hước, trào lộng Trong khi tìm hiểu, phân tích, đối sánh chúng tôi

Nếu như đả kích, châm biếm là mức độ cao nhất của Cái hài Thì trào phúng mới là khoan trúng đánh sâu vào đối tượng Nhưng do yêu cầu và nhiệm vụ của văn học trong từng giai đoạn, thời kỳ lịch sử mà văn học lại mang chức năng riêng - nhằm vạch mâu thuẫn của sự vật, hiện tượng Mâu

Trang 21

thuẫn giữa cái bên ngoài và cái thực chất bên trong để cho người đọc thấy ý nghĩa mỉa mai, trào lộng, do vậy người ta chia thơ trào phúng ra làm hai loại: Thơ châm biếm và thơ đả kích

- Thơ châm biếm nhằm mục đích giáo dục xã hội, giáo dục con người bằng nụ cười nhẹ nhàng mà kín đáo, dí dỏm mà sâu sắc Nụ cười đó bao hàm

cả việc phê phán lẫn tinh thần xây dựng

- Thơ đả kích nhằm lột mặt nạ của kẻ thù bằng một nụ cười có sức công phá quyết liệt [23; 269]

Nếu chỉ đem các cấp độ của cái hài trong mỹ học hoặc khái niệm về thơ trào phúng để tìm hiểu về nghệ thuật trào phúng trong thơ Hồ Xuân Hương thì chưa thật thoả đáng khi chưa chọn một trong hai cách trên Do vậy, khi tìm hiểu thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương chúng tôi sẽ cố gắng kết hợp hài hoà giữa hai khái niệm cái hài và thơ trào phúng để phân loại các đối tượng trong thơ trào phúng của nữ sĩ

2.2.1 Đối với tầng lớp Nho sĩ (trí thức Nho học)

Xã hội Nho giáo thường đề cao cương thường đạo lý cùng tôn giáo như thờ vua chúa, tôn trọng kẻ sĩ Bởi Kẻ sĩ là trụ cột của xã hội phong kiến, họ phải là những người có tư tưởng “Trung quân ái quốc”, họ phải là những người thấm nhuần đạo thánh hiền, là những người thanh cao chỉ nghĩ đến sự nghiệp duy nhất là được học hành thành tài để giúp đời Nếu không được phụng sự cái lý tưởng ấy thì lui về “hái rau”, “uống nước suối” để ngâm thơ vịnh nguyệt qua ngày Đấy chính là kẻ sĩ mẫu mực và xã hội phong kiến cũng yêu cầu như vậy đối với từng lớp Nho sĩ

Bản thân Hồ Xuân Hương là một trí thức (được ăn học) chứ không phải

là một Nho sĩ (vì xã hội phong kiến không cho con gái theo học chữ Nho) - Nhưng Hồ Xuân Hương lại là một người trí thức của nhân dân, sống trong thời đại của ý thức hệ phong kiến bị rạn nứt và đổ vỡ, vua, quan, hiền nhân, quân tử, Nho sĩ không còn là đối tưng tôn thờ

Trong xã hội Việt Nam giai đoạn nửa đầu thế kỷ XVIII nửa sau thế kỷ XIX có nhiều cuộc biến thiên lớn Xã hội phong kiến trên đường suy thoái, vua quan tranh chấp quyền bính, Trịnh - Nguyễn phân tranh dẫn đến cát cứ

Trang 22

đằng trong đằng ngoài “nhân dân phiêu tán dắt díu nhau đi ăn xin đầy đường”1 Vì vậy thời kỳ này có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra Việc học hành cũng không còn được chú trọng, trường học mở ra nhiều, học trò không cần giỏi cũng có thể đi thi Bọn thống trị cần tiền sẵn sàng biến thi cử thành chuyện mua bán Chẳng hạn năm 1750 chúa Trịnh quy định trong kỳ thi Hương, ai nộp ba quan được miễn khảo hạch, coi như đỗ Sinh đồ, vì vậy mà gọi là “Sinh đồ ba quan”

Hồ Xuân Hương là một trí thức bình dân nên thấy được quy luật vận động tất yếu của lịch sử Do đó, đối tượng trào phúng của Hồ Xuân Hương rất phong phú nhưng trước hết là tầng lớp trí thức phong kiến - Họ sẽ là rường cột trong tương lai của xã hội, chứ chưa phải là người quản lý xã hội Vậy tri thức phong kiến ở đây là những ai? Tại sao Hồ Xuân Hương lại chĩa mũi nhọn trào phúng vào đối tượng này?

Trí thức phong kiến trong thơ Hồ Xuân Hương cũng thuộc tầng lớp dưới Họ là học trò Nho học, là những thầy đồ (trí thức nhà trường), là những nhà sư (trí thức nhà chùa) Vì họ là những người học chữ thánh hiền, tiếp thu hoặc ảnh hưởng của ý thức hệ phong kiến Nho học Đối với học trò cụ Khổng, đây là những người học chữ thánh hiền, thông hiểu luân lý đạo đức Mục đích học của họ không chỉ để hiểu biết, để mở mang kiến thức mà học đối với họ để thi cử và làm quan, để có địa vị trong xã hội

Từ cuối đời Trần trở đi, Nho học trở thành độc tôn Lý trí với giáo điều nghiêm khắc ngự trị xã hội Nhưng cũng từ giai đoạn này, bản năng “thô lỗ” của đa số bình dân nước Việt đã được rèn dũa rất nhiều Sau buổi thịnh Lê, kỉ luật mất dần, xã hội loạn lạc, không những dân chúng trở lại nếp xưa mà ngay

cả Nho sĩ cũng bị xáo trộn Hồ Xuân Hương nhận thấy học trò lúc này thì dốt nát, thầy đồ thì tha hoá biến chất, đạo đức giả Tình hình học hành thi cử như vậy, chất lượng không đảm bảo như trước Một số kẻ sĩ giàu có nhờ tiền mà đậu đạt Với kiểu học hành, thi cử như vậy, Hồ Xuân Hương đã vạch ra điểm yếu của học trò qua hai bài thơ “Mắng học trò dốt”

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ?

1

Sử quán triều Nguyễn Việt sử thông giám cương mục (bản dịch) Nxb VSĐ, HN.1960, tập XVIII, quyển 39,

Trang 23

Lại đây cho chị dạy làm thơ, Ong non ngứa nọc châm hoa rữa

Dê cỏn buồn sừng húc dậu thưa

Trong cuốn “Hồ Xuân Hương thơ và đời” (Nxb Vh H 1996) đặt tiêu đề cho bài thơ là “Lũ ngẩn ngơ” Ý muốn nói, Hồ Xuân Hương chê bọn học trò ngốc nghếch, học thì dốt lại rủ nhau đi ghẹo gái còn tập tọng đua đòi vần vè,

ví von nên Hồ Xuân Hương thấy khó chịu và viết bài này Một số sách khác như của tác giả Đỗ Lai Thuý, của Xuân Diệu thì lấy tiêu đề là “Mắng học trò dốt” Theo chúng tôi, các tiêu đề trên đều có thể chấp nhận được mà không ảnh hưởng gì đến nội dung trào phúng trong thơ Xuân Hương

Trong xã hội phong kiến, luôn luôn có thành kiến Quan niệm trọng nam khinh nữ “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” hay cho rằng đàn bà là loại khó dạy bảo Xã hội phân chia giai cấp, sự xuất hiện của đẳng cấp trên và đẳng cấp dưới, kẻ thống trị và người bị trị Cho nên xã hội phongkiến ở phương đông nói chung xã hội Việt Nam nói riêng Nho giáo buộc người phụ

nữ phải sống dưới quyền của đàn ông, luôn bị coi là chưa trưởng thành Họ chỉ biết đến “Tam tòng tứ đức” nhằm tô điểm cho đấng phu quân, Xuân Hương bảo: “Không phải thế Phải lật ngược lại vấn đề bắt đầu từ sự sống

có “tí tửng” để chị này dạy cho

Nàng gọi bọn học trò, bọn Nho sĩ rởm đời là “Lũ ngẩn ngơ”, đã học chữ thánh hiền sao không hiểu lễ nghĩa gì hết Nàng chưa trách cái văn mà trước hết là trách cái lễ kém Bởi đối với những kẻ nay còn là anh khoá, cậu

Trang 24

Nho nhưng mai kia “Cửa vũ hoá rồng” học sẽ là quan Cử, quan Nghè là cha

mẹ dân, lại phải để cho phận nữ nhi thường tình dạy cho Không dừng lại ở

đó, nàng lại bồi thêm cho mấy định ngữ mà mức độ khinh thị không biết để đâu cho hết Nàng gọi bọn Nho sĩ là “ong non”, là “dê cỏn” Theo Xuân Diệu,

Hồ Xuân Hương “khinh người như tát nước đổ đi, mà chữ dùng thì sắc sảo đến chừng nào! Không phải là dê nhỡ, dê bé, dê con, mà đích thực là dê cỏn! Những chữ chết tức người ta!” [3; 488] Còn với Trần Khải Thanh Thuỷ thì cho rằng: “Dê cỏn không phải là dê con, cũng giống như lợn tháu, gà choai, không phải là lợn con hoặc gà con” [36; 24] Dù có giải thích như thế nào thì cũng chỉ lý giải được phần nào về tài sử dụng ngôn ngữ của bà Bà không những nói lên sự ngu dốt của học trò mà còn chỉ ra cái lối sống bừa bãi, chỉ vì

“buồn sừng” mà “húc” bừa, “châm” bậy Nhưng cái sừng non mới nhú ấy chỉ húc vào “dậu thưa”, châm vào “hoa rữa” mà thôi

Ở bài hai, không còn là sự dạy bảo mà là sự chê trách Bà không chịu được những chàng Nho sĩ không chịu lượng tài sức non nớt của mình, hễ đi đâu là vẽ vời thơ phú đến đó Phải chăng họ thích học đòi các thi nhân xưa để lại dấu ấn mỗi nơi mình tới? Xuân Hương viết:

Dắt díu đưa nhau đến cửa chiền, Cũng đòi học nói, nói không nên!

Ai về nhắn bảo phường lòi tói Muốn sống đem vôi quét trả đền

Trước hết, xin được giải thích về hai chữ “Lòi tói” mà Xuân Hương dùng (Nghĩa đen là dây sắt gồm nhiều vòng mắc vào nhau) Trong cách chấm thơ văn xưa thường có khuyên và sổ Song trong lúc đùa nghịch khuyên nhiều vòng móc xích vào nhau Vì thế mà gọi là khuyên lòi tói khi gặp những đoạn văn viết bạt mạng, lăng nhăng Sau này, nghĩa bóng để chỉ những kẻ viết chữ xấu

Bài thơ này, Xuân Hương muốn chê bọn học trò học chữ thánh hiền mà viết chữ xấu Người xưa có câu “nét chữ là nét người” Vì vậy mới có nghệ thuật thư pháp (nghệ thuật viết chữ đẹp) Cho nên khi nhìn những chữ loằng ngoằng như chi dây xích, chữ nọ ngoắt ngoéo, quàng xiên vào chữ kia Xuân Hương có ý chê sự kém cỏi, dốt nát của học trò

Trang 25

Ngoài ra, Xuân Hương còn trách đây là những kẻ vô văn hoá, nơi chùa chiền thâm nghiêm lại đề thơ lung tung lên tường của nhà chùa Ca dao có câu “Xấu hay nói tốt, dốt hay khoe chữ” là thế! Hồ Xuân Hương phê phán và gọi đích danh là “phường lòi tói” và buộc họ khắc phục sửa chữa khuyết điểm của mình bằng cách “đem vôi quét trả đền”

Có thể nói, Hồ Xuân Hương sống vào thời đại các nhà Nho chân chính

Họ đều ý thức được tài năng hơn đời, hơn người của mình Phan Ngọc nhận xét: “Đây là thời đại mà mọi người đều khoe tài”, Nguyễn Du khoe tài, Hồ Xuân Hương khoe tài, Nguyễn Công Trứ khoe tài và tìm chỗ dựa cho mình bằng tài năng cá nhân Vì vậy, mà Hồ Xuân Hương mới cho rằng cái xã hội phong kiến lúc bấy giờ có khác nào “Một đàn thằng ngọng đứng xem chuông”

Cả hai bài thơ, Hồ Xuân Hương không phải là hạ bệ, tẩy chay tầng lớp Nho sĩ mà thi sĩ hạ bệ để nhắc nhở, để giáo dục, để phục thiện cho học trò Do

đó cả hai bài thơ không mang tính chất thắng bại, phân biệt giai cấp

Nếu như trước đây, nhiều người xem nội dung thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương là đả kích, là châm biếm sâu cay vào đối tượng, nào là “đanh đá”, “xách mé” Theo chúng tôi thì không hẳn như thế! Xuân Hương cũng xuất phát từ một tri thức bình dân góp tiếng nói phê phán vào những người cùng mang danh trí thức Ta có thể thấy nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hương rất riêng, bà đứng cao hơn hẳn đấng mày râu một bậc, xưng “chị” mà còn đòi “dạy” bảo, thật là điều hiếm thấy trong thơ văn Trung đại Nếu như văn học trong giai đoạn này người ta tránh nói đến cái tôi cá nhân, cá thể, mà chỉ nói đến cái ta chung, đề cao cộng đồng (phi ngã) Thì Hồ Xuân Hương đã làm ngược lại, thơ bà phần nào khẳng định bản ngã, khẳng định cái tôi cá nhân và đưa văn học sang hướng “dân chủ hoá”

Bên cạnh tầng lớp Nho sĩ thì với những ông đồ trong thơ bà suy cho cùng cũng là hai đối tượng có cùng tên gọi - Đó là những trí thức trong nhà trường phong kiến Nho học Vì thế chúng tôi không tách ba bài “Trách Chiêu Hổ” mà có sách chép là “Xướng hoạ cùng Chiêu Hổ” thành phần riêng để tiện cho việc đối sánh và hiểu hơn về đối tượng trào phúng này

Trang 26

Giai đoạn giữa Hồ Xuân Hương và Chiêu Hổ là “bạn thân” cùng xướng hoạ với nhau, hiện nay chưa có một tài liệu nào cho biết ở giai đoạn nào thì

Hồ Xuân Hương và Chiêu Hổ cùng xướng họa? Và liệu có một ông Chiêu Hổ thực hay không? Có người cho rằng Chiêu Hổ chính là Phạm Đình Hổ (1768 - 1839) Nhưng chúng tôi xin không bàn đến vấn đề này mà chỉ tìm hiểu nội dung mang tính chất trào phúng của Hồ Xuân Hương

Với “phận đàn bà” liễu yếu đào tơ mà không chịu thua kém cánh mày râu như tư tưởng thông thường Bên cạnh đó Xuân Hương tỏ ra là người phụ

nữ đầy bản lĩnh, rất vững vàng nhưng không kém phần “đanh đá, đối chọi với Chiêu Hổ từng vần thơ đã đành mà còn chế diễu ngầm ẩn sâu xa thâm thuý Điều này cho thấy lần đầu tiên trong văn học Trung đại có một người phụ nữ giám bước lên ngang hàng đòi quyền bình đẳng với nam giới, thậm chì còn bước cao hơn nữa là khác Ở ba bài thơ này ta thấy Hồ Xuân Hương đã vạch

ra những điểm yếu của Chiêu Hổ

Trước hết, là một trí thức Nho học, là “anh đồ” - người hiểu biết chữ thánh hiền và còn mang điều đó để dạy bảo người khác ấy vậy mà có tính

“bờm xơm” hay trêu ghẹo đàn bà con gái:

Anh đồ tỉnh, anh đồ say Sao anh ghẹo nguyệt giữa ban ngày?

Điểm yếu thứ hai của “anh đồ” Chiêu Hổ là nói dối Xuân Hương không ngần ngại mà nói thẳng:

Sao nói rằng năm lại có ba?

Trách người quân tử hẹn sai ra

Chữ “trung – hiếu - lễ - trí” thì chưa biết, vậy chữ “tín” trong thánh hiền anh để ở đâu? (chuyện kể có lần Xuân Hương hỏi vay Chiêu Hổ năm quan tiền Chiêu Hổ đã đồng ý cho vay nhưng sau lại chỉ đưa có ba quan) Vì vậy, Xuân Hương mới có cớ mà trách Chiêu Hổ đã nuốt lời

Bao giờ thong thả lên chơi nguyệt, Nhớ hái cho xin nắm lá đa

Dân gian có câu “dối như Cuội” - vậy Chiêu Hổ có gì khác Cuội trong câu thành ngữ này!

Trang 27

Điểm yếu thứ ba của Chiêu Hổ mà Xuân Hương đề cập đến đó là bản tính nhút nhát, thiếu bản lĩnh đàn ông vậy thì làm sao mà gọi là “quân tử” được!

Những bấy lâu nay luống nhắn nhe, Nhắn nhe toan những sự gùn ghè

Gùn ghè nhưng vẫn ciòn chưa dám, Chưa dám cho nên phải rụt rè

Đối với học trò dốt nát, Xuân Hương xưng là “chị” và “dạy làm thơ” để khẳng định cái tài hơn hẳn những kẻ tự khoe là có học đã đành Nhưng đây, một lần nữa Xuân Hương lại khẳng khái xưng “chị” với “anh đồ” Chiêu Hổ - người có học hành hẳn hoi, hơn hẳn một bậc tài trí so với lũ học trò “ngẩn ngơ” loại “dê cỏn” mới nhô nọc, nhú sừng nên chưa biết gì mới húc bừa châm bậy Còn “anh đồ” đâu phải hạng “dê cỏn” mà ngay giữa ban ngày ban mặt lại trêu hoa ghẹo nguyệt, không những vậy lại còn giả tỉnh tỉnh, say say làm như không có chuyện gì xảy ra và khi định dở trò sàm sỡ thì Xuân Hương đã mang cái “barie” khổng lồ ra để ngăn lại, đồng thời diễn ra cuộc đối thoại nghiêng ngửa với Chiêu Hổ Một cuộc đấu khẩu theo truyền thống đối đáp của người Việt Nam rất lành mạnh, khiêu khích bằng giọng đàn chị nhưng vẫn rất tế nhị, không hề thô vụng vì sự chơi chữ hững hờ Sự đánh đồng “cái ấy” với “hang hùm” để chơi lại chữ “hổ”, làm anh đồ giật mình sực tỉnh:

“Hoá ra mình đã bị mắc lỡm Xuân Hương rồi”!

Nghệ thuật trào phúng của Hồ Xuân Hương qua ba bài thơ này không quá mức gay gắt và cũng không đến mức giáng cho đối tượng một đòn chí mạng về bài học đạo đức hay về lễ nghĩa cho người quân tử trong xã hội phong kiến lúc bấy giờ Xuân Hương trào phúng là góp ý cho bạn trai của mình sống tốt hơn, có đạo đức hơn Mình là người hiểu lễ nghĩa thì đừng nên

vi phạm lễ nghĩa đó

Vậy, đối với học trò thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương dựa trên cái chuẩn về tri thức Đối với “anh đồ” thì Xuân Hương lại dựa vào cái chuẩn của đạo đức để trào phúng

Qua sự tìm hiểu về hai đối tượng mà Xuân Hương dùng để truyền tải nội dung trào phúng Bà đã mượn đối tượng này để nói lên sự tha hoá, biến

Trang 28

chất của xã hội phong kiến Họ đều là những người được ăn học, sẽ là cha mẹ dân, sẽ đem đạo đức thánh hiền dạy cho người khác mà tha hoá như vậy nói

gì đến kẻ dốt nát vô học thuộc tầng lớp dươí Đây phải chăng mới chính là cái đích mà Xuân Hương muốn hướng tới

2.2.2 Đối với tầng lớp sư, vãi (trí thức nhà chùa)

Không chỉ dừng lại với bọn tri thức Nho học, bên ngoài không ngớt tuyên truyền cho luân lý đạo đức nhưng bên trong thì dốt nát, dâm ô dày xéo lên tất cả những điều thiêng liêng đó Hồ Xuân Hương còn gét cay gét đắng bọn nhà sư núp sau bóng phật để làm việc ô uế Để lột mặt nạ những hạng người dả dối này, không còn cách nào hơn là nói thẳng vào mặt chúng rằng:

“này thôi đi! Đừng có đem cái đạo đức, tôn giáo ra mà loè bịp thiên hạ mãi” [20; 100] và hễ có dịp là Xuân Hương cười thẳng vào mặt chúng

Chẳng phải Ngô, chẳng phải ta, Đầu thì trọc lóc, áo không tà Oản dâng trước mặt dăm ba phẩm Vãi nấp sau lưng sáu bảy bà

(Sư Hổ mang)

Nếu như từ thời nhà Lý, Phật giáo được tôn vinh là quốc giáo, thì từ thời nhà Trần trở về sau Nho giáo lại chiếm vị trí độc tôn Vì vậy Phật giáo của cung đình trở thành Phật giáo của nhân dân Người quy y cửa Phật cũng

là người trí thức của nhân dân - bởi họ không chỉ thông hiểu về kinh kệ đồng thời còn rất am hiểu về cuộc sống của nhân dân “Cái bể khổ luân hồi” của cuộc đời trần tục, phải chăng kiếp trước mình chưa đắc đạo! Để cứu giúp con người thoát khỏi vòng luân hồi “Sinh lão bệnh tử” thì nhà sư là người đứng ra

để cứu nhân độ thế

Nhưng khi Nho giáo chiếm địa vị độc tôn thì Phật giáo không còn được trọng vọng như xưa nữa Hồ Xuân Hương đã không còn nhìn nhà sư và Phật giáo theo nghĩa “cứu nhân độ thế” Ở thơ bà, nhà sư chính là sự đối lập giữa cái tự nhiên và cái bất tự nhiên Nhà sư dưới con mắt của Hồ Xuân Hương thật đáng chê trách: “Chẳng phải Ngô chẳng phải ta/ Đầu thì trọc lóc áo không tà”, đi tu để làm gì khi còn tham lam “Oản dâng trước mặt” còn bậy bạ

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w