1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghệ thuật trào phúng trong thơ nôm đường luật hồ xuân hương

57 39 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 57
Dung lượng 586,83 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • B. 1. Lý do chọn đề tài (0)
    • 2. Phạm vi giải quyết (4)
    • 3. Phương pháp nghiên cứu (5)
    • 4. Lịch sử vấn đề (5)
  • B. Phần nội dung Chương 1. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật............... 10 1.1. Giới thuyết về nghệ thuật trào phúng (10)
    • 1.1.1. Khái niệm về Cái hài (10)
    • 1.1.2. Đôi nét về trào phúng và đối tượng của trào phúng ...................... 11 1.1.3. Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình (11)
    • 1.2. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật .......................... 14 1. Tình hình chung về thơ Nôm Đường luật ..................................... 14 2. Các tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật.................................................... 16 3. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật....................... 17 Chương 2. Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương ................................................. 18 2.1. Những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương................ 18 2.2. Đặc điểm trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương. 20 2.2.1. Đối với tầng lớp Nho sĩ (14)
      • 2.2.2. Đối với tầng lớp sư, vãi (trí thức trong nhà chùa.) (28)
      • 2.2.3. Đối với nhân vật phụ nữ (33)
      • 2.2.4. Đối với tầng lớp trên (vua, quan, hiền nhân, quân tử)................... 38 2.3. Ngôn ngữ trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương (38)

Nội dung

Phần nội dung Chương 1 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật 10 1.1 Giới thuyết về nghệ thuật trào phúng

Khái niệm về Cái hài

Xã hội loài người là vương quốc của cái hài, nơi có cuộc đấu tranh giữa cái đẹp và cái xấu thì cái hài xuất hiện Mâu thuẫn xã hội, sự tan rã kỷ cương và quyền lực kinh tế là những nguyên nhân sâu xa tạo ra cái hài trong cuộc sống Từ thế kỷ XVIII đến XIX, cái hài ở nước ta nảy nở đa dạng, vạch trần tham lam của quan lại và sự dốt nát của Nho sĩ, đồng thời tố cáo bất công xã hội và sự suy vi của chế độ phong kiến Trong mỗi hình thái xã hội, cái hài thường nở rộ để giã từ quá khứ một cách vui vẻ, và mọi sự vụng về trong thời kỳ đang lên cũng tạo nên cái hài Tuy nhiên, tính chất hài hước giữa cũ và mới, tiến bộ và lạc hậu có các cấp độ khác nhau Không có chế độ nào hoàn hảo và không ai không có điểm yếu, mọi thứ đều có thể tạo ra tiếng cười, dẫn đến việc xác định sáu cấp độ khác nhau của cái hài trong cuộc sống.

- Hài hước: Bông đùa, bông lơn

- Sự cười nhạo: Chỉ bảo, gợi mở

- Trào lộng: Hình thức sắc sảo của cái hài

- Trào phúng: Khoan trúng, đánh sâu vào điểm yếu

- Châm biếm: Kết án cái xấu, phủ định trên mọi cương lĩnh lý tưởng

- Đả kích: Đánh mạnh và trực diện

Hài hước là một phạm trù mỹ học phản ánh hiện tượng phổ biến trong đời sống, có khả năng tạo ra tiếng cười với nhiều sắc thái khác nhau Nó thể hiện sự mâu thuẫn và không tương xứng mà con người cảm nhận được từ góc độ xã hội và thẩm mỹ Mâu thuẫn này thường đối lập với thế giới thẩm mỹ cao đẹp, tạo nên những trải nghiệm thú vị cho người thưởng thức.

Từ thời cổ đại, cái hài đã được nhắc đến bởi nhiều nhà văn lớn như Arixtốt, Sêchxpia, và Môlie, cho thấy cái hài có nhiều cấp độ khác nhau Trào phúng chỉ là một trong những cấp độ đó, và việc khẳng định nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm của Hồ Xuân Hương chỉ là tiếng cười châm biếm hay đả kích chưa phản ánh đúng bản chất Thực tế, thơ trào phúng của Hồ Xuân Hương thuộc cấp độ thứ tư của cái hài, tập trung vào việc khoan trúng và đánh sâu vào điểm yếu của đối tượng Do đó, việc tìm hiểu khái niệm trào phúng là cần thiết để hiểu rõ hơn về nghệ thuật này.

Đôi nét về trào phúng và đối tượng của trào phúng 11 1.1.3 Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình

Trào phúng là một vấn đề phức tạp trong nghiên cứu văn học, chưa có sự đồng thuận về định nghĩa và đánh giá Một số nhà nghiên cứu coi trào phúng là một loại hình văn học, trong khi những người khác xem nó như một thể loại hoặc nguyên tắc đặc biệt phản ánh hiện thực.

Trào phúng là một thể loại văn học đặc biệt, phản ánh nghệ thuật thông qua việc sử dụng tiếng cười mỉa mai, châm biếm và phóng đại Nó nhằm chỉ trích, tố cáo và phản kháng những tiêu cực sâu xa, lỗi thời và độc ác trong xã hội.

Trào phúng, theo nghĩa gốc, là việc sử dụng ngôn từ tinh tế để chế giễu và mỉa mai người khác Trong văn học, trào phúng không chỉ gắn liền với mỹ học mà còn thể hiện các cung bậc của sự hài hước, từ những câu chuyện cười đơn giản đến tiểu thuyết, từ vở hài kịch đến thơ ca châm biếm, tạo nên một lĩnh vực phong phú và đa dạng.

Văn học trào phúng, theo nghĩa hẹp, thuộc cung bậc thứ tư của cái hài, và theo nghĩa rộng, xuất hiện ở nhiều cấp độ khác nhau tùy thuộc vào đối tượng và mức độ trào phúng nhằm đạt được mục đích Đối tượng mà văn học hướng tới chủ yếu là con người, do đó, việc nhận thức rõ đối tượng trào phúng trong văn học là rất quan trọng Nhà văn châm biếm Nga Xatưcốp-Sêdrin đã nhấn mạnh rằng để văn học châm biếm thực sự hiệu quả, cần phải xác định rõ ràng đối tượng mà nó nhắm tới.

Xác định đối tượng trào phúng là rất quan trọng, nếu không sẽ dẫn đến sự lạc điệu và thậm chí độc ác, điều này phản ánh tư tưởng của nhà văn Một nhà văn chân chính luôn mang trong mình tinh thần nhân đạo sâu sắc, có cái nhìn chính xác về cuộc sống và phân biệt rõ ràng giữa chính và tà Họ biết trân trọng cái đẹp, cái thiện và căm ghét những điều giả dối, xấu xa, huỷ hoại nhân tính Như Gôgôn đã nói: “Nghệ thuật chân chính không dạy người ta cười cái mũi bị vẹo mà dạy người ta cười một tâm hồn lệch lạc.”

Nghệ thuật trào phúng phê phán cái xấu thông qua cảm xúc thẩm mỹ đặc biệt, tập trung vào những tiêu cực về đạo đức, nhân cách và lối sống không phù hợp với tự nhiên, nhưng lại được che đậy bởi vẻ ngoài tốt đẹp Sự hài hước nảy sinh từ mâu thuẫn và sự không tương xứng giữa bản chất bên trong và vẻ bề ngoài của hiện tượng Tiếng cười xuất hiện khi người ta nhận thức được mâu thuẫn trong đối tượng, tức là hiểu rõ bản chất thực sự của nó.

Văn học trào phúng có khả năng hướng tiếng cười vào nhiều đối tượng khác nhau, từ những hiện tượng trong đời sống đến chính bản thân tác giả Hai đối tượng chính trong văn học trào phúng bao gồm: đối tượng trào phúng khách thể, tức là những hiện thực khách quan bên ngoài tác giả, và đối tượng trào phúng chủ thể, nơi tác giả trở thành đối tượng tự trào của chính mình Mỗi hiện tượng đều chứa đựng mâu thuẫn, tạo cơ hội cho văn học trào phúng phát triển và phản ánh sâu sắc đời sống.

Văn học trào phúng ra đời và phát triển gắn liền với những yếu tố hài hước trong xã hội Thực tế, xã hội phong kiến Việt Nam đã tạo điều kiện thuận lợi cho văn học trào phúng phát triển mạnh mẽ.

Văn học trào phúng là yếu tố thiết yếu trong một nền văn học chân chính và tiến bộ, góp phần nâng cao đời sống xã hội Nó giúp con người hoàn thiện bản thân theo hướng chân, thiện, mỹ.

1.1.3 Mối quan hệ giữa trào phúng và trữ tình

Trào phúng là một khái niệm nghệ thuật thể hiện sự châm biếm và phê phán, trong khi trữ tình lại mang tính cảm xúc và tâm tư Để hiểu rõ mối quan hệ giữa hai hình thức này, chúng ta có thể xem xét một ví dụ điển hình giúp làm sáng tỏ sự tương tác và khác biệt giữa trào phúng và trữ tình trong văn học.

Trong thơ Nguyễn Khuyến, hình ảnh ngọn núi An Lão thường xuyên xuất hiện, thể hiện vẻ đẹp đáng yêu và tâm tư sâu lắng của tác giả.

Ngẩng trông núi An Lão lòng những lan man Đỉnh chót vót lạnh lùng nghĩ thật đáng thương

Cỏ xanh đua nhau lấp đôi ba tấc Hoa vàng còn thấy nở một vài cành

(Trông núi An Lão - dịch nghĩa)

Nhưng có khi lại xuất hiện qua tiếng cười nhưng không phải là tiếng cười sảng khoái mà mang tâm sự trước thế sự, trước cuộc đời

Mặt nước mênh mông nổi một hòn Núi già nhưng tiếng vẫn còn non Mảnh cây thưa thớt đầy như trọc Ghềnh đá long lanh ngấn chửa mòn

Hai bài thơ này cho thấy rằng nguồn cảm hứng trào phúng thực chất cũng là nguồn cảm hứng trữ tình Thơ trào phúng sử dụng tiếng cười để thể hiện tư tưởng và tình cảm của con người, nhằm chống lại cái xấu và vạch mặt kẻ thù Trong khi đó, trữ tình là một phương thức thể hiện đời sống, phản ánh cuộc sống qua việc bộc lộ trực tiếp ý thức và cảm xúc của con người đối với thế giới Thơ trữ tình thể hiện những cảm xúc và suy tư của nhà thơ hoặc nhân vật trữ tình trước các hiện tượng đời sống một cách trực tiếp.

Trào phúng là một dạng trữ tình, thể hiện tình cảm phê phán cái xấu và khẳng định cái đẹp thông qua tiếng cười Tiếng cười này xuất phát từ lý tưởng tiến bộ, cho thấy mối quan hệ mật thiết giữa trào phúng và trữ tình Trào phúng không chỉ là lớp vỏ bên ngoài mà còn ẩn chứa hạt nhân trữ tình bên trong, bổ sung và tác động lẫn nhau.

Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật 14 1 Tình hình chung về thơ Nôm Đường luật 14 2 Các tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật 16 3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật 17 Chương 2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương 18 2.1 Những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương 18 2.2 Đặc điểm trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương 20 2.2.1 Đối với tầng lớp Nho sĩ

1.2.1 Tình hình chung về thơ Nôm Đường luật

Văn học dân tộc Việt Nam, đặc biệt là thơ Nôm Đường luật, đóng vai trò quan trọng trong lịch sử hình thành và phát triển văn học Thơ Nôm Đường luật không chỉ làm phong phú thêm cho thể loại văn học mà còn có ý nghĩa lý luận sâu sắc Đây là hiện tượng tiêu biểu và độc đáo, phản ánh những điều kiện và quy luật của quá trình giao lưu văn học Mặc dù được mô phỏng theo thể thơ Đường luật của Trung Quốc, thơ Nôm Đường luật vẫn giữ vị trí đáng kể bên cạnh các thể thơ dân tộc Theo Lã Nhâm Thìn trong cuốn "Thơ Nôm Đường luật" (Nxb GD 1997), thành tựu của thơ Nôm Đường luật phụ thuộc vào hai điều kiện quan trọng.

- Điều kiện ngoài văn học

Tác giả chỉ ra rằng ngôn ngữ tiếng Việt và tiếng Hán có sự tương đồng đáng kể về mặt văn học, bao gồm các yếu tố như không biến hình, đơn âm và tuyến tính, cùng với sự gần gũi về thanh điệu Thể thơ Đường với cấu trúc niêm luật chặt chẽ cũng tạo điều kiện thuận lợi cho sự giao thoa văn hóa Bên cạnh đó, điều kiện lịch sử đặc biệt của dân tộc Việt Nam từ thế kỷ X và sự giao lưu, ảnh hưởng của các tư tưởng văn hóa đã có tác động mạnh mẽ đến sự phát triển của thơ Nôm Đường luật.

Thơ Nôm Đường luật xuất hiện vào khoảng cuối thế kỷ XIII, được ghi nhận trong Đại Việt sử ký vào năm nhâm Ngọ (Thiên Bảo) thứ tư.

Văn bản chữ viết đầu tiên còn lưu giữ được là “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi vào thế kỷ XV, tiếp theo là “Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông và “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” của Nguyễn Bỉnh Khiêm Từ nửa sau thế kỷ XVIII đến nửa thế kỷ XIX, thơ Nôm có sự đóng góp của các tác giả như Hồ Xuân Hương, bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Công Trứ, và nổi bật là Nguyễn Khuyến và Tú Xương Giai đoạn này chứng kiến sự khác biệt rõ rệt trong đề tài và chủ đề của thơ Nôm so với trước đó, đặc biệt là thơ Nôm Đường luật trước thế kỷ XVIII.

Thơ là phương tiện thể hiện chí khí của nhà Nho, nhưng từ nửa cuối thế kỷ XVIII trở đi, nhu cầu khẳng định bản thân của con người ngày càng rõ rệt, với các khái niệm như “thân”, “tài” và “tình” được nâng cao Hồ Xuân Hương nổi bật với thơ Nôm Đường luật, tạo nên một hiện tượng độc đáo, vượt qua những giới hạn của hệ tư tưởng phong kiến Tác phẩm của bà không chỉ giải phóng khỏi giáo điều phong kiến mà còn đánh dấu sự thay đổi trong vị thế của thơ Nôm Đường luật trong văn học Trung đại Đặng Thanh Lê trong cuốn “Hồ Xuân Hương và dòng thơ Nôm Đường luật” đã chỉ ra sự đoạn tuyệt với tinh thần đẳng cấp Nho giáo trong thơ của bà.

Nhà thơ (1996) nhận định rằng thể thơ Đường luật đã từ bỏ phong cách trữ tình trang nghiêm để tiếp cận cuộc sống thực tế, không chỉ phản ánh bản sắc dân tộc mà còn mang tính dân dã sâu sắc.

Thơ Nôm Đường luật của Hồ Xuân Hương thể hiện sự "dân chủ hoá" trong sáng tác, đánh dấu bước phát triển độc đáo của bà Nữ sĩ đã cách tân, sáng tạo bằng cách rút ngắn khoảng cách giữa ngôn ngữ nghệ thuật và ngôn ngữ đời sống, mang đến cho thơ ca một sắc thái mới mẻ và gần gũi hơn với công chúng.

1.2.2 Các tác giả tiêu biểu viết về đề tài trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

“Hồng Đức quốc âm thi tập” của Lê Thánh Tông đã mở ra hướng đi mới cho nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Sự ảnh hưởng này được thể hiện rõ ràng hơn trong thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm, một nhà Nho và đạo đức gia, người đã phản ánh sự xuống cấp của xã hội trước bối cảnh thế thái nhân tình đảo lộn và đạo đức suy vi.

- Còn bạc, còn tiền còn đệ tử Hết cơm hết rượu hết ông tôi

- Đạo nọ nghĩa này trăm tiếng bướm Nghe bui thinh thỉnh lại đồng tiền

(Bạch Vân quốc ngữ thi tập)

Hồ Xuân Hương đã thực hiện một cuộc cách tân quan trọng trong Đường luật Nôm, khi thơ của bà phản ánh cuộc sống đời thường, nguyên sơ và chân thật Những chủ đề dân dã trở thành đối tượng thẩm mỹ, thể hiện bản năng tự nhiên của con người Cái trần tục, vốn xa lạ với phong cách trang trọng của Đường luật, giờ đây lại phù hợp với phong cách trào phúng độc đáo của Nữ sĩ.

Khéo khéo đi đâu lũ ngẩn ngơ Lại đây cho chị dạy làm thơ

(Mắng học trò dốt) Này này chị bảo cho mà biết Chốn ấy hang hùm chớ mó tay

Trong thơ Nôm Đường luật, không thể không nhắc đến những tác giả viết về đề tài trào phúng như Nguyễn Công Trứ Bên cạnh đó, Nguyễn Khuyến và Tú là hai tác giả cổ điển cuối cùng của văn học Trung đại, đóng góp đáng kể vào thể loại này.

Xương Kể từ khi Hồ Xuân Hương cho đến các tác giả sau này đã khẳng định chức năng trào phúng to lớn của thơ Nôm Đường luật

1.2.3 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật

Thơ Nôm Đường luật đã trải qua một quá trình hình thành và phát triển đáng kể, với sự đóng góp nổi bật từ các tác giả tiêu biểu Qua mười thế kỷ, thể loại thơ này không chỉ tồn tại mà còn thể hiện sự trường tồn của nó, như một minh chứng cho việc "không có tuổi trẻ nhưng cũng không biết đến tuổi già".

Những sáng tác của tác giả kể trên chủ yếu dựa trên ba quan điểm sau:

- Họ đứng trên lập trường đạo đức phong kiến để trào phúng đả kích

- Họ vạch ra cái xấu cần phê phán (đây được xem là một kiểu trào phúng)

Bài viết thể hiện sự khủng hoảng và bất lực của ý thức hệ phong kiến trước những biến chuyển của lịch sử, với sự xuất hiện của hiện tượng tự trào trong tác phẩm của các nhà thơ như Tú Xương và Nguyễn Khuyến Điều này phản ánh bi kịch uất ức và bế tắc của các nhà Nho trong bối cảnh xã hội đầy biến động lúc bấy giờ.

Nghệ thuật trào phúng xuất hiện trong mọi thời đại, thể hiện mâu thuẫn giữa cái bên ngoài và cái bên trong, nhằm làm nổi bật ý nghĩa mỉa mai, trào lộng Trong văn học dân gian, nghệ thuật này thường dựa vào quy luật tự nhiên để chỉ ra cái trái tự nhiên, trong khi văn học viết, đặc biệt là của các nhà Nho, lại dựa vào cương thường đạo lý của xã hội phong kiến để phê phán cái phi đạo lý, tạo ra tiếng cười thâm thúy, hóm hỉnh Ngược lại, tiếng cười trong văn học dân gian mang tính chất tự do, bình dân và trần tục Hồ Xuân Hương là một tác giả tiêu biểu, thể hiện sự giao thoa giữa văn học dân gian và văn chương bác học.

Chương 2 Nghệ thuật trào phúng trong thơ Nôm Đường luật Hồ Xuân Hương

2.1 Những bài thơ trào phúng tiêu biểu của Hồ Xuân Hương

Thơ Nôm trào phúng sử dụng tiếng cười để xây dựng tư tưởng và tình cảm tích cực cho con người, đồng thời phản đối những điều xấu xa, lạc hậu và thoái hóa Nó còn có tác dụng đả kích, vạch trần kẻ thù, nhằm chống lại những tư tưởng và hành động thù địch đối với con người.

Hiện tượng sử dụng thơ Đường luật Nôm để trào phúng không phải là điều mới lạ, nhưng điều đặc biệt ở đây là giọng điệu trào phúng xuất sắc lại nhắm đến một nhân vật ít ai ngờ tới - Hồ Xuân Hương, người phụ nữ chỉ được xã hội dành cho một vị trí khiêm tốn trong gia đình.

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:23

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w