Để đối phó với nguy cơ phá sản do sự khủng hoảng của quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ gây ra, bọn chủ nô đã chia trang viên của chúng thành hai phần : Phần nhỏ chừng 1/3 hoăc 1/4 diện tí
Trang 1Mục lục
Trang
Chương 1: QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TẦNG LỚP NÔNG NÔ
Ở TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI
1.1 Lệ nông thời hậu kỳ đế chế La mã - Tiền thân của
nông nô thời trung đại 8
1.1.1 Khủng hoảng của chế độ nô lệ trong đế quốc Tây La Mã 8
1.1.2 Chế độ lệ nông thời hậu kỳ đế chế La Mã 10
1.2 Sự xuất hiện công xã Mác-cơ và quá trình nông nô
hoá của người xã viên công xã 13
1.2.1 Sự thành lập vương quốc “Man tộc” của người
Giec man trên lãnh thổ đế quốc Tây La Mã 13
1.2.2 Công xã Mác cơ và quá trình nông nô hoá của
Chương 2: ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ ĐỜI SỐNG CỦA TẦNG
LỚP NÔNG NÔ Ở TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI
2.1.1 Tính chất tự cung, tự cấp và phụ thuộc vào
2.1.2 Người nông nô không có quyền sở hữu ruộng đất,
2.1.3 Nông nô bị bóc lột địa tô phong kiến bằng
hình thức cưỡng bức siêu kinh tế 32
2.1.4 Nông nô phải thực hiện những đảm phụ
2.2 Đặc điểm về đời sống chính trị, xã hội 42
2.2.1 Nông nô không có quyền lợi về chính trị 43
2.2.2 Người nông nô bị bóc lột bằng nhiều thứ thuế vô lý 44
2.2.3 Địa vị xã hội của tầng lớp nông nô rất thấp kém 46
Trang 2Chương 3 : CÁC CUỘC ĐẤU TRANH ĐỂ TỰ GIẢI PHÓNG CỦA
TẦNG LỚP NÔNG NÔ Ở TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI
3.1 Những hình thức phản kháng đầu tiên chống lại
3.2 Sự tiếp tục của các cuộc đấu tranh giải phóng
nông nô thời trung và hậu kỳ trung đại 51 3.3 Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử các
cuộc đấu tranh của nông nô 57
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Trang 3Lịch sử thế giới trung đại về cơ bản là thời kỳ thống trị của chế độ phong kiến Ở Tây Âu, chế độ phong kiến ra đời từ năm 476, khi đế quốc Tây La Mã sụp
đổ và kết thúc lúc cách mạng tư sản Anh bùng nổ (1640) Đó là mốc chung cho chế
độ phong kiến thế giới Tây Âu là nơi chế độ phong kiến phát triển điển hình, vì vậy
nó đã được giành một vị trí và thời gian xứng đáng trong chương trình lịch sử thế giới trung đại Đồng thời, từ lâu nó đã thu hút chúng tôi vào việc nghiên cứu, làm sáng tỏ những vấn đề mà chúng tôi chưa có dịp tìm hiểu hoặc hiểu sơ lược
Đặc biệt là vấn đề về nông nô (lực lượng sản xuất chính trong xã hội phong kiến), về quá trình hình thành, đặc diểm chủ yếu và phong trào đấu tranh của họ Về cơ bản đây là vấn đề xuyên suốt lịch sử thế giới trung đại, sự tồn tại của nông nô cũng đồng thời là sự tồn tại của chế độ phong kiến Vì vậy, đối với một người giảng dạy môn lịch sử, việc đi sâu tìm hiểu tầng lớp nông nô trong xã hội phong kiến Tây Âu, theo chúng tôi là một trong những nhiệm vụ cần thiết
Trên cơ sở nghiên cứu đề tài này sẽ giúp chúng ta hiểu thêm về xã hội phong kiến Tây Âu Từ đó có thể khẳng định rằng thời trung đại đã tồn tại một phương thức sản xuất riêng biệt, đó là phương thức sản xuất phong kiến Phương thức sản xuất đó mang những đặc điểm, nội dung, tính chất khác với các phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ hay tư bản chủ nghĩa Điều đó đã gạt bỏ quan điểm cho rằng phương thức sản xuất phong kiến không phải là phương thức sản xuất độc lập Thực hiện đề tài này đã giúp chúng tôi hiểu rõ về những người nông nô - một trong hai giai cấp cơ bản của xã hội phong kiến, mà trong quá trình học tập trước đây chưa hiểu rõ hay do giới hạn chương trình và thời gian học tập mà chưa có dịp tìm hiểu Trong quá trình học tập ở trường mặc dù tôi đã được đọc nhiều tác phẩm đề cập đến chế độ phong kiến, về nông nô, song những tri thức đó còn tản mạn, không có hệ thống Nghiên cứu đề tài này đã cho chúng
Trang 4tôi một may mắn để đưa một phần rất nhỏ những tri thức thu nhận được vào hệ thống chuyên đề Trên cơ sở đó không chỉ hiểu rõ về con người được gọi là
“nông nô” trong xã hội phong kiến, mà còn có thể so sánh và làm sáng tỏ thêm vấn đề người nông dân trong xã hội phong kiến phương Đông, mà sau này có dịp chúng tôi sẽ nghiên cứu Điều chủ yếu là qua đó sẽ thấy được vai trò, vị trí quan trọng của lực lượng sản xuất chính trong xã hội mà trong các hình thái kinh tế xã hội khác cũng có, chẳng hạn như nô lệ trong xã hội chiếm hữu nô lệ hay vô sản trong xã hội tư bản Đồng thời có thể so sánh nông nô với nô lệ cũng như với vô sản Nhận thức được nỗi khổ đau của người nông nô là một trong những cơ sở để hiểu rõ về tầng lớp áp bức bóc lột họ - lãnh chúa
Nghiên cứu tìm hiểu về tầng lớp nông nô không chỉ để hiểu về hiện tại mà còn để hiểu thêm về xã hội tương lai (Tư bản chủ nghĩa) Thật khó có thể hiểu hết được xã hội phức tạp như xã hội tư bản phương Tây nếu không hiểu được xã hội trước đó Từ đó ta thấy được giá trị của tự do trong cuộc sống, nhất là đối với những người lao động, thấy được sự vĩ đại trong sự nghiệp giải phóng nhân dân lao động do cách mạng chủ nghĩa xã hội mang đến, thấy được sự tự do chân chính mà con người trong chế độ xã hội chủ nghĩa được hưởng
Giải quyết đề tài này đã giúp ích chúng tôi rất nhiều trong nghiệp vụ sư phạm Trên cơ sở hiểu được những người nông nô trong xã hội phong kiến Tây
Âu đã giúp chúng tôi hiểu và nắm vững toàn bộ lịch sử của chế độ phong kiến, nó
có tác dụng lớn trong quá trình giảng dạy sau này Là một giáo viên giảng dạy môn lịch sử, theo chúng tôi, có được vốn tri thức cần thiết chưa đủ mà điều cơ bản
là phải hiểu nó, biến nó thành những tri thức nhuần nhuyễn, có hệ thống, để có thể truyền đạt cho học sinh Việc nghiên cứu đề tài này giúp chúng tôi có kiến thức
để liên hệ với các thời kỳ lịch sử khác nhau, nâng cao tầm hiểu biết cho bản thân
Trang 5Ngoài ra đây là lần đầu tiên tôi nghiên cứu một đề tài khoa học, mặc dù kết quả còn nhiều hạn chế, nhưng dẫu sao nó đã cho tôi có dịp làm quen bước đầu với công tác nghiên cứu khoa học, rèn luyện trong một chừng mực nào đó cách viết, khả năng lập luận, bố cục đề tài, cách đọc, sưu tầm tài liệu và chọn lọc những vấn đề cần thiết cho đề tài
2 Lịch sử vấn đề
Vấn đề về phương thức sản xuất phong kiến và chế độ nông nô ở Tây Âu
từ lâu đã được sự quan tâm và chú ý của các nhà sử học trong và ngoài nước Ở Việt Nam, do những yêu cầu của công tác giảng dạy và học tập lịch sử ở các trường Đại học Sư phạm và Tổng hợp, nhiều nhà sử học qua nhiều năm nghiên cứu đã biên soạn được bộ giáo trình "Lịch sử Thế giới trung đại" (1978) Những năm gần đây, một bộ giáo trình mới được viết tốt hơn, hoàn chỉnh hơn đã ra đời phục vụ kịp thời cho việc giảng dạy và học tập khoa Lịch sử ở các trường sư phạm Tuy nhiên với tính chất của một bộ giáo trình, tài liệu học tập của sinh viên ngành sử, nó không thể đi sâu tìm hiểu tầng lớp nông nô trong xã hội phong kiến Tây Âu được mà nội dung cuả nó là đề cập đến tất cả các mặt từ chính trị, kinh tế, xã hội, văn hoá … ở thời trung đại Thầy Đặng Đức An cũng đã có một
hệ thống chuyên đề để phục vụ cho việc giảng dạy: "Đặc điểm của phong trào nông dân Tây Âu thời trung đại", "Phong trào nông dân Tây Âu thời trung đại",
"Người nông dân trong xã hội phong kiến Tây Âu"… Tuy nhiên, đó là những chuyên đề viết ra để phục vụ cho giảng dạy nên tác giả chỉ trình bày ở dạng đề cương, nêu những nét cơ bản nhất của người nông dân Tây Âu mà thôi
Phải nói rằng ở nước ta hiện nay chưa có những công trình bàn về tầng lớp nông nô trong xã hội phong kiến Tây Âu Theo chúng tôi đây là điều dễ hiểu
Trang 6Nước ta có vị trí địa lý cách xa Tây Âu, lại có sự khác biệt về chế độ chính trị nên không có điều kiện khảo sát tận nơi sự kiện đã xẩy ra Nhất là trong điều kiện kinh tế của đất nước, nên ta vẫn chưa dịch được tất cả các tư liệu gốc thời trung đại như Liên xô đã làm Vì vậy, trong chừng mực nhất định đã hạn chế việc nghiên cứu của các nhà sử học rất nhiều
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Nhiệm vụ nghiên cứu đề tài này là tập trung vào những người nông nô và những kiến thức liên quan Từ đó làm sáng tỏ quá trình hình thành, đặc điểm về đời sống kinh tế, chính trị, xã hội và phong trào đấu tranh của họ Do chưa từng thực hiện những đề tài khoa học nên đây là một đề tài tương đối khó với tôi Phạm vi của nó rất rộng, gần như hết cả thời trung đại Tây Âu Trên thực tế, chế
độ nông nô chỉ điển hình vào sơ kỳ và đầu trung kỳ trung đại nhưng phải tìm hiểu cả một quá trình tồn tại của chế độ phong kiến Hơn nữa nghiên cứu về một
xã hội đã qua hàng thế kỷ, tài liệu hiếm hoi quả thực là khó
4 Nguồn tài liệu và phương pháp nghiên cứu
Có thể nói rằng nguồn tài liệu để tham khảo về thời trung cổ là rất ít Đối với khoa học xã hội khi nghiên cứu về bất cứ vấn đề nào thì các tác phẩm của những nhà sáng lập chủ nghĩa Mác - Lê Nin là nguồn tài liệu quan trọng , nhất là với khoa học lịch sử Đề tài này cũng có những tác phẩm tiêu biểu đề cập tới như
"Tư bản" Nguồn gốc của gia đình, của chế độ tư hữu và của Nhà nước", "Hệ tư tưởng Đức", "Cách mạng dân chủ tư sản ở Đức", "Chống Đuy rinh" … của Mác
và Ăng ghen, "Bàn về nhà nước", "Sự phát triển về chủ nghĩa Tư bản ở Nga"… của Lê Nin Trong đó Mác, Ăng ghen, Lênin khi nghiên cứu về xã hội Tư bản đã
đề cập mọt cách sâu sắc đến chế độ nông nô ở Tây Âu Mặc dù chưa có tác phẩm
Trang 7nào chuyên bàn về chế độ nông nô nhưng những vấn đề cơ bản của chế độ đó đã được đề cập trong các tác phẩm của họ Tất cả đã trở thành cơ sở cho các nhà nghiên cứu đi sâu tìm hiểu về người nông nô ở Tây Âu Đó cũng là tài liệu quan trọng cho đề tài này
Các nhà sử học Xô viết là những người đầu tiên tiếp thu ý kiến của Mác, Ăng ghen, Lê nin về chế độ phong kiến để làm cơ sở cho chương trình nghiên cứu của họ Trong tác phẩm "Lịch sử kinh tế các nước (ngoài Liên Xô ) "của tác giả F.Ia.Pôlianxki tác giả đã trình bày khá chi tiết quá trình phong kiến hoá, sự phát triển và tan rã của chế độ phong kiến Châu Âu Tuy nhiên đây là một tác phẩm chuyên bàn về kinh tế nên nó chưa phải là một tác phẩm chủ yếu để có thể nghiên cứu về tầng lớp nông nô ở Tây Âu
Mặc dù vậy, trong quá trình tìm hiểu đây là những tài liệu góp phần vào việc nghiên cứu đề tài này Đặc biệt những tiểu luận tốt nghiệp sau đại học như
"Phong trào nông dân Tây Âu thời hậu kỳ trung đại", "Quá trình giải thể chế độ nông nô ở Tây Âu" hay "Đặc điểm của chế độ phong kiến - nông nô ở Tây Âu "…
đã giúp chúng tôi rất nhiều trong quá trình tìm hiểu
Phải nói rằng, theo chúng tôi biết, hiện nay chưa có một tác phẩm nào bàn
về tầng lớp nông nô ở Tây Âu, kể cả những tác phẩm nước ngoài đã được dịch hay chưa Có chăng khi ở chỗ này khi ở chỗ khác, ở một vài cuốn các tác giả khi bàn về chế độ phong kiến đã đề cập qua chút ít về người nông nô và sự giải phóng của họ khỏi thân phận lệ thuộc, song quả thực còn quá hiếm hoi Điều này
đã gây những khó khăn lớn cho chúng tôi khi thực hiện đề tài này
Để nghiên cứu đề tài này chúng tôi đã tổng hợp, thu thập các tư liệu để phân tích đánh giá vấn đề một cách sát thực, đảm bảo tính chính xác và khách quan của
Trang 8lịch sử Trên cơ sở đó không phải là mong muốn có những đóng góp mới vào khoa học lịch sử mà chỉ có thể khái quát hoá và hệ thống hoá một vấn đề lịch sử
5 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo còn có các nội dung chính như sau:
Chương 1: Quá trình hình thành tầng lớp nông nô
ở Tây Âu thời trung đại
1 Lệ nông thời hậu kỳ đế chế La mã - Tiền thân của nông nô thời trung đại
2 Sự xuất hiện công xã Mác-cơ và quá trình nông nô hoá của người xã viên công xã
Chương 2: Đặc điểm chủ yếu về đời sống của tầng lớp nông nô
ở Tây Âu thời trung đại
2.1 Đặc điểm về đời sống kinh tế
2.2 Đặc điểm về đời sống chính trị, xã hội
Chương 3 : Các cuộc đấu tranh để tự giải phóng của tầng lớp nông nô
ở Tây Âu thời trung đại
3.1 Những hình thức phản kháng đầu tiên chống lại lãnh chúa phong kiến 3.2 Sự tiếp tục của các cuộc đấu tranh giải phóng nông nô thời trung và hậu kỳ trung đại
3.3 Nguyên nhân thất bại và ý nghĩa lịch sử các cuộc đấu tranh của nông nô
LỜI CẢM ƠN
Trang 9Với trình độ của một sinh viên đang tập nghiên cứu các vấn đề nhỏ của khoa học, khả năng nghiên cứu có hạn, nguồn tài liệu khó khăn nên khoá luận này chưa thể đáp ứng đầy đủ yêu cầu đề ra Tuy vậy, với sự cố gắng hết sức của bản thân, nhất là được sự giúp đỡ tận tình và góp ý quý báu của thầy giáo hướng
dẫn Dương Văn Ninh cùng các thầy cô giáo trong tổ lịch sử thế giới cổ trung đại
cũng như sự động viên, khích lệ của các bạn trong lớp, tôi đã hoàn thành bước đầu khoá luận này
Qua đây, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến tất cả các thầy cô giáo trong khoa Lịch Sử Trường Đại học Vinh, và các bạn sinh viên trong lớp, đặc
biệt là sự giúp đỡ quý báu, chỉ bảo ân cần của thầy giáo Dương Văn Ninh -
người đã động viên tôi rất nhiều trong quá trình nghiên cứu khoá luận
Trang 10CHƯƠNG 1 : QUÁ TRÌNH HÌNH THÀNH TẦNG LỚP NÔNG NÔ Ở
TÂY ÂU 1.1 Lệ nông thời hậu kỳ đế chế La Mã - Tiền thân của nông nô thời trung đại
1.1.1 Khủng hoảng của chế độ nô lệ trong đế quốc Tây La Mã
Từ thế kỷ thứ II sau công nguyên trở đi, lãnh thổ của Tây đế quốc La Mã không thể mở rộng thêm được nữa, không những thế lại còn bị đe doạ, La Mã phải quay về lo phòng thủ để đối phó với các cuộc khởi nghĩa của nô lệ và các cuộc tấn công của các tộc người Giéc man Một nguồn lợi lớn của đế quốc là của cải và nô lệ, nhờ những cuộc chiến tranh xâm lược và cướp bóc thì nay không còn nữa Giai cấp chủ nô ngày càng sống xa xỉ, do đó bọn chúng và nhà nước
La Mã càng phải ra sức bóc lột nô lệ và các tầng lớp nông dân bị thống trị Ách bóc lột nặng nề, hành vi tham nhũng của bọn thống trị, cùng các cuộc nội chiến giành nhau quyền lợi giữa các tướng lĩnh luôn luôn xẩy ra, đã phá hoại nghiêm trọng lực lượng sản xuất của xã hội Dân số giảm xuống một cách ghê gớm, cảnh nghèo khổ lan tràn khắp mọi nơi Đế quốc La Mã bước vào thời kì khủng hoảng toàn diện Mọi liên hệ kinh tế giữa các miền bị phá hoại nghiêm trọng Cư dân ở các thành phố ấy rời bỏ về nông thôn để sống và làm nông nghiệp Kinh tế hàng hoá tiền tệ đã từng phát triển trước đây nay nhường chỗ cho nền kinh tế lạc hậu hơn nó – nền kinh tế tự túc, tự cấp Quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ bấy lâu nay đóng vai trò tích cực, tạo nên sự phồn vinh của đế quốc La Mã, đến nay tỏ ra lỗi thời, mất hết tác dụng, không thúc đẩy mà thậm chí còn trở thành lực lượng kìm hãm đối với sự phát triển sản xuất
Tình trạng đó xuất phát từ việc sử dụng đông đảo nô lệ để kinh doanh trực tiếp không còn có lợi nữa Không những thế, còn gặp nhiều khó khăn, nguồn nô
Trang 11lệ ngày càng cạn giá nô lệ lại rất đắt Hơn nữa, trong suốt bao nhiêu thế kỷ đã qua giai cấp nô lệ bị áp bức và bóc lột bởi bọn chủ nô và bị chúng đối xử quá tàn
tệ, mặt khác quý tộc chủ nô dùng nô lệ để cày cấy, nhưng không hề quan tâm đến việc cải tiến phương pháp canh tác Chúng chiếm đoạt toàn bộ thành quả lao động của nô lệ, nhưng không đảm bảo công cụ, tư liệu sinh hoạt tối thiểu cho họ Trên thực tế, dù mâu thuẫn với bọn chủ nô và họ cũng có đấu tranh với chủ nô
để biểu thị ý nguyện của mình nhưng sau đấy thì họ vẫn phải chấp nhận chế độ
xã hội đương thời, chấp nhận thân phận hẩm hiu, nhiều thiệt thòi của mình Do
đó quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ mới tồn tại lâu dài như thế
Nhưng từ thế kỷ III trở đi, thì tình hình không phải như thế nữa Tình trạng ngược đãi người lao động, xem họ như loài trâu ngựa hay dùng roi vọt để cưỡng bức họ làm việc đều không thể nâng cao năng suất lên được, thậm chí năng suất lao động thời kì này bị giảm sút một cách ghê gớm Người nô lệ giờ đây đã chán ngán với kiếp sống khổ sở của mình, vì thế trong mỗi con người của
họ đã không thể có tinh thần tự giác và hứng thú sản xuất Lao động của người
nô lệ lúc này cũng chỉ đủ nuôi sống chính bản thân họ, không còn tạo ra sản phẩm dư thừa như trước đây nữa Bọn chủ nô vì thế cũng không thể bóc lột họ,
dù là rất ít Côlumen, một nhà văn La Mã đã viết như sau : “ nô lệ làm cho năng suất lao động giảm sút nghiêm trọng Họ bị cưỡng bách làm việc như thân trâu ngựa và sống một cuộc đời khổ ải không khác gì loài vật Họ cày cấy bừa bãi, khi gieo hạt, họ cố ý gieo lung tung, làm lãng phí rất nhiều hạt giống, họ gặt lúa đem về sân nhà chủ mà không chú ý xem lúa đã chính chưa Thậm chí trong khi gánh lúa về nhà chủ, họ tìm cách thu giấu lúa đi hoặc cố ý làm rơi vãi lúa ở dọc đường”
Trang 12Vì những lí do trên, với nô lệ, chủ nô không những không bóc lột được
mà còn phải quản lí và luôn luôn lo sợ những hiện tượng chống đối dưới đủ mọi hình thức khác nhau của họ Bài toán đặt ra lúc này cho cả chủ nô và nô lệ là làm thế nào đây để cả chủ lẫn tớ có thể thoát ra khỏi tình trạng bế tắc này? Chế độ lệ nông đã ra đời trong hoàn cảnh lịch sử ấy và cũng chính là lời giải đáp cho câu hỏi đã được nêu ra trong bài toán nói trên
1.1.2 Chế độ lệ nông thời hậu kì đế chế La Mã
Để đối phó với nguy cơ phá sản do sự khủng hoảng của quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ gây ra, bọn chủ nô đã chia trang viên của chúng thành hai phần :
Phần nhỏ (chừng 1/3 hoăc 1/4 diện tích trang viên) được khai thác dựa trên lao dịch không được trả công của những nông dân lệ thuộc Phần đất này do địa chủ trực tiếp quản lí, thu hoạch của nó thuộc về chủ
Đại bộ phận còn lại của trang viên được chia ra thành nhiều mảnh nhỏ để đem phát canh cho những nông dân tự do hoặc đôi lúc cho cả nô lệ nữa
Vào thời kì suy vong của đế quốc La Mã, ngày càng có nhiều nô lệ được cấp như vậy, hoặc được bọn chủ nô giải phóng rồi cho lĩnh canh một phần đất
Những người lĩnh canh đất có nghĩa vụ phải nộp cho chủ một khoản tiền hàng năm Sau này khoản tiền đó được thay thế bằng một khoản tô hiện vật Ngoài ra người nông dân lĩnh canh còn phải tới làm cho chủ một số ngày lao dịch không được trả công: có nơi từ một đến hai ngày trong một tuần lễ; có nơi
từ 6 đến 12 ngày trang một năm Người ta gọi mối quan hệ đó là chế độ lệ nông Những người lĩnh canh ruộng đất của lãnh chủ được gọi bằng một tên chung là
“lệ nông” Theo Ănghen: “lệ nông ấy là tiền thân của nông nô thời trung đại”.{7,488}
Trang 13Thực ra, ngay từ thế kỷ thứ II, người ta đã có cách nhìn mới về người nô
lệ Người nô lệ dần dần được xã hội xem là con người bằng xương bằng thịt chứ không phải là công cụ biết nói nữa Để bảo vệ nguồn nhân lực, các hoàng đế Adrien (117-138) và Antôni (138-161), đã ban hành các sắc lệnh cấm chủ nô không có quyền giết hại lệ nông mà chỉ có quyền truy bắt và trừng trị những lệ nông trốn khỏi trang viên của chủ, lệ nông không được quyền rời bỏ ruộng đất của chủ để đi nơi khác Pháp luật đã cột chặt họ vào ruộng đất Khi chủ bán ruộng đất đi thì đồng thời bán theo cả gia đình người lệ nông canh tác trên mảnh đất ấy Để bảo vệ nguồn nhân lực đang khan hiếm, bọn chủ nô ngăn cấm các cuộc hôn nhân giữa những người lệ nông không cùng một chủ Thậm chí những cuộc hôn nhân đó không được coi là hoàn toàn hợp lệ mà chỉ được coi là một trường hợp cùng ăn ở chung với nhau mà thôi, cũng như hôn nhân giữa những người nô lệ vậy Ngoài nghĩa vụ đối với chủ, lệ nông còn phải nộp thuế và làm lao dịch cho nhà nước
Cả lệ nông và nô lệ được cấp đất đều là những người trực tiếp sản xuất của
xã hội Tuy không có quyền sở hữu đối với tư liệu sản xuất chính là ruộng đất,nhưng lệ nông có quyền chiếm hữu cha truyền con nối mảnh đất mà họ lĩnh canh của chủ Trên thực tế những nô lệ được cấp đất cũng được hưởng quyền đó (dù không được pháp luật thừa nhận) Bởi vì ở thời kì này và sang cả thời kì trung cổ, nguồn nhân lực trở nên khan hiếm, nếu không có người canh tác, đất sẽ trở nên vô giá trị, nói đúng hơn là chủ đất rất cần đến sức lao động của lệ nông
để tránh đất bỏ hoang, cần người canh tác sản xuất, ngược lại lệ nông lại cần công cụ, ruộng đất và súc vật Do đó, chủ đất vẫn để cho anh ta có quyền chiếm hữu, không dám đuổi gia đình anh ta ra khỏi mảnh đất đó, nghĩa là cả hai bên đều cần đến nhau để cùng tồn tại
Trang 14Lệ nông cũng có một số tài sản riêng, được tự do kinh doanh trên phần đất của mình, và được quyền sử dụng số thu hoạch trên phần đất đó sau khi đã nộp
đủ các khoản tô thuế cho chủ Bởi điều mà chủ nô quan tâm là cuối vụ anh ta phải nộp 1/3 thu hoạch cho họ Vì vậy nếu tăng năng suất lao động lên cao thì phần sản phẩm mà anh ta được quyền hưởng sẽ nhiều lên, đời sống gia đình anh
ta sẽ khá giả hơn
Như vậy, lệ nông không khác nô lệ là mấy, chỉ là biến hình của nô lệ Họ vẫn bị gắn chặt vào ruộng đất, không được kết hôn với người tự do Ngoài ra họ cũng không được gia nhập quân đội nếu chủ không cho phép, họ chỉ được chiếm hữu mà không có quyền sở hữu tài sản, không được bán sản phẩm thừa Nhưng những gì mà lệ nông được hưởng thực sự đã đảm bảo mức sống tương đối dễ chịu hơn so với cuộc đời nô lệ Chính điểm này là nguyên nhân khiến cho chế độ phong kiến có thể tạo ra một năng suất lao động lớn hơn năng suất lao động dưới chế độ chiếm hữu nô lệ và số của cải của xã hội phong kiến cũng nhiều hơn so với xã hội chiếm hữu nô lệ Không những thế phương thức quản lí của lãnh chủ đối với người lệ nông và phương thức phân chia sản phẩm giữa lãnh chúa với lệ nông cũng tiến bộ hơn những phương thức được tiến hành dưới chế độ chiếm hữu nô lệ La Mã
Lệ nông đã ra đời và địa vị kinh tế xã hội của người trực tiếp sản xuất có
sự thay đổi Bên cạnh việc nô lệ nhận lĩnh canh của chủ nô để sản xuất biến thành lệ nông thì nhiều nông dân tự do đã tìm đến đại địa chủ để xin "bảo hộ” Muốn được “bảo hộ”, những người nông dân phải đem ruộng đất của họ hiến cho tên địa chủ đó và biến thành lệ nông của y
Trang 15Lợi dụng tình trạng hỗn loạn của xã hội và địa vị đặc quyền của mình, bọn đại địa chủ đã tổ chức ra quân đội riêng để bảo vệ trang viên và giữ gìn trật tự an ninh Chúng có quyền xét xử, giam cầm nông dân Thế lực của chúng ngày càng mạnh có xu hướng thoát li khỏi sự kiểm soát của chính quyền trung ương Chúng
ra sức mở rộng chế độ “bảo hộ” để cướp đoạt tài sản của nông dân và nô dịch họ Chúng dần dần trở thành những ông vua nhỏ trong trang viên của chúng Nếu gọi
lệ nông là tiền thân của nông nô thời trung cổ thì cũng có thể gọi tên đại địa chủ này là tiền thân của những lãnh chuá phong kiến tương lai
Nói tóm lại, từ thế kỷ thứ III, chế độ chiếm hữu nô lệ ở đế quốc La Mã bước vào giai đoạn khủng hoảng suy tàn Từ trong lòng đế quốc La Mã đang suy tàn ấy, một quan hệ sản xuất mới đã nảy sinh ngày càng lớn mạnh lên Nó đẩy lùi chế độ cũ và thay thế dần sang một thời kì lịch sử mới: Thời kì hình thành và phát triển của chế độ phong kiến Chế độ lệ nông chính là bước quá độ của sự chuyển biến lớn lao đó Tuy nhiên sự chuyển biến ấy không diễn ra một cách bằng phẳng mà nó là kết quả một quá trình lâu dài và bất khuất của quần chúng chống lại những kẻ đã áp bức bóc lột họ
1.2 Sự xuất hiện công xã Mác-cơ và quá trình nông nô hoá của người xã viên công xã
1.2.1 Sự thành lập các vương quốc“Man tộc”của người Giec man trên
lãnh thổ đế quốc Tây La Mã
Từ nhiều thế kỷ trước công nguyên, phía Đông đường biên giới sông Ranh
và sông Đa-nuýp của đế quốc La Mã đã là địa bàn sinh hoạt của các bộ lạc người Giec man: người Ia-ra-niêng, người Xlavơ, người Hungnô Người La Mã gọi
Trang 16chung họ bằng cái tên khinh miệt là “man dân” Các tác giả cổ đại như Xêda, Taxit và những người khác đã để lại những tác phẩm miêu tả đời sống sinh hoạt
và phong tục của người Giec man cổ đại Vào thời kì Xêda (thế kỷ I trước công nguyên) người Giec man còn ở trong tình trạng lang thang du mục, sống chủ yếu bằng nghề săn bắn, chăn nuôi và nông nghiệp đốt rẫy.Từ thế kỷ thứ III đến thế
kỷ thứ V, người Giec man có những tiến bộ nhanh chóng hơn nữa Nông nghiệp
và thủ công nghiệp có nhiều chuyển biến nhanh chóng Chế độ sở hữu ruộng đất vẫn nằm trong tay tập thể thị tộc , nhưng việc sử dụng lại giao cho các gia đình
cá thể chứ không phải là cộng đồng gia tộc lớn như trước nữa Chế độ công xã nguyên thuỷ của người Giec man đang trong quá trình tan rã Cùng với sự phát triển của kinh tế và sự gia tăng dân số nhanh chóng, người Giec man đặt ra yêu cầu mở rộng thêm đất đai để sinh sống
Chính vì vậy , trên thực tế từ những thế kỷ II sang thế kỷ III, một số bộ lạc người Giec man đã di cư vào lãnh thổ đế quốc La Mã như người Vi-xi-gôt (Tây-gôt), người Ô-xtơ-rô-gốt (Đông-gốt), người Phrăng và nhận làm bạn
“đồng minh” của La Mã Giữa họ và người La Mã đã từng có quan hệ trao đổi, mua bán và những cuộc xung đột ở vùng biên giới Nhiều nô lệ, lệ nông ở đế quốc La Mã có nguồn gốc là các tù binh người “Man tộc” bị bắt trong các cuộc chiến tranh ở vùng biên giới
Lúc bấy giờ nhà nước La Mã còn đủ sức mạnh để chế ngự được những
“man dân” đã vào sống trong lãnh thổ của mình và ngăn chặn được các cuộc xâm lăng từ ngoài tới Nhưng rõ ràng, lãnh thổ La Mã không còn là khu vực đóng kín đối với các bộ lạc người Giec man nữa Giữa thế kỷ thứ IV các bộ lạc
Trang 17du mục Hung nô ào ạt xông vào cướp phá tàn sát nhân dân khu vực Đông và Nam Âu, gây ra sự rối loạn lớn khắp trong và ngoài đế quốc La Mã
Cuộc di chuyển lớn của các tộc người Giec man được diễn ra đúng vào lúc
đế quốc La Mã đang suy sụp nghiêm trọng, trong tình trạng “bần cùng hoá phổ biến, công thương nghiệp và nghệ thuật thụt lùi, số dân giảm sút, thành thị tiêu điều, nông nghiệp sút kém " {7,486-487 Nô lệ, lệ nông và dân nghèo trong đế quốc La Mã từ lâu bị giai cấp chủ nô La Mã thống trị, bóc lột nặng nề đã đón chờ những người "Man tộc" xâm nhập như những vị cứu tinh của mình, họ đã chạy sang phía người "Man tộc", một số tham gia vào quân đội của người "Man tộc", mở cửa thành của người La Mã cho người "Man tộc" kéo vào, vì thế người
"Man tộc" đã dễ dàng đột nhập vào đế quốc La Mã và chiếm hết các vùng đất đai này đến vung đất đai khác và lập ra những vương quốc của họ Vương quốc
"Man tộc" được thành lập đầu tiên là vương quốc Vi-si-gốt (Tây gốt ) năm 419 chiếm miền Nam xứ Gôlơ và Tây Ban Nha Tiếp đó là vương quốc Văngđan chiếm Bắc Phi và các quần đảo phía Tây Địa Trung Hải, vương quốc Buốc-gông-đơ ở miền Đông Nam xứ Gô-lơ, vương quốc Phơrăng ở miền Đông Bắc xứ Gô-lơ, vương quốc Ănggôlơ-xăc-xơn chiếm bán đảo Britên Tất cả các vương quốc "Man tộc" này đều thuộc tộc Giec man Và năm 476 lãnh tụ quân sự của người Giec man là Ô-đô-a-crô đã phế truất hoàng đế cuối cùng của đế quốc Tây
La mã là Rô-mu-lut Au-gu-xtu-lut rồi tự xưng làm vua, đồng thời cũng xoá bỏ
bộ máy chính quyền tối cao của đế quốc Tây La mã Sự kiện này đánh dấu sự diệt vong hoàn toàn của đế quốc Tây La mã Một giai đoạn lịch sử đã kết thúc và
từ đây Tây Âu bước sang một thời đại mới, thời đại chế độ phong kiến
1.2.2 Công xã Mác-cơ và quá trình nông nô hoá của người xã viên công xã
Trang 18Vậy là đế quốc La Mã vốn thống nhất, hùng cường và mạnh mẽ trước đây nay lại bị chinh phục bởi những người thường bị nó khinh miệt Khi đế quốc Tây
La Mã bị diệt vong và các vương quốc "Man tộc" thành lập, thì cơ sở kinh tế xã hội ở Tây Âu cũng thay đổi Chế độ chiếm hữu nô lệ của đế quốc tây La Mã bị thủ tiêu và chế độ công xã nguyên thuỷ của người Giec man cũng bị tan rã Một
tổ chức kinh tế xã hội mới được thành lập trên cơ sở những mầm mống quan hệ sản xuất mới được kết hợp với trình độ , kinh nghiệm của người ngoại tộc
Cuộc xâm nhập của người "Man tộc" đã tiêu diệt hoàn toàn các điền trang của chủ nô La Mã sử dụng sức lao động nô lệ, lệ nông và phá huỷ hầu hết các đô thị hoạt động công thương nghiệp Tất cả hoạt động kinh tế ở các vương quốc
"Man tộc" đều tập trung ở nông thôn, lấy trồng trọt và chăn nuôi làm cơ sở, thủ công nghiệp chỉ là nghề phụ trong nền kinh tế
Sau khi xâm nhập vào đế quốc La Mã, người "Man tộc" chiếm đoạt ruộng đất của người La Mã Với những công cụ lao động và phương pháp canh tác đã
có ít nhiều cải tiến Các gia đình cá thể cày cấy riêng rẽ, sản phẩm thu được có thể đủ nuôi sống gia đình họ Vì thế, ruộng đất cày cấy chiếm đoạt được của địa chủ chủ nô La Mã, người Giec Man đem phân chia cho các gia đình cá thể Trong thời gian di cư và chiến tranh lâu dài, các thành viên thị tộc của các thị tộc khác nhau của người Giec man thường bị xáo trộn, họ sống lẫn lộn với nhau không theo quan hệ huyết thống nữa mà theo quan hệ láng giềng Những người này sống với nhau trong các làng xóm lập thành các công xã nông thôn “Mác-cơ” Như thế có nghĩa là chế độ công xã nguyên thuỷ của người Giéc-man được xây dựng trên cơ sở huyết thống đã bị tan rã Lúc này, một bộ phận của người La
Mã tự do, những người nô lệ và lệ nông được giải phóng cũng tham gia vào tổ
Trang 19chức công xã nông thôn Mỗi một gia đình trong công xã nông thôn được chia phần ruộng để cày cấy được gọi là “đất phần” Nhưng các gia đình này không có quyền sở hữu hoàn toàn với mảnh “đất phần” này: họ không thể mang bán đổi chác hay ban tặng cho người khác Sau mùa màng những ruộng đất cày cấy này lại để làm bãi chăn nuôi công cộng Tất cả mọi dân cư trong làng đều nuôi chung gia súc tại bãi cỏ đó Rừng rú, đồng cỏ, đất hoang, nguồn nước là sở hữu công cộng Những thành viên công xã được tự do đẵn gỗ, săn thú, đánh cá, tát nước tại những đất đai công cộng đó Những người nông dân dưới chế độ phong kiến không thể nào sống hoàn toàn riêng rẻ mà cần phải hợp tác tương trợ nhau trong sản xuất, cho nên đã tổ chức ra công xã nông thôn vừa có tính chất cá thể, vừa
có tính chất tập thể như trên Những người nông dân công xã phải nộp thuế và làm nghĩa vụ binh dịch, lực dịch cho vua "Man tộc" Tuy nhiên giâi cấp thống trị
"Man tộc" thu thuế của nông dân công xã không đến nỗi nặng nề như giai cấp thống trị La Mã đối với bình dân La Mã trước kia
Do sự tiếp xúc thường xuyên với người La Mã, mà những người La Mã này vẫn giữ chế độ tư hữu và mua bán ruộng đất, nên chế độ tư hữu ruộng đất của người "Man tộc" cũng dần dần xuất hiện Trong bộ tộc “Xa-liêng” của người Phơ-răng đã có dấu vết của sự nhượng bán ruộng đất nhưng đến cuối thế kỷ VI đầu thế kỷ VII ruộng đất bắt đầu trở thành tài sản riêng của người được phân phối, có thể đem mua bán, đổi chác, ban tặng hay di chúc cho người khác Tài sản ruộng đất được tự do nhượng lại hay mua bán, như thế gọi là “alơ” hay “đất
tự do” Sự xuất hiện của ruộng đất “alơ” không tránh khỏi làm cho công xã tan rã hơn nữa, và sự phân hoá giai cấp trong xã hội thêm sâu sắc Ph Ăng ghen nhận xét rằng: “Alơ có nghĩa là không tạo ra khả năng, mà còn tạo ra tính tất yếu sự chuyển biến thành cái trái ngược với quyền bình đẳng nguyên thuỷ trong chiếm
Trang 20hữu ruộng đất Từ khi xuất hiện alơ tài sản ruộng đất có thể được tự do, ruộng đất biến thành hàng hoá thì từ khi đó, sự xuất hiện chế độ chiếm hữu ruộng đất lớn chỉ còn là vấn đề thời gian mà thôi” {2,16}
Trên thực tế, chế độ ruông đất phong kiến đã được hình thành, đó là kết quả của quá trình phong kiến hoá, tức là quá trình giai cấp địa chủ thế tục cũng như giáo hội tìm cách để chiếm đoạt ruộng đất của nông dân và biến nông dân công xã tự do và các tầng lớp nhân dân lao động thành nông dân phụ thuộc hay nông nô Cũng trong quá trính đó, xã hội dần dần phân hoá thành hai giai cấp chính: lãnh chúa và nông nô Lãnh chúa là những kẻ thống trị và sở hữu ruộng đất trong tay, còn nông nô là người bị bóc lột, bị lệ thuộc chặt chẽ vào lãnh chúa
Bấy giờ, Phơrăng vốn là một bộ tộc đông đúc và phát triển, họ đã xây dựng nên quốc gia hùng mạnh nhất trong các vương quốc "Man tộc" Ở đó quá trình phong kiến hoá diễn ra là điển hình nhất và thể hiện rõ nét nhất
Dưới triều đại Mêrôvanhgiêng của vương quốc Phơrăng, việc ban cấp ruộng đất cho quý tộc, quan lại và giáo hội cơ đốc giáo ngày càng nhiều Thế lực của quý tộc (quan lại) mạnh hay yếu là căn cứ vào số lượng ruộng và số lượng người thần thuộc của chúng Bọn quý tộc chủ ruộng đất lúc này không thoả mãn với số ruộng đất và người thần thuộc được cấp, luôn tìm cách mở rộng những thái cấp, phong kiến của chúng ở các địa phương tìm cách khống chế nông dân công xã ở bên cạnh Thường thường chúng tổ chức các cuộc đột kích và dùng nhiều thủ đoạn khác như xử án nông dân , đẩy nông dân ra mặt trận làm cho
họ phải phá sản, kiệt quệ, cuối cùng phải nhường lại ruộng đất cho quý tộc Trong công xã nông thôn , sự phân hoá giai cấp cũng dần dần xuất hiện Những
Trang 21xã viên giàu có lợi dụng những khó khăn, thiếu thốn của nông dân nghèo, cho những người này vay mượn gia súc, thóc giống, lương thực và bắt họ lao động trên ruộng đất của chúng để trừ nợ Nếu người nghèo không thể trả nợ đúng hạn, chúng sẽ tước đoạt ruộng đất của họ Như thế là những thành viên công xã giàu
có cũng trở thành chủ sở hữu ruộng đất lớn Nhiều người nông dân không chịu nổi sự áp bức bóc lột của nhà vua, của bọn thân binh và quan toà của nhà vua,
đã đành phải từ bỏ thân phận tự do của mình nhận sự “bảo hộ” của những tên quý tộc lớn hoặc giáo hội ở bên cạnh (bằng cách giao quyền sở hữu ruộng đất của mình cho tên quý tộc đó, rồi nhận lĩnh canh lại ruộng đất đó và phải nộp tô thuế, làm một số nghĩa vụ khác cho tên quý tộc đó) Như vậy quý tộc lớn càng có thêm ruộng đất và nông dân phụ thuộc, trong khi đó số nông dân nộp tô thuế, đi phu, đi lính cho nhà nước giảm đi Kết quả là thế lực của đại quý tộc ngày càng tăng mà quyền lực của nhà nước ngày càng giảm sút
Đến thế kỷ VIII, trong chính sách ban cấp ruộng đất có một sự thay đổi quan trọng Sự thay đổi gắn liền với việc tổ chức lại lực lượng quân đội Lúc đó vương quốc Phơrăng đang bị người Arập ở Tây Ban Nha đe doạ, nên Sác lơ Mác-ten đã tiến hành một cuộc cải cách chính trị - quân sự quan trọng, gọi là cải cách Bê-nê-phi-xi-um, có nghĩa là “vật ban cấp” (có thể dịch là “thái ấp”) Khác với chính sách phong tặng ruộng đất trước kia, chính sách ruộng đất của Sác lơ Mác-ten là chính sách ban cấp kèm theo điều kiện phục vụ quân sự, đất phong chỉ được sử dụng suốt đời chứ không được truyền cho con cháu Nếu bồi thần (người được phong đất) không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quân sự thì ruộng đất
sẽ bị thu hồi
Trang 22Việc thực hiện chế độ phân phong này càng làm cho nông nô phá sản nhiều hơn Từ nay nông dân công xã đã chịu sự thống trị và điều khiển trực tiếp của quý tộc được nhà vua phong cấp, nghĩa vụ của nông dân không những không giảm nhẹ mà còn tăng thêm và nông dân không những phải tham gia đóng góp vào những cuộc chiến tranh do nhà vua tổ chức và điều động bồi thần cùa nhà vua (tức là chúa của nông dân) tham gia mà còn phải phục dịch không thời hạn cho bọn quý tộc địa phương tham lam, tàn bạo của mình Vì thế quá trình mất đất và nông nô hoá của nông dân từ thời kì này trở về sau càng tăng tiến hơn trước
Với lối phân phong này, khởi đầu các đất phong chưa phải là sở hữu có thể thừa kế Theo quy định, nếu tôn chủ (người phong đất) chết thì ruộng đất phải trả lại cho người kế thừa của tôn chủ Sau đó bồi thần muốn nhận lại thái ấp thì phải làm lễ phân phong lại Nếu bồi thần chết mà con của người này đã đến tuổi trưởng thành và muốn kế thừa thái ấp của cha cũng phải làm lễ phân phong lại Như theo một xu thế tất nhiên, bao giờ con cháu của người thần thuộc cũng muốn kế thừa địa vị và đất phong của cha ông Và con cháu của tôn chủ cũng không mấy khi thay đổi tập quán phong lại đó Bởi nghi thức phong lại này có ý nghĩa như một bản giao kèo mới, nhằm khẳng định quyền hạn và nghĩa vụ của tôn chủ và bồi thần với mảnh đất đem phong (tất nhiên quyền lực của chủ là chủ yếu) Hơn nữa, trong mỗi lần phong lại thì bồi thần phải nộp cho tôn chủ một khoản lễ vật gọi là thuế kế thừa Khoản thuế này thay đổi tuỳ theo từng nơi và từng lúc, có khi là một con ngựa chiến với đầy đủ vũ khí và quân trang, có khi bằng toàn bộ thu hoạch trong một năm của lãnh địa hoặc một số tiền tương ứng Như vậy là trên thực tế đất phong đã dần dần biến thành một sở hữu thừa kế thực
sự
Trang 23Đến nửa thế kỷ IX, tuy bồi thần vẫn phải làm nghĩa vụ quân sự nhưng đất phong biến thành những lãnh địa có thể truyền cho con cháu, chỉ không được mua bán , chuyển nhượng mà thôi Lãnh địa Bê-nê-phi-xi-um không có quyền thừa kế đã chuyển thành lãnh địa Phê ô-đum, cha truyền con nối, cũng có thể gọi
là Phi-ép (Fief) hoặc Phê ốt (Fêod) Với hình thức lãnh địa này, thế lực của các lãnh chúa không ngừng phát triển và chế độ ruộng đất phong kiến Tây Âu đã được hình thành
Ngoài ra, giáo hội cơ đốc giáo cũng góp một phần quan trọng vào việc thúc đẩy quan hệ phong kiến ở vương quốc Phơrăng phát triển Đứng đầu giáo hội cơ đốc giáo ở Tây Âu là giáo hoàng La Mã Từ giáo hoàng, giám mục và các
tu viện đều chiếm hữu rất nhiều ruộng đất và cả những người lao động sản xuất phụ thuộc: Bọn vua chúa và quý tộc đã hiến rất nhiều ruộng đất và nông nô cho giám mục và tu viện trưởng để bọn tăng lữ cao cấp này cầu nguyện chúa trời tha thứ cho chúng những tội ác mà chúng đã gây ra, nhằm củng cố thế lực của chúng Còn những người nông dân lao động vô học vì mê tín đã ngây thơ tin tưởng vào những lễ bái, những lời cầu nguyện và những lời dụ dỗ, đe doạ của cha xứ, tu sĩ, đã mang cúng những tài sản cuối cùng của họ cho nhà thờ và tu viện Giám mục và tu viện trưởng còn có rất nhiều ruộng đất bỏ hoang, chúng dùng mưu kế và bạo lực cưỡng bức nông dân quanh vùng khai khẩn ruộng đất cho chúng Nhiều người nông dân nhận sự “bảo hộ” của giáo hội và trở thành nông nô
Do thi hành chế độ phân phong ruộng đất của Sác lơ Mác- ten cho đến Sác-lơ-ma-nhơ cùng với việc chiếm đoạt ruộng đất của những kẻ giàu có đã dẫn đến sự hình thành giai cấp phong kiến đông đảo Đây là giai cấp ít được học văn
Trang 24hoá nhưng lại có tinh thần thượng võ cao Họ lấy việc chiến đấu làm nghề nghiệp, lấy săn bắn, thi võ làm trò tiêu khiển lấy việc đấu kiếm làm biện pháp giải quyết xích mích, mâu thuẫn Chính giai cấp phong kiến ấy là cơ sở của chính quyền nhà vua, để bên trong thì đàn áp các thế lực chống đối, bên ngoài thì gây chiến tranh xâm lược mở rộng lãnh thổ
Cùng với việc hình thành giai cấp địa chủ phong kiến là sự nông nô hoá của những thành viên trong công xã nông thôn Mác-cơ Đến thế kỷ thứ VII công
xã Mác-cơ tan rã, phần lớn thành viên công xã biến thành những người nông dân
tự do có mảnh ruộng đất riêng của mình Ngoài những người nông dân Phơrăng
tự do, lúc bấy giờ còn có những người lao động nông nghiệp làm việc trong các trang viên của địa chủ Rôma cũ Về thân phận họ không thuần nhất mà bao gồm nhiều loại như lệ nông, nông dân nửa tự do, nô lệ Trong ba loại này, lệ nông là tầng lớp đông đảo nhất được nhận một phần đất do chủ giao cho Họ có nghĩa vụ phải nộp tô, nộp thuế thân, phải làm lao dịch, không được rời bỏ ruộng đất Nô lệ làm việc trong các trang viên được chia làm hai loại: Loại thứ nhất gồm những người đầy tớ làm các công việc hầu hạ trong nhà lãnh chúa và những người làm nghề thủ công như thợ làm bánh mì, thợ đóng xe, thợ kim hoàn làm việc trong các xưởng của lãnh chúa Họ bị coi là tài sản của chủ và có thể bị mua bán; loại thứ hai là nô lệ được cấp ruộng đất, họ phải nộp địa tô cho chủ, số sản phẩm còn lại thuộc quyền sở hữu của họ Thế là về danh nghĩa họ vẫn là nô lệ nhưng thực chất họ đã biến thành nông nô Còn nông dân nửa tự do là những người có địa vị cao hơn nô lệ nhưng lại thấp hơn lệ nông Họ cũng được giao cho mảnh đất để canh tác và truyền mảnh đất đó từ đời này sang đời khác Cùng với sự phát triển của phương thức bóc lột phong kiến và sự khác biệt giữa ba loại lực lượng lao
Trang 25động nông nghiệp ấy càng ít đi Họ biến dần thành một tầng lớp có thân phận giống nhau, đó là tầng lớp nông nô
Còn nông dân tự do vào đầu thế kỷ VII là tầng lớp đông đảo nhất trong giai cấp nông dân, nhưng tình hình ấy không duy trì được lâu Do các nguyên nhân như thiên tai mất mùa, gia súc chết không canh tác được, phải nộp thuế khoá nặng nề, phải rời ruộng đồng quê hương để đi làm nghĩa vụ binh dịch Rất nhiều nông dân bị phá sản, phải bán ruộng đất của mình Sau khi không còn tư liệu sản xuất nữa, nông dân chỉ còn cách là lĩnh canh ruộng đất của lãnh chủ để làm ăn và do đó biến thành nông dân lệ thuộc
Những nông dân chưa mất ruộng đất thì vì không chịu nổi sự hạch sách của các quan lại và sự o ép của các lãnh chúa, nên phải đem ruộng đất của mình hiến cho các địa chủ thế tục hoặc giáo hội để nhờ họ che chở, rồi xin nhận lại mảnh đất ấy để cày cấy Nhiều khi để khuyến khích hiện tượng này, ngoài việc giao lại mảnh đất nông dân đã hiến, các lãnh chúa thường cấp thêm cho nông dân một mảnh đất phụ nữa Sau khi hiến ruộng đất rồi nhận lại mảnh đất đó để cày cấy, người nông dân không những đã mất quyền sở hữu trên đất đai của mình mà bản thân mình cũng không còn là người tự do nữa Họ đã biến thành một loại nông dân lệ thuộc tương tự như nông dân nửa tự do và lệ nông và đến thời con cháu họ thì hoàn toàn biến thành nông nô
Như vậy là, cũng như cư dân lao động bản địa đến đây phần lớn nông dân
tự do người Phơrăng đã biến thành nông nô Tầng lớp này mang những đặc điểm gì? Chương 2 của khoá luận sẽ làm sáng tỏ điều đó
Trang 26CHƯƠNG 2: ĐẶC ĐIỂM CHỦ YẾU VỀ ĐỜI SỐNG CỦA TẦNG LỚP
NÔNG NÔ Ở TÂY ÂU THỜI TRUNG ĐẠI
Xã hội loài người từ khi có giai cấp và nhà nước là xã hội có sự phân chia giữa kẻ giàu và người nghèo, kẻ thống trị và người bị trị Trong xã hội có giai cấp đầu tiên - xã hội chiếm hữu nô lệ, thống trị xã hội là giai cấp chủ nô, chúng
có quyền sở hữu hoàn toàn đối với giai cấp bị trị-nô lệ Suốt hàng ngàn năm, tình cảnh nô lệ vẫn như lúc đầu, vẫn cảnh sống nhọc nhằn mà họ thường chịu và bên cạnh họ những công cụ sản xuất thô sơ nặng nề mà suốt thời kì cổ đại hầu như không biến đổi hay có chăng chỉ biến đổi rất ít Tuy nhiên từ thế kỷ thứ III đến thế kỷ thứ V trong lòng xã hội chiếm hữu nô lệ mầm mống quan hệ sản xuất phong kiến đã nảy sinh Quan hệ sản xuất chiếm hữu nô lệ giờ đây đã mâu thuẫn sâu sắc với lực lượng sản xuất mới Sự ra đời của tầng lớp lệ nông là hệ quả của mối mâu thuẫn không điều hoà được ấy Và chính tầng lớp này đã góp phần to lớn vào sự tan rã của phương thức sản xuất chiếm hữu nô lệ
Ở Tây Âu, chế độ phong kiến ra đời là sản phẩm của sự tan rã chế độ chiếm hữu nô lệ của đế quốc La Mã với sự xâm nhập của bộ tộc Giec man Trong xã hội đó thay thế cho giai cấp chủ nô, kẻ thống trị xã hội là quý tộc phong kiến (hai bộ phận: quý tộc tăng lữ và quý tộc vũ sĩ) Bất cứ giai cấp thống trị nào trong xã hội có phân chia giai cấp cũng đều độc chiếm nguồn tư liệu sản xuất cơ bản để bóc lột giai cấp bị trị Ở đây, giai cấp quý tộc phong kiến chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội: ruộng đất và người sản xuất chủ yếu- nông nô
Trang 27Một vấn đề đặt ra là tại sao những người nông dân công xã Mác-cơ, canh tác tự do đất đai lại có thể biến thành người lệ thuộc lãnh chúa phong kiến dưới hình thức nông nô?
Quá trình phong kiến hoá diễn ra (điển hình ở vương quốc Phrăng - mục 1.2 2) đã biến tất cả các giai cấp và tầng lớp trong xã hội thành hai giai cấp cơ bản trong xã hội: Lãnh chúa và nông nô Đó là quá trình tròng vào cổ những người nông dân công xã một sự lệ thuộc hoàn toàn mới Nhưng người nông nô không chỉ xuất thân từ nông dân công xã mà họ còn có nguồn gốc, có thể là những lệ nông hay những người nô lệ của xã hội chiếm hữu nô lệ cũ Dù xuất thân từ giai cấp nào, cuối cùng theo cơn lốc của qúa trình phong kiến hoá của xã hội phong kiến Tây Âu thời sơ kì trung đại đã trở thành một giai cấp duy nhất - người sản xuất chủ yếu của xã hội phong kiến - giai cấp nông nô
Thời sơ kì và đầu trung kì, lực lượng sản xuất còn thấp, việc sản xuất và trao đổi hàng hoá còn rất hạn hữu và kinh tế hàng hoá hầu như không diễn ra Người sản xuất chủ yếu thời kì này là nông nô Tư liệu sản xuất chủ yếu là ruộng đất Lãnh chúa phong kiến chiếm đoạt ruộng đất đó bằng bạo lực để nắm quyền
sở hữu ruộng đất Ruộng đất đó, địa chủ giao cho nông nô sản xuất Người nông
nô trong thực tế là người chiếm hữu đất (sử dụng suốt đời và thừa kế cho con cháu) Vì thế lãnh chúa phải thực hiện cưỡng bức siêu kinh tế đối với người nông dân, phải lệ thuộc người nông dân bằng cách gắn họ vào ruộng đất Người nông
nô không những phải sản xuất ra đủ sản phẩm để nuôi sống mình và gia đình mà còn phải có sản phẩm nộp cho lãnh chúa (dưới hình thức địa tô phong kiến)
Phương thức bóc lột mới này đã nới rộng tình cảnh người sản xuất – nông
nô - hơn đối với nô lệ, phù hợp với hoàn cảnh xã hội sau khi chế độ nô lệ bị giải
Trang 28thể Tuy nhiên sự lệ thuộc là không thể tránh khỏi Các Mác đã phân tích sự lệ thuộc của nông dân thời trung đại như sau: “Vào thời trung đại mù tối Châu Âu chúng ta không thấy con người độc lập, mà thấy tất cả mọi người đều lệ thuộc lẫn nhau, nông nô và lãnh chúa, chư hầu với tên chủ phong kiến, người thường tục và thầy tu Sự lệ thuộc đó của bản thân con người vừa đặc trưng cho quan hệ
xã hội của đời sống vật chất, vừa đặc trưng cho tất cả các lĩnh vực khác của đời sống dựa trên sự lệ thuộc đó Và chính vì xã hội dựa trên sự lệ thuộc đó của bản thân con người, nên tất cả các quan hệ xã hội đều là quan hệ giữa người với người Do đó các thứ lao động khác nhau và sản phẩm của các thứ lao động ấy đều không mang một bộ mặt hư ảo nào khác với tính hiện thực của mình Những lao động đó biểu hiện dưới hình thức công dịch thuế má và nộp tô hiện vật, ở đây hình thái kinh tế tự nhiên của lao động, tính riêng bệt của lao động chứ không phải tính chung, tính trừu tượng như trong sản xuất hàng hoá, cũng đồng thời là hình thái xã hội của họ”.{4,112-113}
Trong xã hội phong kiến, nông nô đã lệ thuộc vào lãnh chúa như thế nào? Những đặc điểm đời sống kinh tế, chính trị, xã hội sẽ làm sáng tỏ mối quan hệ đó
2.1 Đặc điểm về đời sống kinh tế
2.1.1 Tính chất tự cung, tự cấp và phụ thuộc vào lãnh địa phong kiến của người nông nô
Đặc điểm của nền kinh tế tầng lớp nông nô ở Tây Âu là nền kinh tế mang tính chất tự nhiên, tự cấp, tự túc và chịu sự phụ thuộc vào lãnh địa phong kiến Đây cũng chính là cơ sở cho chế độ nông nô ra đời và tồn tại
Trong thời kì thống trị của chế độ phong kiến – nông nô ở Tây Âu nền kinh tế gồm hai bộ phận: kinh tế của lãnh địa phong kiến và kinh tế cá thể của
Trang 29nông dân Giữa nền sản xuất lãnh địa (của chủ) và nền sản xuất của nông dân có
sự tách rời nhau Tuy nhiên nông nô lại là lực lượng sản xuất chính trên cả hai bộ phận đó Tính chất tự cung, tự cấp và sự phụ thuộc của nông nô gần như tác động qua lại lẫn nhau
Trong từng hộ gia đình, người nông nô đã tự sản xuất ra bánh mì, sợi, tơ lụa, quần áo … nhằm phục vụ cho tiêu dùng trong đời sống sinh hoạt Đó là những sản phẩm lao động của người nông nô chứ không phải là sản phẩm hàng hoá Những công việc tạo ra sản phẩm đó của nông nô là: Cày ruộng, chăn nuôi, kéo sợi may vá…tất cả đều ở hình thái tự nhiên Phải nói rằng, mọi thứ cần dùng cho cuộc sống của mình, người nông nô đều tự sản xuất ra trên “đất phần” của họ
Tính chất tự nhiên của nền kinh tế còn biểu hiện rõ nét ở sự đa dạng trong nghĩa vụ lao dịch mà họ phải gánh vác Chẳng hạn như nông nô phải cày ruộng cho chủ, gieo hạt, bừa, cuốc cỏ cho đất, gieo mạ, cắt cỏ, thu rạ, bó lúa … Nông
nô không chỉ thực hiện lao dịch trong nông nghiệp mà cả trong thủ công nghiệp nữa Người nông nô -thợ thủ công hàng tuần phải thực hiện làm mới và sửa chữa những công cụ sản xuất của lãnh địa, làm đồ gông cùm cho chúa phong kiến Bằng mọi cách quý tộc phong kiến cố gắng sản xuất được mọi thứ cần dùng trong lãnh địa mà không cần mua bán, đổi chác với bên ngoài
Các sản phẩm nông nghiệp và thủ công nghiệp mà nông nô đem nộp cho lãnh chúa dưới hình thức địa tô cũng thể hiện tính chất tự nhiên của nền kinh tế Một số giáo chủ mỗi năm thu được 5787 con gà mái, 3865 quả trứng, vì mỗi hộ nông nô phải nộp cho chúng ít nhất một con gà, 15 quả trứng Địa tô hiện vật [xem mục 2.1.3] mà người nông nô nộp cho chủ của mình có nến, bột mì, vải, thùng, đinh, ván gỗ, sắt…thậm chí ngay người quản lý lãnh địa (thường được lấy
Trang 30từ nông nô) còn phải nộp đai sắt, người trưởng khu làm vụ phải nộp xà phòng, nến mật ong, đại bàng, ngỗng … Ngoài ra các loại thuế mà người nông nô nộp cho lãnh chúa phong kiến, từ thuế thân, thuế cưới xin, thuế kế thừa tài sản, thuế
xử án … đều được tính bằng hiện vật Ngay cả những khoản “phạt” nông nô vì tội gì đó như tội có cối xay tay, có lò bánh riêng cũng phải nộp phạt bằng hiện vật Chẳng hạn người nào vi phạm độc quyền nướng bánh mì của lãnh chúa thì
bị tịch thu bánh mì, vi phạm độc quyền xay bột thì không những tịch thu bột mà tịch thu cả con lừa chở bột
Ngay cả trong thời kì thống trị của địa tô tiền (xem mục 2.1.3) thì nền kinh
tế của tầng lớp nông nô cũng mang tính chất tự nhiên Một bộ phận lớn sản phẩm
do nông nô làm ra không chạy ra thị trường Số sản phẩm này một mặt dùng làm
tư liệu tái sản xuất mặt khác dùng làm tư liệu sinh hoạt trực tiếp nên sẽ không biến thành tiền Như vậy, cả hai lĩnh vực quan trọng nhất của đời sống kinh tế: nhu cầu sản xuất và nhu cầu cá nhân của những người sản xuất ở nông thôn đều nằm trong khuôn khổ kinh tế tự nhiên Ăng ghen đã đánh giá : “ Trong nền kinh
tế kiểu sơ kì trung đại, tiền bạc rất ít có tác dụng Tất cả những thứ hắn cần dùng lãnh chúa phong kiến đều lấy ở nông nô hoặc dưới hình thức lao dịch hoặc dưới hình thức thành phẩm Đàn bò kéo và dệt sợi lanh, len và may quần áo, đàn ông làm công việc đồng áng, trẻ con giữ gia súc cho chúa, thu nhặt cho cháu những quả rừng, những tổ chim, ổ rơm cho súc vật Ngoài ra toàn gia đình còn phải nộp lúa mì, trái cây, trứng ,bơ, pho mát, gà vịt…gia súc non, gì gì nữa không kể xiết được Phàm thống trị phong kiến là tự túc, tự cấp ngay cả đạm phụ chiến tranh vẫn nộp bằng hiện vật, buôn bán, trao đổi không có, tiền bạc là một vật thừa”.{6,97-98}
Trang 31Cũng vì tính chất tự cung, tự cấp trong nền kinh tế của nông nô ở Tây Âu thời sơ kì và trung kì trung đại nền kinh tế hàng hoá phát triển vô cùng yếu ớt và nhỏ bé Ở Pháp, việc cấm xuất biên thóc lúa từ tỉnh này sang tỉnh khác, từ vùng này sang vùng khác là hiện tượng thường thấy Vì thế việc buôn bán lúa mì với
tư cách là hoạt động thương mại đặt ra ngoài vòng pháp luật Việc buôn bán phạm vi giữa nước này với nước khác, giữa Tây Âu và Phương Đông hầu như do người Do Thái và Ả Rập đảm nhiệm Nhưng số hàng hoá lưu chuyển trên thị trường rất ít và giá cả lại quá đắt Còn nông nô họ chỉ biết làm việc, sản xuất trên
“đất phần” của mình và đất của lãnh chúa Với hệ thống giao thông của nông nô Tây Âu tồi tàn sự tồn tại của chế độ phong kiến phân quyền cùng hàng trăm lãnh địa biệt lập có chế độ đo lường, thuế khoá , tiền bạc khác nhau … đã cản trở lớn đến sự giao lưu hàng hoá Hơn nữa lãnh chúa phong kiến luôn tìm cách tạo ra sự
ổn định trong nền kinh tế tự nhiên của lãnh địa Nông nô bị bóc lột và lệ thuộc vào lãnh chúa nên yếu tố tự nhiên vẫn luôn chiếm ưu thế
Cho đến khi nền kinh tế hàng hoá tiền tệ phát triển, mạnh nhất là từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XIV trở đi đã làm xáo trộn tính chất ổn định của nền kinh tế tự nhiên trong lãnh địa Tính chất tự cung, tự cấp từng bước bị đẩy lùi và sự phụ thuộc vào lãnh địa cũng dần được nới rộng Khi chế độ nông nô Tây Âu không còn cơ sở để tồn tại, nông nô dần được giải phóng, quan hệ hàng hoá tiền tệ xâm nhập vào cả nông thôn Tây Âu và ngày một phát triển
2.1.2 Người nông nô không có quyền sở hữu ruộng đất , bị gắn chặt vào ruộng đất
Trang 32Một đặc điểm của hình thức sở hữu phong kiến khác với hình thức sở hữu chiếm hữu nô lệ và tư bản chủ nghĩa là ở chỗ: không phải toàn bộ tư liệu sản xuất tách rời khỏi người lao động, nhưng tư liệu sản xuất cơ bản là ruộng đất không thuộc người lao động Tuyệt đại đa số những người lao động trong chế độ phong kiến Tây Âu không có ruộng đất, ruộng đất thuộc sở hữu của lãnh chúa phong kiến (sự sở hữu của nông dân tự do chỉ là một số lượng không đáng kể và như là một hiện tượng giao thời ở sơ kì trung đại)
Thực ra, dưới chế độ phong kiến vua là người đứng đầu phong kiến và là người chủ sở hữu toàn bộ đất đai trong vương quốc Tuy nhiên do chế độ phân phong (đã trình bày ở mục 1.2.2), mỗi chuá phong kiến là một ông vua nhỏ có toàn quyền trong lãnh địa của mình
Cùng với quá trình tập trung ruộng đất trong xã hội vào tay giai cấp lãnh chúa và biến nông dân tự do thành nông nô (quá trình phong kiến hoá), trang viên phong kiến được thành lập ngày càng phổ biến Đất đai của trang viên bao gồm ruộng đất canh tác, bãi cỏ, rừng, ao, hồ, đầm lầy … Nông nô lúc này được chủ giao cho một mảnh đất để cày công cày cấy Vì thế cơ cấu trang viên của bọn quý tộc phong kiến, trong thời kì này vẫn giống như những trang viên ở thời
kì mạt kì đế quốc La Mã Toàn bộ đất đai của trang viên chia làm hai phần: Phần
tự sử dụng của lãnh chúa và phần chia cho nông nô cày cấy Phần thứ nhất do lãnh chúa trực tiếp quản lý gồm lâu đài và các kiến trúc của lãnh chúa, ruộng đất canh tác, vườn nho, đồng cỏ và nhiều nhất là rừng Thu hoạch trên phần đất này đương nhiên thuộc về lãnh chúa Phần thứ hai chủ yếu là đất canh tác, được chia thành nhiều khoanh nhỏ cấp cho các gia đình nông nô lĩnh canh Ngoài phần ruộng ra, mỗi gia đình nông nô còn có mảnh vườn nhỏ để trồng rau cạnh nhà và
Trang 33thu hoạch trên mảnh vườn đó là của nông nô Còn rừng rú, bãi cỏ, đất hoang… thuộc công xã nông thôn Mác cơ trước kia, nay đã bị coi là tài sản của lãnh chúa Nông nô tuy không được sử dụng chúng nhưng vẫn thường phải nộp những khoản thuế nhất định
Diện tích trên phần đất chia cho nông nô cày cấy thay đổi tuỳ theo từng nơi và từng thời kì nhưng là mỗi gia đình lĩnh canh một phần đất rộng từ 10 đến
15 hecta Sở dĩ phần đất định canh rộng như vậy là vì bấy giờ đất rộng, người thưa và phương thức canh tác còn lạc hậu, kĩ thuật sản xuất còn thô sơ Do đó hàng năm người nông nô chỉ cày cấy một nửa hoặc nhiều lắm là 2/3 số ruộng đất
ấy
Như vậy, dù nông nô là lực lượng sản xuất chính nhưng họ không có quyền sở hữu ruộng đất mà quyền sở hữu thuộc về vua và lãnh chúa phong kiến, nông nô chỉ được nhận “đất phần” của lãnh chúa để sản xuất và nộp cho chúng một khoản thuế nhất định Điều này có nghĩa là nông nô chỉ có quyền chiếm hữu ruộng đất mà không được sở hữu nó Do đó, muốn tồn tại nông nô phải bám chặt vào ruộng đất, nhận “đất phần” của lãnh chúa phong kiến và chịu sự lệ thuộc vào chúng “Đất phần” vì thế có thể bị tịch thu bất cứ lúc nào với ý nghĩa bắt họ phải phục tùng Người thừa kế nông nô chỉ nhận đất khẩu phần nếu nộp cho chúa phong kiến một khoản thuế Tất nhiên lãnh chúa phong kiến chỉ tịch thu khẩu phần trong những trường hợp đặc biệt Vì chúng không muốn giải thoát nông dân khỏi ruộng đất mà trái lại là trói buộc họ để có điều kiện bóc lột khi nông nô nhượng hay bán phần canh tác “đất phần” cho người khác thì phải nộp cho chủ một khoản thuế Ở Noóc măngdi, nếu không nộp cho lãnh chúa 1/3 số tiền thu được thì nông nô không được bán ruộng
Trang 34Người nông nô đã nhận “đất phần” để canh tác thì không được rời bỏ lãnh địa của mình mà số phận của họ phải suốt đời phải bám chặt vào đó Khi lãnh chúa phong kiến ban tặng ruộng đất cho nhà thờ, tu viện, thừa kế con cháu hay bán đi bao giờ cũng kèm theo nông dân lệ thuộc sống trên ruộng đất đó
Là người cày cấy đất đai của lãnh chúa phong kiến nông nô phải nhất thiết tuân theo mọi quy định trong những phương thức canh tác của chúng Nếu không được lãnh chúa đồng ý thì nông nô không được thay đổi cách trồng trọt trong nền kinh tế của mình, chẳng hạn như biến ruộng đất thành đồng cỏ Chúng còn quy định nếu không được phép thì nông nô không được bán gia súc của mình, nhất là đối với ngựa và bò
Cuối thế kỷ XIII, khi mà địa tô tiền ngày càng chiếm ưu thế trong các loại địa tô phong kiến thì sự phụ thuộc người nông nô vào ruộng đất trở nên lỏng lẻo
và không cần thiết nữa Sự phát triển của nền kinh tế hàng hoá tiền tệ đã lôi cuốn và dẫn đến nhiều lãnh chúa đồng ý cho nông nô dùng tiền để chuộc lại tự
do Từ đây chế độ nông nô từ từ bị phá hoại
Có thể nói rằng, sự gắn chặt người nông nô với ruộng đất là một trong những đặc trưng của chế độ nông nô ở Tây Âu, và cũng chính là nguồn gốc của bóc lột phong kiến đối với nông dân lệ thuộc Từ chỗ phải nhận “đất phần” để sản xuất, người nông nô đã bị lãnh chúa bóc lột dưới hính thức địa tô phong kiến bằng phương pháp cưỡng bức siêu kinh tế Cụ thể sự bóc lột đó được thể hiện như thế nào?
2.1.3 Nông nô bị bóc lột địa tô phong kiến bằng hình thức cưỡng bức siêu kinh tế