1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ảnh hưởng của sáng tác dân gian trong thơ nôm nguyễn trãi

152 24 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 152
Dung lượng 0,93 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Những kiến thức sâu sắc về triết lý phương đông từ trong ngọn nguồn của kinh điển kết hợp với triết lý của cuộc đời nhiều trải nghiệm của một thi nhân, một người hành đạo đã đem lại cho

Trang 1

Ngay từ khi còn sống và trong suốt quá trình lịch sử sau này, thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được các bậc thức giả, các nhà khoa học tôn vinh và đánh giá cao Văn thơ của ông được bạn đọc các giới quan tâm, được học ở trường phổ thông, được nghiên cứu và giảng dạy ở phạm vi sâu rộng ở bậc đại học

Việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm là rất cần thiết Trên thực tế công việc đó đã đạt được những thành tựu đáng

kể, đặc biệt là vào những thập niên cuối thế kỷ XX Tuy nhiên chưa có một công trình đầy đủ và hoàn chỉnh nào về đề tài "Giá trị đạo đức và giá trị nghệ thuật trong thơ nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm" Để góp phần tập hợp

tư liệu hoàn chỉnh hơn, đáp ứng nhu cầu nghiên cứu giảng dạy học tập một cách có hệ thống những giá trị tư tưởng gía trị nghệ thuật trong thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm, chúng tôi chọn nghiên cứu mảng đề tài này:

"Gía trị đạo đức và giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm"

II Mục đích yêu cầu của đề tài.

Trang 2

Thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm cần được nghiên cứu làm sáng rõ

về các mặt giá trị nội dung và giá trị hình thức Ở phạm vi đề tài này chúng tôi chỉ sẽ tập trung vào các vấn đề chủ yếu:

1 Những nét chính của thời đại có ảnh hưởng đến tư tưởng Nguyễn Bỉnh Khiêm

2 Quan niệm về "đạo đức" và những biểu hiện của gía trị đạo đức trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

3 Mối quan hệ giữa gía trị đạo đức và giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Như vậy, việc giải quyết những yêu cầu của đề tài sẽ góp phần khẳng định một lần nữa gía trị, vị trí thơ văn ông trong tiến trình văn học trung đại nói riêng, văn học dân tộc nói chung, khẳng định được những gía trị chủ yếu và phong cách sáng tác riêng của tác giả Việc giảng dạy văn thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm trong nhà trường phổ thông vì thế thuận lợi hơn

II Lịch sử vấn đề :

Cùng với Nguyễn Trãi, Nguyễn Du Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong những đỉnh cao của thơ ca thời trung đại Thơ ông là sự kết hợp từ chiều sâu chất trí tuệ và thi ca Những kiến thức sâu sắc về triết lý phương đông từ trong ngọn nguồn của kinh điển kết hợp với triết lý của cuộc đời nhiều trải nghiệm của một thi nhân, một người hành đạo đã đem lại cho thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tầm vóc của một nhà thơ lớn thời đaị Thơ ông như một cánh rừng thâm nghiêm linh thiêng thách thức sự tìm kiếm Nguyễn Bỉnh Khiêm là người trí thức trong thơ và là nhà thơ giàu trí thức uyên bác trong nhiều trường hợp, tạo được sự hài hoà giữa chất thơ và chất triết luận

Trang 3

Ngay từ khi nhà thơ còn sống và trong suốt quá trình lịch sử sau này thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được các nhà nghiên cứu tìm tòi đánh giá cao Việc tìm hiểu thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm ngày càng có nhiều thành tựu mới đặc biệt là vào những thập niên cuối thế kỷ XX Các

lễ kỷ niệm và các hội nghi khoa học nhân 400 năm ngầy mất (1585 - 1985), 500 năm ngày sinh (1491 - 1991) Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được tổ chức tai Hà Nội, Hải Phòng, Thành phố Hồ Chí Minh với nhiều tham luận và công trình khoa học mới và nhiều thành tựu trong việc nghiên cứu thơ văn, con người ông Các nhà nghiên cứu Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Huệ Chi, Bùi Duy Tân đã có nhiều đóng góp trong nghiên cứu

Bên cạnh những tìm tòi đánh giá sâu sắc về mảng thơ chữ Hán, mảng thơ chữ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có những nhận xét đánh giá đáng tin cậy của các nhà nghiên cứu Có thể kể ra một số công trình:

1 Đào Thản - Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh

Khiêm trong thơ Nôm, Tạp chí ngôn ngữ, số 1, 1986 - tr 50

2 Đặng Thanh Lê - Từ một phạm trù triết học và một quan niệm

đạo đức của Nho gia đến cảm hứng nghệ thuật "thế sự" trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm, tạp chí văn học số 4, 1986 - tr 111

3 Huệ Thiên - Đời làm quan và nghĩa quân thần của Nguyễn

Bỉnh Khiêm qua thơ quốc âm của ông, Tạp chí kiến thức ngày nay, số 58

ngày 15 / 4 / 1991

4 Ngô Tất Tố Kết luận tóm tắt về bạch vân quốc ngữ thi Tóm

tắt tiểu sử Trích in và phê bình một bài thơ Nôm, thi văn bình chú, QI

Nxb Mai Lĩnh, H, 1952 - tr 51 - 53

Trang 4

5 Nguyễn Hữu Sơn - Góp phần tìm hiểu hình thức câu thơ lục

ngôn trong Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm Tạp chí Văn học, số 3, 1987 -

tr 79

6 Nguyễn Nghĩa Dân - Thơ quốc âm của Nguyễn Bỉnh Khiêm,

Giảng văn, Nxb Đại học và trung học chuyên nghiệp, H, 1982-tr 335-357

7 Nguyễn Quân - Bạch Vân quốc ngữ thi tập Trạng Trình

Nguyễn Bỉnh Khiêm, Nxb Sống mới, S , 1974 - 164 tr

8 Vũ Tiến Phúc - Việt Nam văn học giảng minh, Nxb Anpha, S,

1974 - tr 332- 365 (Thân thế sự nghiệp Nguyễn Bỉnh Khiêm.)

9 Vũ Đức Phúc - Tư tưởng chính trị và xã hội của Nguyễn Bỉnh

Khiêm qua thơ văn của ông, tạp chí văn học, số 4, 1986 - tr 98

10 TrầnVăn Mỹ - Nguyễn Bỉnh Khiêm, một tâm hồn lớn một

nhân cách lớn, tạp chí tác phẩm mới, số 5, 1991 - trang 19

11 Nguyễn Tài Thƣ - Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhà tư tưởng tiêu

biểu của thế kỷ XVI, Tạp chí triết học, số 1, 1986 - tr 50

12 Nguyễn Lộc - Nguyễn Bỉnh Khiêm, con người và văn

chương Báo "Đại đoàn kết", số 26, ngày 18/12/1985

13 Bùi Văn Nguyên - Phan Sĩ Tấn Giáo trình lịch sử văn học

Việt Nam, TậpII, Nxb Giáo dục, H, 1961 - tr228 - 243 (Phần viết của

Bùi Văn Nguyên: Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Nhƣ chúng tôi đã trình bày ở trên, việc tìm hiểu nghiên cứu cuộc đời, thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm đã đƣợc các môn sinh của ông tiến hành ngay từ ở thế kỷ XVI Vũ Khâm Lân, Lê Quý Đôn, Bùi Huy bích (thế kỷ XVIII) và Phan Huy Chú (thế kỷ XIX) ghi chép và chú giải công phu trong các công trình khảo cứu của mình Trải qua hàng trăm năm,

Trang 5

công việc này vẫn được các thế hệ đi sau tiếp tục và có những thành tựu nhất định Phải nói rằng, Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trong vài nhà thơ

cổ Việt Nam mà thơ văn, trước tác được các thế hệ sau ông sưu tầm và gìn giữ một cách đầy đủ nhất so với nhiều tác gia khác Từ những chương mục còn có phần khiêm tốn về số trang trong "Việt Nam văn học

sử yếu xuất bản năm 1943"của Dương Quảng Hàm, đến năm 1945 Chu Thiên đã có hẳn một cuốn sách về "Tuyết Giang phu tử" Đây là cuốn sách đầu tiên nghiên cứu một cách khá công phu và khá tỉ mỉ mọi mặt trong cuộc đời và sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm: hoàn cảnh xã hội thời Lê -Mạc, thân thế, sự nghiệp và đời sống xã hội của Trạng Trình, giá trị nội dung và giá trị nghệ thuật trong sáng tác của ông, những truyền thuyết dân gian về nhà thơ Quốc sách đã trở thành một tài liệu tham khảo quý báu cho công việc nghiên cứu của những người đi sau Mặc dù thế các vấn đề trên chỉ được khảo sát chung ở toàn bộ hệ thống thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm: cả thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm Phần viết

về gía trị đạo đức và giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm đã được đề cập đến nhưng chưa thực sự sâu sắc, kỹ lưỡng và độc lập theo một hệ thống riêng

Cùng với sự phát triển của khoa nghiên cứu văn học ở Việt Nam, phải nói rằng việc nghiên cứu Nguyễn Bỉnh Khiêm một cách đầy

đủ và toàn diện nhất chỉ thực sự diễn ra vào cuối những năm năm mươi của thế kỷ XX Trong các cuốn lịch sử văn học và giáo trình của các trường đại học, các viện nghiên cứu và cá nhân các nhà khoa học đã có những trang viết dày dặn, những phát hiện sắc sảo và nhạy cảm tinh tế về thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm Có thể kể một số chuyên gia về tác giả văn học này như: Hà Như Chi, Nguyễn Đổng Chi, Lê Trí Viễn, Lê Trọng

Trang 6

Khánh, Phạm Văn Diêu, Phạm Thế Ngũ, Bùi Văn Nguyên, Đinh Gia Khánh, Nguyễn Huệ Chi, Bùi Duy Tân

Từ năm 1957, Lê Trọng Khánh và Lê Anh Trà đã cho ra đời một tập chuyên luận có chiều sâu: " Nguyễn Bỉnh Khiêm nhà thơ triết lý"(1)

Cuốn sách đã đề cập một cách sâu sắc đến nhiều vấn đề cốt yếu trong tư tưởng và nghệ thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm bằng một cái nhìn toàn diện không bị gò bó trong những quan điểm cứng nhắc kiểu xã hội học

(1) Nxb Văn hoá

dung tục Ở đây các tác giả đã chỉ ra "những quan niệm về dạo đức của Nguyễn Bỉnh Khiêm đều xuất phát từ quan niệm về vũ trụ và nhân sinh của ông So với thời đại bấy giờ nó có tính chất tương đối tiến bộ, vì tuy trên những cái chung, nó vẫn nằm trong khuôn khổ đạo đức phong kiến, nhưng trong nội dung sâu sắc của nó có những điểm sát với nhân dân, hợp với nguyện vọng và mơ ước của nhân dân Tuy vậy, đạo đức ấy không rèn luyện được nên những con người chiến đấu mà chỉ tạo nên những con người ăn ở hiền lành, tu nhân dưỡng đức, thiên về tiêu cực Đao đức ấy không thúc đẩy cho nền kinh tế hàng hóa phát triển Nó mang nặng thành kiến của giai cấp phong kiến đối với lực lượng kinh tế mới Lòng Nguyễn Bỉnh Khiêm không phải là tấm "lòng vô sự " mà là một tấm "lòng ưu ái" Hành động hành đạo bằng sự răn đời này có tính chất đấu tranh chống lại bọn phong kiến thối nát đương thơì"

Cũng vào năm 1957, các nhà khoa học còn cho ra đời hai bộ sách văn học sử quan trọng, đánh dấu sự trưởng thành của ngành nghiên cứu văn học nói chung và nghiên cứu văn học trung đại Việt Nam nói riêng: cuốn

"Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam" (1) gồm ba tập và cuốn "Sơ khảo lịch sử văn học Việt Nam "(2)

Cả hai cuốn sách đều dành những trang

Trang 7

viết trân trọng viết về Nguyễn Bỉnh Khiêm Việc nghiên cứu một cách công phu phần thơ Nôm và việc đánh giá cao vị trí của Nguyễn Bỉnh Khiêm trong những đóng góp của ông cho sự phát triển thơ Nôm dân tộc đã khiến cho phần viết này của tập sách trở thành nguồn tư liệu tham khảo quan trọng Ở đó tác giả có đề cập đến một số khía cạnh về nội dung "đạo dức và nghệ thuật" Song đó chỉ là những tư liệu có giá trị bổ sung cho một đề tài được nghiên cứu với tư cách là một đối tượng độc

lập về : Giá trị đạo đức và giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh

Khiêm.

(1) Của nhóm Lê Quý Đôn xây dựng xuất bản, (2) Nxb văn - sử - địa

Cũng có thể kể đến tác giả Bùi Văn Nguyên với cuốn "Văn

chương Nguyễn Bỉnh Khiêm " (1) có thể coi là sự kết tinh của người viết trong nhiều năm nghiền ngẫm về nhà thơ lớn của dân tộc Có nhiều chương, đoạn của cuốn sách là những trang viết suất sắc

Cuối cùng phải kể đến là cuốn chuyên luận "Nguyễn Bỉnh Khiêm

- danh nhân văn hoá "(2) được phôi thai từ hội nghị khoa học toàn quốc

về Nguyễn Bỉnh Khiêm nhân kỷ niệm 400 năm ngày mất (1985) và được

ra mắt bạn đọc nhân kỷ niệm 500 năm ngày sinh của ông (1991) Cuốn sách đã tập hợp được bài viết của phần lớn các nhà khoa học nghiên cứu

về Nguyễn Bỉnh Khiêm, đánh dấu bước trưởng thành của giới nghiên cứu văn học trong việc tìm hiểu một tác gia tầm cở của văn học dân tộc

và giải quyết được nhiều vấn đề khoa học do lịch sử đặt ra xung quanh tác gia này Có bài viết của Nguyễn Huệ Chi, Trần Đình Hựu, Đặng Thanh Lê, Trần Thị Băng Thanh, Bùi Duy Tân Các tác giả cuốn sách

đã dặt Nguyễn Bỉnh Khiêm trong một cái nhìn tổng thể nhưng cũng hết sức cụ thể và sinh động, nghiên cứu ông với tư cách một nhà tư tưởng

Trang 8

góp lớn lao cho sự phát triển của lịch sử văn học, tạo ra những săc điệu

và bước ngoặt trong thơ cổ điển dân tộc Qua các công trình nghiên cứu

về thân thế và sự nghiệp văn chương Nguyễn Bỉnh Khiêm, nhận thấy ông chịu ảnh hưởng của nhiều tư tưởng nhưng về cơ bản ông vẫn là một nhà Nho Chính vì thế quan niệm, cái nhìn của ông về đạo dức là tiếng nói của cái ta chung chứ không phải của cái tôi Ông nhìn nhận và lý giải các hiện tượng của cuộc sống với cái nhìn biện chứng Nhưng với lý tưởng nhân văn của một ẩn sĩ đứng cao hơn cuộc đời, muốn cứu vớt chúng sinh, ông lại định giải trừ mâu thuẫn bằng biện pháp "tu tâm dưỡng tính " để

(1) Nxb Hải Phòng, 1988 (2) Nguyễn Huệ Chi chủ biên, Bộ văn hoá - thông tin và thể thao - Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1991

con người trở lại với bản tính nguyên sơ Đó là cách kiến giải có tính hai mặt trong văn thơ và con người ông

Các công trình nghiên cứu ở trên, như chúng ta thấy trong tiêu mục, vấn đề "Giá trị đạo đức và giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm" không được đề cập với tư cách là một đối tượng độc lập Chúng ta chỉ có thể tìm thấy một khía cạnh nào đó của đề tài này mà thôi Tìm hiểu vấn đề một cách kỹ càng, có hệ thống độc lập, chúng tôi qua đề tài này mong muốn sẽ tiếp tục tìm hiểu và góp phần hoàn thiện những đánh giá về giá trị thơ văn ông Nội dung cần tiếp tục

tìm hiểu theo hệ thống hoàn chỉnh sẽ chủ yếu làm nổi bật: Giá trị đạo

đức và giá trị nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Có thể nói một số khía cạnh của vấn đề đã phần nào nghiên cứu đầy đủ và công phu Tuy nhiên trong số đó vẫn còn khá nhiều vấn đề chưa có sự nhìn nhận đánh giá thống nhất Bản thân công việc hệ thống

Trang 9

trị nghệ thuật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm" của chúng tôi chắc

chắn là không đầy đủ Như những gì đã có trong ý kiến kể trên rõ ràng là những ý kiến có tính chất gợi ý chứ chưa có cái nhìn hệ thống, toàn diện Các công trình, bài viết thường dừng lại ở một vài khía cạnh cụ thể hoặc nhiều khi chỉ là những ý kiến liên hệ tạt ngang

Do đó, đề tài của chúng tôi cố gắng nhìn nhận đối tượng nghiên cứu một cách sâu hơn, toàn diện hơn Cố nhiên luận văn của chúng tôi coi những kết quả của những người đi trước là những tiền đề quan trọng nhằm định hướng cho công việc nghiên cứu tiếp theo

IV Đối tượng và phạm vi, phương pháp nghiên cứu :

1 Đối tượng :

Đề tài chọn mảng thơ văn Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm để khảo sát Tuy nhiên trong quá trình thực hiện người viết vẫn quan tâm chú ý tới phần thơ văn chữ Hán của ông (các phần có nội dung liên quan được sử dụng như những dẫn chứng để đối sánh)

Trang 10

Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp

Phương pháp thống kê, miêu tả

Ngoài ra đề tài còn được vận dụng bằng một số phương pháp

Chương II Giá tri đạo đức trong thơ nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

ChươngIII Mối quan hệ giữa giá trị đạo đức và giá trị nghệ thuật trong

thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

B PHẦN NỘI DUNG Chương I: Thời đại - Con người - Sự nghiệp văn chương

Nguyễn Bỉnh Khiêm

I Thời đại:

1 Vào thế kỷ XVI, đất nước ở vào tình trạng rối ren Nhà Lê đã trở nên

ruỗng nát Năm 1503, Lê Hiến Tông (1497 - 1503) qua đời, thời kỳ

hoàng kim của nhà Lê vụt tắt Đây cũng là cột mốc kết thúc giai đoạn

được coi là thịnh trị nhất của nhà nước phong kiến theo thể chế Nho giáo

ở Việt Nam Trong vòng 24 năm (1503 - 1527), nhà Lê thay đổi đến 6

ông vua Có người ở ngôi vừa được 6 tháng (Lê Túc Tông), có người ở

ngôi đúng 3 ngày (Quang Trị) Tình hình chính sự rối ren, các phe phái

trong triều tranh giành nhau quyết liệt đến một mất một còn Bản thân

Trang 11

những người đứng đầu vương triều - các hoàng đế nhà Lê - lại đều là kẻ bất tài vô hạnh Các sử gia đã coi hai vua Uy Mục và Tương Dực là "nỗi kinh hoàng" của lịch sử Việt Nam Lê Uy Mục làm vua từ 1505 - 1509, say rượu giết cung phi và mổ bụng hoàng tộc, lấy đầu sư để dóc mía Sứ thần Trung Quốc gọi là vua quỷ "Vận mệnh An Nam kéo dài 400 năm như thế không biết ý trời ra làm sao mà lại sinh ra tên vua Quỷ"; Lê Tương Dực làm vua từ 1510 - 1516, hoang dâm vô độ Sứ thần Trung Quốc gọi là "vua lợn." "Nhà vua tính hiếu dâm như tính lợn loạn vong không còn lâu nữa" Giai cấp phong kiến bắt đầu suy yếu phản động, thời kỳ này mặc dù không có giặc ngoại xâm nhưng rất nhiều cuộc nội chiến do các tập đoàn phong kiến gây ra Tầng lớp thống trị nhà Lê, như trên đã nói, ngày càng có những biểu hiện xa hoa đồi truỵ vì lợi ích ích

kỉ mà xâu xé nhau

2 Và điều tất yếu đã phải xảy đến, nhà Lê mất ngôi về tay một vị quyền thần: Mạc Đăng Dung Mạc Đăng Dung là một võ tướng của nhà Lê đã khéo tranh thủ sự chia rẽ trong triều đình để kết bè đảng và thâu tóm quyền bính Năm 1527 ông bắt vua Lê nhường ngôi cho mình và lập ra triều Mạc Sử gọi là Bắc triều Quyền bính chuyển sang nhà Mạc bất chấp lòng người vẫn ngưỡng mộ, luyến tiếc nhà Lê bởi chiến công cứu nước của Lê Lợi và những năm tháng thịnh trị thời Lê Thánh Tông Nhà Mạc cũng mất mươi năm mới đưa được đất nước trở lại thế ổn định để cho kinh tế, văn hoá có cơ hôi phát triển, chế dộ phong kiến tiếp tục con đường của nó mà không chịu chung số phận với vương triều nhà Lê và nhà Mạc đã thành công ở mức độ nhất định Các sử gia thời Lê trung hưng, thời Nguyễn dù vẫn coi nhà Mạc là "nguỵ triều" nhưng vẫn phải công nhận cảnh tượng thái bình dưới thời Mạc Dăng Doanh Điều đặc biệt là thời này văn hoá cũng phát triển Điêu khắc, kiến trúc, đồ gốm

Trang 12

đều có nhiều thành tựu và có bản sắc riêng của thời đại Các khoa thi mở đều đặn, thu hút được nhiều nhân tài, cả những kẻ sĩ đã có quá trình đào tạo dưới thời Lê sơ Nhà Mạc cho phát triển nghề buôn, đời sống nhân dân có khấm khá hơn, cởi mở hơn nhưng đồng tiền cũng phát huy mặt trái của nó

Từ 1553 trở về trước, có thể nói đó là những năm tương đối ổn định, thịnh đạt của triều Mạc trước yêu cầu của lịch sử, triều Mạc cũng bắt đầu bộc lộ những mặt bất lực và hạn chế Triều Mạc thay thế triều Lê những không giử vững được chính quyền Trung ương và quốc gia thống nhất để cho từ 1533, các thế lực phong kiến thù địch, dưới danh nghĩa phù Lê, xây dựng lực lượng và thành lập chính quyền riêng ở Thanh Hoá: Một viên tướng nhà Lê là Nguyễn Kim đã lập một người vốn dòng dõi nhà Lê lên làm vua (Lê Duy Ninh), lấy danh nghĩa phục hồi nhà Lê

là Lê trung hưng cai quản từ Thanh Hoá trở vào Sử gọi là Nam triều vua

Lê chỉ là danh nghĩa, thực ra quyền nằm trong tay Nguyễn Kim và Trịnh Kiểm Khi Nguyễn Kim chết quyền lại tập trung trong tay Trịnh Kiểm Đất nước từ đó lâm vào thảm hoạ phân liệt và nội chiến mà kết cục là sự thất bại của chính nhà Mạc

Trong thời gian cầm quyền, trước mối đe doạ xâm lược của đế chế nhà Minh ở phương Bắc triều Mạc lại thoả hiệp và cầu hoà một cách nhục nhã, dâng đất 5 động của châu Vĩnh An thuộc trấn Yên Quảng cho nhà Minh

Bản thân triều Mạc cũng thoái hoá nhanh chóng Giai tầng quý tộc quan liêu nhà Mạc dần dần lại trở lại những thói hư tật xấu muôn thưở của vua chúa mọi triều đại và điều quan trọng hơn họ không đủ sức chế ngự các lực lượng chính trị khác để thống nhất đất nước Người dân

Trang 13

vẫn chịu cảnh cùng khổ, loạn li, thiên hạ chẳng phải thái bình như Đường Ngu, Tam đại:

Thái hoà vũ trụ bất Ngu, Chu

(Vũ trụ chẳng phải thái hoà như thời vua Thuấn, vua Chu)

- Cảm hứng, Nguyễn Bỉnh Khiêm -

3 Vào nửa sau thế kỷ XV, dưới triều Lê Thánh Tông, chế độ phong kiến tập quyền theo mô hình Nho giáo đã đạt đến mức phát triển cao nhất Lúc ấy, triều Lê còn kết hợp được hệ tư tưởng Nho giáo với tinh thần độc lập dân tộc, xây dựng một nhà nước tập quyền thống nhất mạnh mẽ Nhưng cũng từ trên đỉnh phát triển đó, chế độ quân chủ chuyên chế quan liêu theo mô hình Nho giáo đã chứ đựng những mâu thuẫn ngày càng đi ngược quyền sống của con người

Chế độ tập quyền thời Lý - Trần và nói chung trước thời Lê, dựa trên sự liên kết cộng đồng của thiết chế cổ truyền nhà - làng - nước, trong đó độc lập dân tộc luôn luôn đi đôi với thống nhất quốc gia Chế

độ quân chủ chuyên chính quan liêu của triều Lê đã dần dần khoét sâu hai loại mâu thuẫn: mâu thuẫn giữa các phe phái phong kiến cầm quyền trong nội bộ giai cấp thống trị và mâu thuẫn giữa các tầng lớp nhân dân

bị trị chủ yếu là nông dân, với triều đình Sự bùng nổ của hai loại mâu thuẫn đó vào đầu thế kỷ XVI đã làm cho triều Lê sụp đổ Triều Mạc thay thế, tuy

có những cố gắng trong buổi ban đầu nhưng rồi cũng không tìm ra một

mô hình mới cho chế độ phong kiến những mâu thuẫn nội tại của chế

độ quân chủ theo mô hình Nho giáo tiếp tục phát triển dẫn đến nạn chia cắt đất nước và nội chiến phong kiến kéo dài làm cho quốc gia thống nhất bị phá vỡ và đời sống nhân dân thêm lầm than Thiết chế cổ truyền

Trang 14

dựa trên quan hệ cộng đồng của nhà - làng - nước bị suy yếu, nhưng một thiết chế mới xây dựng trên cơ sở phát triển mạnh mẽ của kinh tế hàng hoá, gắn liền độc lập dân tộc và thống nhất quốc gia với một thị trường thống nhất lại chưa có điều kiện hình thành

II Con người Nguyễn Bỉnh Khiêm (tư tưởng chính trị xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm)

Tình hình chính trị - xã hội trên đây là những nhân tố có ảnh hưởng đến tư tưởng, tình cảm của Nguyễn Bỉnh Khiêm ông là nhà văn hoá lớn sống trong thời đại của chế độ phong kiến từ cực thịnh sang suy đốn Có thể dùng bối cảnh đó để nhìn nhận, giải thích con người, sự nghiệp cũng như những mâu thuẫn trong tư tưởng tác giả

Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1585), huý là Văn Đạt, tự là Hanh Phủ, hiệu là Bạch Vân cư sĩ, người làng Trung Am, huyện Vĩnh Lại, Hải Dương (nay thuộc Vĩnh Bảo, ngoại thành Hải Phòng) Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất thân trong một gia đình phong kiến cha là Văn Định, đạo hiệu là Cù Xuyên tiên sinh, có văn tài, học hạnh Mẹ là con gái thượng thư Nhữ Văn Lan, tương truyền là người thông tuệ, giỏi văn chương biết

lý số Nguyễn Bỉnh Khiêm là người thông minh học giỏi Ông chịu ảnh hưởng lớn từ sự giáo dục của mẹ mình Có giai thoại kể rằng: Nguyễn Bỉnh Khiêm được sinh ra trong sự ước muốn và lựa chọn của người mẹ chỉ có một tham vọng: con trai mình phải là đấng thiên tử anh minh đủ tài trí đem lại cuộc bình trị cho đất nước Giai thoại cũng kể rằng người cha mặc dù rất kỳ vọng vào sự thành đạt của con trai nhưng ông không theo kịp chí lớn của vợ và chuyện bất đồng trong việc dạy con đã dẫn đến sự tân vỡ của cuộc hôn nhân Từ giai thoại đó có thể ước đoán: Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được dạy dỗ theo hướng dể trở thành rường cột

Trang 15

quốc gia Thuở nhỏ ông được mẹ đem chính văn, kinh truyện và thơ quốc âm ra dạy Lớn lên nghe tiếng văn chương của bảng nhãn Lương Đắc bằng, ông bèn đến thụ nghiệp Có thể khẳng định vai trò của thầy học Lương Đăc Bằng đối với con đường học thuật của Nguyễn Bỉnh Khiêm là rất đáng kể Cũng như nhiều nho sinh lúc đó, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tự xác định cho mình trách nhiệm kinh bang tế thế, phò vua giúp nước từ rất sớm Đó chính là nỗi lo đau đáu trong trong lòng và niềm khát vọng của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã có ảnh hưởng đến toàn bộ cuộc đời ông Điều này cũng thể hiện trong sự nghiệp thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm

1 Tuổi niên thiếu của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491 - 1509) ứng với thời kỳ nhà Lê đã suy yếu Sự nghiệp bình Ngô cũng như thời kỳ huy hoàng thịnh trị của các Thái Tổ, Thánh Tông chỉ còn là vang bóng của dĩ vãng qua thơ văn, sử sách hay lời kể của ông ngoại, của bố mẹ Thực tế vua quan lúc ấy đã khác xa những điều Nguyễn Bỉnh Khiêm học trong kinh sách thánh hiền Lúc này Nguyễn Bỉnh Khiêm không ra ứng nghĩa

Có thể ông có một cảm quan nhạy bén về tình hình chính trị xã hội đương thời Nhà Lê đã ở vào thời kỳ mục ruỗng với tất cả sự thối nát của

nó Một thời kỳ mà một "vua quỷ", một "vua lợn", trị vì thì tất yếu sẽ sụp

Trang 16

một vài hoạt động chống đối của anh em họ Vũ ở Tuyên Quang của Lê

Ỷ, Nguyễn Kim ở Thanh Hoá, Nghệ Tĩnh Trước tình hình như vậy, Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn ẩn cư và dạy học Ông vô cùng đau đớn trước cảnh "Núi xương, sông máu thảm đầy nơi " Ông mong chấm dứt cảnh loạn lạc (kể cả chiến tranh phong kiến và chiến tranh nông dân khởi nghĩa) để không còn cảnh "nhà ở bẻ làm củi, trâu cày giết làm thịt" Thực tế vào lúc đó, người có công dẹp loạn, căn bản chấm dứt chiến tranh liên miên lại chính là Mạc Đăng Dung Quan lại và sĩ tử không ngại ra cộng tác với triều đại mới, tuy nhiên Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn nhiều đắn đo Làm sao có được một đứng quân vương đủ tài, đủ sức gánh vác việc nước để ông tin và theo phò? Mặc dù rất phục Mạc Đăng Dung nhưng thực tế lịch sử, tâm thế xã hội, ảnh hưởng của gia đình vẫn không làm thay đổi được nhận thức và hành động của Nguyễn Bỉnh Khiêm Về cơ bản ông vẫn mang quan niệm của một nhà Nho chính thống."thờ vua hết đạo làm tôi " Vả lại dù cho Mạc Đăng Dung có tài thì ông vẫn là bề tôi giết vua Mà theo đạo đức phong kiến thì vấn đề chư hầu giết vua làm sao có thể ủng hộ được Đây cũng là lý do khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm không tham gia thi thố tài năng của mình

3 Năm 1534, Nguyễn Bỉnh Khiêm ghi tên dự kỳ thi Hương Sau một thời gian dài ở ẩn, ông quyết định nhập thế bằng hành động này ông

đã tỏ rõ thái độ sẳn sàng ra phục vụ triều đại mới đã tồn tại tới 7 năm Đây là sự kiện đánh dấu bước ngoặt lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nguyên nhân nào đã khiến ông có sự thay đổi lớn đó? Thứ nhất là hoài bảo ra giúp dân, giúp nước ở Nguyễn Bỉnh Khiêm đã hình thành từ rất sớm chứ không phải mới có Vấn đề là ông đợi thời cơ "Chân chúa" Thực tế lịch sử cho thấy vào lúc ấy chỉ có triều Mạc Đăng Doanh là hơn

cả, có thể là chỗ dựa cho ông thi thố tài năng Và cuối cùng ông đã quyết

Trang 17

định cộng tác Một nguyên nhân nữa là nguy cơ ngoại xâm đe dọa sự mất còn của Tổ quốc Giữa lúc triều đình, sĩ thứ dân dồn dập khẩn trương lo bảo vệ xã tắc, một người như ông sao có thể ngồi yên?

Tình hình chính trị, xã hội quả thực có ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm Khi lý giải cuộc đời ông cần nắm rõ các mốc lịch sử để việc đánh giá chính xác và khách quan hơn Khi ra thi Nguyễn Bỉnh Khiêm đã khẳng định quyết tâm gắn bó với triều Mạc để thực hiện hoài bão nhà Nho của mình Đó là những năm ổn định, có thể nói là tương đối thịnh đạt của triều Mạc và hẳn Nguyễn Bỉnh Khiêm đang nuôi nhiều hy vọng mới

Nhưng rồi trước yêu cầu lịch sử triều Mạc cũng bộc lộ những mặt bất lực, hạn chế: không giữ vững được chính quyền Trung ương và quốc gia thống nhất Đất nước lâm vào thảm họa phân liệt và nội chiến Cũng trong thời gian cầm quyền, trước mối đe dọa của đế chế Minh phương Bắc, triều Mạc lại thoả hiệp và cầu hoà một cách vội vã, dâng đất cho nhà Minh Bản thân triều Mạc cũng thoái hoá nhanh chóng Vì vậy sau 8 năm phò tá triều Mạc, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã dâng sớ đàn hặc

và xin chém 18 tên lộng thần Nhưng vua Mạc không nghe nên ông bỏ quan về ở ẩn Nhà Mạc vẫn tỏ ra trọng đãi ông, phong chức tước cho ông

và ông vẫn trước sau trung thành với nhà Mạc nhưng niềm hy vọng

"ước một tôi hiền chúa thánh minh" "muốn cho nhà chúa bằng Nghiêu Thuấn" của ông thì tiêu tan dần Đó là bối cảnh lịch sử giúp chúng ta hiểu sự xuất xử và thái độ của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với triều Mạc

Về làng, ông dựngTrung Tân quán, Bạch Vân am, khởi xướng việc lập chợ, xây cầu, sửa sang chùa chiền, mở lớp dạy học, lấy hiệu là Bạch Vân cư sĩ, có ý định xây dựng quê hương thành một vùng đất văn

Trang 18

Kim nên ông được học trò và đời sau gọi là Tuyết Giang phu tử Mặc dù

đã nghỉ quan nhưng do được nhà Mạc tin tưởng, trân trọng nên đã nhiều lần triệu ông ra giao việc Trong khoảng niên hiệu Quang Bảo (1554 - 1561) Nguyễn Bỉnh Khiêm còn theo quân nhà vua (Mạc Phúc Nguyên)

đi đánh anh em Vũ Văn Mật ở Tuyên Quang và trong các năm 1561,

1564 có hai bài thơ nói về việc nghỉ hưu Đặc biệt, bài thơ làm năm 1564 còn tỏ ý coi sự trở về như thế là chậm trễ

Kiếm điểm hành niên thất thập tam,

Huyền xa sai vãn dã ưng tàm

(Đếm tuổi, nay đã bảy mươi ba,

Quay xe về hơi muộn, cũng nên lấy làm thẹn)

Có lẽ đây là thời điểm mà Nguyễn Bỉnh Khiêm thực sự nghỉ quan Các vua quan nhà Mạc vẫn tin quý và thường tham khảo ý kiến ông về nhiều vấn đề hệ trọng Nguyễn Bỉnh Khiêm mất ngày 28 tháng 11 năm ất Sửu (17 1 1585) khi Nguyễn Bỉnh Khiêm mất triều đình cử Mạc Kính Điển về viếng tang, vua Mạc còn ban cho mấy chữ "Mạc triều trạng nguyên tể tướng từ" để treo trước cửa đền Như vậy Nguyễn Bỉnh Khiêm đã sống gần trọn thế kỷ XVI đầy biến động

III) Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm là cây đại thụ trong nền văn hoá Việt Nam và đã từ lâu chưa được coi là "toả bóng suốt thế kỷ XVI" Chứng tỏ ảnh hưởng to lớn của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với lịch sử tư tưởng, văn học nước nhà Song dường như Nguyễn Bỉnh Khiêm là trường hợp khác biệt với nhiều cây cao bóng cả khác Khi ông qua đời, học trò tôn xưng ông là "phu tử"

Trang 19

Cũng từ đó ông được coi như người thầy mẫu mực của nền Khổng học Việt Nam thời trung đại Năm 1943, học giả Hoàng Xuân Hãn đã từng viết: "Ngày nay có phong trào tôn sùng Khổng giáo, sau mấy mưới năm

bị lấp, đã có cơ hội phục hưng Một nhà đạo đức như La Sơn phu tử rất đáng được cả nước thờ chung vậy Trong các Khổng miếu mà nay vẫn còn, ta thờ 72 ông hiền mà ta quên cả tên, cả sự nghiệp, sao ta không thay bằng các tiên nho ta như Chu Văn An Phạm Sư Mạnh, Nguyễn Bỉnh Khiêm và La Sơn phu tử" (1)

Nói đến sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm là nói đến sự nghiệp của một bậc thầy về văn hoá tư tưởng, nói đến một sự nghiệp thơ văn lớn

Nguyễn Bỉnh Khiêm có một sự nghiệp thơ rất lớn Chỉ tính riêng thơ

chữ Hán ông đã có nghìn bài Trong lời Tựa tập thơ bạch vân của mình

ông viết : "Tuy nhiên, cái bệnh yêu thơ lâu ngày tích lại chưa chữa được khỏi vậy Mỗi khi được thư thả lại dậy hứng mà ngâm vịnh, hoặc là ca tụng cảnh đẹp của sơn thuỷ, hoặc là tô vẽ nét thanh tú của hoa trúc, hoặc

là tức cảnh mà ngụ ý, hoặc là tức sự mà tự thuật, thảy thảy đều ghi lại thành thơ nói về chí, được tất cả nghìn bài, biên tập thành sách, tự đặt tên

là tập thơ "Am Bạch Vân" (2) Về thơ Nôm tổng số bài là bao nhiêu thì chưa được nói rõ Nếu tập hợp các bản thì con số cũng lên tới hơn 160 bài Nguyễn Bỉnh Khiêm là một nhà thơ lớn không chỉ ở số lượng thơ

mà còn ở một phong cách thơ riêng không lẫn với bất cứ ai Ai cũng biết thơ trung đại có nguyên tắc thẩm mĩ "thi dĩ ngôn chí" Chính những vần thơ ngôn chí bị xen là khạn chế tính thẩm mĩ và không ít các nhà thơ cổ

có sự phá cách nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm lại phát huy tối đa tác dụng của nó Với

Trang 20

(1) La Sơn Yên Hồ Hoàng Xuân Hãn - Nxb Giáo dục, H, 1998, tập II - tr 123

(2) Đinh Gia Khánh dịch - Tổng tập văn học Việt Nam, tập VI, tr 443- 444

ông dù là thơ đề vịnh, tự sự hay tự thuật cũng đều để ngôn chí Đó cũng

là sự khẳng định phong cách thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm

Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm có một bộ phận không nhỏ, nếu không muốn nói là rất lớn nói về cách sống, về quan niệm nhân sinh Qua đó phản ánh hiện thực xã hội đương thời Từ thơ ta có thể hiểu quan niệm, cách lựa chọn lối sống của tác giả Nổi bật là sự đối lập giữa công danh và nhàn dật là triết lý tự tại

Trang 21

CHƯƠNGII Giá trị đạo đức trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

“Giá tri đạo đức’’ cũng là giá trị mang tính nhân văn Thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm (161bài ) mang giá trị đạo đức rất rõ rệt, thể hiện qua việc triết lí trực tiếp về đạo đức làm người, về quan hệ với người khác và quan hệ với xã hội Có thể khẳng định tư tưởng mang tính nhân văn đã có từ rất sớm trong thơ văn của Nguyễn Bỉnh Khiêm Tìm hiểu tư tưởng đạo đức là một phần quan trọng trong việc tìm hiểu nội dung thơ Nôm của ông Suy cho cùng tư tưởng đạo đức trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là sư thể hiện tư tưởng trên lập trường đạo đức phong kiến chính thống Sư thể hiện đó sẽ đươc làm sáng rõ ở các phần sau:

Nguyễn Bỉnh Khiêm

1 "Đạo" trong văn chương trung đại :

“Đạo" là phép tắc đối xử trong xã hội, ai cũng phải biết và phải tuân thủ, giữ gìn Đạo đức là phép tắc về quan hệ giữa người với người, giữa cá nhân với tập thể, với xã hội Đạo đức phong kiến lại là đạo đức phù hợp với bản chất của chế độ phong kiến vốn dựa trên nguyên tắc phục tùng thứ bậc (1)

Xét qua “ngũ kinh" (Thi, thư, lễ, dịch, xuân thu) và “tứ thư” (Luận ngữ, đại học, trung dung, mạnh tử) ta thấy trung tâm sự chú ý của Nho giáo là Đạo và Đức Đạo của trời là Âm và Dương; Đạo của đất là Cương và Nhu; Đạo của người là Nhân và Nghĩa Đức được biểu hiện qua các chuẩn mực tam cương (vua - tôi, thầy - trò, cha - con) và ngũ

Trang 22

thường (nhân, lễ, nghĩa, trí ,tín ), trong đó trung với vua được xem là nội dung cơ bản nhất của học thuyết chính trị đạo đức này (2)

(1) Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Văn hoá thông tin - Tr 595

(2) Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 1999- Tr 131

2."Đạo" trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ảnh hưởng của nhiều hệ tư tưởng rất khác nhau : đạo Nho, đạo Lão và cao hơn nữa là ảnh hưởng tư tưởng triết học Tống Nho (Nho + Lão + Phật) Tuy nhiên về cơ bản ông vẫn là một nhà nho chính thống Và vì thế mọi quan niệm của ông ít nhiều chịu ảnh hưởng khá sâu sắc tư tưởng Nho giáo Ông đứng trên lập trường đạo đức phong kiến chính thống thời thịnh trị mà quan sát, đánh giá Nghĩa là ông cũng xem trung tâm chú ý của vạn vật phải ở “Đạo” và “Đức” Ở đó

“Đạo “của trời vẫn là “âm”và “dương” ; "Đạo" của đất là “cương” và

“nhu”; “đạo”của người là “nhân” và “nghĩa” Như vậy, đối với Nho giáo

“đạo”của con người được nhấn mạnh ở chữ “nhân” và chữ “nghĩa” Còn

“đức” thì sao? Lẽ dĩ nhiên trong quan niệm của Nguyễn Bỉnh Khiêm

“đức” sẽ được biểu hiện qua các chuẩn mực tam cương (vua-tôi, thầy - trò, cha - con) và ngũ thường (nhân, nghĩa, lễ, trí, tín), trong đó trung với vua được xem là nội dung cơ bản Điều này ta cò thể nhận biết qua thơ văn Nguyễn Bỉnh Khiêm

Xã hội mà Nguyễn Bỉnh Khiêm sống đang ở vào giai đoạn thoái trào một triều đại, hình thành một triều đại mới Ở xã hội đó tuy rằng có những biến động, thay đổi song với ông sự thay đổi đó khó có thể chấp nhận Điều đó là hoàn toàn hợp lý đối với một người mang nặng tư tưởng nho giáo như ông Sự thay đổi đó của xã hội chúng ta đã có dịp trình bày ở chương trước Chúng ta phải thừa nhận một điều rằng hoàn cảnh xã hội đương thời đã có ảnh hưởng sâu sắc và mạnh mẽ đến tư

Trang 23

ông Thơ ông, đặc biệt là hệ thống thơ Nôm đã thể hiện rõ sự băn khoăn trăn trở trong tâm tư về thời cuộc và nhân thế Khi mà mọi ranh giới quy phạm đạo đức bị vi phạm bị xuống cấp, Nguyễn Bỉnh Khiêm đã thất vọng ông“muốn hành động ” để níu giữ chút gì đó, nhưng chỉ còn lại là cảm giác bất lực và chán nản Lúc này ông lui về với thú vui nhàn tản

Đó là một cách lánh đời, giữ gìn tiết tháo trong sạch của Nguyễn Bỉnh Khiêm Trên thực tế lịch sử chúng ta ghi nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm là một “nhà nho hành đạo”

II Các nhân tố tư tưởng ảnh hưởng đến thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

1 Tư tưởng Khổng giáo (đạo Nho)

Khi Nguyễn Bỉnh Khiêm qua đời, học trò tôn xưng ông là “phu tử”, dường như từ đó ông được lịch sử, xã hội xác nhận vai trò người thầy mẫu mực của nền khổng học Việt Nam thời trung đại Mười thế kỷ Nho học Việt Nam, cho đến nay mới biết ba người được tôn xứng danh hiệu ấy: trước ông là Chu Văn An, thời Trần; sau ông là Nguyễn Thiếp, thời cuối Lê - đầu Nguyễn Năm 1943, học giả Hoàng Xuân Hãn Đã từng viết “Ngày nay có phong trào tôn sùng Khổng giáo, sau mấy mươi năm bị lấp, đã có cơ hội phục hưng Một nhà đạo đức như La sơn phụ tử rất đáng được cả nước thờ chung vậy Trong các khổng miếu mà nay vẫn còn, ta thờ bảy mươi hai ông hiền mà ta quên cả tên, cả sự nghiệp, sao ta không thay bằng các tiên nho ta như Chu Văn An, Pham Sự Mạnh ,Nguyễn Bỉnh Khiêm La Sơn phu tử ” (1)

Có lẽ đúng như vậy, nói đến sự nghiệp của Nguyễn Bỉnh Khiêm trước hết phải xét đến sự nghiệp của một của một bậc thầy về văn hoá, tư tưởng mà không phải mỗi thời đại đều dễ dàng tạo được Thơ ông đã để lại nỗi niềm tâm sự khắc khoải của ông lúc sinh thời :

Trang 24

Có ai biết được lòng tri kỉ

Vòi vọi non cao nguyệt một vừng

Nguyễn Bỉnh Khiêm bước vào con đường công danh, thực hiện nghĩa vụ hành đạo của mình khá muộn Lúc đó ông đã 45 tuổi, gần đến

(1) La SơnYên Hồ Hoàng Xuân Hãn, Nxb Giáo dục, H, 1998 Tập II - Tr 123

tuổi “tri thiện mệnh”, qua cái thời tráng niên đầy nhiệt huyết “tam thập nhị lập” và giai đoạn trưởng thành chín chắn “tứ thập nhị lập bất hoặc" Nguyễn Bỉnh Khiêm có nói về sự kiện này trong thơ Nôm của mình Và chính việc này đã có vẻ không thuận nếu đối chiếu với những chuẩn mực đạo lý Nho gia Cũng chính sự kiện này đã khẳng định lý tưởng của ông

là một đất nước thái hoà :

Hà nhật tái phùng Nghiên Thuấn thế

Thái bình thiên tử, thái bình dân

(Ất Sửu tân xuân hý tác)

Dịch : "Ngày nào lại thấy đời Nghiêu Thuấn, thiên tử thái bình, dân thời thái bình ” (viết đùa ngày xuân mới Ất Sửu)

Và ông coi trách nhiệm của mình, trách nhiệm của kẻ sĩ hành đạo đưa đất nước đến ngày đó:

Muốn cho nhà chúa bằng Nghiêu Thuấn

Phải đạo làm tôi kẻo hổ người

(Thơ Nôm)

Tám năm đứng ngoài cuộc, Nguyễn Bỉnh Khiêm quả thật đã cân nhắc rất kĩ Ông quyết định ra phò tá nhà Mạc cũng là để thực hiện hoài bão kinh bang tế thế của mình Đất nước rối ren, nhà Lê không còn đủ bản lĩnh nắm ngọn cờ trị nước, các phe phái trong triều không phe phái nào hơn được họ Mạc.Và ngay đến với nhà Mạc ông cũng quan sát, lựa chọn Thực ra, việc có bắt buộc kẻ sĩ phải trung thành tuyệt đối với một

Trang 25

triều đại đã đổ nát, thất nhân tâm hoặc một ông vua bạo ngược hay không thì chính các bậc thánh nho đã đề cập tới, thậm chí có thể coi là đã

mở “cửa thoát hiểm” cho các Nho sĩ từ rất sớm Mạnh Tử nói: “Từng nghe đã có việc giết một tên Trụ, chứ chưa từng nghe giết vua ” Học thuyết của Nho giáo thì cho phép kẻ sĩ “nguy bang bất nhập, loạn bang bất cư (nước loạn không ở, nước nguy không đến) Nước loạn, nước nguy ở đây chủ yếu nói đến giới cầm quyền; kẻ sĩ không cộng tác với những vị chúa tể vô đạo, họ phải đi tìm minh chúa cũng chính vì thế trong Nho giáo có khái niệm ngu trung, và “ngu trung” không pjải là phẩm chất mà NHà nho trân trọng, không phải là “minh triết” Ở Việt Nam, nhiều học giả cho rằng cách nhìn, cách xử thế linh hoạt, minh triết cũng đã có thể xem là có truyền thống Lịch sử và giới Nho sĩ Việt Nam ủng hộ việc thay đổi các dòng họ cầm quyền khi người đứng đầu đương triều không còn đủ tài đức để lãnh đạo đất nước Nhà Lý đã thay nhà Tiền Lê, nhà Trần lại thay nhà Lý, rồi nhà Hồ “cướp ngôi” nhà Trần nhưng nhiều Nho sĩ và cả tôn thất nhà Trần vẫn chấp nhận Nguyễn Bỉnh Khiêm là một trường hợp như vậy

Có thể nói việc lý giải nguyên nhân đưa Nguyễn Bỉnh Khiêm đến với nhà Mạc đã chứng minh một phần nào đó tư tưởng Nho gia trong con người ông Điều này chúng ta cũng sẽ thấy qua tư tưởng Nho gia trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

2 Tư tưởng triết học của Lão tử (đạo Lão) đã dẫn đến thái độ

"vô vi",tư tưởng nhàn tản, ẩn dật

Đạo Lão lúc đầu là hệ thống triết học dựa vào những cảm nhận trực giác về vũ trụ để đi đến “Đạo”, nguyên lý tuyệt đối của mọi vật không sinh, không diệt, không tăng, không giảm, là nguyên uỷ của mọi

sự vật và cái làm cho mọi sự vật biến đổi Triết thuyết này chứa đựng

Trang 26

nhiều yếu tố của chủ nghĩa duy vật đơn sơ và phép biện chứng tự phát Lão tử, người xướng xuất đạo Lão dạy rằng cơ sở hình thành, biến đổi và tiêu diệt của mọi vật là “Đạo” nghĩa là con đường; ông cũng khẵng định mọi sự vật và mọi hiện tượng đều không ngừng biến đổi và với thời gian

sẽ biến đổi thành mặt đối lập của mình Con người sống theo “đạo”, tốt nhất là “vô vi”, đừng can thiệp đến việc đời Vô vi không phải là không làm gì cả, mà là làm kín đáo, không tư tâm, không vị kỷ, và vì thế, vô vi lại là không có gì không làm: “Đạo thường không làm nhưng không gì là không làm” Ông cũng chủ trương không dùng bạo lực và uy quyền mà nhà cầm quyền phải “từ” (tình thương) và “kiệm" (không xa xỉ ) (1)

Trong thực tế nhà Mạc không đáp ứng được hoàn toàn mong ước của Nguyễn Bỉnh Khiêm Nhà Mạc cho phát triển nghề buôn, đời sống nhân dân có khá giả hơn nhưng đồng tiền cũng phát huy mặt trái của nó

mà Nguyễn Bỉnh Khiêm không ưa và cũng chưa sẵn sàng có kế sách chế ngự, xã hội lý tưởng đối với ông vẫn là thời đại Đường Ngu Thêm nữa giai tầng quý tộc quan liêu nhà Mạc dần dần trở lại những thói hư tật xấu của vua chúa mọi triều đại và điều quan trọng hơn họ không đủ sức chế ngự các lực lượng chính trị khác để thống nhất đất nước Người dân vẫn chịu cảnh cùng khổ, loạn li, thiên hạ chẳng phải thái bình như thời Đường Ngu, Tam đại Có lẽ chính đó là nguyên cớ khiến Nguyễn Bỉnh Khiêm dù thực tâm gắn bó với nhà Mạc nhưng tình cảm của ông không sâu sắc như Nguyễn Trãi với nhà Lê Và có lẽ đó cũng là nguyên cớ khiến tư tưởng của ông hướng về với đạo Lão với thú nhàn tản, ẩn dật Phải chăng sự tìm đến tư tưởng Lão - Trang cuối đời đã khiến ông sống thanh thản hơn dù đôi khi vẫn chưa thoát khỏi cái lụy cuộc đời trần thế Không phải ngẫu nhiên thơ văn Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm lại nói nhiều đến chữ “nhàn” đến thế

Trang 27

3 Sự ảnh hưởng tư tưởng triết học Tống Nho (đó là sự kết hợp các tư tưởng Nho, Phật, Lão - còn gọi là "Lý học")

Ngay từ khi còn sống Nguyễn Bỉnh Khiêm đã được nhà Lý học chính thống Nội dung chủ yếu mà ông nghiên cứu là lý khí và tâm tính Trong quan niệm của người xưa, phần chủ yếu trong lý học của Trạng Trình gần như đồng nhất với khả năng tiên tri và được biểu hiện bằng cách nói bí ẩn mang tính chất sấm ngữ Chẳng qua tất cả những điều đó

(1) Tôn giáo thế giới và Việt Nam, Nxb Công an nhân dân, 1999 - Tr 131, 132

đã được nhìn với tầm chiến lược, biện chứng Muốn tìm hiểu sự ảnh hưởng của Lý học đến ông ta tim hiểu thơ văn ông Có thể nói học thuyết

Lý học của Trạng Trình được chuyển tải trong thơ văn chiếm một số lượng không lớn so với các vấn đề khác Nguyễn Bỉnh Khiêm không nói

cụ thể đến mối quan hệ giữa lý và khí, ông cũng không bàn sâu về bản thể luận song quy luật vận động và biến dịch của vạn vật và vũ trụ thì lại rất được chú ý Trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm ta bắt gặp ông đưa ra các cặp phạm trù đối lập: doanh - hư (đầy - vơi), tiêu - trưởng (hao mòn - phát triển), thịnh - suy, nóng - lạnh, cao - thấp Những cặp đối lập ấy không tĩnh, bất biến mà chúng chuyển hoá nhau trong một quá trình có sự tích luỹ để lượng biến thành chất

Thế gian biến cải vũng nên đồi

Măn lạt chua cay lẫn ngọt bùi

Vũng nọ ghê khi làm bãi cát, Doi kia có thủơ lút hòn thai

Tư tưởng Lý học khiến cho cái nhìn biện chứng đối với sự vật tự nhiên và Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng có cách nhìn như vậy đối với xã hội

và tất nhiên các quan niệm về đạo đức cũng chịu ảnh hưởng của tư tưởng

Trang 28

này Nguyễn Bỉnh Khiêm đã định nghĩa rõ nội dung quan niệm “trung”

và “thiện”: "Trung nghĩa là ở chính giữa, giữ trọn được chữ thiện thì không phải trung vậy; Như trung với vua, hiếu với cha, thuận giữa anh

em, hoà giữa vợ chồng, tín nghĩa giữa bạn bè, thi là trung vậy Thấy của

mà không tham, thấy lợi mà không tranh, vui điều nghĩa mà không rộng lượng với nguời, đem lòng thành mà đối đãi với vật, đó là trung Trung

ở chỗ nào thì sự chí thiện ở chỗ ấy (1)

(1) Bi ký quán Trung Tân, Tổng tập văn học Việt Nam, Tập VI Nxb Khoa học xã hội, H, 1997 - Tr 624

Vậy tưởng tượng của tác giả “Bạch vân quốc ngữ thi tập” là loại

tư tương gì ?

Có người căn cứ vào thái độ ở ẩn cầu nhàn và chủ trương vô vi

để định giá cho tư tưởng của Trạng Trình là tư tưởng thuộc hệ thống của triết học Lão, Phật, rập khuôn mẫu của Trúc Lâm thất hiền đời Tây Tấn bên Trung Quốc xưa kia Nhưng đó là sai lầm, chủ trương ở ẩn cầu nhàn của Trúc Lâm thất hiền là để trốn đời trong hành lạc, còn với Nguyễn Bỉnh Khiêm, sự ẩn cư cầu nhàn chỉ là sự lánh đời trong bó củi cần câu, nhà thông ngõ trúc, với cơm chiều muối biển, với đồ thư một quyển và ngư tiều mấy gã, còn răn đời, khuyên đời, mong ước đời sẽ có những thánh quân hiền thần để kiến tạo cho đời một cảnh chí thịnh trị như thuở thiên hạ của đời Đường Nghiêu Lại nữa cụ có chủ trương vô sự, nghĩa là không để có sự rắc rối gì, chứ không phải vô vị là không làm gì cả Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm lánh đời nhưng còn khuyên đời, mong ước đời và vẫn không quên ơn vua chúa, không phụ tình nước non:

Dẫu có phận là ơn chúa

Được làm người bởi đức cha

Trang 29

Lộc nặng há quên ơn chúa nặng

May nên những lẹ thuở công nên

thơ Nôm bài

Ngẫm lại ai ai phù vạc Hán

Đồng Giang thả một cần câu

Căn bản tư tưởng của tác giả “Bạch Vân quốc ngữ thi tập” trước sau vẫn căn bản là của triết thuyết Khổng Mạnh Nhưng nỗi lòng của tác giả khi về ẩn dật để hưởng cái thú sum họp bạn bè, nói chuyện sách vở

và đạo lý như các Nho gia đời Tống ở Lạc Xã khi xưa, cũng là để chờ thời đợi thế như Khổng Minh lúc còn ở ẩn Nam Dương :

Vui vầy Lạc Xã năm ba khách

Lánh chốn Nam Dương ở một lều

Mãi đến lúc về già ông mới :

Mái tóc đã thưa ,răng đã mòn ,

Nước nhà thôi phó mặc dân con

Tóm lại cần khẳng định tư tưởng của Nguyễn Bỉnh Khiêm chịu ãnh hưởng của rất nhiều hệ tư tưởng (chủ yếu vẫn là Nho giáo ), đã phản ánh rõ trong thơ ông, đặc biệt là thơ Nôm Và mặc dù đã có cái nhìn khá

là biện chứng vũ trụ quan nhất nguyên, thấy được quy luật chuyển hoá

của các mặt đối lập của sự vật và giữa các sự vật, nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn bị quan niệm tuần hoàn níu kéo, đồng thời khi ứng dụng trong cách giải quyết mọi quan hệ xã hội ông vẫn trở về với các quan niệm trung hiếu, tín nghĩa thuận hoà và lợi của Nho gia Bởi trên thực tế Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn là một nhà Nho "ưu thời mẫn thế” và ông đã đứng trên lập trường đạo đức phong kiến chính thống thời thịnh trị lấy mọi chuẩn mực làm quỹ đạo cho quan niệm đạo đức của ông

Trang 30

III Sự thể hiện tư tưởng đạo đức thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm

Phong vị riêng của thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm chủ yếu là ở tính triết lý và giáo huấn Mỗi bài thơ của Nguyễn Bỉnh Khiêm thường mang ý tứ về lẽ biến dịch, lẽ tương sinh tương khắc, một sự răn dạy, một

sự mỉa mai chê trách, một quan niệm nhân sinh rút ra từ kinh nghiệm thực tiễn của nhân dân và sự chiêm nghiệm của bản thân nhà thơ Cái mới và có giá trị lớn ở đây là chiều sâu của sự suy tưởng, thái độ ôn tồn thuyết giải và lối thể hiện giản dị tự nhiên

Ai cũng biết một nguyên tắc thẩm mĩ quan trọng của thơ thời trung đại là ngôn chí, nguyên tắc mà các nhà nghiên cứu hiện đại thường xem là hạn chế tính thấm mỹ của thơ và ngay các nhà thơ cổ cũng không phải đều nhất nhất tuân theo Thế nhưng Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tuân theo một cách “triệt để” và với một cảm hứng sáng tạo rất mạnh mẽ Với ông, đề vịnh, tự sự, tư thuật cũng đều để “ngôn chí”, để nói về cái quan niệm chữ “đạo” Và phong cách riêng của ông đã được xác định chính từ giá trị nội dung khá sâu sắc ấy Tư tưởng đạo đức trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm toát lên ở một số nội dung sau:

1.Phê phán thói đời đen bạc:

Nguyễn Bỉnh Khiêm lập trí ở hành đạo Mục tiêu của ông là

“phù nghiêng đỡ lệch”, “ đem lại càn khôn buổi thái hoà” Nhìn chung

ông là một nhà thơ ưu thời mẫn thế, ở ông cái nhìn bị chi phối từ nền tảng đạo đức phong kiến Ông quan niệm bên cạnh một chế độ chính trị tốt đẹp còn phải xây dựng một xã hội thuần hậu, giản phác, mang sắc thái văn minh thời thái cổ - vua Nghiêu Thuấn, dân Nghiêu Thuấn.Vì lẽ

đó Nguyễn Bỉnh Khiêm bất bình với thói đời đen bạc, quan hệ giữa người với người bị cái lợi đồng tiền chi phối, trở nên tráo trở đến mức

“bất cố liêm sỉ”

Trang 31

Mặt khác ông không đồng nhất giữa vua với nước, có thể nhờ vậy ông hiểu được ước vọng của dân, thông cảm với nỗi đau khổ - vật chất và tinh thần của dân, có phần nào đó ông đã vui cái vui và lo cái lo của dân Đó là nguyên nhân khiến những vần thơ hành đạo của ông còn thấm đượm tinh thần ưu thời mẫn thế và đậm chất hiện thực

Với nhà Mạc, đã bắt đầu có những tiền đề vật chất và tinh thần cho một sự cải biến có thể là cơ bản cho xã hội Việt Nam.Truyện cổ tích

và bài ca dao “Đồng tiền vạn lịch” thích bốn chữ vàng, cho thấy vai trò của đồng tiền đã có tác dụng mạnh trong xã hội, làm đảo lộn những giá trị đạo đức văn hoá theo Nho giáo.Trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm bức tranh hiện thực xã hội thời Mạc hiện lên khá rõ ràng với loạn lạc, với sự đảo lộn luân thường đạo lý, với sự trọng của khinh người Mùi tanh hôi của đồng tiền tư bản đã làm lợm giọng nhà nho thi sĩ thanh bạch :

Còn bạc còn tiền còn đệ tử

Hết cơm hết rượu hết ông tôi

(thơ Nôm 71)

Hay: Đời này nhân nghĩa tựa vàng mười ,

Có của thì hơn hết mọi lời

(thơ Nôm 74)

Khuôn phép của trời, kỷ cương của thánh nhân, vua tôi, cha con,

vợ chồng, anh em, bè bạn mà trọng tình muốn duy trì đến cùng, thực tế

đã lỏng lẻo, rã rượi từ trên xuống dưới: “Cương thường nhật điệu thỉ”

Vì sao, nếu không phải vì một nền kinh tế hàng hoá đã khá phát triển ở Việt Nam thể kỷ XVI, đời Mạc? Rất bảo thủ trong hệ tư tưởng Nho, thơ ông bỗng trở nên sắc bén khi phê phán những sự lẫn lộn trắng đen, trong đục, ngọt đắng Thật ra đây không còn là cái loạn trên bề mặt chính trị

Trang 32

quân sự; đây là cái loạn dưới con mắt nhà Nho từ trong bản chất kinh tế

xã hội phong hoá: mất trật tự trong triều, trong nhà

Kẻ sĩ chỉ con ham áo tía xanh

Nghề nông phát triển

Thói dâm phát triển

Thói xảo phát triển

Đồng tiền mùi tanh hôi

Đó là những hệ quả luôn phát sinh cùng nền kinh tế hàng hoá, tiền công thương nghiệp Cái nhìn nhuộm mầu u ám của nhà Nho thanh bạch trước một xã hội đang xoay chuyển dưới thời Mạc, bởi thời Mạc:

Người của lấy cân ta thử nhắc

Mới hay rằng của nặng hơn người

(Thơ Nôm bài 80) Tiền ròng bạc chảy tưng bừng đến Nhà khó tay không lủng lỉnh đi (thơ Nôm 110)

Trước đến tay không nào thốt hỏi Sau vào gánh nặng lại vui cười Anh anh chú chú mừng hơ hải Rượu rượu chè chè thết tả tơi (thơ Nôm 74) Nguyễn Bỉnh Khiêm trên tư cách một triết nhân, một người

quan sát để “mổ xẻ” xã hội, “phơi bày” lạnh lùng trước bàn dân thiên

hạ những thói tật xấu, những điều trái với thuần phong mĩ tục, với đạo

lý nhân hậu cổ truyền Những thói tệ ấy nhiều khi mang tính phổ cập phản ánh một mặt của quy luật tâm lý trong cuộc sống cộng đồng đời thường:

Trang 33

Thớt có tanh tao ruồi đậu đến Ang không mật mỡ kiến bò chi

(thơ Nôm 53)

Ở thế mới hay người bạc ác ,

Giàu thì tìm đến khó tìm lui

(thơ Nôm 71)

Bản thân những vần thơ như thế đã có ý nghĩa cảnh tỉnh,

thức tỉnh Quả là nếu là một người có chút lương tri thì không thể

không tự cảm thấy ngượng khi nhận ra bóng dáng mình trong cái nhân vật mình đang cuống quít làm thân cầu lợi “Anh anh chú chú mừng hơ hải”

Con người không những tham lam hám tiền, trọng lợi hơn nghĩa, coi rẻ tình nghĩa, kể cả tình cha con, anh em, vợ chồng, bà con:

Giàu sang người trọng khó ai nhìn,

Mấy dạ yêu vì kẻ lỡ hèn

Thuở có dẫu chào chào cũng lặng,

Khi giàu chẳng hỏi, hỏi thời quen

Quen hiềm dan díu điều làm bạn,

Lặng kẻo lân la nỗi bạ men

Đạo nọ, nghĩa này trăm tiếng bướm,

Nghe thôi thinh thỉnh lại đồng tiền

(thơ Nôm bài 5)

Mà còn hiểm giảo:

Miệng nói sau lưng như dao nứa,

Lưỡi đưa trước mặt giống kim chì

(thơ Nôm bài 102)

Hoặc:

Trang 34

Lưỡi thế gẫm xem mềm tựa lạt,

Miệng người toan lại giống như chông

Trong thơ chữ Hán cùng như chữ Nôm thì con người ích kỷ, tự nhiên tham lam, gì cũng muốn vơ vét về mình:

Lập danh cưỡi hạc lại đeo tiền

(thơ Nôm bài 124)

Tác giả than thở trong Trung tân ngụ hứng:

Không gì hiểm bằng đường đời,

Không cắt thì toàn là gai góc

Không gì nguy bằng lòng người,

Buông lỏng ra thì toàn là quỷ quái

Nhân tình đen bạc, cương thường điên đảo vốn có nguyên nhân

từ xã hội loạn ly và vốn là hậu quả của sự suy thoái đạo đức của người cầm quyền Có thể nói những cảnh điên đảo trong luân thường lễ nghĩa, dẫn đến con người thành tham lam, xảo trá và xã hội đến loạn ly Sự kiến giải về lịch sử , về chính trị xã hội của Nguyễn Bỉnh Khiêm là kiến giải theo Nho giáo, Tống Nho Bài học lịch sử mà tác giả rút ra là bài học chung, đó cũng là giải đáp của Nguyễn Bỉnh Khiêm đối với thực tế lúc

đó Ông tin tưởng ở kỷ cương làm người (nhân kỷ) tức là đạo vua tôi, cha con, anh em, vợ chồng, bè bạn là do thánh nhân bắt chước trời mà đặt ra cho đời Theo đúng thì đời trị, nhân dân được nhờ, không theo thì loạn lạc, nhân dân bị cực khổ Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tin ở lẽ trời, ở

sự báo ứng Ngòi bút Nguyễn Bỉnh Khiêm bình thản ghi nhận “thế thái nhân tình” cũng là nhằm mô tả “đạo đức” của xã hội đương thời, một kiểu đạo đức thực dụng mà bản chất là phi đạo đức

Trang 35

Trong thơ Nôm ông nói trực tiếp đến mặt trái đồng tiền chỉ ở một

số bài Thường thì ông sử dụng các cặp đối tượng ở thế tương phản đối lập để đạt được mục đích biểu đạt sự điên đảo của cương thường xã hội, trong đó có cặp đối tượng: sang - hèn; giàu nghèo; mặn - nhạt; ngọt - bùi; được thời - thất thế

Được thời thân thích chen chân đến

Thất thế hương lư ngoảnh mặt đi

Hay:

Trước đến tay không nào thốt hỏi

Sau vào ghánh nặng lại tươi cười !

Rõ ràng Nguyễn Bỉnh Khiêm có tham vọng dùng thơ văn đạo lý

để giáo dục, giác ngộ người đời, hy vọng rằng nếu đạo đức và nhân phẩm được giữ gìn và bồi dưỡng thì con người có lạc thú, hài hoà mà xã hội cũng đi đến chỗ tốt đẹp Ông muốn xây dựng lại kỷ cương, chế độ và cao hơn muốn xoay lại cái thế thiên hạ bằng cách phục hồi đạo lý Nguyễn Bỉnh Khiêm đánh giá những hiện tượng của cuộc sống dưới giác

độ đạo đức triết lý Ông thấy rõ thực chất của những hiện tượng ấy, thốt

ra những lời mỉa mai chua chát Nguyễn Bỉnh Khiêm chê trách thế tình đen bạc, đạo đức suy đốn bộc lộ trước hết ở bọn đắc thời, đắc thế, và tỏ niềm thông cảm với cảnh ngộ cùng cực của nhân dân thì ông đã làm nổi bật được sự đối lập sâu sắc trong xã hội, giữa giàu và nghèo, giữa cái xấu

và cái tốt, cái tiêu cực phản động và cái tích cực tiến bộ Đạo lý mà Nguyễn Bỉnh Khiêm nêu lên vẫn nằm trong cái khuôn trung, hiếu, tiết, nghĩa, hoà, thuận Tuy nhiên lại gần gũi với nhân dân ở cách diễn đạt nghệ thuật Có thể nói Nguyễn Bỉnh Khiêm đã tố cáo mặt trái của đồng tiền với cái nhìn sắc xảo, góc cạnh Qua đó quan điểm về đạo đức cũng bộc lộ rõ nét

Trang 36

Nguyễn Bỉnh Khiêm là nhà thơ triết lý mà tấm lòng hồn hậu chứa nặng tình đời Bàn về thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, Vũ Khâm Lân viết: “Văn chương của ông rất là tự nhiên, không gò gấm, đơn giản mà khoáng đạt, đạm bạc mà vẫn có ý vị, đều có liên quan đến việc dạy đời ” Phan Huy

Chú cũng viết: “ Một ngàn bài thơ trong Bạch Vân am thi tập, đại để là

thanh tao, tiêu sái, hồn hậu, phong nhã, có ý thú tự nhiên” “Thanh tao”,

“tự nhiên”, “có ý vị”, “hồn hậu” đúng là đặc điểm cần được nêu lên trong phong cách thơ của ông Có được đặc điểm ấy chính là do chân tình của ông đối với đời Chân tình khi khuyên nhủ, bàn bạc, chân tình ngay cả khi tố cáo, phê phán Hầu như ông nghĩ sao viết vậy, cho nên thơ của ông thường có lời lẽ chân thực Đôi khi lời nói có ngụ ý, có dẫn điển, nhưng nói chung bao giờ cũng thẳng thắn, trung thực, giản dị Trung thực, giản dị khi nói về mình:

Tấm lòng tiên ưu đến già chưa thôi

Cùng, thông, đắc, táng ta có lo chi cho riêng mình (Tự thuật bài 34)

Ái ưu vằng vặc trăng in nước,

Danh lợi lâng lâng gió thổi hoa

(thơ Nôm bài 1)

Có ai biết được lòng tri kỷ

Vòi vọi non cao nguyệt một vầng

(thơ Nôm bài 6)

Trung thục giản dị khi nói về người:

Thuỷ giác nhân tình hữu biệt ly

Khứ mộng bất từ sa tái viễn

U hoài hoàn động cổ bề ty

Vô đoan điểm trích giai tiền vũ,

Trang 37

Tự hữu u nhân ngũ dạ trì

Dịch: (Mới biết tình người có biệt ly

Chiêm bao ra đi chẳng nề nơi quan ải sa mạc xa xôi

Lòng u uất còn chạnh niềm suy nghĩ về tiếng trống trận

Giọt nước mưa trước thềm bỗng nhỏ từng giọt

Dường như có người u uất nói gì trong đêm dài )

- Khuê tình -

Nguyễn Bỉnh Khiêm có những đức tính thuộc về truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc Những đức tính ấy thể hiện trong thơ văn ông cả Hán, Nôm Đặc biệt qua 161 bài thơ Nôm, Nguyễn Bỉnh Khiêm bộc lộ can trường, tỏ niềm ưu ái sâu sắc của mình Lòng “ ái ưu vằng vặc”, thái độ dũng cảm phê phán những tệ lậu của chế độ phong kiến, đức tính liêm khiết, giản dị, lão thực phong thái an nhiên kết hợp với nỗi chân tình làm nên giá trị của thơ văn và phẩm chất của con người Nguyễn Bỉnh Khiêm

Tuy nhiên phần quan trọng trong thơ đạo lý của Nguyễn Bỉnh Khiêm là ở những bài thơ chỉ rõ quy luật biến dịch trong cuộc đời và những bài thơ khuyên răn, theo Nguyễn Bỉnh Khiêm:

Thế nhất trị nhất loạn

Thời hữu khuất hữu thân

Cho nên không có một sự thuận mãn nào là vĩnh cửu, và do vậy người ta nên giữ lấy đạo, giữ lấy sự chân chất, không nên “sinh sự”, hãy yên phận:

Kẻ khó nhờ ơn có kẻ giàu,

Làm chi đua cãi, mất lòng nhau ?

Người hơn, ta thiệt thì dầu vậy,

Đấy thẳng, đây chùng, chẳng đứt đâu

Trang 38

Dại nọ chưa đo âu đã đắn

Khôn thì thốt trước lại lo sau

Thế gian hễ sự lành càng dữ

Hễ thấy ai han, hãy lắc đầu !

(Thơ Nôm bài 59)

Nguyễn Bỉnh Khiêm tin rằng chỉ có đạo lý và nhân tâm là hằng thường và ông khuyên mọi người hãy gắng làm điều thiện:

Chẳng chết được ấy là lòng người,

Chẳng mất được ấy là lẽ trời

Đầu mối của đạo nhân từ đó mà rút ra,

Tột độ của trị bình tới đó là đứng vững,

Ai là người biết rằng chỗ vui nhất

Chỉ là làm điều thiện mà thôi

(Cảm hứng 300 câu)

Nguyễn Bỉnh Khiêm có 30 bài thơ cả chữ Hán và Nôm bàn về những điều chính yếu nhất trong cương thường, xoay quanh các mối quan hệ: vua - tôi, cha - con, vợ - chồng, anh - em, thầy - trò, bạn bè và láng giềng Ở thơ Nôm ông đề cập đến nhiều vấn đề đạo đức hơn Bài cương thường tổng quát nói tóm tắt về tam cương, ngũ thường

Trời phú tính ở mình ta

Đạo cả cương thường năm mấy ba

Tôi hết ngay, chầu trực chúa

Con hằng thảo, kính thờ cha,

Anh em mựa nợ đều hơn thiệt,

Bầu bạn cho hay nết thực thà

Nghĩa vợ chồng xem rất trọng,

Ở đâu phong hoá phép chưng nhà

Trang 39

Ở các bài khác, Nguyễn Bỉnh Khiêm khuyên răn mọi người cách sống nhân ái, lương thiện trong gia đình và cộng đồng: Con kính thờ cha

mẹ, anh em không tranh giành nhau, chồng phải thương vợ, con dâu kính chiều cha mẹ chồng, họ hàng phải thương yêu nhau, bạn bè phải giữ chữ tín, không rủ rê nhau cờ bạc, rượu chè; đối với làng xóm phải “giữ bề lương thiện”, không tham, không điêu ngoa, không cậy sang mà kiêu ngạo, cậy giàu mà khinh nghèo, cẩn thận với sắc đẹp, bởi vì “bàn về tội

ác dâm ô đứng hàng đầu” Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng tỏ ra có quan điểm rất thiết thực, ông răn kẻ ham mê cờ bạc đừng mong giàu có ở nghề ấy, bởi vì:

Xoay vần nhà chủ đều vơ cả

Gian lận con kim cũng sạch không

(Thơ Nôm bài 156)

Ông khuyên người ta đừng “sùng phật vô ích và chớ tin chuyện nhảm chuyện đất cát mồ mả” (bài160)

Chất giáo huấn đậm nét hơn trong thơ Nôm của Nguyễn Bỉnh Khiêm Có thể điều đó là dụng ý của ông Ông muốn giữ gìn thế đạo, muốn đưa dân chúng trở lại phong tục giản phác thời Nghiêu Thuấn thái hoà, thơ Nôm do vậy là một phương tiện nhiều thuận lợi và nhiều hiệu quả

Chất giáo huấn trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm được các nhà nho đánh giá cao: “ Văn chương tiên sinh rất tự nhiên, không cần điêu luyện, giản dị mà lưu loát, thanh đạm mà nhiều ý vị, câu nào cũng

có quan hệ đến sự dạy đời ” (Vũ Khâm Lân - Phan Huy Chú)

Thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm vang lên như những lời giáo huấn đầy nhiệt tình, sôi nổi, đòi cải tạo những kẻ thống trị tàn bạo, xấu xa để bảo

vệ chế độ, còn thơ Nguyễn Du thì lại là tiếng kêu cứu cấp bách đòi bảo

Trang 40

vệ quyền sống của con người bị áp bức, chống lại chế độ đó Bởi vì Nguyễn Bỉnh Khiêm vẫn còn có cái mà tin, mà hy vọng, đó là xây dựng lại chế độ phong kiến chính thống theo mẫu Thuấn Nghiêu, khi chế độ phong kiến Việt Nam thế kỷ XVI chỉ mới hứa hẹn một bước phát triển mới, còn Nguyễn Du thì hầu như đã hoàn toàn bế tắc và tuyệt vọng

Trật tự phong kiến, chế độ phong kiến lý tưởng mặc nhiên được Nguyễn Bỉnh Khiêm coi là sự tồn tại có tính tất yếu, bất di bất dịch là vĩnh viễn Đứng trước nguy cơ lung lay của nó ông ra sức đề cao tư tưởng trung dung, lấy sự điều tiết dục vọng, lấy việc “khắc kỉ phục lễ” làm cứu cánh để cứu mình và cứu người Ông lý tưởng hoá cuộc sống thanh nhàn, ông thần thánh hoá những người biết điều tiết dục vọng, biết

Chữ nhàn vốn không thuộc phạm trù đạo đức, nhưng trong thơ

“nhàn” của Nguyễn Bỉnh Khiêm như đã trở thành chuẩn mực đạo đức Thơ là để nói chí, thơ nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng là để nói chí

Nó là một chuẩn mực cần thiết đề ra “trong thời nguy” Theo hình thức trình bày, Nguyễn Bỉnh Khiêm không ngại dùng những tư liệu thông tục, người ta dễ lầm tưởng chuẩn mực đó có điểm xuất phát từ nhân tố tâm lý phổ biến của con người nói chung và dường như nó cần được mọi tầng lớp quốc dân thực hiện Sự thật thì đối tượng chính đã được xác định Đó

là những người “ở triều đình thì tranh nhau cái danh, ở chợ búa thì giành nhau cái lợi” Đó là những kẻ: vì quyền lợi ích kỷ của tập đoàn, của dòng

họ, tiến hành những cuộc giao tranh đẫm máu, đem đất nước thống nhất

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w