Song với tính chât khoa học và cách mạng của mình, phép biện chứng mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật đã khăng định vị trí của mình là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
ĐẠI HỌC
BÀI TIỂU LUẬN
Đề tài: Lịch sử phát triỀn của phép biện chứng trong triết học
Giáo viên hướng dẫn: Vũ Thị Mai Lương
Sinh viên thực hiện:
I- Trần Hương Giang MSSV- 20204083
2- Nguyễn Thị Thùy MSSV- 20204170 3- Nguyễn ThuHuyền MSSV- 20204100 4- Vũ Như Quỳnh MSSV- 20204153
Trang 2Hà Nội, 2021
A.Muục dích
1 Lý do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của triết học là lịch sử phát triển của tư duy triết học gắn liền với cuộc đấu tranh của hai phương pháp : tư duy biện chứng và siêu hình Lịch sử phép biện
chứng đã trải qua quá trình hình thành và phát triển lâu dài và đã có lúc bị phép siêu
hình thông trị Song với tính chât khoa học và cách mạng của mình, phép biện chứng mà đỉnh cao là phép biện chứng duy vật đã khăng định vị trí của mình là học thuyết về sự phát triển dưới hình thức hoàn mĩ nhất, sâu sắc nhất và không phiến diện
Thực tiễn cách mạng đã chứng minh rằng chỉ khi nào con người nắm vững những lý luận về phép biện chứng và vận dụng sáng tạo các nguyên tắc phương pháp luận của nó
phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể thì quá trình cải tạo tự nhiên và biến đổi xã hội mới
thực sự mang tính cách mạng triệt đề Ngược lại, quan điểm siêu hình luôn xem xét sự
vật trong trạng thái biệt lập với lối tư duy cứng nhắc sẽ dẫn tới những hạn chế và sai lầm
không 0€ tránhrelcöfenaetifp trah nhápt86n,gã hệngXtHômavlÊsøehjệnrănclieh Bàng
được đặt ra như một nhu cầu tất yếu
Sự hình thành và phát triển phép biện chứng duy vật là một quá trình lâu dài và phức tạp, trải qua nhiều giai đoạn khác nhau với các trình độ phát triển cao thấp khác nhau Việc nghiên cứu lịch sử phát triển của phép biện chứng sẽ cho chúng ta thấy rõ bản chất của phép biện chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng nhân loại Xuất phát từ mục
đích đó, nhóm em chọn đề tài tiêu luận về: “ Lịch sử phát triển của phép biện chứng
trong triết học” để nghiên cứu
Trang 32 Kết cấu đề tà
A Mục đích: 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2 Kết câu đề tài 3
B Nội dung4
Chương 1: Lý Luận 4
Phần I: Các phép biện chứng trước Mác 4
1: Phép biện chứng thời cổ đại 4
1.1 Triết học Trung Quốc cổ đại ccc nọ neo 4
1.2 Triết học Ấn Độ cổ đại cc n Q2 ng TH ng này 5
2: Phép biện chứng Tây Âu c c2 2212k sey 9
3: Phép biện chứng cô điển Đức c2 nhe, 10
Phân II: Phép biện chứng duy vật và phép biện chứng Mác-xít II
1 Điều kiện kinh tế- xã hội cho sự ra đời của phép duy vật biện chứng
¬.- ANH KH n nÀ tà À TA TT n À Đà cm kh vn kh tk vn ke ceeeeee TL |
2 Nội dung phép biện chứng duy vật
Chương 2: Vận dụng và liên hệ 13
1 Vận dụng phép biện chứng duy vật trong quá trình xây dựng và thực hiện đường lối đôi mới của Đảng Cộng sản Việt Nam
13
2 Vận dụng phương pháp luận biện chứng duy vật đề nâng cao năng lực tư duy cho sinh viền
Trang 4l6
C Kết luận: 18
D Tài liệu tham khảo: 19
B.Nội dung
Chương I: Lý luận Phần I: Các phép biện chứng trước triết học Mác
1.Phép biện chứng thời cô đại
tiep BiÊcdữinglcônfaurkh ee£euôalứngtuInbát.xfyithøzeàRøiteiänEi HRlh6Nfi€m
của bản thân Ba trung tâm triết học lớn nhất thời bấy giờ là : Triết học Trung Quốc cổ
đại, triết học Ấn Độ cô đại và triết học Hy Lạp cô đại Bến cạnh những đặc điểm chung,
do đặc điểm văn hoá cũng như hoàn cảnh lịch sử khác nhau nên sự thể hiện tư tưởng
biện chứng trong học thuyết triết học mỗi trung tâm đều có những đặc điểm riêng không giống nhau
1.1: Triết học Trung Quốc cô đại
Trung Quốc cổ đại là một quốc gia rộng lớn có lịch sử lâu đời Những biểu hiện tôn
giáo, triết học cũng như tư tưởng biện chứng đã xuất hiện rất sớm, đặc biệt là từ thời kì
Xuân Thu- Chiến quốc trở đi Do đặc điểm của bối cảnh lịch sử Trung Quốc lúc bấy giờ
là xã hội loạn lạc, đời sống nhân dân cơ cực, đạo đức suy đôi nên triết học Trung Quốc
cô đại tập trung giải quyết các vẫn đề chính trị - xã hội Những tư tướng biện chứng thời
này được xây dựng trên cơ sở những cảm nhận trực quan về sự vận động và liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới thông qua các khái niệm “ giao cảm” của Âm-
Dương; “ sinh- khắc” của Ngũ hành; “dịch, biến, hoá, thời” trong Đạo gia,
Một trong những học thuyết triết học mang tử tưởng biện chứng sâu sắc là học thuyết
Âm Dương Đây là một học thuyết triết học được phất triển trên cơ sở một bộ sách có tên là Kinh Dịch Một trong những nguyên lý triệt học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi sự
Trang 5tồn tại không phải trong tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thê tương đông Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối
lập- đó là Âm và Dương Ẩm- Dương không loại trừ, không biệt lập, mà bao hàm nhau,
liên hệ tương tác lẫn nhau, chế ước lẫn nhau Kinh dịch viết: “ Cương nhu tương thôi nhỉ
sinh biến hoá.” Sự tương tác lẫn nhau giữa Âm và Dương, các mặt đối lập, làm cho vũa
trụ biến đổi không ngừng Đây là quan điểm thê hiện tư tưởng biện chứng sâu sắc
Tuy nhiện, học thuyết, Âm- Dương cho răng sự vận động của vạn vật diễn ra theo chu kỳ lặp lại và được đảm bảo bởi nguyễn tặc cân bằng Ẩm- Dương Ở điễm này thì học
thuyết không đề cao tư tưởng đấu tranh đề giải quyết mâu thuẫn mà cho rằng sự vận
động của các hiện tượng chỉ dừng lại khi đạt được trạng thái cân băng Am- Dương
Ngoài ra trong học thuyêt này còn nhiêu yêu tô duy tâm thân bí vô căn cứ
Tóm lại, tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc cô đại đã nhận thức đúng về
tính biện chứng của thế giới nhưng không phải dựa trên thành tựu khoa học mà băng
trực kiến thiên tài, trực quan chất phác, là kết quả của sự quan sát trực tiếp Do đó, chưa đạt tới trình độ phân tích giới tự nhiên, chưa chứng minh được mỗi liên hệ phổ biến nội
tại của giới tự nhiên Đây cũng chính là tư duy điển hình của người phương Đông trong suốt chiều dài lịch sử Tuy còn những tính chất trực quan, chất phác ngây thơ; những tư tưởng biện chứng trong triết học Trung Quốc cổ đại chính là những cơ sở vững chắc để phép biện chứng phát triển lên các hình thức cao hơn và hoàn thiện hơn
1.2 Triết học Ấn Độ cô đại
Ấn Độ là một trong những cái nôi triết học vĩ đại của nhân loại thời kỳ cổ đại Tư tưởng biện chứng trong triết học Ân Độ cô đại được xây dựng trên cơ sở của những cảm nhận trực quan vẻ sự vận động và mối quan hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới
1.2.1: Thời kỳ Veda ( 1500 —- 1000 năm TCN )
Tư tưởng biện chứng trong triết học Ân Độ cô đại thời kỳ Veda được xây dựng dựa trên việc cong người đi tìm những điểm giống nhau giữa vô tận các SỰ, vật, hiện tượng khác nhau và từ đó có những cảm nhận trực quan về sự vận động và mối quan hệ của các sự vật hiện tượng trong thế giới
Tư tưởng biện chứng thời kỳ Veda xuất phát từ Upanisad, trong đó nội dung là để cập đến các nguyên lý sáng tạo vũ trụ, Trong tất cả muôn vật đều có cái tôi ( Atman), và tất
cả Atman đều là bộ phận của tinh thần vũ trụ duy nhất, tức Brahman Upanisad đã trình bày thuyết luân hồi ( Samsara), cho rằng cong người sau khi chết sẽ tái sinh dưới một hình thức khác, người hoặc động vật Các dạng tái sinh kiếp sau được quy định bởi các
nghiệp ( Karma) đã có ở kiếp này Chính nhờ Upanisad đặt những vấn đề có ý nghĩa
Trang 6triết học thực sự nên các trường phái triết học sau cũng đã đề cập đến các khái niệm biện chứng như thống nhất, mâu thuẫn, liên hệ, chuyền động, biến đối Cụ thể mối quan hệ giữa lý trí( linh hồn) và thể các của Lokayata và Yoga, mối quan hệ giữa cái bất biến và biến đổi trong tông tại; cái vĩnh hằng( vật chất) và cái biến đổi ( các dạng của vật chất), giữa sống và không sống của Jaina giáo
1.2.2 Thời kỳ cổ điễn ( khoảng 700 năm TCN- 600 năm CN)
Trong tất cả các trường phái của Triết học Ân Độ cổ đại thì phép biện chứng tự phát
được thê hiện tập trung hơn trong triệt học Phật giáo
Cũng giống như thời kỳ Veda, tư tưởng biện chứng trong Triết học Phật giáo đã được
xây dựng dựa trên cơ sở của những cảm nhận trực quan về sự vận động và môi quan hệ của các sự vật hiện tượng của thê giới
Người sáng lập ra đạo Phật giáo là Buddha Phép biện chứng theo trường phái triết học của Buddha tuy còn mộc mạc và sơ khai nhưng cơ bản đã hình thành được tư tưởng biện chứng duy vật Tư tưởng vô thần trong Phật giáo nguyên thủy phủ nhận đẳng sáng tạo ( vô ngã, vô giả tạo) và có tư tưởng biện chứng ( vô thường, lý thuyết duyên khởi)
Tư tưởng biện chứng trong triết học Phật giáo được lý giải qua các phạm trù “ Vô ngã”;
* Vô thường” ; “ Luật nhân quả” và “ Giải thoát”
_ Vô ngã: sắc danh chỉ hội tụ với nhau trong một thời gian ngắn rồi lại chuyển sang
trạng thái khác Do vậy, không có trạng thái đứng 1m tuyệt đôi, không có cái tôi
_ Vô thường: bản chất sự tồn tại của thế giới là một dòng biến đổi liên tục Do vậy,
không thể tìm ra nguyên nhân đầu tiên, không ai tạo ra thế giới và cũng không có cái gì
là vĩnh hằng Phật giáo cho rằng thế giới là một dòng biến chuyên không ngừng Muôn
vật, muôn loài trong thế giới VỤ mất, vụt còn Sự sinh tôn của vạn vật luôn tuân theo
chu trình: sinh (sinh ra) - trụ (tồn tại) - dị (biến đi) - diệt (mắt đì)
- Luật nhân quả: Tât cá các sự vật, hiện tượng tôn tại trong vũ trụ, theo triết học Phật giáo, từ cái vô cùng nhỏ đến cái vô cùng lớn, đều không thoát ra khỏi sự chi phối của luật nhân duyên Nhân quả là một vòng tuần hoàn liên tục Nhân (hetu) tạo thành quả (phala) rồi trong quả lại manh nha nhân Nhưng nhân muốn thành quả thì phải thông qua
sự nối kết của duyên (pratitya) Duyên là điều kiện, là mối liên hệ trợ giúp cho nhân ở trong trạng thái khả năng biến thành hiện thực
- Đề “Giải thoát” khỏi luân hồi và nghiệp, Phật giáo đưa ra Tứ diệu đế Tứ diệu đề là bốn sự thật chắc chắn, bốn chân lý lớn, đòi hỏi chúng sinh phải thấu hiểu và thực hiện
nó Tứ diệu đề gồm:
Trang 7+ Khô đề: Bát khổ - sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt ly khổ (yêu nhau mà phải chia lìa nhau), oán tăng hội khổ (ghét nhau mà phải sống gần nhau), sở cầu bất đắc
khổ (muốn mà không được)
+ Tập đề: mọi nỗi khổ đều có nguyên nhân (12 nguyên nhân- vô minh, hành, thức,
danh sắc, lục nhập, xúc, thụ, á1, thủ, hữu, sinh lão tử) Vì không hiểu được ra nên nỗi
khô triển miên, từ đời này qua đời khác
+ Diệt đề: Là phải thấu hiểu được “Thập nhị nhân duyên” để tìm ra được căn nguyên của sự khổ - để dứt bỏ từ ngọn cho đến gốc rễ của cái khổ Thực chất là thoát khỏi
nghiệp chướng, luân hồi, sinh tử
+ Đạo để: Là con người ta phải theo đề diệt khổ, phải đào sâu suy nghĩ trong thế giới nội tâm (thực nghiệm tâm linh ) Phật giáo nhắn mạnh sự hoàn thiện đạo đức cá nhân và đưa ra nhiều phương pháp thực hiện Một trong số đó là “bát chính đạo”, nghĩa là 8 con
đường chính, đúng đắn: chính kiến, chính tư duy, chính nghiệp, chính ngữ, chính mệnh, chính tịnh tiễn, chính niệm, chính định
Sự hình thành và phát triển của phép biện chứng duy vật sơ khai cô đại trong triết học
Phật giáo đã có ảnh hưởng rất lớn đến đời sống xã hội thời bấy giờ Nó góp phần hình
thành nên một đời sống tinh thần phong phú của người theo đạo Bản thân quan điểm
duy vật ây cũng tự vận động, đấu tranh để phát triển và hình thành nên nhiều trường
phái triết học mới như Đại thừa và Tiểu thừa, đóng góp chung vào kho tàng đa dạng các
quan điểm triết học của lịch sử triết học thế giới
Tóm lại: phép biện chứng thời Ân Độ cổ đại là phép biện chứng tự phát, ngây thơ và
mang tính trực quan được hình thành trên cơ sở những quan sát tự nhiên, xã hội Trong tất cả các trường phái đó thì trường phải đạo Phật là có học thuyết mang tính duy vật biện chứng sâu sắc tiêu biểu của nên triết học Ấn Độ cô đại Qua việc tìm hiểu phép biện chứng tự phát thời kỳ Ấn Độ cổ đại đã giúp chúng ta thấy rõ bản chất của phép biện
chứng và sự phát triển của tư duy biện chứng của nhân loại
1.3 Triết học Hy Lạp cố đại
Mặc dù ấy còn nhiều tính cắt khúc nhưng phép biện chứng cổ đại Hy Lạp đang có
những phát hiện mới đối với phép biện chứng chính trong thời kỳ này thuật ngữ biện
chứng đã hình thành cùng với sự phát triển kinh tế, và sự hình thành xã hội nô lệ, Hy
Lạp cổ đại đã đạt được nhiều thành tựu to lớn về văn hóa, nghệ thuật mà trước hết là các
Trang 8thành tựu trong khoa học tự nhiên, thiên văn học, vật lý học, toán học đã làm cơ sở thực tiễn cho sự phát triển của triết học thời kỳ này Triết học Hy Lạp cô đại đã phát triển hết sức rực rỡ, trở thành nền tảng cho sự phát triển của triết học phương Tây sau này
Heraclit (540 đến 480 trước Công Nguyên ) ở thành Ephedo- một trung tâm kinh tế văn hóa nổi tiếng Hy Lạp cổ đại Theo đánh giá của các nhà kinh điển Mác-Lênin thì
Heracrit là người sáng lập ra phép biện chứng hơn nữa ông là người đầu tiên xây dựng phép biện chứng dựa trên lập trường duy vật
Phép biện chứng của Heraclit được trình bày dưới dạng một hệ thống các luận điểm
khoa học mà Hầu như các luận điểm côt lỗi của phép biện chứng được đê cập tới dưới dạng các câu danh ngôn mang tính thi ca và triết lý Tư tưởng biện chứng của Heraclit
được thể hiện như sau:
— Một là, quan điểm về sự vận động vĩnh cửu của vật chất Theo Heraclit thì không có
sự vật hiện tượng nào của thế giới đứng im tuyệt đối, mà trái lại tất cả đều trong trạng
thái biến đối và chuyển hóa thành cái khác và ngược lại Ông đưa ra luận điểm nổi tiếng:
“chúng ta không thể tắm hai lần trên một dòng sông vì nước mới không ngừng chảy trên sông” ; “ ngay cả mặt trời cũng mỗi ngày một mới” Theo quan điểm của Heraclit thì lửa chính là bản nguyên của thế giới; là cơ sở duy nhất và phố biến nhất của tất cả mọi Sự vật hiện tượng Đồng thời lửa cũng chính là nguồn gốc của mọi vận động: tất cả dạng khác nhau của vật chất chỉ là trạng thái chuyên hóa của lửa mà thôi
_ Hai là , Heraclit nêu lên tư tưởng vệ sự tôn tại phố biến của các mâu thuẫn trong mọi
sự vật hiện tượng Điều đó thể hiện trong những phỏng đoán về vai trò của những mặt đối lập trong sự biến đổi của tự nhiên về “sự trao đối của những mặt đối lập” về ° 'SỰ tổn tại và thống nhất của các mặt đối lập” Ông nói: “ cùng một cái ở trong chúng ta- sống
và chết, thức và ngủ, trẻ và giả Vì răng cái này mà biến đối mà thành là cái kia và ngược lại từ cái kia mà biến đổi thành cái này Heraclit đã phỏng đoán về sự đấu tranh và
thống nhất của những mặt đối lập Khi đánh giá về luận điểm trên Lênin viết: phân đôi
cải thống nhất và nhận thức và các bộ phận đối lập của nó là thực chất của phép biện
chứng Điều này chúng ta đã thấy xuất hiện ngay từ nhà biện chứng Heraclit
_ Ba là, theo Heraclit thì sự vận động phát triển không ngừng của thế giới do quy luật khách quan ( mà ông gọi là Logos) quy định Logos khách quan là trật tự khách quan là mọi cái đang diễn ra trong vũ trụ Logos chủ quan là từ ngữ học thuyết của con người Người nào càng tiếp cận được logos khách quan bao nhiêu thì càng thông thái bấy nhiêu
Lý luận nhận thức của Heraclit mang tính biện chứng và duy vật sơ khai nhưng cơ bản
là đúng
Ở thời cô đại, xét trong nhiều hệ thống triết học khác không có được tư tưởng biện
chứng sâu sắc như vậy Chính là những tư tưởng sơ khai của Heraclit sau này đã được các nhà biện chứng cô điển Đức kế thừa và các nhà sáng lập triết học Macxít đánh giá cao C.Mác và Ph.Ănghen đã đánh giá một cách đúng đắn giá trị triết học của Heraclit
và coi ông là đại biểu xuất sắc nhất của phép biện chứng Hy Lạp cô đại: “* Quan niệm về
Trang 9thế giới một cách nguyên thủy, ngây thơ nhưng căn bản là đúng Ấy là quan niệm của các nhà Hy Lạp thời cổ đại và người đầu tiên diễn đạt được rõ ràng quan niệm ấy là
Heraclit”
Trong học thuyết về nguyên tử của mình, Đêmôcrit ( 460- 370 trước CN) đã kế thừa
quan điểm của của Heraclit về vận động Ông cho rằng vận động của nguyên tử Ông cho rằng vận động của nguyên tử là vĩnh cửu và ông đã cố gắng giải thích nguyên nhân vận
đông tủa eøuvôntfrhBáp thôngguyệErió đânaleltUadndpsehozingomkoảng
Đêmôcrit đã không lý giải được nguồn gốc của vận động
Sau Đêmôcrit là Arixtot (384- 322 trước Công Nguyên) Ông cho rằng vận động
găn liền với các vật thể với mỗi sự vật hiện tượng của giới tự nhiên Ông cũng khăng định vận động là không thê bị tiêu diệt đã có vận động và mãi mãi sẽ có
vận động Arixtot là người đầu tiên đã hệ thống hóa các hình thức vận động ở
dạng:
1, Phái sinh
2, Tiêu Diệt
3; Thay đối trạng thái
5Š, Giảm
6, Di chuyển vị trí
Tuy nhiên Arixtot lại rơi vào duy tâm vì cho rằng Thần Thánh là nguồn gốc của mọi vận động Tóm lại phép biện chứng thời cô đại về căn bản là đúng nhưng chủ yếu mới dựa trên những phỏng đoán những dự kiến thiên tài phép biện chứng chất phác thời cô đại đã
nhìn thầy bức tranh chung của thế giới trong sự tác động liên hệ của các mặt đối lập
xong chưa đi và sâu chỉ tiết của bức tranh, vì vậy nó không tránh khỏi bị phục kích bởi phép siêu hình trong thời kỳ cận đại
8uá†héep biện @ứngr Hồkà 02(Rnk@XƑVS XMkHng thành của tư tưởng biện
chứng Tây Âu mang nhiều ý nghĩa độc đáo phép biện chứng trong thời kỳ này phát triển trong thời kỳ thống trị của tư duy siêu hình sau đêm trường Trung Cổ triết học là thứ
triết học kinh viện giáo điều gắn với đạo Thiên Chúa Đến thời kỳ Phục hưng triết học
thời kỳ này đã khôi phục lại những tư tưởng duy vật cô đại nhưng vẫn còn mang tính phiếm thần; yếu tố duy vật xen lẫn duy tâm Tuy nhiên phép biện chứng thời kỳ này vẫn
có bước phát triển nhưng những tư tưởng về "sự phù hợp các mặt đối lập" của
Gioocdano Bruno ( 1561- 1626) Theo G.Bruno, mọi cái đều liên hệ với nhau và đều vận động kể từ các hạt vật chất nhỏ nhất nguyên tử đến vô số thế giới của vũ trụ vô tận cái
này tiêu diệt cái kia ra đời Nếu không theo nguyên tắc "các mặt đối lập phủ hợp với
Trang 10nhau” thì dù là nhà toán học nhà vật lý Tại nhà triết học cũng không làm việc được
Một trong những đại biểu của triết học Tây Âu thời kỳ cận đại là PH.Becon (1561-
1626) Ph.Becon khăng định vật chất không tách rời vận động, nhận thức bản chất của
sự vật là nhận thức sự vận động của chúng Ông đã tiễn hành phân vận động thành 19 loại Tuy nhiên tính chất siêu hình của ông thể hiện ở chỗ ông quy mọi loại vận động về
Vận độệng:qœh9ãnSfig:sâng.efôntrbá 0s lug cBôctiđ#nsuyên tàimôkhìnhat66sÖf8nh
bảo toàn vật chất của thế giới
Trong thời kỳ cận đại, khoa học tự nhiên đã phát triển và đi sâu mồ xé phân tích
giới tự nhiên thành những bộ phận nhỏ để nghiên cứu Những phương pháp này
đã tạo ra thói quen nghiên cứu, xem xét sự vật trong trạng thái cô lập, tách rời và
bắt biến từ khi Ph.Becon và Lốc-cơ đã đem phương pháp trong khoa học tự
nhiên áp dụng vào triết học thì phương pháp trong khoa học tự nhiên trở thành phương pháp thống trị trong triết học
Phương pháp siêu hình đó đóng một vai trò tích cực nhất định trong quá trình nhận thức
đ6”kRäahtâncbbyemsgaphápoldeaitthícl ứaqg#6ldfiphiflÔsiHh, tsœm9lä ciớIáy đuêne10o
tượng thì nó bộc lộ rõ hơn những hạn chế, không đáp ứng được yêu cầu của nghiên cứu
khoa học Vì vậy nó không tránh khỏi bị phủ định bởi phép biện chứng của triết học cô
điển Đức với đỉnh cao là phép biện chứng Heghen
3 Phép biện chứng cỗ điển Đức
Lênin đã từng đánh giá: dù có sự thần bí hóa duy tâm nhưng phép biện chứng cô điển Đức đã đặt ra sự thống nhất giữa phép biện chứng, logic học và lý luận nhận thức Trong
các nên triết học trước C.Mác thì triết học cô điển Đức có trình độ khái quát hóa và trừu tượng hóa cao với kết cầu hệ thống chặt chẽ, logic đây là tiễn bộ của nền triết học Đức
#fewúñEgáet6tsiff hac¿áét Nên mỗtdeecô điển Đức bắt đầu từ Kantơ đạt đỉnh cao ở Kantơ (1724- 1804) là người sáng lập ra trường phái triết học cô điện Đức Ông cho rằng chỉ khi nhận thức ở trình độ lý tính thì mới có mâu thuẫn mà chưa thấy được rằng mâu thuẫn là vốn có trong hiện thực khách quan Mâu thuẫn chưa phải là mâu thuẫn biện chứng giữa chính đề và phản đề; chưa có sự thông nhất và chuyền hóa lẫn nhau Hơn nữa ông chỉ giới hạn có 4 mâu thuẫn Mặc dù còn nhiều hạn chế nhưng trong vẫn
đề này Kantơ đã tiễn gần đến phép biện chứng
Heghen (1770- 1831) là nhà biện chứng lỗi lạc phép biện chứng của ông là một tiền đề lý luận quan trọng của triết học Mácxít Triết học của ông có ảnh hưởng rất mạnh
đến tư tưởng của nước Đức và cả châu Âu đồng thời tiết học của ông được gọi là: "tỉnh