1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Xây dựng quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học ở tiểu học và vận dụng vào một số bài học của môn tự nhiên xã hội lớp 4 nhằm nâng cao nhận thức cho học sinh

81 35 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 81
Dung lượng 1 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH khoa gdth ====== nguyễn thị hoàng yến XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ CHO NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC VÀ VẬN DỤNG VÀO MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA MÔN TỰ NHIÊ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

khoa gdth

======

nguyễn thị hoàng yến

XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ

CHO NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC VÀ VẬN DỤNG

VÀO MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 4

NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO HỌC SINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Trang 2

TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

khoa gdth

======

nguyễn thị hoàng yến

XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ

CHO NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC VÀ VẬN DỤNG

VÀO MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 4

NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO HỌC SINH

LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP

Ngành : Giáo dục tiểu học

Chuyên ngành: giáo dục học

Trang 4

6 Giả thuyết khoa học 4

B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6

Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 6

1.2 Thực trạng vấn đề giáo viên chuẩn bị thông tin hỗ trợ

cho nội dung dạy học đã có trong sách giáo khoa ở Tiểu học

18

Chương II Quy trình chuẩ bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh Tiểu học

3.5 Kết quả đầu ra của các nghiệm thể sau thực nghiệm 49

C KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT SƢ PHẠM 54

D PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU 56

Trang 5

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

a Phần mở đầu

1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:

Bước vào thế kỷ XXI, loài người đã đủ cơ sở để khẳng định vai trò

thông tin và tri thức Sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ ở

những thập niên cuối thế kỷ XX trên thế giới đã luận chứng hùng hồn cho dự

báo của Các Mác cách đây trên một thế kỷ: đến một lúc nào đó trình độ loài

người đạt đến mức: "Tri thức xã hội biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp"

Cũng thời điểm đó , Các Mác từng chỉ ra: "Một ngày chúng ta sống biến đổi

bằng một thế kỷ của loài người Nguyên Thuỷ Nhà tương lai học nổi tiếng

người Mỹ, Alvin Tofler đã viết: "Loài người sau khi đã trải qua nền văn minh

Trang 6

nông nghiệp, văn minh công nghiệp và từ những năm 50 của thế kỷ XX với

sự ra đời của máy tính điện tử, loài người bước vào nền văn minh trí tuệ"

Song dù trải qua nền văn minh nào thì loài người cũng thống nhất với nhau ở

một quan điểm cơ bản , đó là nhân loại tồn tại và phát triển không thể thiếu

tri thức và thông tin

"Xã hội hoá thông tin", "bùng nổ thông tin", "cập nhật thông tin" đó

là những thuật ngữ, khái niệm mà trong cuộc sống ngày nay chúng ta thường

sử dụng và nhắc tới Nhân loại đang bước vào kỷ nguyên thông tin, vào xã

hội được xây dựng trên nền tảng tri thức, vào xã hội học tập Trong xã hội đó

ai làm chủ, tiếp cận nguồn thông tin tri thức nhanh nhất, sớm nhất, nhiều nhất

thì cơ hội chiến thắng sẽ thuộc về người đó Hay thông tin tri thức tạo ra mọi

quyền lực, là động lực của sự phát triển Thực tiễn đó đặt ra cho giáo dục

nhiều cơ hội, song cũng không ít thách thức Giáo dục với tư cách là "công cụ

chủ yếu tạo nên sự phát triển", là "chìa khóa mở cửa vào tương lai" đòi hỏi

phải có nhìn nhận mới mang tính chọn lọc nhưng đa dạng để có thể đi cùng,

đi trước đón đầu sự phát triển Một thực tế đang tồn tại không chỉ ở nước ta

mà ở hầu hết các nước trên thế giới, đó là: mâu thuẫn giữa nội dung tri thức

sách giáo khoa và sự bùng nổ, gia tăng thông tin đang diễn ra hàng ngày,

hàng giờ Tri thức sách giáo khoa chỉ là kết quả của sự lựa chọn những tri

thức mang tính lịch sử của một giai đoạn nhất định và khả năng cập nhật

thông tin là không thể thực hiện được Trong khi ngày nay,học sinh đến

trường không chỉ có nhu cầu lĩnh hội nguồn tri thức trong sách giáo khoa mà

các em còn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá các sự vật hiện tượng đa dạng của

thế giới xung quanh Song điều đó bản thân sách giáo khoa chưa thể đáp ứng

được Vì thế một yêu cầu được đặt ra trong quá trình dạy học là cần đến

những tri thức, thông tin bên ngoài có liên quan Yêu cầu đó phù hợp với xu

thế hướng ngoại, không chịu bó hẹp trong chương trình sẵn Đồng thời nó

gắn tri thức sách giáo khoa và thực tiễn với nhau Nhưng thực tế dạy học hiện

Trang 7

nay ở trường Tiểu học cho thấy nhiều giờ học không đạt hiệu quả, nội dung

giờ học còn nghèo nàn Vấn đề "trung thành" với nội dung chương trình Sách

giáo khoa đã được giáo viên nhìn nhận máy móc, thiếu sự linh hoạt, sáng tạo

Các giờ học hầu như chỉ là sự truyền thụ một chiều những gì sách giáo khoa

có mà không tạo ra một sự phát triển mới nào Ít giáo viên tiến hành "chế

biến" lại nội dung bài học cho phù hợp với trình độ nhận thức , nhu cầu và

hứng thú học tập của học sinh Phần lớn việc soạn bài, chuẩn bị bài được giáo

viên tiến hành giống sách soạn sẵn và cũng không được tiến hành theo một

quy trình cụ thể nào Do đó giờ học không đạt hiệu quả cao, ít kích thích

được sự hứng thú học tập, tìm hiểu ở học sinh Đó là chưa kể đến việc chuẩn

bị bài không tốt đã làm cho không ít giáo viên lúng túng trước những câu hỏi

"bột phát" của học sinh và cũng không ít giáo viên đã tìm mọi cách né tránh

trả lời những câu hỏi đó , bởi họ không có sự chuẩn bị về mặt nội dung thông

tin, tri thức về vấn đề mà câu hỏi đề cập Hay giáo viên không dự đoán được

những khó khăn về mặt thông tin mà nội dung bài học đặt ra cho học sinh

Điều đó hạn chế rất nhiều sự say mê, khả năng tìm hiểu, khám phá thế giới

xung quanh ở học sinh

Việc nghiên cứu, tiến hành chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy

học theo một quy trình cụ thể không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà nó

còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Một mặt góp phần vào việc đổi mới nội dung

dạy học hiện nay ở tiểu học, mặt khác nó giúp giáo viên nắm được những khó

khăn về mặt thông tin mà học sinh sẽ gặp phải trong khi cố gắng hiểu nội

dung kiến thức Đồng thời giáo viên dự đoán được những tình huống có thể

xẩy ra để có thể chuẩn bị tốt thông tin cần thiết, cách xử lý phù hợp góp phần

nâng cao chất lượng , hiệu quả dạy học

Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: "Xây dựng

quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học ở Tiểu học và

Trang 8

vận dụng vào một số bài học của môn Tự nhiên và xã hội lớp 4 nhằm

nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh"

2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:

Xác định quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh và chứng minh tính hiệu quả

của nó trong dạy học ở môn Tự nhiên và xã hội

3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:

3.1 Nghiên cứu các tài liệu lý luận liên quan đến đề tài

3.2 Tìm hiểu quá trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung bài dạy

trước khi lên lớp của giáo viên

3.3 Đề xuất quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học ở

trường Tiểu học

3.4 Tiến hành thực nghiệm để thu thập kết quả dạy theo quy trình

chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU

4.1 Khách thể nghiên cứu

Quá trình dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở lớp 4, 5 -Tiểu học

4.2 Đối tượng nghiên cứu

Việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học ở trường Tiểu học

theo hướng nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh ở môn Tự nhiên và xã

hội lớp 4,5 Vận dụng kết quả nghiên cứu vào phân môn Địa lý lớp 4 để

chứng minh

5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:

Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận:

- Phương pháp phân tích lý thuyết, tổng hợp lý thuyết, hệ thống hoá

lý thuyết

- Các phương pháp phát hiện:Quan sát, điều tra, thực nghiệm

- Các phương pháp thống kê toán

6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:

Trang 9

Hiệu quả nhận thức của học sinh sẽ được nâng cao, nếu trong quá

trình dạy học, giáo viên chuẩn bị và thực hiện tốt các thông tin bổ sung hỗ trợ

cho nội dung dạy học đã có trong sách giáo khoa

7 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN:

- Về lý luận: Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu việc chuẩn bị thông tin

hỗ trợ cho nội dụng dạy học ở môn Tự nhiên xã hội

- Phần thực nghiệm chứng minh, do hạn chế về thời gian và địa bàn,

nên chỉ tiến hành ở phân môn Địa lý lớp 4 của môn tự nhiên xã hội

8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:

A Mở đầu

B Nội dung nghiên cứu

Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

Chương 2: Quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy

học ở trường Tiểu học và vận dụng vào phân môn Địa lý của môn Tự

Từ hiểu biết về thuyết thông tin và quá trình dạy học cùng thực tiễn

của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học của giáo viên dạy học,

luận văn của chúng tôi sẽ góp phần làm sáng tỏ quy trình chuẩn bị thông tin

hỗ trợ nội dung dạy học cho môn Tự nhiên xã hội ở bậc Tiểu học

9.2 Về thực tiễn:

Luận văn đã chứng minh được tính hiệu quả của quy trình chuẩn bị

thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học môn Tự nhiên

xã hội lớp 4 ở Tiểu học

Trang 10

b Nội dung nghiên cứu

Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI

1.1 THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC.

1.1.1 Khái niệm:

Thông tin là một khái niệm đã có từ lâu Đây là một khái niệm rất

rộng Tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu, mà người ta đưa ra những

định nghĩa khác nhau, giới hạn khái niệm đó lại để phục vụ mục đích nghiên

cứu cụ thể Chẳng hạn có những cách hiểu sau đây:

- Thông tin là nội dung của thế giới bên ngoài được thể hiện trong sự

Trang 11

- Thông tin là sự bất định bị thủ tiêu (Shannon K) - Thông tin là

việc truyền đưa độ đa dạng (Esbi.R)

- Thông tin là thực thể, là độ đo tính phức tạp (Mole.A)

- Thông tin là xác suất của sự lựa chọn (Iaglini)

- Thông tin là một phạm trù phản ánh nội dung và hình thức vận động

của các sự vật và hiện tượng, là sự hạn chế tính đa dạng của một hệ thống,

mỗi sự vật đối với môi trường, và tính trật tự của các đối tượng vật chất có

những mối liên hệ biện chứng (Các nhà điểu khiển học)

- Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương

tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy Hay gọn hơn: Thông tin là

quá trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu biết,

thành tri thức (Các nhà triết học)

- Thông tin trong hệ thống kinh tế xã hội là sự phản ánh nội dung và

hình thức vận động, liên hệ giữa các đối tượng, các yếu tố của hệ thống đó và

giữa hệ thống đó với môi trường (Các nhà xã hội học)

- Thông tin là sự chuyển tải văn minh nhân loại và dân chủ xã hội

(Các chính khách)

Những khái niệm có những khía cạnh nhận biết khác nhau, có thể

hiểu: thông tin trong dạy học là những tín hiệu được mã hoá từ nội dung trí

dục, đó là những tín hiệu mới (tri thức mới) được thầy giáo chuyển tải thông

qua quy trình điều khiển, được học sinh chấp nhận và nhận biết sử dụng có

hiệu quả để giải quyết những bài tập, những vấn đề trong học tập và đời sống

Thông tin về mặt bản chất không phải là vật chất, nhưng nó luôn luôn

tồn tại dưới các vỏ vật chất, những vật mang tin như: các sự vật và hiện

tượng, các sản phẩm, các dạng hình vật chất, âm thanh (bằng hình, lời nói…)

do đó, cùng một sự vật và hiện tượng xẩy ra, nhưng tuỳ thuộc vào người nhận

tin khác nhau mà nội dung thông tin được nhận biết khác nhau Ví dụ như

trong cùng một tập thể được nghe chung một thông báo, người này thì hứng

Trang 12

thú vì nó là mới với họ và đang có nhu cầu, người khác thì thờ ơ vì họ đã biết

rồi và không cần đến tin tức đó, còn có người lại vừa chú ý vừa không vì họ

không có khả năng tiếp nhận thông báo đó Cũng vậy, trong một lớp học

người thầy giáo biết mã hoá những thông tin (nội dung trí dục) để học sinh

giỏi cũng hứng thú học tập vươn lên, học sinh yếu cùng với sự nâng đỡ của

thầy cũng tiếp nhận được và cố gắng học tập đạt kết quả Nghĩa là người thầy

giáo phải biết làm cho mọi học sinh trong lớp đều có nhu cầu nhận tin

Vai trò của thông tin trong dạy học là hết sức to lớn và được biểu hiện

ở các mặt sau:

- Thông tin là cơ sở, là tiền đề dạy học Thầy giáo sẽ không thực hiện

được nhiệm vụ dạy học nếu không nắm chắc thông tin, không biết mã hoá

thông tin Nội dung dạy học được hiện đại hoá nên không ít giáo viên Tiểu

học cũng như giáo viên PTTH cơ sở đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy

học của mình

- Thông tin là công cụ của dạy học, nên người thầy giáo phải thực sự

tinh thông chẳng những về mặt lý thuyết và giải các bài tập, mà còn phải nắm

vững một số các khoa học liên ngành Khi thầy giáo giảng bài thực chất là

thủ tiêu độ bất định (định nghĩa thông tin), nhưng cái quan trọng là mức độ

thủ tiêu độ bất định, tin tức truyền đi trọn vẹn và đầy đủ, học sinh được tin

tức không nhiễu loạn thì nhất định sự phản ứng trở lại (thông tin ngược) là tốt

đẹp), ta có được "cái ra" hoàn chỉnh

1.1.2 Phân loại thông tin trong dạy học

Phận loại thông tin trong dạy học có nhiều cách:

1.1.2.1 Thông tin tiếp nhận, chia thành 2 loại

- Tiếp nhận có hệ thống: Thông tin đưa đến học sinh theo chu kỳ

"năm học", trong năm học lại chia thành 2 chu kỳ nhỏ "học kỳ 1" và "học kỳ

2" Tất cả thông tin khoa học (theo môn học) đã được chương trình hoá

nghiêm ngặt Người nhận tin (học sinh) có thể kiểm soát được mình và cũng

Trang 13

kiểm soát được cả người truyền tin Có ba giả thuyết trong thông tin tiếp

nhận:

1 Tiếp nhận bằng cách thích nghi (chủ thể học tập bằng cách tự thich

nghi, nghĩa là tự đồng hoá và điều tiết) với môi trường truyền tin, môi trường

này thường xuyên sinh ra mâu thuẫn, mất cân bằng Bởi vì đối với học sinh

từ cái đã có với điều kiện mới, thông tin mới tạo ra mất cân bằng, điều tiết là

tạo ra cân bằng tương đối

2 Môi trường không có dụng ý sư phạm là không đủ điều kiện tiếp

nhận thông tin, những thông tin mà chủ thể muốn tiếp nhận là các tri thức mà

xã hội cần cho chủ thể lĩnh hội để phát triển

3 Những thông tin mới được học sinh tiếp nhận có khi chống lại

những kiến thức cũ nguyên thuỷ và định kiến

- Tiếp nhận không hệ thống thông tin: Thông qua ngoại khoá môn

học, công tác xã hội, hoạt động văn hoá, văn nghệ… tiếp nhận những tin tức

ngẫu nhiên, không thể dự kiến hết được

Tất cả các hoạt động này vẫn nằm trong tình huống sư phạm, những

đề xuất của thầy giáo thông qua hoạt động này, tin tức đến với học sinh là bất

ngờ chứ không phải do ý thích của người dạy

1.1.2.2 Phạm vi lĩnh vực hoạt động:

Thông tin có thể chia thành các loại sau:

- Thông tin Toán học: Những tri thức thuộc các bộ môn của Toán học

được quy định trong chương trình, kế hoạch Những tri thức này phù hợp với

cấp học, phù hợp với lứa tuổi thích hợp cho sự nhận thức

- Thông tin các khoa học tự nhiên: Những tri thức thuộc các bộ môn

của Vật lý học, của Hoá học, và của Sinh học

Trang 14

- Thông tin khoa học nhân văn: Những tri thức thuộc Văn học, Lịch

sử, Xã hội học, Tâm lý học…

1.1.2.3 Đặc điểm và tính chất sử dụng:

Đó là thông tin đầu vào và thông tin đầu ra

- Thông tin đầu vào là bao gồm tất cả các tri thức của các khoa học

có trong chương trình học, kể cả các thông tin cung cấp cho nội dung dạy

học, thông tin ngoại khoá và hoạt động khác mang lại Bỡi vì tất cả các loại

thông tin này đều có dụng ý sư phạm

- Thông tin đầu ra được thể hiện qua kiểm tra môn học, những tri thức

được vận dụng vào thực tế hiểu biết thể hiện trong luận bản, cách cư xử hàng

ngày Đó là thế giới quan và nhân sinh quan của con người, đó là sáng tạo giá

trị và chọn lọc giá trị, và nói tóm lại đó là bộ mặt đạo đức của một con người

được thể hiện qua cuộc sống của họ

Thông tin vào phong phú thì thông tin ra sẽ chất lượng tốt, thông tin

vào đơn sơ thì thông tin ra sẽ hời hợt Tích luỹ thông tin là biện pháp rất quan

trọng để nâng cao trình độ và không có đỉnh cao khoa học nào lại không xuất

phát từ nguyên lý gốc giản đơn ấy

1.1.2.4 Kênh thu nhận thông tin dạy học

- Thông tin chính thống (Nội dung dạy học được chương trình hoá)

học sinh thu nhận theo kênh dọc, từ thầy đến trò hoặc từ tài liệu đến trò nếu

như tài liệu được viết một cách đặc biệt, thuận lợi cho việc học tập

- Thông tin không chính thống (thông qua ngoại khoá khoa học, đọc

sách tham khảo, hoạt động thực tiễn…) học sinh không nhận kênh chính

thức, thường là tự kiếm Cũng chính lí do này mà ta thấy chất lượng học tập

khác nhau ở mỗi học sinh Tóm lại, trong đời con người đã diễn ra hàng

ngàn, hàng vạn chu kỳ thông tin và thông thường tín hiệu vào của chu kỳ sau

phức tạp hơn chu kỳ trước, cũng từ đó chất lượng tín hiệu ra lần sau cũng

Trang 15

phong phú hơn lần trước Sự tiếp nhận thông tin cả hai kênh chính là quá

trình nâng cao không ngừng khả năng làm việc của học trò

1.1.3 Các nguồn thông tin giáo dục (thông tin đầu vào)

Để nâng cao chất lượng dạy học của người thầy giáo, cần phải khơi

thông đầy dủ các nguồn thông tin cần thiết cho việc tiếp nhận, chế biến và

cống hiến của học sinh

1.1.3.1 Từ giáo dục nhà trường:

Đối với tuổi học sinh, đây là nguồn thông tin chủ yếu, một nguồn

thông tin vô giá, ít nhiễu loạn Ở nhà trường, trong quan hệ giữa thầy và trò

thì học sinh được nghe những lời nói theo khuôn vàng thước ngọc, trong

quan hệ giữa học sinh với nhau thì trong trắng vô tư, không chứa đựng những

yếu tố nhiễu loạn tâm hồn Trong khoa học, đây là những thông tin chọn lọc từ

các khoa học, nó mang đầy đủ tính chất: hiện đại, cơ bản, thực tiễn và rất

trong sạch Sự cấu tạo, sự mã hoá những loại thông tin này đã được quy định

và chắc chắn đã gắn cho nó cách thức để nhận thức cụ thể là học sinh chờ đợi

một sự uỷ thác với một tình huống tiền sư phạm thích đáng, đòi hỏi học sinh

phải thích nghi với tình huống đó trong một môi trường có điều kiện phản hồi

1.1.3.2 Từ gia đình:

Đây là một môi trường có nguồn tin phong phú, đa dạng và phức tạp

đầy nhiễu loạn Trong một ý nghiã chung, một nguyên lý chung, một quy luật

chung đúng với mọi gia đình Nhưng còn về hiểu biết vận dụng thì đầy thách

thức và đe dọa đối với trẻ Cái đạo làm cha mẹ thì lưu chuyễn từ đời này qua

đời khác như nước chảy dưới cầu, nhưng cái khổ là chổ này nó lại trụ vào cái

chén, chỗ kia trụ vào cái chai… mà thành cái hình ,nên mất đi cái tính lưu

chuyển của nó Đôi khi học sinh lại nhận từ cha mẹ những thông tin trái ngược

đối với nhà trường, đấy là chưa kể đến phản lại nhà trường ở một số trường

hợp đáng chê trách

1.1.3.3 Từ giáo dục xã hội:

Trang 16

Thông tin giáo dục từ các hoạt động xã hội là chọn lọc, phong phú và

đa dạng Thế hệ trẻ tiếp nhận nguồn tin từ văn hoá, văn nghệ thông qua cơ

quan nhà nước bao giờ cũng phản ánh được hiện thực khách quan đem lại

cho cuộc sống và hướng tới cái chân, cái thiện, tạo dựng cho con người cái

"Tâm" Cũng như vậy, thông qua các hoạt động giáo dục khác có tổ chức đều

là nguồn tin tốt, những lý luận có tính kinh điển, những kinh nghiệm có tính

chất cổ truyền, và những tài liệu có tính chất giáo trình… mà mỗi ngày, mỗi

giờ đi vào cuộc sống của trẻ Nhưng tiếc thay trong nguồn tin giáo dục xã hội

lại thường bị lực lượng khác làm nhiễu loạn, những nguồn tin trái ngược lại

dễ đi vào đầu óc của trẻ

Tóm lại, "Cái gì còn non thì mềm dẻo, mà cứng rắn thì đã già, đã khô

cằn" (đấy là lời của Lão Tử: Sinh của cả nhu nhược, kỹ tư giả kiên cường)

bởi vậy ba nguồn tin này phải điều hoà, ba lực lượng giáo dục phải thống

nhất, cái gì còn non thì dễ uốn nắn, còn khi đã già, đã cứng rắn thì chỉ còn hối

tiếc Nếu mà giáo điều nghiêm ngặt quá thì đó là cảnh tượng của già cỗi,

đang dần dần mất hết sinh khí Thông tin giáo dục như nước Nước mà đông

đặc sẽ thành đá, không còn lưu chuyển được nữa

1.1.4 Hệ thống thông tin trong dạy học:

Hệ thống thông tin trong dạy học là hệ thống các phân hệ đảm bảo

thông tin cho quá trình dạy học để đạt được mục tiêu giáo dục Bao gồm các

Trang 17

1.4.1 Thu nhận:

- Khi não bộ nhận tin thường phải mất một số năng lượng Người ta

đã nghiên cứu các phản ứng của cơ thể đối với sự kích thích nào đó (bằng lời

nói hay các tác động khác…) phân thành 2 loại

+ Phản xạ đơn giản: Là một phản ứng xác định nào đó đối với tín hiệu cụ thể cho trước

+ Phản xạ phức tạp: Trong loại phản xạ này, quan trọng nhất là phản xạ có lựa chọn, với những tín hiệu khác nhau có những phản ứng

khác nhau

Thu nhận là khâu đầu tiên của hệ thống thông tin yêu cầu chính của

khâu này là:

- Nhận những tin đúng yêu cầu, đó là những thông tin khoa học phù

hợp, thông tin văn hoá tươi đẹp và thông tin đạo đức trong sáng đưa con

người đến giá trị chân - thiện - mỹ

- Nhận được đầy đủ thông tin Dù nhận được thông tin đúng yêu cầu

mà không đầy đủ thì vẫn không đem lại sự trưởng thành cho con người

Trong giáo dục, thông thường giáo dục và phát triển thì dễ, còn giáo dục lại

là rất khó Tuy vậy, nếu bỏ sót quá trình thông tin nào đó thì sự bù đắp thật là

nan giải

1.1.4.2 Chọn lọc

Thông tin từ ba nguồn như trên đã trình bày, đòi hỏi học sinh phải

chọn lọc khi tiếp nhận Ngay đến thông tin ở nguồn thứ nhất - nguồn thông

tin từ nhà trường, học sinh cũng cần chọn lọc thật tinh thì sự học tập mới thực

sự có kết quả Còn thông tin từ hai nguồn gia đình và xã hội lại càng đòi hỏi

thế hệ trẻ phải hết sức chọn lọc khi tiếp nhận, bởi vì nguồn tin đó phức tạp,

đa dạng và nhiễu loạn Ta thường thấy cái gì là mặt trái, mặt tiêu cực lại dễ

làm cho học sinh chịu ảnh hưởng tồi tệ Người thầy giáo, nhà giáo dục và các

Trang 18

cơ quan giáo dục phải chọn lọc đẻ đưa đến cho thế hệ trẻ những gì quý nhất

của cuộc đời, cuộc sống tốt đẹp!

1.1.4.3 Phân loại:

Sự thật trong nhà trường, từng môn học truyền thụ cho học sinh đã

mang tính chất phân loại Nhưng cũng nên hiểu một cách đầy đủ hơn là phải

dựa vào phương pháp luận khoa học mà phân loại:

1.Toán học: Phương pháp suy lý và chứng minh

2.Khoa học tự nhiên: Phương pháp thực nghiệm

-Vật lý học: Phương pháp thực nghiệm - Quy nạp - mở rộng

- Sinh học: Phương pháp thực nghiệm - Quy nạp - tương tự

3.Khoa học nhân văn:

- Khoa học chuẩn tắc: Phương pháp tư duy lý trí - luận ba đoạn

- Khoa học thực chứng: Phương pháp tổng kết kinh nghiệm - Quy nạp

thiết lập lại, Thống kê so sánh

1.1.4.4 Xử lý:

Đây là khâu quan trọng của hệ thống đảm bảo thông tin, mục đích là

biến đổi khối tin đa dạng thành nguồn tri thức phục vụ cho sự bảo quản và

dùng tin, tức là vận dụng tri thức vào cuộc sống

- Mẫu hoá các tri thức để tiện xử lý, tiện lưu trữ

- Phân tích để hiểu đầy đủ tính chất của từng khối tin đã tiếp nhận

- Tổng hợp các khối tin theo các dấu hiệu đặc trưng để dễ nhớ, dễ vận

dụng

Quá trình xử lý thông tin thường làm cho dung lượng và chất lượng

của thông tin tăng lên Nhưng điều quan trọng là làm cho người dùng tin

được số lượng thông tin lớn hơn và đặc biệt là giá trị của thông tin đó

1.1.4.5 Bảo quản:

Trang 19

Khi con người có được trí tuệ rộng rãi, sức tưởng tượng mạnh mẽ và

tâm hồn năng động, đó chính là do con người bảo quản được khối tin phong

phú Đây là ta nói đến sự bảo quản bằng trí nhớ, bằng cách xếp đặt ngân nắp

trong não bộ Cuộc đời của một nhà khoa học là quá trình trao đổi thông tin,

sự bảo quản là cả một qúa trình góp nhặt trong đời để được một khối tin có

giá trị, còn quá trình phát tin là sự cống hiến của nhà khoa học

Ngày nay với kỹ thuật tin học phát triển, để giảm bớt gánh nặng đè

lên trí nhớ của con người, nghĩa là dạng thông tin chỉ có tính chất tra cứu khi

cần sử dụng, người ta đã ghi nó vào băng từ, đĩa từ…để bảo quản bộ nhớ của

máy tính điện tử

1.1.4.6 Phản ứng hay là phát tin:

Khả năng chế biến tín hiệu của não bộ cũng có giới hạn Thông

thường tín hiệu vào giản đơn thì tín hiệu ra thô sơ, tín hiệu vào dồi dào,

phong phú thì tín hiệu ra sắc sảo và súc tích

Phát tín hiệu là giai đoạn cuối cùng của một chu kỳ thông tin Tuy

vậy, tín hiệu ra phản ánh đặc điểm của khối tin và khả năng hoàn thiện của

nó Khả năng phát tin còn phụ thuộc vào quá trình tích luỹ của bộ óc, vì vậy

ở tuổi trưởng thành con người có nhiều khả năng cống hiến

Đối với thầy giáo, học sinh là một loại "hộp đen" Người thầy giáo

biết mình đưa ra những thông báo nào đến với học sinh, nhưng không biết

được sự biến đổi như thế nào trong óc họ, những thông tin nào còn lại và

những cái gì đã bay ra khỏi đầu óc sau một thời gian ngắn Ta thấy không chỉ

có quá trình nắm được những cái có sẵn, không kém phần quan trọng là sự

"tìm kiếm" những kiến thức mới và muốn làm được điều này không thể thiếu

được sự hoàn thiện của quá trình tư duy Lý thuyết thông tin mở ra biết bao

nhiêu cái mới lạ nếu ta dùng nó để nghiên cứu con người, nghiên cứu vấn đề

dạy học và giáo dục

1.1.5 Vấn đề cung cấp thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

Trang 20

1.1.5.1 Sự cần thiết của việc cung cấp thông tin trong dạy học

Nhu cầu nhận thức của học sinh ngày một tăng Mỗi ngày lương

thông tin lại tăng lên, trong khi lượng kiến thức mà hàng ngày học sinh đến

trường lĩnh hội được từ nguồn tri thức sách giáo khoa là rất hạn chế

Sách giáo khoa được biên soạn theo kế hoạch dạy học và chương

trình các môn học sách được trình bày một cách có hệ thống, với mức độ yêu

cầu nhất định về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Trong sách giáo khoa, những tri

thức khoa học được trình bày theo một logic xác định, đảm bảo cho học sinh

dễ sử dụng và tiếp thu Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh một hẹ thống tri

thức thì nó còn có tác dụng giúp học sinh luyện tập kỹ năng và hình thành kỹ

xảo

Kiến thức trong sách giáo khoa là những kiến thức cơ bản, cốt lõi

nhất về tự nhiên, xã hội và con người Đó là những tinh hoa văn hoá của nhân

loại đã được gia công về mặt sư phạm Các kiến thức đó ở dạng tinh giản

nhất Lương kiến thức đưa vào sách giáo khoa được quy định bởi "kích

thước" số chữ, khổ sách có chiều dài là 20,5 cm và rộng là 14,5 cm Chính sự

quy định này đã hạn chế lượng kiến thức cung cấp cho học sinh Mặt khác,

lượng kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp thiếu khoa học Trong

nhiều trường hợp kiến thức của bài trước không phục vụ cho việc lĩnh hội

kiến thức ở bài sau Vì những hạn chế đó mà việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ

cho nội dung dạy học đã có trong sách giáo khoa là rất cần thiết Các thông

tin hỗ trợ đó có thể là ở ngoài sách giáo khoa, nhưng cũng có thể ở ngay

trong sách giáo khoa Ví dụ: Có những kiến thức có ở những bài trước lại liên

quan đến được hình thành kiến thức cho học sinh ở những bài sau thì giáo

viên vẫn có thể tích cực hoá kiến thức đó ở học sinh bằng cách đưa vào nội

dung hoạt động ở bài sau Nhưng nhu cầu lĩnh hội tri thức ở học sinh ngày

càng cao, các muốn mở rộng phạm vi nhận thức ra ngoài nội dung dạy học có

Trang 21

trong sách giáo khoa Đứng trước nhu cầu đó thì việc giáo viên chuẩn bị

thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học là một đòi hỏi tất yếu

1.1.5.2 Yêu cầu của việc cung cấp thông tin trong dạy học

1.1.5.2.1 Tính chính xác

Thông tin cung cấp trong dạy học phải đảm bảo chính xác, nghĩa là

phải đảm bảo hai quá trình lôgic - lôgic khoa học và lôgic sư phạm

Từ tri thức khoa học (khoa học đó được chọn làm môn học) trước hết

phải chuyển thành tri thức giáo khoa (đảm bảo lôgic khoa học và lôgic sư

phạm) Người thầy giáo khi sử dụng sách giáo khoa để dạy học, lúc này

thông tin vẫn còn thô, đòi hỏi người thầy giáo phải:

- Hoàn cảnh hoá lại

- Cá nhân hoá lại

- Thời gian hoá lại

Gần giống như quá trình tìm ra nó (tri thức khoa học là: Phi hoàn

cảnh hoá, phi cá nhân hoá và phi thời gian hoá), đó là tri thức dạy học Chức

năng của người thầy giáo là:

- Uỷ thác: Biến ý đồ sư phạm, nhiệm vụ dạy học, nguyện vọng học

tập của học trò thành sự tự giác đảm nhiệm vụ học tập

- Thể thức hoá: Nghĩa là phải mã hoá thông tin (tri thức tiền dạy học)

Sự chia nhỏ đó phải có sự xác nhận (chuẩn hoá thông tin), đồng nhất hoá

(hiểu như nhau), dễ quản lý và dễ diễn đạt (không bị tiêu hao và cản trở bởi

nhiễu loạn Tất cả phải trong một hệ thống và rõ ràng, thầy giáo là trung tâm

thể thức hoá (biết chọn thời điểm, chọn nội dung và chọn hình thức diễn đạt)

1.1.5.2.2 Tính kịp thời

Chương trình đào tạo và kết hoạch giảng dạy như là một pháp lệnh

Thông tin cung cấp trong dạy học phải với thời gian quy định, đó là tính kịp

thời với ý nghĩa vĩ mô Theo định nghĩa về thông tin, đối với học sinh sự

mong đợi trước giờ học là độ bất định lớn, sự phi phỏng cao, thầy thủ tiêu kịp

Trang 22

thời là đáp ứng nguyện vọng, tạo ra sự hứng thú học tập, đó là kịp thời với ý

nghĩa vi mô

1.1.5.2.3 Tính đầy đủ, tính hiện đại, tính hệ thống của thông tin cung

cấp trong dạy học

Tính đầy đủ phải đi đôi với tính hệ thống, nếu thông tin cung cấp bị

cắt xén là tạo ra nhiễu loạn, vi phạm tính hệ thống Trong thời đại bùng nổ

thông tin, với tư cách là thông tin cung cấp trong dạy học phải có sự lựa

chọn, hay nói đúng hơn là phải hiện đại hoá thông tin Thời gian là tuyến

tính, học sinh muốn đi kịp với thời gian thì thứ nhất là phải cố gắng đảm

nhận hoạt động mà thầy đã uỷ thác hoặc là phải tự thể thức hoá lấy, thứ hai là

thầy giáo chọn lọc thông tin, hay nói đúng hơn là phải hiện đại trong thể thức

hoá tri thức đưa vào dạy học

1.1.5.2.4 Tính logic và ổn định thông tin cung cấp trong dạy học

Đặt vấn đề hiện đại hoá thông tin nhưng không có nghĩa phá vỡ tính

ổn định và vi phạm lôgic khoa học

- Tính lôgic của thông tin khoa học tạo cho con người có cùng một

hành vi hoạt động (giữa thầy và trò)

- Tính lôgic của thông tin khoa học còn đòi hỏi người thầy giáo khi

mã hoá thông tin (nội dung dạy học) phải đảm bảo tính phi mâu thuẫn

- Tính lôgic của thông tin khoa học tạo cho sự tư duy của học sinh dễ

dàng và phát triển

- Tính ổn định của thông tin khoa học mới tạo ra sự nhất quán, sự

đánh giá, so sánh và sáng tạo

- Tinh ổn định của thông tin khoa học là điều kiện khuyến khích việc

vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn

1.1.5.2.5 Tính kinh tế của thông tin cung cấp trong dạy học

Theo kinh tế học giáo dục, thông tin được truyền đạt chu đáo và kết

quả nhận tin của học sinh được chọn vẹn là đảm bảo được tính kinh tế học

Trang 23

giáo dục Kinh tế học giáo dục cũng đồng nghĩa với chất lượng thông tin mà

kết quả cho ta chất lượng của học sinh đúng với kế hoạch, yêu cầu đã đặt ra

1.1.5.2.6 Môi trường thông tin cung cấp trong dạy học:

Môi trường thông tin cung cấp trong dạy học là hệ thống đối mặt với

người học Sự thật ngoài thông tin khoa học (các môn học) còn có rất nhiều

thông tin khác trong môi trường như phim ảnh, ca nhạc… đều chi phối hoạt

động học tập của học sinh theo Piaget khi học sinh làm việc trong môi trường

có hai trường hợp xẩy ra:

- Đồng hoá thông tin (assimilation), áp dụng tri thức sẵn có để giải

quyết tình huống

- Điều tiết thông tin (Accommodation), đối tượng đó tạo nên sự điều

chỉnh thông tin trong nhận thức

Hai trường hợp xảy ra đưa đến sự thích nghi (Adaptation)

Ví dụ:

- Đồng hoá: Từ hiểu tốt đặc điểm hình chữ nhật học sinh tiến lên biết

được hình vuông là một trường hợp đặc biệt của hình chữ nhật Tức là dùng

cái trước để giải quyết cái sau (đồng hoá)

- Điều tiết: Từ việc nhận biết chung về góc, học sinh có thể nhận biết

được góc vuông, góc bẹt, góc tù(trong toán Tiểu học)

1.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIÁO VIÊN CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ

CHO NỘI DUNG DẠY HỌC ĐÃ CÓ TRONG SÁCH GIÁO KHOA Ở TIỂU HỌC.

Để xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến

hành khảo sát vấn đề chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học có trong

sách giáo khoa của giáo viên Tiểu học trong quá trình dạy học

Tại trường Tiểu học Hà Huy Tập I - Thành phố Vinh, chúng tôi đã

tiến hành điều tra thực trạng của việc chuẩn bị thông tin hỗ thợ cho nội dung

dạy học trong quá trình dạy học của giáo viên Cụ thể là chúng tôi đã điều tra

50 giáo viên ở các khối lớp 2,3,4,5 của trường Tiểu học Hà Huy tập I

- Nội dung điều tra:

Trang 24

+ Nhận thức của giáo viên Tiểu học về khái niệm, tác dụng của thông

tin hỗ trợ

+ Nhận thức của giáo viên Tiểu học về vai trò của việc chuẩn bị thông

tin hỗ trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học

+ Mức độ chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học trong quá trình

dạy học

- Các phương pháp điều tra, khảo sát:

+ Điều tra bằng Anket: Chúng tôi đã xây dựng phiếu điều tra với các

câu hỏi trắc nghiệm lựa chọn để điều tra (xin xem thêm phụ lục I)

+ Điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp

+ Quan sát tiến trình lên lớp và hiệu quả nhận thức của học sinh

Với nội dung và phương pháp điều tra trên, chúng tôi thu được kết

quả điều tra như sau:

1.2.1 Nhận thức của giáo viên Tiểu học về thông tin hỗ trợ

KIẾN

TỶ LỆ (%)

1 Thông tin hỗ trợ không phải là thông tin chính, mà là

những thông tin có tính chất bổ sung cho nội dung chính

(nội dung cơ bản) và được lấy từ nhiều nguồn khác nhau,

có tác dụng tạo thuận lợi cho hoạt động dạy học

2 Thông tin hỗ trợ là thông tin được đưa vào nhằm thoả

mãn nhu cầu lĩnh hội tri thức ngày càng cao của học

sinh

3 Thông tin hỗ trợ là thông tin đòi hỏi giáo viên phải đầu

tư nhiều thời gian nhưng không làm tăng hiệu quả dạy

học

4 Thông tin hỗ trợ là thông tin mà giáo viên đưa ra để giải

quyết một tình huống nào đó xảy ra trong quá trình dạy

học

Trang 25

5 Có thể đưa vào hoặc không đưa vào thông tin hỗ trợ cho

nội dung dạy học thì giờ dạy vẫn đảm bảo nâng cao hiệu

quả nhận thức cho học sinh

T

S

Từ bảng điều tra trên chúng tôi thu được kết quả sau:

Ở phương án một: Đây là quan niệm đúng, đầy đủ, chính xác nhất về

thông tin hỗ trợ: không phải là thông tin chính mà là những thông tin có tính

chất bổ sung cho nội dung chính (nội dung cơ bản) và được lấy từ nhiều

nguồn khác nhau, có tác dụng tạo thuận lợi cho hoạt động dạy học Song số

giáo viên đồng ý với quan niệm này chỉ có 7 giáo viên chiếm 14%

Ở phương án hai: Có 10 giáo viên đồng ý, chiếm 20% Như vậy

những giáo viên này cho rằng việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy

học chỉ đề thoã mãn nhu cầu nhận thức của học sinh mà không thấy đó cũng

là sự phản ánh trình độ kiến thức của giáo viên để qua đó uy tín của người

giáo viên cũng được nâng lên trong mắt học sinh

Ở phương án ba: Có tới 15 giáo viên đồng ý, chiếm 30 % và cho rằng

việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học mất nhiều thời gian mà

không đem lại hiệu quả cho giờ học cũng như việc nâng cao nhận thức cho

học sinh

Ở phương án bốn: Có 8 giáo viên đồng ý, chiếm 16% Như vậy giáo

viên đã nhầm lẫn giữa việc chuẩn bị nội dung dạy học và phương pháp giải

quyết các tình huống nảy sinh trong quá trình dạy học

Ở phương án năm: Có 10 giáo viên đồng ý, chiếm 20% Như vậy có

20% giáo viên đã đánh giá thấp và không nhận thức đúng vai trò của việc

chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học

Bảng 1

Trang 26

Qua việc tổng kết bảng khảo sát trên, chúng tôi thấy thực trạng chung

của giáo viên Tiểu học về vấn đề chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy

học là chưa đúng và chưa chính xác

1.2.2 Bảng phân chia các mức độ nhận thức của giáo viên Tiểu

học về vai trò của vấn đề chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

trong quá trình dạy học

1 Góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh 38 76

3 Dễ làm mất thời gian của giáo viên và thời gian tiến

trình lên lớp

5 Dễ vi phạm nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học 16 32

6 Giáo viên phải đầu tư cho bài học nhiều hơn, công

phu hơn

7 Gắn tri thức sách giáo khoa và thực tiễn với nhau 31 62

8 Học sinh dễ bị phân tán chú ý khỏi nội dung chính

Trang 27

Từ kết quả điều tra có thể thấy rằng: Đa số giáo viên Tiểu học đã

đánh giá đúng tầm quan trọng và sự cần thiết của việc chuẩn bị thông tin hỗ

trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học Có 68% giáo viên cho rằng

việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ là rất cần thiết

Theo đánh giá của giáo viên Tiểu học, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ

cho nội dung dạy học góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh

(76%), kích thích hứng thú học tập cho học sinh (60%), gắn tri thức sách giáo

khoa và thực tiễn với nhau (62%), phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ

nhận thức của học sinh (64%)

Mặt hạn chế của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

là: giáo viên phải đầu tư cho bài dạy nhiều thời gian, công phu hơn, dễ vi

phạm nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học, học sinh dễ bị phân tán chú ý vì

các phương tiện truyền tin cũng được giáo viên đề cập đến nhưng chỉ chiếm

tỷ lệ nhỏ Như ta đã biết bên cạnh những mặt tích cực thì việc chuẩn bị thông

tin hỗ trợ cho nội dung dạy học cũng có những mặt hạn chế nhất định Nếu

nhận thức không đúng, đề cao quá vai trò của nó sẽ gây phân tán chú ý của

học sinh trong giờ học và học sinh không tập trung vào nội dung cơ bản của

bài học Tuy nhiên phần lớn giáo viên nhận thức đúng vấn đề này thể hiện ở

số ý kiến khẳng định mức độ rất cần thiết của giáo viên (68%) và cần thiết là

20%

Qua các ý kiến của giáo viên Tiểu học cho phép khẳng định: Sự cần

thiết của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học đối với việc

nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh Vấn đề quan trọng được đặt ra

là: "Phải chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học như thế nào để nâng

cao hiệu quả nhận thức cho học sinh"

1.2.3 Việc điều tra các mức độ chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội

dung dạy học trong quá trình dạy học của giáo viên Tiểu học đƣợc chúng

tôi thể hiện ở bảng sau

Trang 28

T T MỨC ĐỘ SỐ Ý KIẾN TỶ LỆ (%)

Bảng 3 Kết quả điều tra cho thấy giáo viên thường xuyên chuẩn bị thông tin

hỗ trợ cho nội dung dạy học còn rất ít, chiếm tỷ lệ là 18%, chỉ có 40% số giáo

viên có chuẩn bị nhưng không thường xuyên hay chỉ thỉnh thoảng Trong khi

đó 42% số giáo viên không chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

trong quá trình dạy học

Kết quả trên đây đã phần nào phản ánh thực trạng việc chuẩn bị thông

tin hỗ trợ cho nội dung dạy học của giáo viên trong quá trình dạy học Thực

tế cho thấy nhiều giáo viên do năng lực hạn chế, thiếu kiến thức về tự nhiên

và xã hội, không tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho mình cho nên việc

chuẩn bị bài (soạn bài) chỉ mang tính hình thức còn việc chuẩn bị thông tin

hỗ trợ cho nội dung dạy học (phần mở rộng bài) còn gặp nhiều khó khăn, còn

chưa biết phải chuẩn bị những thông tin gì, chuẩn bị bằng cách nào và chuẩn

bị như thế nào trong quá trình dạy học Một số giáo viên khác dù đã nhận

thức đúng vai trò của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

nhưng do chưa nắm vững quy trình nên tuy có chuẩn bị nhưng hiệu quả chưa

cao

1.2.4 Đánh giá chung về thực trạng

Từ việc phân tích thực trạng qua những số liệu điều tra trên về các

mặt cho phép chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:

Phần lớn giáo viên Tiểu học đã nhận thức đúng vấn đề nâng cao hiệu

quả nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học Tuy nhiên, từ nhận thức

đúng đến việc làm đúng có một khoảng cách khá xa Điều đó đòi hỏi sự cố

Trang 29

giáo viên chưa tìm ra cho mình những biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu

quả nhận thức cho học sinh Vì vậy, khả năng nhận thức của học sinh qua

từng bài, từng lớp, chưa có sự nâng cao, trong giờ học không kích thích được

hứng thu học tập, niềm say mê tìm hiểu tri thức của học sinh

Trong dạy học, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

có tầm quan trong đặc biệt, phần lớn giáo viên Tiểu học được điều tra đều

đánh giá cao vai trò của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học

là góp phần kích thích hứng thú học tập, niềm say mê tìm hiểu, khám phá thế

giới xung quanh, hình thành niềm yêu thích khoa học, nâng cao hiệu quả

nhận thức cho học sinh Đồng thời cũng nâng cao uy tín của giáo viên trong

học sinh Đa số giáo viên Tiểu học đã có sự chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội

dung dạy học, nhưng việc chuẩn bị đó được giáo viên tiến hành hoặc là tự

phát, mang tính chủ quan hoặc áp đặt những thông tin mà giáo viên biết vào

nội dung dạy học và không theo một quy trình cụ thể nào, cho nên hiệu quả

giờ học không cao, hiệu quả nhận thức chưa thực tốt, việc mở mang kiến

thức bên ngoài tri thức sách giáo khoa còn hạn chế

Giáo viên chƣa biết kết hợp giữa thông tin hỗ trợ và nội dung dạy

học có trong sách giáo khoa để tạo thành một lôgic, mang tính hệ thống

nhằm đưa đến cho học sinh một chuỗi kiến thức có trật tự, dễ tiếp thu, lĩnh

hội

Chất lượng học tập qua kiểm tra ở một số bài học còn hạn chế, học

sinh chưa được nâng cao nhận thức qua từng khối lớp Giáo viên lên lớp chủ

yếu là thuyết trình, giảng giải một chiều những kiến thức đã có sẵn trong sách

giáo khoa mà chưa thật sự chú ý đến việc nâng cao, mở rộng kiến thức cho

học sinh Vì thế, học sinh học không hứng thú, thụ động trong lĩnh hội tri

thức

1.2.5 Nguyên nhân của thực trạng:

Trang 30

Trước hết, bậc Tiểu học là bậc học mang tính chất giáo dục toàn diện,

là bậc học nền tảng tạo cơ sở cho các bậc học tiếp theo Vì vậy học sinh đến

trường phải học rất nhiều môn ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: về tự nhiên,

về xã hội và con người, cùng với các vấn đề như: thể chất, sức khỏe… và các

em còn được tạo điều kiện để phát huy năng khiếu của mình qua các môn:

họa, nhạc… Để có thể đáp ứng được yêu cầu đó thì trước hết đòi hỏi giáo

viên Tiểu học phải có kiến thức rộng, toàn diện Nhưng hiện nay, phần lớn

giáo viên Tiểu học chưa đáp ứng được yêu cầu đó Các giáo viên còn thiếu

kiến thức trầm trọng về các lĩnh vực khoa học như: vật lý, hoá học, sinh học,

lịch sử, địa lý… Bên cạnh đó, trình độ năng lực sư phạm của một bộ phận

không nhỏ giáo viên Tiểu học còn rất hạn chế, năng lực chuyên môn không

đồng đều, còn có sự chênh lệch khá lớn

Theo chương trình Tiểu học hiện hành thì học sinh Tiểu học đến

trường phải học 9 môn Nghĩa là, mỗi ngày giáo viên Tiểu học phải chuẩn bị

từ 4 đến 5 giáo án để thực hiện vai trò "ông thầy tổng thể' của mình Mặc

khác trong suy nghĩ của không ít giáo viên thì chỉ có Toán, Tiếng việt là môn

chính còn các môn học khác là phụ Vì thế giáo viên chỉ cần đầu tư nhiều cho

Toán và Tiếng việt còn các môn còn lại chưa được đầu tư thích đáng cả về

thời gian, trí tuệ cũng như công sức Giáo viên lên lớp chỉ cần truyền đạt cho

học sinh những kiến thức đã được chương trình quy định là đủ Thậm chí

nhiều giáo viên còn cắt xén chương trình nhất là những phần khó hiểu và mở

rộng đối với học sinh mà bản thân giáo viên không nắm vững

Ở nhiều địa phương còn chưa có sự thống nhất trong đánh giá, còn

nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức

trong dạy học, đặc biệt là vấn đề mở rộng nội dung dạy học ra ngoài trong

mỗi bài học như thế nào là phù hợp để có thể nâng cao hiệu quả nhận thức

cho học sinh Điều dó hạn chế rất nhiều sự sáng tạo của các giáo viên trong

quá trình chuẫn bị bài trước khi lên lớp

Trang 31

Ngoài ra cơ sở vật chất ở các trường còn thiếu thốn Việc các trường

có thư viện chỉ mang tính hình thức mà chưa có sự đầu tư thích đáng để tăng

lượng sách tham khảo dành cho giáo viên, cũng như các phương tiện hổ trợ

cho dạy học Các trường ít tổ chức dạy các chuyên đề để nâng cao kiến thức,

chuyên môn cho giáo viên Trong khi ý thức tự bồi dưỡng, tự nâng cao kiến

thức cho mình bị các giáo viên xem nhẹ Họ không có khát vọng, nhu cầu tự

đổi mới mình Điều đó đã hạn chế giáo viên mỗi khi phải đứng trước lựa

chọn dạy thêm cái gì cho học sinh

Như vậy, chúng tôi đã tìm hiểu cơ sở lý luận cũng như đi sâu vào

nghiên cứu, điều tra khảo sát thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu Từ đó,

một yêu cầu bức thiết được đặt ra là cần có một quy trình chuẩn bị

thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học để giúp giáo viên có thể chuẩn bị

bài dạy tốt trước khi lên lớp, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức

cho học sinh Tiểu học

Chương II: QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ NỘI DUNG DẠY

HỌC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Choáng ngợp trước sự bùng nổ của thông tin, chúng ta không biết phải

học cái gì và học như thế nào trước lượng tri thức ngày càng mênh mông của

nhân loại? Thông tin giữ vai trò, vị trí rất quan trọng trong cuộc sống hiện nay

Trong quá trình dạy học theo xu hứng không chỉ bó hẹp trong phạm vi sách

Trang 32

giáo khoa (ra ngoài sách giáo khoa) nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức

của học sinh Để kiến thức các em thu nhận được sau mối tiết học mang tính

cập nhật, thiết thực đối với cuộc sống của các em, thì việc chuẩn bị thông tin

hỗ trợ cho nôi dung dạy học của giáo viên là rất cần thiết Tuy nhiên để việc

chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học thực sự góp phần nâng cao

hiệu quả giờ học, đáp ứng được nhu cầu ham hiểu biết, khám phá thế giới

xung quanh ở học sinh mà vừa mang tính vừa sức, phù hợp với nội dung dạy

học thì giáo viên phải tiến hành chuẩn bị theo một quy trình hợp lý

Qua việc nghiên cứu các tài liệu và từ cơ sở thực tiễn (quá trình chuẩn

bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học của giáo viên ở các trường Tiểu học

được thể hiện qua bài soạn và quá trình truyền thụ nội dung bài học), chúng tôi

đã tiến hành xây dựng quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy

học ở nhà trường Tiểu học

2.1 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG QUY TRÌNH

Quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó

Quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học là một

trình tự bao gồm các giai đoạn, các bước, được sắp xếp theo một trật tự tuyến

tính từ khi bắt đầu giờ học đến khi kết thúc giờ học

Khi xây dựng quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học

ở Tiểu học, chúng tôi dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây

2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống

Theo V.P Cuzơmin: "Hệ thống là một tập hợp nào đó những yếu tố có

mối liên hệ lẫn nhau tạo ra sự thống nhất ổn định, tức là một chỉnh thể"

Tính hệ thống là một nội dung của tính khoa học Tính khoa học đòi

hỏi nội dung dạy học phải được sắp xếp thành một hệ thống logíc chặt chẽ Vì

thế việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học phải được tiến hành

đảm bảo tính hệ thống Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng Mac -

Lênin, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều tồn tại, vận động

Trang 33

tồn tại, vận động và phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau, gắn bó

với nhau, quy định lẫn nhau Tính hệ thống là một trong những nguyên lý cơ

bản trong lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

Vận dụng nguyên lý này, chúng tôi xem hoạt động chuẩn bị thông tin

hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học với tư cách là một bộ phận trong hệ

thống hoạt động của con người và là một bộ phận của hoạt động dạy học

Chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học là một bộ phận trong hoạt

động dạy học, nhưng đồng thời nó tồn tại và vận động với tư cách là một hệ

thống độc lập Nó chứa đựng một tập hợp các yếu tố cấu thành nó trong mối

quan hệ biện chứng, gắn bó, quy định lẫn nhau

Với quan điểm hệ thống, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung

dạy học ở Tiểu học được xem xét như là một hệ thống cấu trúc hoạt động Từ

việc thừa nhận hệ thống cấu trúc hoạt động, nó được xem xét như là một hệ

thống cấu trúc quá trình Vì vậy, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung

dạy học có thể xác lập nên quy trình Quy trình đó phải trở thành một chỉnh

thể, bao gồm các giai đoạn, các bước khác nhau Các giai đoạn, các bước này

phải được liên kết, gắn bó thống nhất với nhau, phải được sắp xếp theo một

trật tự tuyến tính và có tác dụng tìm những thông tin phù hợp hỗ trợ cho nội

dung dạy học

Bên cạnh việc đảm bảo tính hệ thống, quy trình chuẩn bị thông tin hỗ

trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học cần phải đảm bảo tính cụ thể Thể hiện

các yếu tố của quy trình (các giai đoạn, các bước), phải được phân giải sao

cho:

- Số lượng các giai đoạn, các bước vừa đủ đề thực hiện hoạt động có

hiệu quả

- Nội dung các giai đoạn, các bước không quá phức tạp

- Các giai đoạn, các bước phải được sắp xếp theo một cấu trúc hợp

logic, đảm bảo sự gần giống với logic tự nhiên của hoạt động

Trang 34

Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính cụ thể được coi là nguyên

tắc quan trọng trong việc xác lập quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi

dung dạy học ở Tiểu học

2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, tính khả thi

Thực tiễn - Đó là toàn bộ hoạt động của con người nhămg đảm bảo cho

sự tồn tại và phát triển của xã hội Việc xây dựng quy trình chuẩn bị thông tin

hỗ trợ cho nội dung dạy học ở Tiểu học phải dựa trên cơ sở thực tiễn dạy học ở

Tiểu học, làm cho nó vừa phải phù hợp với những đặc điểm, điều kiện, yêu

cầu của giáo viên Tiểu học vừa có tác đụng nâng cao hiệu quả dạy học cho học

sinh Thực tiễn vừa là điểm xuất phát và động lực của nhận thức, vừa là mục

đích của nhận thức Để đạt được điều đó quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ

cho nôi dung dạy học ở Tiểu học mà chúng tôi xây dựng cần phải:

- Phù hợp với trình độ năng lực chuyên môn của đông đảo giáo viên

Tiểu học

- Phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể ở từng trường Tiểu học

- Có nhiều khả năng tạo ra hiệu quả dạy học cao

Hay nói cách khác việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học

ở Tiểu học phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn dạy học và nhu cầu nhận

thức, lĩnh hội tri thức của học sinh và phải có khả năng ứng dụng rộng rãi

trong quá trình dạy học ở Tiểu học

Thực chất của nguyên tắc này là gắn lý thuyết với thực tiễn Lý thuyết

và thực tiễn là hai mặt tinh thần và vật chất của quá trình nhận thức và cải tạo

tự nhiên, xã hội và bản thân con người

2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả

Quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học

không chỉ cần đảm bảo tính hệ thống, thực tiễn mà còn phải đảm bảo tính hiệu

quả Nghĩa là nó vừa có khả năng ứng dụng rộng rãi, vừa có thể tích cực hoá

hoạt động nhận thức, thoã mãn nhu cầu hiểu biết của học sinh và nâng cao chất

Trang 35

lượng dạy học Việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học

phải đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức của học sinh được diễn ra một cách đầy

đủ, chính xác và đạt chất lượng cao

Đặc biệt ,việc chuẩn bị thông tin theo quy trình này phải góp phần

nâng cao hứng thú học tập, Tích cực nhận thức của học sinh Nói cách khác,

quy trình chuẩn bị thông tin phải tạo được hiệu quả dạy học một cáhc toàn

diện Nó giúp học sinh nắm được không những nội dung bài học trong sách

giáo khoa mà có thể mở rộng nguồn tri thức ra ngoài phạm vi sách giáo khoa,

khám phá thế giới xung quanh qua đó, học sinh có một lượng tri thức nền cần

thiết để tiếp tục học lên và có khả năng vận dụng lượng tri thức đó vào cuộc

sống lao động hàng ngày

2.1.QUY TRÌNH THỰC HIỆN

Việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học ở Tiểu học có thể

quy trình hoá theo các giai đoạn, các bước sau:

Giai đoạn 1: Định hướng hoạt động chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi

dung dạy học

Giai đoạn này được cụ thể hoá thành các bước sau:

Bước 1: Mục tiêu môn học

Bước 2: Hệ thống bài học

Bước 3: Mức độ bổ sung thông tin các bài học

Giai đoạn 2: Thực thi bổ sung thông tin hổ trợ cho nội dung dạy học

(trước, trong và sau bài học)

Bước 1: Thông tin bổ sung

Bước 2: Hình thức truyền tin

Trang 36

2.3.1 Giai đoạn 1: Định hướng chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội

dung dạy học

Mục đích của giai đoạn này là định hướng cho việc chuẩn bị thông tin

hỗ trợ cho nội dung dạy học Muốn vậy giáo viên cần tiến hành một loạt các

hoạt động từ việc xác định mục tiêu môn học, hệ thống bài học, mức độ bổ

sung thông tin … Giai đoạn này có ý nghĩa định hướng, vì vậy sự cần thiết

phải chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học hay không phụ thuộc rất

lớn vào việc thực hiện giai đoạn này của giáo viên

Bước 1: Xác định mục tiêu môn học

Mục tiêu của giáo dục bậc Tiểu học, văn bản Mục tiêu, kế hoạch giáo

dục Tiểu học ban hành theo Quyết định số 2957 - GDĐT ngày 14 /10/1994 của

Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào Tạo đã khẳng định: "Tiểu học là cấp học đặt cơ

sở ban đầu cho sự hình thành,phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền

tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc

dân" Mục tiêu của từng cấp học lại được cụ thể hoá ở mục tiêu ở từng khối

lớp, từng môn học cụ thể Môn học là một khoa học bao gồm những kiến thức

cơ sở đã được lựa chọn, sắp xếp thành hệ thống, phù hợp với mục đích dạy

học, với quy luật tâm lý - lôgic - sư phạm của sự lĩnh hội của học sinh Mỗi

môn học đều có mục tiêu riêng Vì vậy để chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội

dung dạy học đã có trong sách giáo khoa thì trước hết giáo viên cần phải xác

định được mục tiêu của từng môn học Như mục tiêu của môn Toán ở Tiểu

học là: Giúp học sinh có những kiến thức cơ sở ban đầu về số học các số tự

nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản; hình thành và rèn luyện kỹ năng

thực hành tính, giải bài toán … Bước đầu hình thành và phát triển năng lực

trừu tượng hoá, khái quát hoá … ngoài ra còn góp phần hình thành các phẩm

chất, đức tính cần thiết cho người lao động trong xã hội hiện đại Hay mục tiêu

của môn

Trang 37

Tự nhiên xã hội là: Giúp học sinh lĩnh hội một số tri thức cơ bản ban

đầu, thiết thực về các sự vật hiện tượng và mói quan hệ giữa chúng trong tự

nhiên, xã hội Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng như quan sát,

phân tích, tổng hợp… Hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ, thói

quen ham hiểu biết khoa học, lòng yêu thiên nhiên đất nước, con người

Như vậy xác định mục tiêu môn học là bước đầu tiên mà giáo viên cần

phải làm để trên cơ sở đó có sự lựa chọn, điều chỉnh nội dung từng bài học cho

phù hợp Hay nói cách khác, mục tiêu môn học vẫn được đảm bảo khi giáo

viên đưa thông tin hỗ trợ vào nội dung từng bài học trong quá trình dạy học

Bước 2: Xác định hệ thống bài học

Môĩ môn học là một hệ thống các bài học cụ thể Hệ thống bài học

được xây dựng dựa trên cơ sở quy luật logic về hình thức cũng như về nội

dung Kiến thức của bài học trước tạo cơ sở, là kiến thức nền của bài học sau

Hệ thống bài học bao hàm trong đó là hệ thống những kiến thức, kỹ năng, kỹ

xảo cần hình thành ở học sinh Việc xác định hệ thống bài học giúp giáo viên

có cái nhìn tổng thể về một môn học, để từ đó có biện pháp phù hợp, đúng đắn

chuyển tải hệ thống nội dung các bài học đó đến học sinh Đồng thời qua đó

giáo viên có thể thấy được sự cần thiết mức độ bổ sung thông tin cho nội dung

dạy học của từng bài học cụ thể

Bước 3: Xác định mức độ bổ sung thông tin các bài

Từ việc xác định hệ thống bài học, giáo viên đã có cái nhìn tổng thể về

môn học và nắm được nội dung chính của từng bài học Qua đó bản thân mỗi

giáo viên có thể tưqj trả lời cho câu hỏi: Cần phải chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho

nội dung từng bài học ở mức độ nào thì phù hợp? Bài nào ở mức độ rất cần

thiết, bài nào chỉ ở mức độ cần thiết, còn bài nào thì ít cần nhằm đảm bảo

nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học Nếu xác định đúng mức độ bổ sung

thông tin cho các bài học thì giáo viên mới có thể chuẩn bị nội dung thông tin

hỗ trợ đúng, chính xác, phù hợp giúp giờ học đạt hiệu quả cao

Trang 38

Ví dụ 1: Đề xuất xác định mức độ cần thiết bổ sung thông tin hỗ trợ

cho nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Tự nhiên - Xã hội, phân môn

2 Phương hướng trên bản đồ - cách sử dụng bản đồ X

9 Người kinh ở đồng bằng sông Hồng X

Trang 39

18 Con người ở đồng bằng miền Trung X

Ví dụ 2: Đề xuất xác định mức độ cần thiết bổ sung thông tin hỗ trợ

cho nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Tự nhiên - Xã hội, phân môn

Trang 40

4 Sông ngòi X

6 Thực hành: Đất và động, thực vật X

8 Thực hành: Dân số và sự tăng dân số X

9 Các dân tộc Việt Nam Sự phân bố dân cư X

11 Thực hành: Nông nghiệp (Tiếp theo) X

13 Thực hành: Sự phân bố các ngành công nghiệp X

28 Châu Đại Dương và châu Nam Cực X

29 Thực hành: Các đại dương trên thế giới X

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Alvin Loffler (1992). "Làn sóng thứ ba" và "Cú sốc tương lai". NXB Thông tin - Lý luận - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làn sóng thứ ba" và "Cú sốc tương lai
Tác giả: Alvin Loffler
Nhà XB: NXB Thông tin - Lý luận - Hà Nội
Năm: 1992
3. Thái Duy Tuyên (2001). "Giáo dục học hiện đại". NXB ĐH Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học hiện đại
Tác giả: Thái Duy Tuyên
Nhà XB: NXB ĐH Quốc gia Hà Nội
Năm: 2001
4. Bùi Phương Nga - Nguyễn Minh Phương - Phạm Thị Sen - Nguyễn Anh Dũng. "Sách tự nhiên xã hội 4" - NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách tự nhiên xã hội 4
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
5. Nguyễn Tuyết Nga - Phạm Thị Sen. "Dạy học Địa lý ở Tiểu học" NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy học Địa lý ở Tiểu học
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
6. Ph. N- Gônôbôlin. (1976) "Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên" (tập 1). NXB GD Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những phẩm chất tâm lý của người giáo viên
Nhà XB: NXB GD Hà Nội
7. Phạm Minh Hùng - Thái Văn Thành (2000) "Giáo dục học Tiểu học" ĐH Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục học Tiểu học
8. Đặng Vũ Hoạt - Nguyễn Hữu Lập (1994) "Lý luận dạy học Tiểu học". ĐHSP I - Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học Tiểu học
9. Nguyễn Trại - Lê Trường Thuật - Vũ Trung Hiếu - Trần Lương Kỳ (1999) "Bài soạn Tự nhiên và xã hội 4" (tập 2). NXB ĐHQG Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài soạn Tự nhiên và xã hội 4
Nhà XB: NXB ĐHQG Hà Nội
1. Alêcxeep - V. Onhisuc - M. Crugliac - V. Zabotin - X. Vecxcle Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm