TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH khoa gdth ====== nguyễn thị hoàng yến XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ CHO NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC VÀ VẬN DỤNG VÀO MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA MÔN TỰ NHIÊ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
khoa gdth
======
nguyễn thị hoàng yến
XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ
CHO NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC VÀ VẬN DỤNG
VÀO MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 4
NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
khoa gdth
======
nguyễn thị hoàng yến
XÂY DỰNG QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ
CHO NỘI DUNG DẠY HỌC Ở TIỂU HỌC VÀ VẬN DỤNG
VÀO MỘT SỐ BÀI HỌC CỦA MÔN TỰ NHIÊN XÃ HỘI LỚP 4
NHẰM NÂNG CAO NHẬN THỨC CHO HỌC SINH
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Ngành : Giáo dục tiểu học
Chuyên ngành: giáo dục học
Trang 46 Giả thuyết khoa học 4
B NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 6
Chương I Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài 6
1.2 Thực trạng vấn đề giáo viên chuẩn bị thông tin hỗ trợ
cho nội dung dạy học đã có trong sách giáo khoa ở Tiểu học
18
Chương II Quy trình chuẩ bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh Tiểu học
3.5 Kết quả đầu ra của các nghiệm thể sau thực nghiệm 49
C KẾT LUẬN VÀ ĐỀ XUẤT SƢ PHẠM 54
D PHỤ LỤC NGHIÊN CỨU 56
Trang 5TÀI LIỆU THAM KHẢO 71
a Phần mở đầu
1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Bước vào thế kỷ XXI, loài người đã đủ cơ sở để khẳng định vai trò
thông tin và tri thức Sự phát triển như vũ bão của khoa học, công nghệ ở
những thập niên cuối thế kỷ XX trên thế giới đã luận chứng hùng hồn cho dự
báo của Các Mác cách đây trên một thế kỷ: đến một lúc nào đó trình độ loài
người đạt đến mức: "Tri thức xã hội biến thành lực lượng sản xuất trực tiếp"
Cũng thời điểm đó , Các Mác từng chỉ ra: "Một ngày chúng ta sống biến đổi
bằng một thế kỷ của loài người Nguyên Thuỷ Nhà tương lai học nổi tiếng
người Mỹ, Alvin Tofler đã viết: "Loài người sau khi đã trải qua nền văn minh
Trang 6nông nghiệp, văn minh công nghiệp và từ những năm 50 của thế kỷ XX với
sự ra đời của máy tính điện tử, loài người bước vào nền văn minh trí tuệ"
Song dù trải qua nền văn minh nào thì loài người cũng thống nhất với nhau ở
một quan điểm cơ bản , đó là nhân loại tồn tại và phát triển không thể thiếu
tri thức và thông tin
"Xã hội hoá thông tin", "bùng nổ thông tin", "cập nhật thông tin" đó
là những thuật ngữ, khái niệm mà trong cuộc sống ngày nay chúng ta thường
sử dụng và nhắc tới Nhân loại đang bước vào kỷ nguyên thông tin, vào xã
hội được xây dựng trên nền tảng tri thức, vào xã hội học tập Trong xã hội đó
ai làm chủ, tiếp cận nguồn thông tin tri thức nhanh nhất, sớm nhất, nhiều nhất
thì cơ hội chiến thắng sẽ thuộc về người đó Hay thông tin tri thức tạo ra mọi
quyền lực, là động lực của sự phát triển Thực tiễn đó đặt ra cho giáo dục
nhiều cơ hội, song cũng không ít thách thức Giáo dục với tư cách là "công cụ
chủ yếu tạo nên sự phát triển", là "chìa khóa mở cửa vào tương lai" đòi hỏi
phải có nhìn nhận mới mang tính chọn lọc nhưng đa dạng để có thể đi cùng,
đi trước đón đầu sự phát triển Một thực tế đang tồn tại không chỉ ở nước ta
mà ở hầu hết các nước trên thế giới, đó là: mâu thuẫn giữa nội dung tri thức
sách giáo khoa và sự bùng nổ, gia tăng thông tin đang diễn ra hàng ngày,
hàng giờ Tri thức sách giáo khoa chỉ là kết quả của sự lựa chọn những tri
thức mang tính lịch sử của một giai đoạn nhất định và khả năng cập nhật
thông tin là không thể thực hiện được Trong khi ngày nay,học sinh đến
trường không chỉ có nhu cầu lĩnh hội nguồn tri thức trong sách giáo khoa mà
các em còn có nhu cầu tìm hiểu, khám phá các sự vật hiện tượng đa dạng của
thế giới xung quanh Song điều đó bản thân sách giáo khoa chưa thể đáp ứng
được Vì thế một yêu cầu được đặt ra trong quá trình dạy học là cần đến
những tri thức, thông tin bên ngoài có liên quan Yêu cầu đó phù hợp với xu
thế hướng ngoại, không chịu bó hẹp trong chương trình sẵn Đồng thời nó
gắn tri thức sách giáo khoa và thực tiễn với nhau Nhưng thực tế dạy học hiện
Trang 7nay ở trường Tiểu học cho thấy nhiều giờ học không đạt hiệu quả, nội dung
giờ học còn nghèo nàn Vấn đề "trung thành" với nội dung chương trình Sách
giáo khoa đã được giáo viên nhìn nhận máy móc, thiếu sự linh hoạt, sáng tạo
Các giờ học hầu như chỉ là sự truyền thụ một chiều những gì sách giáo khoa
có mà không tạo ra một sự phát triển mới nào Ít giáo viên tiến hành "chế
biến" lại nội dung bài học cho phù hợp với trình độ nhận thức , nhu cầu và
hứng thú học tập của học sinh Phần lớn việc soạn bài, chuẩn bị bài được giáo
viên tiến hành giống sách soạn sẵn và cũng không được tiến hành theo một
quy trình cụ thể nào Do đó giờ học không đạt hiệu quả cao, ít kích thích
được sự hứng thú học tập, tìm hiểu ở học sinh Đó là chưa kể đến việc chuẩn
bị bài không tốt đã làm cho không ít giáo viên lúng túng trước những câu hỏi
"bột phát" của học sinh và cũng không ít giáo viên đã tìm mọi cách né tránh
trả lời những câu hỏi đó , bởi họ không có sự chuẩn bị về mặt nội dung thông
tin, tri thức về vấn đề mà câu hỏi đề cập Hay giáo viên không dự đoán được
những khó khăn về mặt thông tin mà nội dung bài học đặt ra cho học sinh
Điều đó hạn chế rất nhiều sự say mê, khả năng tìm hiểu, khám phá thế giới
xung quanh ở học sinh
Việc nghiên cứu, tiến hành chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy
học theo một quy trình cụ thể không những có ý nghĩa về mặt lý luận mà nó
còn có ý nghĩa về mặt thực tiễn Một mặt góp phần vào việc đổi mới nội dung
dạy học hiện nay ở tiểu học, mặt khác nó giúp giáo viên nắm được những khó
khăn về mặt thông tin mà học sinh sẽ gặp phải trong khi cố gắng hiểu nội
dung kiến thức Đồng thời giáo viên dự đoán được những tình huống có thể
xẩy ra để có thể chuẩn bị tốt thông tin cần thiết, cách xử lý phù hợp góp phần
nâng cao chất lượng , hiệu quả dạy học
Vì những lý do trên, chúng tôi chọn đề tài nghiên cứu là: "Xây dựng
quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học ở Tiểu học và
Trang 8vận dụng vào một số bài học của môn Tự nhiên và xã hội lớp 4 nhằm
nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh"
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU:
Xác định quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
nhằm nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh và chứng minh tính hiệu quả
của nó trong dạy học ở môn Tự nhiên và xã hội
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU:
3.1 Nghiên cứu các tài liệu lý luận liên quan đến đề tài
3.2 Tìm hiểu quá trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung bài dạy
trước khi lên lớp của giáo viên
3.3 Đề xuất quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học ở
trường Tiểu học
3.4 Tiến hành thực nghiệm để thu thập kết quả dạy theo quy trình
chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
4 KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
4.1 Khách thể nghiên cứu
Quá trình dạy học môn Tự nhiên - Xã hội ở lớp 4, 5 -Tiểu học
4.2 Đối tượng nghiên cứu
Việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học ở trường Tiểu học
theo hướng nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh ở môn Tự nhiên và xã
hội lớp 4,5 Vận dụng kết quả nghiên cứu vào phân môn Địa lý lớp 4 để
chứng minh
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
Đề tài có sử dụng các phương pháp nghiên cứu lý luận:
- Phương pháp phân tích lý thuyết, tổng hợp lý thuyết, hệ thống hoá
lý thuyết
- Các phương pháp phát hiện:Quan sát, điều tra, thực nghiệm
- Các phương pháp thống kê toán
6 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC:
Trang 9Hiệu quả nhận thức của học sinh sẽ được nâng cao, nếu trong quá
trình dạy học, giáo viên chuẩn bị và thực hiện tốt các thông tin bổ sung hỗ trợ
cho nội dung dạy học đã có trong sách giáo khoa
7 GIỚI HẠN NGHIÊN CỨU CỦA LUẬN VĂN:
- Về lý luận: Luận văn nghiên cứu, tìm hiểu việc chuẩn bị thông tin
hỗ trợ cho nội dụng dạy học ở môn Tự nhiên xã hội
- Phần thực nghiệm chứng minh, do hạn chế về thời gian và địa bàn,
nên chỉ tiến hành ở phân môn Địa lý lớp 4 của môn tự nhiên xã hội
8 CẤU TRÚC CỦA LUẬN VĂN:
A Mở đầu
B Nội dung nghiên cứu
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
Chương 2: Quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy
học ở trường Tiểu học và vận dụng vào phân môn Địa lý của môn Tự
Từ hiểu biết về thuyết thông tin và quá trình dạy học cùng thực tiễn
của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học của giáo viên dạy học,
luận văn của chúng tôi sẽ góp phần làm sáng tỏ quy trình chuẩn bị thông tin
hỗ trợ nội dung dạy học cho môn Tự nhiên xã hội ở bậc Tiểu học
9.2 Về thực tiễn:
Luận văn đã chứng minh được tính hiệu quả của quy trình chuẩn bị
thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học môn Tự nhiên
xã hội lớp 4 ở Tiểu học
Trang 10b Nội dung nghiên cứu
Chương I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1 THÔNG TIN TRONG DẠY HỌC.
1.1.1 Khái niệm:
Thông tin là một khái niệm đã có từ lâu Đây là một khái niệm rất
rộng Tuỳ thuộc vào từng lĩnh vực nghiên cứu, mà người ta đưa ra những
định nghĩa khác nhau, giới hạn khái niệm đó lại để phục vụ mục đích nghiên
cứu cụ thể Chẳng hạn có những cách hiểu sau đây:
- Thông tin là nội dung của thế giới bên ngoài được thể hiện trong sự
Trang 11- Thông tin là sự bất định bị thủ tiêu (Shannon K) - Thông tin là
việc truyền đưa độ đa dạng (Esbi.R)
- Thông tin là thực thể, là độ đo tính phức tạp (Mole.A)
- Thông tin là xác suất của sự lựa chọn (Iaglini)
- Thông tin là một phạm trù phản ánh nội dung và hình thức vận động
của các sự vật và hiện tượng, là sự hạn chế tính đa dạng của một hệ thống,
mỗi sự vật đối với môi trường, và tính trật tự của các đối tượng vật chất có
những mối liên hệ biện chứng (Các nhà điểu khiển học)
- Thông tin là một phạm trù triết học phản ánh sự vận động và tương
tác của các hiện tượng, sự vật và quá trình tư duy Hay gọn hơn: Thông tin là
quá trình phản ánh và tiếp nhận phản ánh, biến phản ánh thành hiểu biết,
thành tri thức (Các nhà triết học)
- Thông tin trong hệ thống kinh tế xã hội là sự phản ánh nội dung và
hình thức vận động, liên hệ giữa các đối tượng, các yếu tố của hệ thống đó và
giữa hệ thống đó với môi trường (Các nhà xã hội học)
- Thông tin là sự chuyển tải văn minh nhân loại và dân chủ xã hội
(Các chính khách)
Những khái niệm có những khía cạnh nhận biết khác nhau, có thể
hiểu: thông tin trong dạy học là những tín hiệu được mã hoá từ nội dung trí
dục, đó là những tín hiệu mới (tri thức mới) được thầy giáo chuyển tải thông
qua quy trình điều khiển, được học sinh chấp nhận và nhận biết sử dụng có
hiệu quả để giải quyết những bài tập, những vấn đề trong học tập và đời sống
Thông tin về mặt bản chất không phải là vật chất, nhưng nó luôn luôn
tồn tại dưới các vỏ vật chất, những vật mang tin như: các sự vật và hiện
tượng, các sản phẩm, các dạng hình vật chất, âm thanh (bằng hình, lời nói…)
do đó, cùng một sự vật và hiện tượng xẩy ra, nhưng tuỳ thuộc vào người nhận
tin khác nhau mà nội dung thông tin được nhận biết khác nhau Ví dụ như
trong cùng một tập thể được nghe chung một thông báo, người này thì hứng
Trang 12thú vì nó là mới với họ và đang có nhu cầu, người khác thì thờ ơ vì họ đã biết
rồi và không cần đến tin tức đó, còn có người lại vừa chú ý vừa không vì họ
không có khả năng tiếp nhận thông báo đó Cũng vậy, trong một lớp học
người thầy giáo biết mã hoá những thông tin (nội dung trí dục) để học sinh
giỏi cũng hứng thú học tập vươn lên, học sinh yếu cùng với sự nâng đỡ của
thầy cũng tiếp nhận được và cố gắng học tập đạt kết quả Nghĩa là người thầy
giáo phải biết làm cho mọi học sinh trong lớp đều có nhu cầu nhận tin
Vai trò của thông tin trong dạy học là hết sức to lớn và được biểu hiện
ở các mặt sau:
- Thông tin là cơ sở, là tiền đề dạy học Thầy giáo sẽ không thực hiện
được nhiệm vụ dạy học nếu không nắm chắc thông tin, không biết mã hoá
thông tin Nội dung dạy học được hiện đại hoá nên không ít giáo viên Tiểu
học cũng như giáo viên PTTH cơ sở đã không hoàn thành tốt nhiệm vụ dạy
học của mình
- Thông tin là công cụ của dạy học, nên người thầy giáo phải thực sự
tinh thông chẳng những về mặt lý thuyết và giải các bài tập, mà còn phải nắm
vững một số các khoa học liên ngành Khi thầy giáo giảng bài thực chất là
thủ tiêu độ bất định (định nghĩa thông tin), nhưng cái quan trọng là mức độ
thủ tiêu độ bất định, tin tức truyền đi trọn vẹn và đầy đủ, học sinh được tin
tức không nhiễu loạn thì nhất định sự phản ứng trở lại (thông tin ngược) là tốt
đẹp), ta có được "cái ra" hoàn chỉnh
1.1.2 Phân loại thông tin trong dạy học
Phận loại thông tin trong dạy học có nhiều cách:
1.1.2.1 Thông tin tiếp nhận, chia thành 2 loại
- Tiếp nhận có hệ thống: Thông tin đưa đến học sinh theo chu kỳ
"năm học", trong năm học lại chia thành 2 chu kỳ nhỏ "học kỳ 1" và "học kỳ
2" Tất cả thông tin khoa học (theo môn học) đã được chương trình hoá
nghiêm ngặt Người nhận tin (học sinh) có thể kiểm soát được mình và cũng
Trang 13kiểm soát được cả người truyền tin Có ba giả thuyết trong thông tin tiếp
nhận:
1 Tiếp nhận bằng cách thích nghi (chủ thể học tập bằng cách tự thich
nghi, nghĩa là tự đồng hoá và điều tiết) với môi trường truyền tin, môi trường
này thường xuyên sinh ra mâu thuẫn, mất cân bằng Bởi vì đối với học sinh
từ cái đã có với điều kiện mới, thông tin mới tạo ra mất cân bằng, điều tiết là
tạo ra cân bằng tương đối
2 Môi trường không có dụng ý sư phạm là không đủ điều kiện tiếp
nhận thông tin, những thông tin mà chủ thể muốn tiếp nhận là các tri thức mà
xã hội cần cho chủ thể lĩnh hội để phát triển
3 Những thông tin mới được học sinh tiếp nhận có khi chống lại
những kiến thức cũ nguyên thuỷ và định kiến
- Tiếp nhận không hệ thống thông tin: Thông qua ngoại khoá môn
học, công tác xã hội, hoạt động văn hoá, văn nghệ… tiếp nhận những tin tức
ngẫu nhiên, không thể dự kiến hết được
Tất cả các hoạt động này vẫn nằm trong tình huống sư phạm, những
đề xuất của thầy giáo thông qua hoạt động này, tin tức đến với học sinh là bất
ngờ chứ không phải do ý thích của người dạy
1.1.2.2 Phạm vi lĩnh vực hoạt động:
Thông tin có thể chia thành các loại sau:
- Thông tin Toán học: Những tri thức thuộc các bộ môn của Toán học
được quy định trong chương trình, kế hoạch Những tri thức này phù hợp với
cấp học, phù hợp với lứa tuổi thích hợp cho sự nhận thức
- Thông tin các khoa học tự nhiên: Những tri thức thuộc các bộ môn
của Vật lý học, của Hoá học, và của Sinh học
Trang 14- Thông tin khoa học nhân văn: Những tri thức thuộc Văn học, Lịch
sử, Xã hội học, Tâm lý học…
1.1.2.3 Đặc điểm và tính chất sử dụng:
Đó là thông tin đầu vào và thông tin đầu ra
- Thông tin đầu vào là bao gồm tất cả các tri thức của các khoa học
có trong chương trình học, kể cả các thông tin cung cấp cho nội dung dạy
học, thông tin ngoại khoá và hoạt động khác mang lại Bỡi vì tất cả các loại
thông tin này đều có dụng ý sư phạm
- Thông tin đầu ra được thể hiện qua kiểm tra môn học, những tri thức
được vận dụng vào thực tế hiểu biết thể hiện trong luận bản, cách cư xử hàng
ngày Đó là thế giới quan và nhân sinh quan của con người, đó là sáng tạo giá
trị và chọn lọc giá trị, và nói tóm lại đó là bộ mặt đạo đức của một con người
được thể hiện qua cuộc sống của họ
Thông tin vào phong phú thì thông tin ra sẽ chất lượng tốt, thông tin
vào đơn sơ thì thông tin ra sẽ hời hợt Tích luỹ thông tin là biện pháp rất quan
trọng để nâng cao trình độ và không có đỉnh cao khoa học nào lại không xuất
phát từ nguyên lý gốc giản đơn ấy
1.1.2.4 Kênh thu nhận thông tin dạy học
- Thông tin chính thống (Nội dung dạy học được chương trình hoá)
học sinh thu nhận theo kênh dọc, từ thầy đến trò hoặc từ tài liệu đến trò nếu
như tài liệu được viết một cách đặc biệt, thuận lợi cho việc học tập
- Thông tin không chính thống (thông qua ngoại khoá khoa học, đọc
sách tham khảo, hoạt động thực tiễn…) học sinh không nhận kênh chính
thức, thường là tự kiếm Cũng chính lí do này mà ta thấy chất lượng học tập
khác nhau ở mỗi học sinh Tóm lại, trong đời con người đã diễn ra hàng
ngàn, hàng vạn chu kỳ thông tin và thông thường tín hiệu vào của chu kỳ sau
phức tạp hơn chu kỳ trước, cũng từ đó chất lượng tín hiệu ra lần sau cũng
Trang 15phong phú hơn lần trước Sự tiếp nhận thông tin cả hai kênh chính là quá
trình nâng cao không ngừng khả năng làm việc của học trò
1.1.3 Các nguồn thông tin giáo dục (thông tin đầu vào)
Để nâng cao chất lượng dạy học của người thầy giáo, cần phải khơi
thông đầy dủ các nguồn thông tin cần thiết cho việc tiếp nhận, chế biến và
cống hiến của học sinh
1.1.3.1 Từ giáo dục nhà trường:
Đối với tuổi học sinh, đây là nguồn thông tin chủ yếu, một nguồn
thông tin vô giá, ít nhiễu loạn Ở nhà trường, trong quan hệ giữa thầy và trò
thì học sinh được nghe những lời nói theo khuôn vàng thước ngọc, trong
quan hệ giữa học sinh với nhau thì trong trắng vô tư, không chứa đựng những
yếu tố nhiễu loạn tâm hồn Trong khoa học, đây là những thông tin chọn lọc từ
các khoa học, nó mang đầy đủ tính chất: hiện đại, cơ bản, thực tiễn và rất
trong sạch Sự cấu tạo, sự mã hoá những loại thông tin này đã được quy định
và chắc chắn đã gắn cho nó cách thức để nhận thức cụ thể là học sinh chờ đợi
một sự uỷ thác với một tình huống tiền sư phạm thích đáng, đòi hỏi học sinh
phải thích nghi với tình huống đó trong một môi trường có điều kiện phản hồi
1.1.3.2 Từ gia đình:
Đây là một môi trường có nguồn tin phong phú, đa dạng và phức tạp
đầy nhiễu loạn Trong một ý nghiã chung, một nguyên lý chung, một quy luật
chung đúng với mọi gia đình Nhưng còn về hiểu biết vận dụng thì đầy thách
thức và đe dọa đối với trẻ Cái đạo làm cha mẹ thì lưu chuyễn từ đời này qua
đời khác như nước chảy dưới cầu, nhưng cái khổ là chổ này nó lại trụ vào cái
chén, chỗ kia trụ vào cái chai… mà thành cái hình ,nên mất đi cái tính lưu
chuyển của nó Đôi khi học sinh lại nhận từ cha mẹ những thông tin trái ngược
đối với nhà trường, đấy là chưa kể đến phản lại nhà trường ở một số trường
hợp đáng chê trách
1.1.3.3 Từ giáo dục xã hội:
Trang 16Thông tin giáo dục từ các hoạt động xã hội là chọn lọc, phong phú và
đa dạng Thế hệ trẻ tiếp nhận nguồn tin từ văn hoá, văn nghệ thông qua cơ
quan nhà nước bao giờ cũng phản ánh được hiện thực khách quan đem lại
cho cuộc sống và hướng tới cái chân, cái thiện, tạo dựng cho con người cái
"Tâm" Cũng như vậy, thông qua các hoạt động giáo dục khác có tổ chức đều
là nguồn tin tốt, những lý luận có tính kinh điển, những kinh nghiệm có tính
chất cổ truyền, và những tài liệu có tính chất giáo trình… mà mỗi ngày, mỗi
giờ đi vào cuộc sống của trẻ Nhưng tiếc thay trong nguồn tin giáo dục xã hội
lại thường bị lực lượng khác làm nhiễu loạn, những nguồn tin trái ngược lại
dễ đi vào đầu óc của trẻ
Tóm lại, "Cái gì còn non thì mềm dẻo, mà cứng rắn thì đã già, đã khô
cằn" (đấy là lời của Lão Tử: Sinh của cả nhu nhược, kỹ tư giả kiên cường)
bởi vậy ba nguồn tin này phải điều hoà, ba lực lượng giáo dục phải thống
nhất, cái gì còn non thì dễ uốn nắn, còn khi đã già, đã cứng rắn thì chỉ còn hối
tiếc Nếu mà giáo điều nghiêm ngặt quá thì đó là cảnh tượng của già cỗi,
đang dần dần mất hết sinh khí Thông tin giáo dục như nước Nước mà đông
đặc sẽ thành đá, không còn lưu chuyển được nữa
1.1.4 Hệ thống thông tin trong dạy học:
Hệ thống thông tin trong dạy học là hệ thống các phân hệ đảm bảo
thông tin cho quá trình dạy học để đạt được mục tiêu giáo dục Bao gồm các
Trang 171.4.1 Thu nhận:
- Khi não bộ nhận tin thường phải mất một số năng lượng Người ta
đã nghiên cứu các phản ứng của cơ thể đối với sự kích thích nào đó (bằng lời
nói hay các tác động khác…) phân thành 2 loại
+ Phản xạ đơn giản: Là một phản ứng xác định nào đó đối với tín hiệu cụ thể cho trước
+ Phản xạ phức tạp: Trong loại phản xạ này, quan trọng nhất là phản xạ có lựa chọn, với những tín hiệu khác nhau có những phản ứng
khác nhau
Thu nhận là khâu đầu tiên của hệ thống thông tin yêu cầu chính của
khâu này là:
- Nhận những tin đúng yêu cầu, đó là những thông tin khoa học phù
hợp, thông tin văn hoá tươi đẹp và thông tin đạo đức trong sáng đưa con
người đến giá trị chân - thiện - mỹ
- Nhận được đầy đủ thông tin Dù nhận được thông tin đúng yêu cầu
mà không đầy đủ thì vẫn không đem lại sự trưởng thành cho con người
Trong giáo dục, thông thường giáo dục và phát triển thì dễ, còn giáo dục lại
là rất khó Tuy vậy, nếu bỏ sót quá trình thông tin nào đó thì sự bù đắp thật là
nan giải
1.1.4.2 Chọn lọc
Thông tin từ ba nguồn như trên đã trình bày, đòi hỏi học sinh phải
chọn lọc khi tiếp nhận Ngay đến thông tin ở nguồn thứ nhất - nguồn thông
tin từ nhà trường, học sinh cũng cần chọn lọc thật tinh thì sự học tập mới thực
sự có kết quả Còn thông tin từ hai nguồn gia đình và xã hội lại càng đòi hỏi
thế hệ trẻ phải hết sức chọn lọc khi tiếp nhận, bởi vì nguồn tin đó phức tạp,
đa dạng và nhiễu loạn Ta thường thấy cái gì là mặt trái, mặt tiêu cực lại dễ
làm cho học sinh chịu ảnh hưởng tồi tệ Người thầy giáo, nhà giáo dục và các
Trang 18cơ quan giáo dục phải chọn lọc đẻ đưa đến cho thế hệ trẻ những gì quý nhất
của cuộc đời, cuộc sống tốt đẹp!
1.1.4.3 Phân loại:
Sự thật trong nhà trường, từng môn học truyền thụ cho học sinh đã
mang tính chất phân loại Nhưng cũng nên hiểu một cách đầy đủ hơn là phải
dựa vào phương pháp luận khoa học mà phân loại:
1.Toán học: Phương pháp suy lý và chứng minh
2.Khoa học tự nhiên: Phương pháp thực nghiệm
-Vật lý học: Phương pháp thực nghiệm - Quy nạp - mở rộng
- Sinh học: Phương pháp thực nghiệm - Quy nạp - tương tự
3.Khoa học nhân văn:
- Khoa học chuẩn tắc: Phương pháp tư duy lý trí - luận ba đoạn
- Khoa học thực chứng: Phương pháp tổng kết kinh nghiệm - Quy nạp
thiết lập lại, Thống kê so sánh
1.1.4.4 Xử lý:
Đây là khâu quan trọng của hệ thống đảm bảo thông tin, mục đích là
biến đổi khối tin đa dạng thành nguồn tri thức phục vụ cho sự bảo quản và
dùng tin, tức là vận dụng tri thức vào cuộc sống
- Mẫu hoá các tri thức để tiện xử lý, tiện lưu trữ
- Phân tích để hiểu đầy đủ tính chất của từng khối tin đã tiếp nhận
- Tổng hợp các khối tin theo các dấu hiệu đặc trưng để dễ nhớ, dễ vận
dụng
Quá trình xử lý thông tin thường làm cho dung lượng và chất lượng
của thông tin tăng lên Nhưng điều quan trọng là làm cho người dùng tin
được số lượng thông tin lớn hơn và đặc biệt là giá trị của thông tin đó
1.1.4.5 Bảo quản:
Trang 19Khi con người có được trí tuệ rộng rãi, sức tưởng tượng mạnh mẽ và
tâm hồn năng động, đó chính là do con người bảo quản được khối tin phong
phú Đây là ta nói đến sự bảo quản bằng trí nhớ, bằng cách xếp đặt ngân nắp
trong não bộ Cuộc đời của một nhà khoa học là quá trình trao đổi thông tin,
sự bảo quản là cả một qúa trình góp nhặt trong đời để được một khối tin có
giá trị, còn quá trình phát tin là sự cống hiến của nhà khoa học
Ngày nay với kỹ thuật tin học phát triển, để giảm bớt gánh nặng đè
lên trí nhớ của con người, nghĩa là dạng thông tin chỉ có tính chất tra cứu khi
cần sử dụng, người ta đã ghi nó vào băng từ, đĩa từ…để bảo quản bộ nhớ của
máy tính điện tử
1.1.4.6 Phản ứng hay là phát tin:
Khả năng chế biến tín hiệu của não bộ cũng có giới hạn Thông
thường tín hiệu vào giản đơn thì tín hiệu ra thô sơ, tín hiệu vào dồi dào,
phong phú thì tín hiệu ra sắc sảo và súc tích
Phát tín hiệu là giai đoạn cuối cùng của một chu kỳ thông tin Tuy
vậy, tín hiệu ra phản ánh đặc điểm của khối tin và khả năng hoàn thiện của
nó Khả năng phát tin còn phụ thuộc vào quá trình tích luỹ của bộ óc, vì vậy
ở tuổi trưởng thành con người có nhiều khả năng cống hiến
Đối với thầy giáo, học sinh là một loại "hộp đen" Người thầy giáo
biết mình đưa ra những thông báo nào đến với học sinh, nhưng không biết
được sự biến đổi như thế nào trong óc họ, những thông tin nào còn lại và
những cái gì đã bay ra khỏi đầu óc sau một thời gian ngắn Ta thấy không chỉ
có quá trình nắm được những cái có sẵn, không kém phần quan trọng là sự
"tìm kiếm" những kiến thức mới và muốn làm được điều này không thể thiếu
được sự hoàn thiện của quá trình tư duy Lý thuyết thông tin mở ra biết bao
nhiêu cái mới lạ nếu ta dùng nó để nghiên cứu con người, nghiên cứu vấn đề
dạy học và giáo dục
1.1.5 Vấn đề cung cấp thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
Trang 201.1.5.1 Sự cần thiết của việc cung cấp thông tin trong dạy học
Nhu cầu nhận thức của học sinh ngày một tăng Mỗi ngày lương
thông tin lại tăng lên, trong khi lượng kiến thức mà hàng ngày học sinh đến
trường lĩnh hội được từ nguồn tri thức sách giáo khoa là rất hạn chế
Sách giáo khoa được biên soạn theo kế hoạch dạy học và chương
trình các môn học sách được trình bày một cách có hệ thống, với mức độ yêu
cầu nhất định về tri thức, kỹ năng, kỹ xảo Trong sách giáo khoa, những tri
thức khoa học được trình bày theo một logic xác định, đảm bảo cho học sinh
dễ sử dụng và tiếp thu Bên cạnh việc cung cấp cho học sinh một hẹ thống tri
thức thì nó còn có tác dụng giúp học sinh luyện tập kỹ năng và hình thành kỹ
xảo
Kiến thức trong sách giáo khoa là những kiến thức cơ bản, cốt lõi
nhất về tự nhiên, xã hội và con người Đó là những tinh hoa văn hoá của nhân
loại đã được gia công về mặt sư phạm Các kiến thức đó ở dạng tinh giản
nhất Lương kiến thức đưa vào sách giáo khoa được quy định bởi "kích
thước" số chữ, khổ sách có chiều dài là 20,5 cm và rộng là 14,5 cm Chính sự
quy định này đã hạn chế lượng kiến thức cung cấp cho học sinh Mặt khác,
lượng kiến thức trong sách giáo khoa được sắp xếp thiếu khoa học Trong
nhiều trường hợp kiến thức của bài trước không phục vụ cho việc lĩnh hội
kiến thức ở bài sau Vì những hạn chế đó mà việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ
cho nội dung dạy học đã có trong sách giáo khoa là rất cần thiết Các thông
tin hỗ trợ đó có thể là ở ngoài sách giáo khoa, nhưng cũng có thể ở ngay
trong sách giáo khoa Ví dụ: Có những kiến thức có ở những bài trước lại liên
quan đến được hình thành kiến thức cho học sinh ở những bài sau thì giáo
viên vẫn có thể tích cực hoá kiến thức đó ở học sinh bằng cách đưa vào nội
dung hoạt động ở bài sau Nhưng nhu cầu lĩnh hội tri thức ở học sinh ngày
càng cao, các muốn mở rộng phạm vi nhận thức ra ngoài nội dung dạy học có
Trang 21trong sách giáo khoa Đứng trước nhu cầu đó thì việc giáo viên chuẩn bị
thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học là một đòi hỏi tất yếu
1.1.5.2 Yêu cầu của việc cung cấp thông tin trong dạy học
1.1.5.2.1 Tính chính xác
Thông tin cung cấp trong dạy học phải đảm bảo chính xác, nghĩa là
phải đảm bảo hai quá trình lôgic - lôgic khoa học và lôgic sư phạm
Từ tri thức khoa học (khoa học đó được chọn làm môn học) trước hết
phải chuyển thành tri thức giáo khoa (đảm bảo lôgic khoa học và lôgic sư
phạm) Người thầy giáo khi sử dụng sách giáo khoa để dạy học, lúc này
thông tin vẫn còn thô, đòi hỏi người thầy giáo phải:
- Hoàn cảnh hoá lại
- Cá nhân hoá lại
- Thời gian hoá lại
Gần giống như quá trình tìm ra nó (tri thức khoa học là: Phi hoàn
cảnh hoá, phi cá nhân hoá và phi thời gian hoá), đó là tri thức dạy học Chức
năng của người thầy giáo là:
- Uỷ thác: Biến ý đồ sư phạm, nhiệm vụ dạy học, nguyện vọng học
tập của học trò thành sự tự giác đảm nhiệm vụ học tập
- Thể thức hoá: Nghĩa là phải mã hoá thông tin (tri thức tiền dạy học)
Sự chia nhỏ đó phải có sự xác nhận (chuẩn hoá thông tin), đồng nhất hoá
(hiểu như nhau), dễ quản lý và dễ diễn đạt (không bị tiêu hao và cản trở bởi
nhiễu loạn Tất cả phải trong một hệ thống và rõ ràng, thầy giáo là trung tâm
thể thức hoá (biết chọn thời điểm, chọn nội dung và chọn hình thức diễn đạt)
1.1.5.2.2 Tính kịp thời
Chương trình đào tạo và kết hoạch giảng dạy như là một pháp lệnh
Thông tin cung cấp trong dạy học phải với thời gian quy định, đó là tính kịp
thời với ý nghĩa vĩ mô Theo định nghĩa về thông tin, đối với học sinh sự
mong đợi trước giờ học là độ bất định lớn, sự phi phỏng cao, thầy thủ tiêu kịp
Trang 22thời là đáp ứng nguyện vọng, tạo ra sự hứng thú học tập, đó là kịp thời với ý
nghĩa vi mô
1.1.5.2.3 Tính đầy đủ, tính hiện đại, tính hệ thống của thông tin cung
cấp trong dạy học
Tính đầy đủ phải đi đôi với tính hệ thống, nếu thông tin cung cấp bị
cắt xén là tạo ra nhiễu loạn, vi phạm tính hệ thống Trong thời đại bùng nổ
thông tin, với tư cách là thông tin cung cấp trong dạy học phải có sự lựa
chọn, hay nói đúng hơn là phải hiện đại hoá thông tin Thời gian là tuyến
tính, học sinh muốn đi kịp với thời gian thì thứ nhất là phải cố gắng đảm
nhận hoạt động mà thầy đã uỷ thác hoặc là phải tự thể thức hoá lấy, thứ hai là
thầy giáo chọn lọc thông tin, hay nói đúng hơn là phải hiện đại trong thể thức
hoá tri thức đưa vào dạy học
1.1.5.2.4 Tính logic và ổn định thông tin cung cấp trong dạy học
Đặt vấn đề hiện đại hoá thông tin nhưng không có nghĩa phá vỡ tính
ổn định và vi phạm lôgic khoa học
- Tính lôgic của thông tin khoa học tạo cho con người có cùng một
hành vi hoạt động (giữa thầy và trò)
- Tính lôgic của thông tin khoa học còn đòi hỏi người thầy giáo khi
mã hoá thông tin (nội dung dạy học) phải đảm bảo tính phi mâu thuẫn
- Tính lôgic của thông tin khoa học tạo cho sự tư duy của học sinh dễ
dàng và phát triển
- Tính ổn định của thông tin khoa học mới tạo ra sự nhất quán, sự
đánh giá, so sánh và sáng tạo
- Tinh ổn định của thông tin khoa học là điều kiện khuyến khích việc
vận dụng tri thức đã học vào thực tiễn
1.1.5.2.5 Tính kinh tế của thông tin cung cấp trong dạy học
Theo kinh tế học giáo dục, thông tin được truyền đạt chu đáo và kết
quả nhận tin của học sinh được chọn vẹn là đảm bảo được tính kinh tế học
Trang 23giáo dục Kinh tế học giáo dục cũng đồng nghĩa với chất lượng thông tin mà
kết quả cho ta chất lượng của học sinh đúng với kế hoạch, yêu cầu đã đặt ra
1.1.5.2.6 Môi trường thông tin cung cấp trong dạy học:
Môi trường thông tin cung cấp trong dạy học là hệ thống đối mặt với
người học Sự thật ngoài thông tin khoa học (các môn học) còn có rất nhiều
thông tin khác trong môi trường như phim ảnh, ca nhạc… đều chi phối hoạt
động học tập của học sinh theo Piaget khi học sinh làm việc trong môi trường
có hai trường hợp xẩy ra:
- Đồng hoá thông tin (assimilation), áp dụng tri thức sẵn có để giải
quyết tình huống
- Điều tiết thông tin (Accommodation), đối tượng đó tạo nên sự điều
chỉnh thông tin trong nhận thức
Hai trường hợp xảy ra đưa đến sự thích nghi (Adaptation)
Ví dụ:
- Đồng hoá: Từ hiểu tốt đặc điểm hình chữ nhật học sinh tiến lên biết
được hình vuông là một trường hợp đặc biệt của hình chữ nhật Tức là dùng
cái trước để giải quyết cái sau (đồng hoá)
- Điều tiết: Từ việc nhận biết chung về góc, học sinh có thể nhận biết
được góc vuông, góc bẹt, góc tù(trong toán Tiểu học)
1.2 THỰC TRẠNG VẤN ĐỀ GIÁO VIÊN CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ
CHO NỘI DUNG DẠY HỌC ĐÃ CÓ TRONG SÁCH GIÁO KHOA Ở TIỂU HỌC.
Để xác lập cơ sở thực tiễn cho đề tài nghiên cứu, chúng tôi đã tiến
hành khảo sát vấn đề chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học có trong
sách giáo khoa của giáo viên Tiểu học trong quá trình dạy học
Tại trường Tiểu học Hà Huy Tập I - Thành phố Vinh, chúng tôi đã
tiến hành điều tra thực trạng của việc chuẩn bị thông tin hỗ thợ cho nội dung
dạy học trong quá trình dạy học của giáo viên Cụ thể là chúng tôi đã điều tra
50 giáo viên ở các khối lớp 2,3,4,5 của trường Tiểu học Hà Huy tập I
- Nội dung điều tra:
Trang 24+ Nhận thức của giáo viên Tiểu học về khái niệm, tác dụng của thông
tin hỗ trợ
+ Nhận thức của giáo viên Tiểu học về vai trò của việc chuẩn bị thông
tin hỗ trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học
+ Mức độ chuẩn bị thông tin hỗ trợ nội dung dạy học trong quá trình
dạy học
- Các phương pháp điều tra, khảo sát:
+ Điều tra bằng Anket: Chúng tôi đã xây dựng phiếu điều tra với các
câu hỏi trắc nghiệm lựa chọn để điều tra (xin xem thêm phụ lục I)
+ Điều tra bằng phỏng vấn trực tiếp
+ Quan sát tiến trình lên lớp và hiệu quả nhận thức của học sinh
Với nội dung và phương pháp điều tra trên, chúng tôi thu được kết
quả điều tra như sau:
1.2.1 Nhận thức của giáo viên Tiểu học về thông tin hỗ trợ
KIẾN
TỶ LỆ (%)
1 Thông tin hỗ trợ không phải là thông tin chính, mà là
những thông tin có tính chất bổ sung cho nội dung chính
(nội dung cơ bản) và được lấy từ nhiều nguồn khác nhau,
có tác dụng tạo thuận lợi cho hoạt động dạy học
2 Thông tin hỗ trợ là thông tin được đưa vào nhằm thoả
mãn nhu cầu lĩnh hội tri thức ngày càng cao của học
sinh
3 Thông tin hỗ trợ là thông tin đòi hỏi giáo viên phải đầu
tư nhiều thời gian nhưng không làm tăng hiệu quả dạy
học
4 Thông tin hỗ trợ là thông tin mà giáo viên đưa ra để giải
quyết một tình huống nào đó xảy ra trong quá trình dạy
học
Trang 255 Có thể đưa vào hoặc không đưa vào thông tin hỗ trợ cho
nội dung dạy học thì giờ dạy vẫn đảm bảo nâng cao hiệu
quả nhận thức cho học sinh
T
S
Từ bảng điều tra trên chúng tôi thu được kết quả sau:
Ở phương án một: Đây là quan niệm đúng, đầy đủ, chính xác nhất về
thông tin hỗ trợ: không phải là thông tin chính mà là những thông tin có tính
chất bổ sung cho nội dung chính (nội dung cơ bản) và được lấy từ nhiều
nguồn khác nhau, có tác dụng tạo thuận lợi cho hoạt động dạy học Song số
giáo viên đồng ý với quan niệm này chỉ có 7 giáo viên chiếm 14%
Ở phương án hai: Có 10 giáo viên đồng ý, chiếm 20% Như vậy
những giáo viên này cho rằng việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy
học chỉ đề thoã mãn nhu cầu nhận thức của học sinh mà không thấy đó cũng
là sự phản ánh trình độ kiến thức của giáo viên để qua đó uy tín của người
giáo viên cũng được nâng lên trong mắt học sinh
Ở phương án ba: Có tới 15 giáo viên đồng ý, chiếm 30 % và cho rằng
việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học mất nhiều thời gian mà
không đem lại hiệu quả cho giờ học cũng như việc nâng cao nhận thức cho
học sinh
Ở phương án bốn: Có 8 giáo viên đồng ý, chiếm 16% Như vậy giáo
viên đã nhầm lẫn giữa việc chuẩn bị nội dung dạy học và phương pháp giải
quyết các tình huống nảy sinh trong quá trình dạy học
Ở phương án năm: Có 10 giáo viên đồng ý, chiếm 20% Như vậy có
20% giáo viên đã đánh giá thấp và không nhận thức đúng vai trò của việc
chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học
Bảng 1
Trang 26Qua việc tổng kết bảng khảo sát trên, chúng tôi thấy thực trạng chung
của giáo viên Tiểu học về vấn đề chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy
học là chưa đúng và chưa chính xác
1.2.2 Bảng phân chia các mức độ nhận thức của giáo viên Tiểu
học về vai trò của vấn đề chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
trong quá trình dạy học
1 Góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh 38 76
3 Dễ làm mất thời gian của giáo viên và thời gian tiến
trình lên lớp
5 Dễ vi phạm nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học 16 32
6 Giáo viên phải đầu tư cho bài học nhiều hơn, công
phu hơn
7 Gắn tri thức sách giáo khoa và thực tiễn với nhau 31 62
8 Học sinh dễ bị phân tán chú ý khỏi nội dung chính
Trang 27Từ kết quả điều tra có thể thấy rằng: Đa số giáo viên Tiểu học đã
đánh giá đúng tầm quan trọng và sự cần thiết của việc chuẩn bị thông tin hỗ
trợ cho nội dung dạy học trong quá trình dạy học Có 68% giáo viên cho rằng
việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ là rất cần thiết
Theo đánh giá của giáo viên Tiểu học, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ
cho nội dung dạy học góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh
(76%), kích thích hứng thú học tập cho học sinh (60%), gắn tri thức sách giáo
khoa và thực tiễn với nhau (62%), phù hợp với đặc điểm tâm lý và trình độ
nhận thức của học sinh (64%)
Mặt hạn chế của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
là: giáo viên phải đầu tư cho bài dạy nhiều thời gian, công phu hơn, dễ vi
phạm nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học, học sinh dễ bị phân tán chú ý vì
các phương tiện truyền tin cũng được giáo viên đề cập đến nhưng chỉ chiếm
tỷ lệ nhỏ Như ta đã biết bên cạnh những mặt tích cực thì việc chuẩn bị thông
tin hỗ trợ cho nội dung dạy học cũng có những mặt hạn chế nhất định Nếu
nhận thức không đúng, đề cao quá vai trò của nó sẽ gây phân tán chú ý của
học sinh trong giờ học và học sinh không tập trung vào nội dung cơ bản của
bài học Tuy nhiên phần lớn giáo viên nhận thức đúng vấn đề này thể hiện ở
số ý kiến khẳng định mức độ rất cần thiết của giáo viên (68%) và cần thiết là
20%
Qua các ý kiến của giáo viên Tiểu học cho phép khẳng định: Sự cần
thiết của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học đối với việc
nâng cao hiệu quả nhận thức cho học sinh Vấn đề quan trọng được đặt ra
là: "Phải chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học như thế nào để nâng
cao hiệu quả nhận thức cho học sinh"
1.2.3 Việc điều tra các mức độ chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội
dung dạy học trong quá trình dạy học của giáo viên Tiểu học đƣợc chúng
tôi thể hiện ở bảng sau
Trang 28T T MỨC ĐỘ SỐ Ý KIẾN TỶ LỆ (%)
Bảng 3 Kết quả điều tra cho thấy giáo viên thường xuyên chuẩn bị thông tin
hỗ trợ cho nội dung dạy học còn rất ít, chiếm tỷ lệ là 18%, chỉ có 40% số giáo
viên có chuẩn bị nhưng không thường xuyên hay chỉ thỉnh thoảng Trong khi
đó 42% số giáo viên không chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
trong quá trình dạy học
Kết quả trên đây đã phần nào phản ánh thực trạng việc chuẩn bị thông
tin hỗ trợ cho nội dung dạy học của giáo viên trong quá trình dạy học Thực
tế cho thấy nhiều giáo viên do năng lực hạn chế, thiếu kiến thức về tự nhiên
và xã hội, không tự bồi dưỡng nâng cao kiến thức cho mình cho nên việc
chuẩn bị bài (soạn bài) chỉ mang tính hình thức còn việc chuẩn bị thông tin
hỗ trợ cho nội dung dạy học (phần mở rộng bài) còn gặp nhiều khó khăn, còn
chưa biết phải chuẩn bị những thông tin gì, chuẩn bị bằng cách nào và chuẩn
bị như thế nào trong quá trình dạy học Một số giáo viên khác dù đã nhận
thức đúng vai trò của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
nhưng do chưa nắm vững quy trình nên tuy có chuẩn bị nhưng hiệu quả chưa
cao
1.2.4 Đánh giá chung về thực trạng
Từ việc phân tích thực trạng qua những số liệu điều tra trên về các
mặt cho phép chúng tôi rút ra một số nhận xét sau:
Phần lớn giáo viên Tiểu học đã nhận thức đúng vấn đề nâng cao hiệu
quả nhận thức cho học sinh trong quá trình dạy học Tuy nhiên, từ nhận thức
đúng đến việc làm đúng có một khoảng cách khá xa Điều đó đòi hỏi sự cố
Trang 29giáo viên chưa tìm ra cho mình những biện pháp hữu hiệu để nâng cao hiệu
quả nhận thức cho học sinh Vì vậy, khả năng nhận thức của học sinh qua
từng bài, từng lớp, chưa có sự nâng cao, trong giờ học không kích thích được
hứng thu học tập, niềm say mê tìm hiểu tri thức của học sinh
Trong dạy học, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
có tầm quan trong đặc biệt, phần lớn giáo viên Tiểu học được điều tra đều
đánh giá cao vai trò của việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học
là góp phần kích thích hứng thú học tập, niềm say mê tìm hiểu, khám phá thế
giới xung quanh, hình thành niềm yêu thích khoa học, nâng cao hiệu quả
nhận thức cho học sinh Đồng thời cũng nâng cao uy tín của giáo viên trong
học sinh Đa số giáo viên Tiểu học đã có sự chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội
dung dạy học, nhưng việc chuẩn bị đó được giáo viên tiến hành hoặc là tự
phát, mang tính chủ quan hoặc áp đặt những thông tin mà giáo viên biết vào
nội dung dạy học và không theo một quy trình cụ thể nào, cho nên hiệu quả
giờ học không cao, hiệu quả nhận thức chưa thực tốt, việc mở mang kiến
thức bên ngoài tri thức sách giáo khoa còn hạn chế
Giáo viên chƣa biết kết hợp giữa thông tin hỗ trợ và nội dung dạy
học có trong sách giáo khoa để tạo thành một lôgic, mang tính hệ thống
nhằm đưa đến cho học sinh một chuỗi kiến thức có trật tự, dễ tiếp thu, lĩnh
hội
Chất lượng học tập qua kiểm tra ở một số bài học còn hạn chế, học
sinh chưa được nâng cao nhận thức qua từng khối lớp Giáo viên lên lớp chủ
yếu là thuyết trình, giảng giải một chiều những kiến thức đã có sẵn trong sách
giáo khoa mà chưa thật sự chú ý đến việc nâng cao, mở rộng kiến thức cho
học sinh Vì thế, học sinh học không hứng thú, thụ động trong lĩnh hội tri
thức
1.2.5 Nguyên nhân của thực trạng:
Trang 30Trước hết, bậc Tiểu học là bậc học mang tính chất giáo dục toàn diện,
là bậc học nền tảng tạo cơ sở cho các bậc học tiếp theo Vì vậy học sinh đến
trường phải học rất nhiều môn ở nhiều lĩnh vực khác nhau như: về tự nhiên,
về xã hội và con người, cùng với các vấn đề như: thể chất, sức khỏe… và các
em còn được tạo điều kiện để phát huy năng khiếu của mình qua các môn:
họa, nhạc… Để có thể đáp ứng được yêu cầu đó thì trước hết đòi hỏi giáo
viên Tiểu học phải có kiến thức rộng, toàn diện Nhưng hiện nay, phần lớn
giáo viên Tiểu học chưa đáp ứng được yêu cầu đó Các giáo viên còn thiếu
kiến thức trầm trọng về các lĩnh vực khoa học như: vật lý, hoá học, sinh học,
lịch sử, địa lý… Bên cạnh đó, trình độ năng lực sư phạm của một bộ phận
không nhỏ giáo viên Tiểu học còn rất hạn chế, năng lực chuyên môn không
đồng đều, còn có sự chênh lệch khá lớn
Theo chương trình Tiểu học hiện hành thì học sinh Tiểu học đến
trường phải học 9 môn Nghĩa là, mỗi ngày giáo viên Tiểu học phải chuẩn bị
từ 4 đến 5 giáo án để thực hiện vai trò "ông thầy tổng thể' của mình Mặc
khác trong suy nghĩ của không ít giáo viên thì chỉ có Toán, Tiếng việt là môn
chính còn các môn học khác là phụ Vì thế giáo viên chỉ cần đầu tư nhiều cho
Toán và Tiếng việt còn các môn còn lại chưa được đầu tư thích đáng cả về
thời gian, trí tuệ cũng như công sức Giáo viên lên lớp chỉ cần truyền đạt cho
học sinh những kiến thức đã được chương trình quy định là đủ Thậm chí
nhiều giáo viên còn cắt xén chương trình nhất là những phần khó hiểu và mở
rộng đối với học sinh mà bản thân giáo viên không nắm vững
Ở nhiều địa phương còn chưa có sự thống nhất trong đánh giá, còn
nhiều ý kiến khác nhau xung quanh vấn đề đảm bảo nguyên tắc tính vừa sức
trong dạy học, đặc biệt là vấn đề mở rộng nội dung dạy học ra ngoài trong
mỗi bài học như thế nào là phù hợp để có thể nâng cao hiệu quả nhận thức
cho học sinh Điều dó hạn chế rất nhiều sự sáng tạo của các giáo viên trong
quá trình chuẫn bị bài trước khi lên lớp
Trang 31Ngoài ra cơ sở vật chất ở các trường còn thiếu thốn Việc các trường
có thư viện chỉ mang tính hình thức mà chưa có sự đầu tư thích đáng để tăng
lượng sách tham khảo dành cho giáo viên, cũng như các phương tiện hổ trợ
cho dạy học Các trường ít tổ chức dạy các chuyên đề để nâng cao kiến thức,
chuyên môn cho giáo viên Trong khi ý thức tự bồi dưỡng, tự nâng cao kiến
thức cho mình bị các giáo viên xem nhẹ Họ không có khát vọng, nhu cầu tự
đổi mới mình Điều đó đã hạn chế giáo viên mỗi khi phải đứng trước lựa
chọn dạy thêm cái gì cho học sinh
Như vậy, chúng tôi đã tìm hiểu cơ sở lý luận cũng như đi sâu vào
nghiên cứu, điều tra khảo sát thực trạng của vấn đề cần nghiên cứu Từ đó,
một yêu cầu bức thiết được đặt ra là cần có một quy trình chuẩn bị
thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học để giúp giáo viên có thể chuẩn bị
bài dạy tốt trước khi lên lớp, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả nhận thức
cho học sinh Tiểu học
Chương II: QUY TRÌNH CHUẨN BỊ THÔNG TIN HỖ TRỢ NỘI DUNG DẠY
HỌC NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ NHẬN THỨC CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Choáng ngợp trước sự bùng nổ của thông tin, chúng ta không biết phải
học cái gì và học như thế nào trước lượng tri thức ngày càng mênh mông của
nhân loại? Thông tin giữ vai trò, vị trí rất quan trọng trong cuộc sống hiện nay
Trong quá trình dạy học theo xu hứng không chỉ bó hẹp trong phạm vi sách
Trang 32giáo khoa (ra ngoài sách giáo khoa) nhằm tích cực hoá hoạt động nhận thức
của học sinh Để kiến thức các em thu nhận được sau mối tiết học mang tính
cập nhật, thiết thực đối với cuộc sống của các em, thì việc chuẩn bị thông tin
hỗ trợ cho nôi dung dạy học của giáo viên là rất cần thiết Tuy nhiên để việc
chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học thực sự góp phần nâng cao
hiệu quả giờ học, đáp ứng được nhu cầu ham hiểu biết, khám phá thế giới
xung quanh ở học sinh mà vừa mang tính vừa sức, phù hợp với nội dung dạy
học thì giáo viên phải tiến hành chuẩn bị theo một quy trình hợp lý
Qua việc nghiên cứu các tài liệu và từ cơ sở thực tiễn (quá trình chuẩn
bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học của giáo viên ở các trường Tiểu học
được thể hiện qua bài soạn và quá trình truyền thụ nội dung bài học), chúng tôi
đã tiến hành xây dựng quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy
học ở nhà trường Tiểu học
2.1 CÁC NGUYÊN TẮC XÂY DỰNG QUY TRÌNH
Quy trình là trình tự phải tuân theo để tiến hành một công việc nào đó
Quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học là một
trình tự bao gồm các giai đoạn, các bước, được sắp xếp theo một trật tự tuyến
tính từ khi bắt đầu giờ học đến khi kết thúc giờ học
Khi xây dựng quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học
ở Tiểu học, chúng tôi dựa trên những nguyên tắc cơ bản sau đây
2.1.1 Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống
Theo V.P Cuzơmin: "Hệ thống là một tập hợp nào đó những yếu tố có
mối liên hệ lẫn nhau tạo ra sự thống nhất ổn định, tức là một chỉnh thể"
Tính hệ thống là một nội dung của tính khoa học Tính khoa học đòi
hỏi nội dung dạy học phải được sắp xếp thành một hệ thống logíc chặt chẽ Vì
thế việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học phải được tiến hành
đảm bảo tính hệ thống Theo quan điểm của triết học duy vật biện chứng Mac -
Lênin, mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới khách quan đều tồn tại, vận động
Trang 33tồn tại, vận động và phát triển trong mối quan hệ biện chứng với nhau, gắn bó
với nhau, quy định lẫn nhau Tính hệ thống là một trong những nguyên lý cơ
bản trong lý luận và phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
Vận dụng nguyên lý này, chúng tôi xem hoạt động chuẩn bị thông tin
hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học với tư cách là một bộ phận trong hệ
thống hoạt động của con người và là một bộ phận của hoạt động dạy học
Chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học là một bộ phận trong hoạt
động dạy học, nhưng đồng thời nó tồn tại và vận động với tư cách là một hệ
thống độc lập Nó chứa đựng một tập hợp các yếu tố cấu thành nó trong mối
quan hệ biện chứng, gắn bó, quy định lẫn nhau
Với quan điểm hệ thống, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung
dạy học ở Tiểu học được xem xét như là một hệ thống cấu trúc hoạt động Từ
việc thừa nhận hệ thống cấu trúc hoạt động, nó được xem xét như là một hệ
thống cấu trúc quá trình Vì vậy, việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung
dạy học có thể xác lập nên quy trình Quy trình đó phải trở thành một chỉnh
thể, bao gồm các giai đoạn, các bước khác nhau Các giai đoạn, các bước này
phải được liên kết, gắn bó thống nhất với nhau, phải được sắp xếp theo một
trật tự tuyến tính và có tác dụng tìm những thông tin phù hợp hỗ trợ cho nội
dung dạy học
Bên cạnh việc đảm bảo tính hệ thống, quy trình chuẩn bị thông tin hỗ
trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học cần phải đảm bảo tính cụ thể Thể hiện
các yếu tố của quy trình (các giai đoạn, các bước), phải được phân giải sao
cho:
- Số lượng các giai đoạn, các bước vừa đủ đề thực hiện hoạt động có
hiệu quả
- Nội dung các giai đoạn, các bước không quá phức tạp
- Các giai đoạn, các bước phải được sắp xếp theo một cấu trúc hợp
logic, đảm bảo sự gần giống với logic tự nhiên của hoạt động
Trang 34Nguyên tắc đảm bảo tính hệ thống và tính cụ thể được coi là nguyên
tắc quan trọng trong việc xác lập quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi
dung dạy học ở Tiểu học
2.1.2 Nguyên tắc đảm bảo tính thực tiễn, tính khả thi
Thực tiễn - Đó là toàn bộ hoạt động của con người nhămg đảm bảo cho
sự tồn tại và phát triển của xã hội Việc xây dựng quy trình chuẩn bị thông tin
hỗ trợ cho nội dung dạy học ở Tiểu học phải dựa trên cơ sở thực tiễn dạy học ở
Tiểu học, làm cho nó vừa phải phù hợp với những đặc điểm, điều kiện, yêu
cầu của giáo viên Tiểu học vừa có tác đụng nâng cao hiệu quả dạy học cho học
sinh Thực tiễn vừa là điểm xuất phát và động lực của nhận thức, vừa là mục
đích của nhận thức Để đạt được điều đó quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ
cho nôi dung dạy học ở Tiểu học mà chúng tôi xây dựng cần phải:
- Phù hợp với trình độ năng lực chuyên môn của đông đảo giáo viên
Tiểu học
- Phù hợp với điều kiện dạy học cụ thể ở từng trường Tiểu học
- Có nhiều khả năng tạo ra hiệu quả dạy học cao
Hay nói cách khác việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học
ở Tiểu học phải xuất phát từ yêu cầu của thực tiễn dạy học và nhu cầu nhận
thức, lĩnh hội tri thức của học sinh và phải có khả năng ứng dụng rộng rãi
trong quá trình dạy học ở Tiểu học
Thực chất của nguyên tắc này là gắn lý thuyết với thực tiễn Lý thuyết
và thực tiễn là hai mặt tinh thần và vật chất của quá trình nhận thức và cải tạo
tự nhiên, xã hội và bản thân con người
2.1.3 Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả
Quy trình chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học
không chỉ cần đảm bảo tính hệ thống, thực tiễn mà còn phải đảm bảo tính hiệu
quả Nghĩa là nó vừa có khả năng ứng dụng rộng rãi, vừa có thể tích cực hoá
hoạt động nhận thức, thoã mãn nhu cầu hiểu biết của học sinh và nâng cao chất
Trang 35lượng dạy học Việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi dung dạy học ở Tiểu học
phải đảm bảo cho việc lĩnh hội tri thức của học sinh được diễn ra một cách đầy
đủ, chính xác và đạt chất lượng cao
Đặc biệt ,việc chuẩn bị thông tin theo quy trình này phải góp phần
nâng cao hứng thú học tập, Tích cực nhận thức của học sinh Nói cách khác,
quy trình chuẩn bị thông tin phải tạo được hiệu quả dạy học một cáhc toàn
diện Nó giúp học sinh nắm được không những nội dung bài học trong sách
giáo khoa mà có thể mở rộng nguồn tri thức ra ngoài phạm vi sách giáo khoa,
khám phá thế giới xung quanh qua đó, học sinh có một lượng tri thức nền cần
thiết để tiếp tục học lên và có khả năng vận dụng lượng tri thức đó vào cuộc
sống lao động hàng ngày
2.1.QUY TRÌNH THỰC HIỆN
Việc chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học ở Tiểu học có thể
quy trình hoá theo các giai đoạn, các bước sau:
Giai đoạn 1: Định hướng hoạt động chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nôi
dung dạy học
Giai đoạn này được cụ thể hoá thành các bước sau:
Bước 1: Mục tiêu môn học
Bước 2: Hệ thống bài học
Bước 3: Mức độ bổ sung thông tin các bài học
Giai đoạn 2: Thực thi bổ sung thông tin hổ trợ cho nội dung dạy học
(trước, trong và sau bài học)
Bước 1: Thông tin bổ sung
Bước 2: Hình thức truyền tin
Trang 362.3.1 Giai đoạn 1: Định hướng chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội
dung dạy học
Mục đích của giai đoạn này là định hướng cho việc chuẩn bị thông tin
hỗ trợ cho nội dung dạy học Muốn vậy giáo viên cần tiến hành một loạt các
hoạt động từ việc xác định mục tiêu môn học, hệ thống bài học, mức độ bổ
sung thông tin … Giai đoạn này có ý nghĩa định hướng, vì vậy sự cần thiết
phải chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội dung dạy học hay không phụ thuộc rất
lớn vào việc thực hiện giai đoạn này của giáo viên
Bước 1: Xác định mục tiêu môn học
Mục tiêu của giáo dục bậc Tiểu học, văn bản Mục tiêu, kế hoạch giáo
dục Tiểu học ban hành theo Quyết định số 2957 - GDĐT ngày 14 /10/1994 của
Bộ trưởng Bộ giáo dục và Đào Tạo đã khẳng định: "Tiểu học là cấp học đặt cơ
sở ban đầu cho sự hình thành,phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền
tảng vững chắc cho giáo dục phổ thông và cho toàn bộ hệ thống giáo dục quốc
dân" Mục tiêu của từng cấp học lại được cụ thể hoá ở mục tiêu ở từng khối
lớp, từng môn học cụ thể Môn học là một khoa học bao gồm những kiến thức
cơ sở đã được lựa chọn, sắp xếp thành hệ thống, phù hợp với mục đích dạy
học, với quy luật tâm lý - lôgic - sư phạm của sự lĩnh hội của học sinh Mỗi
môn học đều có mục tiêu riêng Vì vậy để chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho nội
dung dạy học đã có trong sách giáo khoa thì trước hết giáo viên cần phải xác
định được mục tiêu của từng môn học Như mục tiêu của môn Toán ở Tiểu
học là: Giúp học sinh có những kiến thức cơ sở ban đầu về số học các số tự
nhiên, các số thập phân, các đại lượng cơ bản; hình thành và rèn luyện kỹ năng
thực hành tính, giải bài toán … Bước đầu hình thành và phát triển năng lực
trừu tượng hoá, khái quát hoá … ngoài ra còn góp phần hình thành các phẩm
chất, đức tính cần thiết cho người lao động trong xã hội hiện đại Hay mục tiêu
của môn
Trang 37Tự nhiên xã hội là: Giúp học sinh lĩnh hội một số tri thức cơ bản ban
đầu, thiết thực về các sự vật hiện tượng và mói quan hệ giữa chúng trong tự
nhiên, xã hội Hình thành và phát triển ở học sinh các kỹ năng như quan sát,
phân tích, tổng hợp… Hình thành và phát triển ở học sinh những thái độ, thói
quen ham hiểu biết khoa học, lòng yêu thiên nhiên đất nước, con người
Như vậy xác định mục tiêu môn học là bước đầu tiên mà giáo viên cần
phải làm để trên cơ sở đó có sự lựa chọn, điều chỉnh nội dung từng bài học cho
phù hợp Hay nói cách khác, mục tiêu môn học vẫn được đảm bảo khi giáo
viên đưa thông tin hỗ trợ vào nội dung từng bài học trong quá trình dạy học
Bước 2: Xác định hệ thống bài học
Môĩ môn học là một hệ thống các bài học cụ thể Hệ thống bài học
được xây dựng dựa trên cơ sở quy luật logic về hình thức cũng như về nội
dung Kiến thức của bài học trước tạo cơ sở, là kiến thức nền của bài học sau
Hệ thống bài học bao hàm trong đó là hệ thống những kiến thức, kỹ năng, kỹ
xảo cần hình thành ở học sinh Việc xác định hệ thống bài học giúp giáo viên
có cái nhìn tổng thể về một môn học, để từ đó có biện pháp phù hợp, đúng đắn
chuyển tải hệ thống nội dung các bài học đó đến học sinh Đồng thời qua đó
giáo viên có thể thấy được sự cần thiết mức độ bổ sung thông tin cho nội dung
dạy học của từng bài học cụ thể
Bước 3: Xác định mức độ bổ sung thông tin các bài
Từ việc xác định hệ thống bài học, giáo viên đã có cái nhìn tổng thể về
môn học và nắm được nội dung chính của từng bài học Qua đó bản thân mỗi
giáo viên có thể tưqj trả lời cho câu hỏi: Cần phải chuẩn bị thông tin hỗ trợ cho
nội dung từng bài học ở mức độ nào thì phù hợp? Bài nào ở mức độ rất cần
thiết, bài nào chỉ ở mức độ cần thiết, còn bài nào thì ít cần nhằm đảm bảo
nguyên tắc tính vừa sức trong dạy học Nếu xác định đúng mức độ bổ sung
thông tin cho các bài học thì giáo viên mới có thể chuẩn bị nội dung thông tin
hỗ trợ đúng, chính xác, phù hợp giúp giờ học đạt hiệu quả cao
Trang 38Ví dụ 1: Đề xuất xác định mức độ cần thiết bổ sung thông tin hỗ trợ
cho nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Tự nhiên - Xã hội, phân môn
2 Phương hướng trên bản đồ - cách sử dụng bản đồ X
9 Người kinh ở đồng bằng sông Hồng X
Trang 3918 Con người ở đồng bằng miền Trung X
Ví dụ 2: Đề xuất xác định mức độ cần thiết bổ sung thông tin hỗ trợ
cho nội dung dạy học trong sách giáo khoa môn Tự nhiên - Xã hội, phân môn
Trang 404 Sông ngòi X
6 Thực hành: Đất và động, thực vật X
8 Thực hành: Dân số và sự tăng dân số X
9 Các dân tộc Việt Nam Sự phân bố dân cư X
11 Thực hành: Nông nghiệp (Tiếp theo) X
13 Thực hành: Sự phân bố các ngành công nghiệp X
28 Châu Đại Dương và châu Nam Cực X
29 Thực hành: Các đại dương trên thế giới X