1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ẢNH HƯỞng của CUỘC KHỦNG HOẢNG 2008 đến THỊ TRƯỜNG tài CHÍNH VIỆT NAM và LIÊN hệ với TÌNH HÌNH đại DỊCH COVID 19

31 22 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 31
Dung lượng 25,66 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tuy nhiên đi kèm với sự phát triển đó là nguy cơ, hiểm họa của cuộc khủng hoảng tài chính cùng với đó là sự suy thoái tất yếu của chu kỳ phát triển kinh tế sau những năm phát triển cực đ

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG

KHOA KINH TẾ QUỐC TẺ

ĐÈ TÀI: ẢNH HƯỚNG CỦA CUỘC KHỦNG HOẢNG 2008 ĐÉN THỊ TRƯỜNG TÀI CHÍNH VIỆT NAM VÀ LIÊN HỆ VỚI

Trang 2

1.3 Thị trường tiỀN (Ệ: eceec<ce<eeeseEscseSserxreeecee 8

2 _ Thịtrường Tài chính Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng 2008: 9 2.1 — Hệ thống ngân hàng: < căn tserrersrseee 9 2.2 Thị trường CHUNG kHOH ccc co sec co 3n SH TH TH HH lì 0 lI

2.3 Thị trường tiỀn tỆ: ceeeccecseeseeeeeeeeeesseserseeseese.s Ê Ổ

3 _ Ứng phó của chính phủ trong thời kỳ khủng hoảng 2008: 14

4 Ứng phó của các chủ thể tham gia Thị trường Tài chính trong thời kỳ khủng hoảng 2(JŠ: 0G SH Họ Họ 000000066 000996 16

5 Thị trường Tài chính Việt Nam hậu khủng hoảng 2008: 17 5.1 Hệ thống ngân hàng: e<ceccceecsersceceeceecee 17 3.2 Thị trường CHUNG kHOH ccc co sec co 3n SH TH TH HH lì 0 l8

5.3 Thị trường tiÊn Ệ: -.-esceccceseeeeceesserscseecce Ê Ủ

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Trang 3

HI Liên hệ với tình hình dịch COYVID-19 hiện nay: «««««s« 20

1 Diễn biến phức tạp của dịch COVID-1O!: - << 5< scseescsceesse 20

2 _ Ảnh hưởng của COVID-19 đến Thị trường Tài chính Việt Nam: 21 2.1 Ảnh hưởng đến Thị trường Tài chính Việt INam: 21

2.1.1 Hệ thống ngân hàng: TT TT ru 21

2.1.2 Thị trường chứng khOÁáH: cà nh va 22

2.1.3 Thị trường tiỄH lỆ: St TT HH HH na 23

2.2 So sảnh với cuộc khủng hoảng năm 2ÚÚỗ: co ecseSSeesSSse° 24

3 _ Kiến nghị giải phápp: - s5 s° << s2 nh xe xxx erxrsee 25

a4 n 5 .,ôÔỎ 26

Trang 4

A.LỜI MỞ ĐẦU

Bước sang thế kỉ XXI, nền kinh tế thế giới phát triển không ngừng, các nước phát triển như Mỹ, Nhật, khu vực EU luôn đạt được sự gia tăng về GDP, GƠNP Tốc độ tăng trưởng luôn từ 2%-3% một năm Củng với đó là sự tăng trưởng và phát triển của Trung Quốc từ một nước không nằm trong bảng xếp hạng 10 nước phát triển trên thế giới thì chỉ sau 6 năm đã dần trở thành cường quốc lớn thứ 4 trên thế giới, là một trong 4 con rông Châu ÀÁ mới của thê kỷ

Tuy nhiên đi kèm với sự phát triển đó là nguy cơ, hiểm họa của cuộc khủng hoảng tài chính cùng với đó là sự suy thoái tất yếu của chu kỳ phát triển kinh tế sau những năm phát triển cực đại Với những mầm mồng khủng hoảng từ trước, năm 2007 đã đánh dẫu

sự suy thoái, bắt đầu những dấu hiệu khủng hoảng của nền kinh tế thế giới Chỉ trong vòng một vải tháng cuôi năm 2007 và đâu năm 2008, cả thê giới chứng kiên sự rung chuyền của hệ thống tài chính Mỹ - nơi được xem như cường quốc hùng mạnh nhất thế giới Đây được xem như cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất xảy ra kể từ 80 năm trở lại đây Hàng trăm tỷ USD đã tiêu tan, sự lây lan vẫn tiếp tục lan rộng và ảnh hưởng mạnh mẽ ra toàn thê giới

Chính vì thế, chúng em muốn tìm hiểu về cuộc khủng hoảng tài chính Mỹ năm 2008

ta sẽ có cái nhìn toàn điện hơn về cuộc khủng hoảng và từ đó, chúng ta có thê sẽ tìm ta được những bài học cũng như những giải pháp để giúp cho nền kinh tế tránh được những rủi ro mà cuộc khủng hoảng gây ra, đồng thời tìm ra những định hướng phù hợp giúp cho mỗi quôc gia có thể tận dụng được những cơ hội của mình để tăng trưởng

kinh tế

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Trang 5

12/2002, FED đã II lần giảm lãi suất cho vay từ 6,5% xuống còn I,75%/năm) Còn

với một quy thô lớn là do được các cong ty tải chỉnh và ngân hàng đầu tứ, trong đó đặc

biệt là hai công ty Fanie Mae và Freddie Mac được Chính phủ Mỹ bảo trợ, “cấp vốn” bằng cách mua lại các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, biến chúng thành loại chứng từ được bảo đảm bằng các khoản vay thế chấp để bán lại cho các công ty, các ngân hàng đầu tư lớn khác như: Bear Stearms, Merrill Lynch

Các công ty tài chính, ngân hàng đầu tư nảy lại phát hành trái phiếu trên cơ sở các chứng từ cho vay thế chấp đó để bán cho các ngân hàng Mỹ khác và ngân hàng nhiều

nước trên thế giới làm tài sản tích trữ do uy tín của các ngân hàng phát hành Việc

“chứng khoán hoá” các khoản vay thê châp đã vượt khỏi sự kiêm soát của nhà nước Chuỗi hoạt động kinh doanh mang tính chất đầu cơ đã làm thị trường nhà đất nóng lên,

giá nhà đất bị đây lên cao, trở thành “bong bóng” và “bong bóng” đã nỗ

Những diễn biến trên là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến khủng hoảng tài chính, nhưng sâu xa hơn, cuộc khủng hoảng tài chính có nguyên nhân từ cơ cầu và cơ chế vận hành nền kinh tế Mỹ Trong bối cảnh thực hiện các chính sách tự do hoá kinh tế, Chính phủ Mỹ còn thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ trong một thời gian dài Để phục hồi nên kinh tế Mỹ sau cuộc suy thoái kinh tế năm 2001, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED)

Trang 6

đã liên tiếp giảm lãi suất liên ngân hàng (từ 6,5% xuống còn 1,75%), theo đó, lãi suất

cho vay của tín dụng thứ cấp cũng giám xuống thấp Chính sách nới lỏng tiền tệ (chính sách đồng đô la rẻ) đã kích thích người dân vay tiền mua nhà và các tổ chức tín dụng thì sẵn sàng cho vay, đầu tư mạo hiểm Tóm lại, sự buông lỏng quản lý nhà nước và

TH ến làm Ảng hối CHnnh WN tệ của nhà nước là nguyên nhân sâu xa hơn của Bắt đầu từ cuộc khủng hoảng tài chính trở thành cuộc khủng hoảng kinh tế ở Mỹ sau

đó nhanh chóng lan rộng, làm suy giảm kinh tế toàn cầu, có nguyên nhân từ vai trò của

kinh tế Mỹ trong nền kinh tế thế giới Từ sau Đại chiến Thế giới lần thứ II đến nay, Mỹ

là cường quốc kinh tế, cường quốc khoa học công nghệ đứng đầu thế giới Giá trị tổng sản phẩm (GNP) của nước Mỹ chiếm gần một phần tư giá trị tổng sản phẩm của thế giới, nên suy giám kinh tế Mỹ đã ảnh hưởng lớn đến quan hệ tài chính, thương mại và

đầu tư quốc tế, do đó ảnh hưởng đến hoạt động kinh tế của nhiều nước, Cũng do sức mạnh to lớn của nên kinh tê Mỹ mà đông đô la Mỹ được sử dụng làm đông tiên thanh toán và dự trữ quốc tế Chính phủ, các ngân hàng, công ty của các nước trên thế giới đều sẵn sảng mua trái phiếu của Chính phủ Mỹ, của các công ty và ngân hàng Mỹ làm tài sản dự trữ của mình Ngân hàng và các công ty Mỹ có thể phát hành trái phiếu để huy động vốn, mở rộng các hoạt động kinh doanh của mình, kê cả các hoạt động mạng tính chất đầu cơ Nhưng khi đồng đô la Mỹ mắt giá, thì giá cả, thương mại, tài chính quốc tế, giá trị tài sản dự trữ bằng đồng đô la Mỹ và trái phiếu Mỹ của Chính phủ, các

ngân hàng, công ty các nước đều bị ảnh hưởng Sự SỤP đồ của ngân hàng Mỹ kéo theo

sự phá sản của hàng loạt ngân hàng các nước trên thê giới; khủng hoảng của kinh tê

Mỹ gây ra khủng hoảng, suy thoái kinh tế thế giới Trong hệ thống tài chính thế giới với vai trò chỉ phối của Mỹ, nước Mỹ đã buộc cả thế giới phải chia sẻ, cũng trả giá cho những sai lầm, bất ôn của kinh tế Mỹ

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Trang 7

Hàng loạt tô chức tải chính trong đó có những tô chức tài chính không lồ và lâu đời

bị phá sản đã đây kinh tế Hoa Kỳ vào tình trạng đói tín dụng Thất nghiệp gia tăng ảnh hưởng tiêu cực đến thu nhập và qua đó tới tiêu dùng của các hộ gia đình lại làm cho các doanh nghiệp khó bán được hàng hóa Nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc có nguy cơ bị phá sản, trong đó có cả ba nhà sản xuất ô tô hàng đầu của Hoa Kỳ là General Motors, Ford Motor và Chrysler LLC Các nhà lãnh đạo 3 hãng ô tô này đã nỗ lực vận động Quốc hội Hoa Kỳ cứu trợ, nhưng không thành công Ngày 12/12/2008, General Motors đã phải tuyên bố tạm thời đóng cửa 20 nhà máy của hãng ở khu vực Bắc Mỹ Tiêu dùng giảm, hàng hóa ế thừa đã dẫn tới mức giá chung của nền kinh tế giảm liên tục, đây kinh tế Hoa Kỳ tới nguy cơ có thê bị giám phát

Cuộc khủng hoảng còn làm cho dollar Mỹ lên giá Do dollar Mỹ là phương tiện thanh toán phố biến nhất thế giới hiện nay, nên các nhà đầu tư toàn cầu đã mua dollar

để nâng cao khả năng thanh khoản của mình, đây dollar Mỹ lên giá Điều này làm cho

xuất khẩu của Hoa Kỳ bị thiệt hại

Trang 8

Ngay khi khủng hoảng tín dụng nhà ở thứ cấp nỗ ra, Cục Dự trữ Liên bang Hoa Kỳ (FED) bắt đầu can thiệp bằng cách hạ lãi suất và tăng mua MBS Đến khi tình hình phát triển thành khủng hoảng tài chính từ tháng § năm 2007, FED đã tiếp tục tiến hành

các biện pháp nới lỏng tiền tệ để tăng thạnh khoản cho các tô chức tài,chính

FED đồ òn thực hiện nghiệp vụ thị trường mở ( (mua nh các trải phi phiêu chính phủ Hoa

Kỳ mà các tô chức tài chính nước này có) và hạ lãi suất tái chiết khâu Giữa tháng 12 năm 2008, FED tuyên bố có kế hoạch thực hiện chính sách nới lỏng tiền tệ mặt lượng Tháng 12 năm 2007, Chính phủ Hoa Kỳ đã lập ra và giao cho FED chủ trì chương trình Term Auction Facility để cấp các khoản vay ngắn hạn có kỳ hạn từ 28 đến 84 ngày theo lãi suất cao nhất mà các tổ chức tài chính trả qua đấu giá Tính đến tháng I1 năm 2008, đã có 300 tỷ dollar được FED đem cho vay theo chương trình này FED còn

tiến hành cho vay thế chấp đối với các tổ chức tài chính với số tiền tổng cộng tới I,6 nghìn tỷ tính đên tháng II năm 2008

2.2 Các quốc gia khác:

Hoa Kỳ là thị trường nhập khẩu quan trọng của nhiều nước, do đó khi kinh tế suy

thoái, xuất khâu của nhiều nước bị thiệt hại, nhất là những nước theo hướng xuất khẩu

ở Đông Á Một số nền kinh tế ở đây như Nhật Bản, Đài Loan, Singapore và Hong Kong rơi vào suy thoái Các nền kinh tế khác đều tăng trưởng chậm lại

Châu Âu vốn có quan hệ kinh tế mật thiết với Hoa Kỳ chịu tác động nghiêm trọng

cả về tài chính lẫn kinh tế Nhiều tổ chức tài chính ở đây bị phá sản đến mức trở thành

khủng hoảng tài chính ở một số nước như Ireland, Nga Các nền kinh tế lớn nhất khu vực là Đức và Ý rơi vào suy thoái, và Anh, Pháp, Tây Ban Nha cùng đều giảm tăng trưởng Khu vực đồng Euro chính thức rơi vào cuộc suy thoái kinh tế đầu tiên kể từ ngày thành lập

Các nền kinh tế Mỹ Latinh cũng có quan hệ mật thiết với kinh tế Hoa Kỳ, nên cũng

bị ảnh hưởng tiêu cực khi các dòng vốn ngắn hạn rút khỏi khu vực và khi giá dầu giảm mạnh Ecuador tiên đên bờ vực của một cuộc khủng hoảng nợ

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Trang 9

Kinh tế các khu vực trên thế giới tăng chậm lại khiến lượng cầu về dầu mỏ cho sản xuất và tiêu dùng giảm cũng như giá đầu mỏ giảm Điều này lại làm cho các nước xuất

khẩu dầu mỏ bị thiệt hại Đồng thời, do lo ngại về bất ôn định xảy ra đã làm cho nạn

đầu cơ lương thực nỗ ra, góp phần dẫn tới giá lương thực tăng cao trong thời gian cuối

ăm 2007 đầu năm 2008, tạo thành một cuộc khủng hoảng giá lượng thực toàn cầu

trọng Các nhà đầu tư chuyên danh mục đầu tư của mình sang các đơn vị tiền tệ mạnh như dollar Mỹ, yên Nhật, franc Thụy Sĩ đã khiến cho các đồng tiền này lên giá so với

nhiều đơn vị tiền tệ khác, gây khó khăn cho xuất khẩu của Mỹ, Nhật Bản, Thụy Sĩ và

gây rồi loạn tiền tệ ở một số nước buộc họ phải xin trợ giúp của Quỹ Tiền tệ Quốc tế Hàn Quốc cũng rơi vào khủng hoảng tiền tệ khi won liên tục mất giá từ đầu năm 2008

3 Ở Việt Nam:

Cuộc khủng hoảng tài chính kéo dài đã phá vỡ các hoạt động kinh tế toàn cầu Kinh

tế thế giới cuối năm 2008 và đầu năm 2009 tiếp tục suy giảm mạnh, các nước công nghiệp phát triển đang rơi vào giai đoạn khủng hoảng tôi tệ nhất trong gần 70 năm qua Đối với Việt Nam, mặc dù hệ thống tài chính vẫn chưa bị ảnh hưởng nhưng sản xuất

kinh doanh xuất nhập khẩu, thu hút vốn đầu tư, kiều hồi đã bị tác động tương đối rõ

Phần lớn hoạt động sản xuất phục vụ cho lĩnh vực xuất khẩu gặp rất nhiều khó khăn

Trong đó các thị trường lớn như : Mỹ, EU, Nhật là những thị trường truyền thống nhập

khẩu hàng sản xuất từ Việt Nam đang bị khủng hoảng, do mức sinh hoạt của người

dân bị đảo lộn, đòi hỏi mọi người phải cắt giảm chi tiêu, thắt lưng buộc bụng, mức độ

mua hàng giảm, nhu cầu thanh toán yếu Việt Nam là một trong những nước ảnh hưởng nặng trong hoạt động xuất khẩu hàng hóa

Trang 10

1 Thị trường Tài chính Việt Nam trước khi xảy ra khủng hoảng năm 2008:

Trước khi xuất hiện khủng hoảng kinh tế năm 2008, thị trường tài chính Việt Nam

đang có sự phát triển mạnh mẽ Kinh tế Việt Nam luôn tăng trưởng ôn định mức 7.7% (2003: 6.9%, 2004: 7.5%, 2005: 7.5%, 2006: 8.2%)

1.1 Hệ thông ngân hàng:

Theo báo cáo của 5 NHTM, tăng trưởng cho vay đối với doanh nghiệp cô trong những năm gần đây ở mức cao, đặc biệt là từ năm 2003 Dư nợ cho vay đối với doanh nghiệp cô phần liên tục tăng cả về số tuyệt đối và tỷ trọng trong tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế (12/2004 dư nợ 25.212 tỷ đồng, chiếm 5,47% tổng dư nợ cho vay đối

với nền kinh tế, 12/2005, con số này là 44.086 tỷ đồng và 7.93%) Tính đến 31/5/2006

dự nợ cho vay đôi với doanh nghiệp cô phân khoảng 51.603, chiêm 8,8% tông dư nợ của toàn hệ thống đối với nền kinh tế Về cơ cầu loại hình doanh nghiệp, dư nợ cho vay doanh nghiệp nhà nước cô phần hoá luôn chiếm trên 70% tổng dư nợ cho vay doanh

nghiệp cô phần (năm 2004 là 75,89%, năm 2005 là 73,3%, tháng 5 năm 2006 khoảng

73,98%) Dư nợ cho vay 5 tháng đầu năm 2006 đối với các doanh nghiệp cô phần tăng 17,05% so với đư nợ cuối tháng 12/2005, cao hơn mức tăng trưởng tín dụng chung của

nền kinh tế (4,94%); trong đó tốc độ tăng trưởng cho vay đối với doanh nghiệp nhà

nước cô phần hoá khoảng 18,13% và doanh nghiệp cổ phần khác khoảng 14,1% Tính đến tháng 5/2006, nợ xấu của doanh nghiệp cô phần khoảng 2.742 tỷ đồng, chiếm 14,72% tổng nợ xấu của hệ thống ngân hàng, trong đó chủ yếu là nợ xấu của các doanh nghiệp nhà nước cô phần hoá, khoảng 2.484 tỷ đồng, chiếm 90,6% tông nợ xấu của các doanh nghiệp cô phần Tỷ lệ nợ xấu của doanh nghiệp cô phần khoảng 5,3 1% trên tổng

dư nợ vay của doanh nghiệp cô phần, cao hơn tỷ lệ nợ xấu chung (3,2%); trong đó, doanh nghiệp nhà nước cô phần hoá có tỷ lệ nợ xấu là 6,51%, doanh nghiệp cô phần khác là 1,92% trên tổng dư nợ vay.Tình hình nợ xâu của các doanh nghiệp cỗ phần có chiều hướng gia tăng trong những năm gần đây (tỷ lệ nợ xâu năm 2003: 1,77%, năm

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Trang 11

2004: 2,13%, năm 2005: 7,72%, tháng 5 năm 2006: 6,51%) Tuy nhiên, cũng có nhiều doanh nghiệp cô phần sử dụng vốn vay hiệu quá, đúng mục đích, bảo đảm kinh doanh hiệu quả, quan hệ tín dụng sòng phẳng, tạo uy tín tốt đối với các NHTM; qua đó các NHTM tăng sự tin tưởng đối với doanh nghiệp cô phần, tạo lập được các khách hàng

truyền thống và có chính sách khuyến khích, ưu đãi liên quan đến quan hệ tín dụng 1.2 Thị tuùòng chúng khoán:

Nhìn chung, thị trường chứng khoán (TTCK) Việt Nam là một thị trường có tổ chức bao gôm những bộ phận cầu thành cơ bản, là một lĩnh vực hoạt động mới trong nên kinh tế nói chung và khu vực tài chính nói riêng Trong giai đoạn 2000-2005, vốn hoá

thị trường chỉ chiếm tỷ lệ nhỏ khoảng 0,37% với 32 công ty niêm yết chủ yếu là đoanh

nghiệp vừa và nhỏ, cho thấy ở giai đoạn đầu mở cửa tỷ lệ đóng góp trên GDP của nguồn vốn thu được từ TTCK khá nhỏ, kích cỡ nhỏ, tính thanh khoản thấp chưa thực

sự là kênh huy động vốn cho nền kinh tế Trong giai đoạn nghiên cứu kế từ năm 2006, sau khi Việt Nam đã gia nhập WTO, nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài gia tăng, càng có nhiều nhả đầu tư nước ngoài đến Việt Nam để khai thác tiềm năng phát triển của thị trường, các công ty Việt Nam ngày càng có cơ hội kinh doanh ở thị trường nước ngoài,

dự án kinh doanh gia tăng kéo theo nhu cầu vốn để đầu tư cho các dự án kinh doanh Đồng thời với sự ra đời của luật chứng khoán và các ưu đãi về thuế đã gia tăng số lượng doanh nghiệp niêm yết vốn hoá thị trường trên GDP cao nhất là năm 2007 đạt

27,5% với tổng giá trị ở 2 sàn là 381.420 tỷ đồng

13 Thị trường tiều tệ:

Từ quý 2/2004, NHTW đã thành công trong việc điều hành chính sách tiền tệ Do vậy, đã trực tiếp đóng góp phần chống lại nguy cơ bùng nỗ lạm phát năm 2004 và những tháng đầu năm 2006 Ngoài ra, trong suốt quá trình phát triển thương mại, ngảnh ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong lĩnh vực thanh toán và dịch vụ xuất nhập khâu góp phần thúc đây hoạt động xuất nhập khẩu có những bước tăng trưởng vượt bậc, từ mức xấp xi 2 tỷ USD tông kim ngạch xuất nhập khẩu năm 1990 lên trên 69,1 tỷ USD năm 2005, đạt mức tăng trưởng bình quân tới trên I53%⁄42/năm trong hơn L0

Trang 12

Tỷ lệ vốn hóa thị trường giai đoạn 2003-

năm liền (1995- 2005).Trong suốt 2 năm 2003 và 2004, NHTW đã duy trì lãi suất cơ

bản ở mức 7.5%/ năm Tuy nhiên, lãi suất cơ bản này đã được ngân hàng nhà nước

thay đổi từ tháng 2/2005 từ 7.5%/năm lên 7.8%/năm

Đồ thị: Điểm HNX Index và VN Index

(Nguồn: World Bank Indicators) (Nguôn: Sở GDCK TPHCM và Hà Nội)

2 Thị trường Tài chính Việt Nam trong thời kỳ khủng hoảng 2008:

2.I Hệthống ngân hàng:

Lĩnh vực hoạt động tín dụng ngân hàng bị ảnh hưởng mạnh bởi những diễn biến này theo xu hướngtiêu cực Hai biểu hiện rõ nét nhất và có tác động ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của các ngân hàng thương mại đó là xu hướng tín dụng tăng

trưc âm lại và nợ xấu phát sinh zên nhân dẫn đến việc tí ăng trưẻ

GhhH14 đo các NHÍ VỆ ẠN Họng rong việc Cho Vay VỊ thị Hường PO đội hạnh và

doanh nghiệp đã và đang hạn chế mởcác rộng sản xuất kinh doanh do khó khăn trong thị trường tiêu thụ hàng hoá Trong năm 2008, tỉ lệ tín dụng trên địa bản giảm mạnh (23.5%) trong khi tỉ lệ này của năm 2006 và 2007 lần lượt là 31% và 64.4%

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Trang 13

Tốc độ tăng tr ướng của tín dụng (đơn vị:%)

(Nguôn: Ngân hàng nhà nước Việt Nam)

Chất lượng tín dụng bị ảnh hưởng gắn liền với nguyên nhân khách quan từ quá trình luân chuyển vốn chậm của nên kinh tế, của doanh nghiệp (do sản xuất kinh doanh ngừng trệ, hàng hoá khó tiêu thụ, cầu hàng hoá giảm) dẫn đến khả năng thanh toán bị

hạn chế, nhiều doanh nghiệp bị ứ đọng hàng tồn, ảnh hưởng đến các khoản tín dụng có liên quan Bên cạnh đó tín dụng bât động sản luân chuyên chậm do thị trường bât động sản vẫn chưa khởi sắc: giá bất động sản giảm và khó bán tác động trực tiếp người vay

và các khoản nợ cho vay bất động sản Chất lượng tín dụng bất động sản sẽ tiếp tục phụ thuộc rất nhiều vào sự phát triển, tăng trưởng trở lại của thị trường nảy

Khó khăn của doanh nghiệp làm cho rủi ro tín dụng gia tăng Mặc dù nợ xấu dưới mức quy định của Ngân hàng Trung ương (NHTW) song các tiêu chuẩn tín dụng vẫn cân có các giải pháp hiệu quả đê hạn chê nợ xâu

Hoạt động của các định chế tài chính gặp khó khăn, hiệu quả kinh doanh có thể giảm thấp Tuy nhiên việc duy trì hoạt động kinh doanh ổn định và tiếp tục có lãi (trong 3 tháng đầu năm 2008) của các NHTM là lợi thế và có ý nghĩa quan trọng đối với nền kinh tế đất nước trong điều kiện hiện nay - Điều mà nhiều Chính phủ của các Quốc gia trên thế giới mong đợi, kỳ vọng và sử dụng nhiều gói kích thích kinh tế để vực dậy hệ thống ngân hàng của họ Vì vậy, các NHTM cần đặc biệt quan tâm đến các giải pháp

về khai thác và sử dụng nguồn vốn hiệu quá, hợp lý và phù hợp với diễn biến tình hình

phát triển kinh tế Đặc biệt thực hiện tốt các gói kích cầu của Chính phủ - như là điều

Trang 14

kiện thuận lợi để mở rộng và tăng trưởng tín dụng hiệu quả Trong đó cần tôn trong triệt để các nguyên tắc sử dụng vốn, đảm bảo sử dụng vốn phù hợp với khả năng tài

chính, khả năng huy động vốn, để hạn chế tối đa rủi ro về thanh khoản, mỗi khi thị

trường có biến động mạnh như thời gian vừa qua Ngoài ra, NHTW Việt Nam đã quyết

định thực hiện chính sách tiền tệ thắt chặt trước những dấu hiệu gia tăng lạm phát Tốc

ộ tăng trưởng GDP của năm 2006 đã giảm xuông từ 8.5% vào năm 2007 còn 6.3%

vào năm 2008 và Š.33⁄% vào năm 2009

Tốc độ tăng trưởng GDP từ năm 2007 đến năm 2010

chứng khoán Từ quý 2/2008, những chỉ tiêu kinh tế vĩ mô Việt Nam đã bắt đầu phản

ánh những biểu hiện suy thoái đầu tiên như GDP giảm, lạm phát vả thất nghiệp tăng Trong tình hình đó, NHNN liên tục cắt giảm lãi suất cơ bản, kéo theo “cuộc chạy đua” ngược so với đầu năm của các NHTM trong việc hạ lãi suất cho vay và lãi suất huy động tiền gửi Những biến động tiêu cực vượt ngoài dự báo đã làm một số lượng lớn doanh nghiệp thiệt hại nặng nề Theo thống kê kết quả kinh doanh DNNY, tăng trưởng

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Trang 15

lợi nhuận sau thuế giảm mạnh và tăng trưởng âm với tỷ lệ trên 50% trong quý 4 so với

quý 3 Kết thúc năm, VN-Index đã giảm mạnh 65,73% so với ngày 2/1/08 xuống còn

315,62 điểm, giảm 73,04% so với mức đỉnh 1.170,67 (12/03/07)

Đồ thị: Điểm số VN-Index và Hasfc-Index năm 2008

Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng gây ra sự khó khăn cho việc phát hành trái phiếu

và chứng khoán huy động trên thị trường quốc tế vì chi phí tăng cao và dòng vốn khan hiểm Nếu phát hành trái phiếu và cô phiếu với lãi suất cao để huy động nguồn vốn thì đầu tư trong nước không hiệu quả hoặc hiệu quả không cao khó có khả năng trả nợ Các công ty chứng khoán đang đứng trước nhiều khó khăn về lợi nhuận để tôn tại và phát triển, với mức thu nhập trung bình thường chỉ bằng 1/3 tổng chỉ phí cần thiết trong hoạt động của mình Ngoài ra, sức hấp dẫn trên thị trường chứng khoán đã giảm sút, nhưng hầu như chỉ nhận được các giá trị ảo tiềm năng các cô phiếu thưởng thay vì "tiền tươi" từ cô tức hàng năm, quy luật lợi nhuận bình quân trong kinh tế thị trường phát huy sức mạnh của nó, tỷ suất lợi nhuận trong các lĩnh vực kinh doanh được san bằng, giá trị các chứng khoán phải trở vê đúng với giá trị thực và mức sinh lãi thực của chúng

KINH TẾ HỌC QUỐC TẺ II

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:20

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w