Nghiên cứu đoạn văn kết thúc tác phẩm của họ, chúng tôi mong muốn tìm đ-ợc những cứ liệu xác đáng, những điều bất ngờ thú vị để từ đó đi đến những kết luận mang tính tổng quát b-ớc đầu v
Trang 1Tr-ờng đại học vinh
-
Tạ mai anh
Đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn
Võ thị hảo, nguyễn thị thu Huệ, Phan thị vàng Anh
Chuyên ngành: Lý luận ngôn ngữ
Mã số: 5 04 08 Ng-ời h-ớng dẫn khoa học: TS Phan Mậu Cảnh
Luận văn thạc sỹ ngữ văn
Trang 2
Vinh - 2002
Trang 3
Ch-ơng 1: Truyện ngắn và đoạn văn kết thúc truyện ngắn 8
Ch-ơng 2: Đặc điểm hình thức đoạn văn kết thúc truyện ngắn của
Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh
35
2.4 Một số đối sánh về hình thức đoạn văn kết thúc truyện ngắn 65
Ch-ơng 3: Đặc điểm nội dung - ngữ nghĩa đoạn văn kết thúc truyện ngắn
của Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh
75
3.2 Các loại nghĩa đ-ợc thể hiện trong đoạn kết 86
Trang 4Lời nói đầu
Đoạn văn là một trong những đơn vị trực tiếp tham gia kiến tạo văn bản Trong văn bản nghệ thuật, đoạn văn biến hoá một cách linh hoạt góp phần đáp ứng những yêu cầu sáng tạo Đứng ở vị trí đặc biệt, đoạn văn kết thúc có vai trò quan trọng trong việc tạo vang h-ởng và sức lắng đọng cho tác phẩm Mỗi nhà văn luôn biết đặt dấu ấn của mình trên trang viết của mình Những dấu ấn
ấy làm nên cái “muôn hình vạn trạng” đầy cuốn hút nhưng vẫn không phá vỡ những nguyên tắc chung Với đoạn văn kết thúc, ta có thể nhận diện chúng trên những khuôn hình nhất định Đây cũng là vấn đề thu hút đ-ợc sự quan tâm của chúng tôi
Trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi đã nhận đ-ợc sự giúp đỡ tận tình của các thầy, cô giáo trực tiếp giảng dạy, đặc biệt là thầy giáo – TS Phan Mậu Cảnh, ng-ời đã trực tiếp h-ớng dẫn đề tài khoa học này
Trang 5Mở đầu
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Văn bản là một chỉnh thể phức tạp và thống nhất Chỉnh thể ấy có một cấu trúc nhất định và đ-ợc tạo lập bởi các đơn vị bậc d-ới (câu, đoạn văn, ch-ơng, phần ) Một trong những đơn vị tồn tại th-ờng xuyên và ổn định
trong văn bản là đoạn văn
Với t- cách là đơn vị trực tiếp cấu thành văn bản, đoạn văn có mối quan
hệ đa chiều với các yếu tố khác và luôn h-ớng tới đích giao tiếp Nó là một tín hiệu giúp ng-ời đọc phát hiện ý t-ởng, tìm chủ đề của văn bản Chính vì vậy, trong việc phân tích văn bản, đặc biệt là phân tích tác phẩm văn học trong nhà tr-ờng, đoạn văn trở thành đối t-ợng đ-ợc quan tâm tìm hiểu, khám phá
1.2 Đứng ở những vị trí khác nhau, đoạn văn đảm trách những vai trò khác nhau Đoạn văn (dù là bình th-ờng hay bất th-ờng) bao giờ cũng mang trong mình nó l-ợng thông tin cần thiết làm nên tính hoàn chỉnh của văn bản
Đoạn văn kết thúc - xét về mặt chức năng: có vai trò đóng khép văn bản, xét
về mặt ngữ nghĩa: bao chứa một l-ợng thông tin quan trọng Đoạn văn kết ở mỗi kiểu loại văn bản có một đặc thù riêng, có một vị thế riêng trong mối quan hệ với toàn cục
Trong các văn bản phi nghệ thuật, đoạn văn kết th-ờng ít nhiều mang tính khuôn mẫu Trái lại, ở các văn bản nghệ thuật, đoạn văn kết đ-ợc thể hiện rất linh hoạt và mang đậm dấu ấn sáng tạo Những thập niên gần đây, thể tài truyện ngắn gặt hái đ-ợc nhiều thành công Đóng góp vào sự thành công ấy phải kể đến lực l-ợng sáng tác nữ Họ đã không ngừng tìm tòi, khai phá những luồng lạch mới Truyện ngắn của họ mang dáng dấp riêng - hiện đại và giàu nữ tính ở lĩnh vực hình thức nghệ thuật, bên cạnh việc kế thừa truyền thống, các nhà văn nữ đã có những thể nghiệm mới đáng trân trọng Nghiên cứu
đoạn văn kết thúc tác phẩm của họ, chúng tôi mong muốn tìm đ-ợc những cứ liệu xác đáng, những điều bất ngờ thú vị để từ đó đi đến những kết luận mang tính tổng quát b-ớc đầu về đoạn văn kết thúc truyện ngắn thời kỳ đổi mới nói riêng và đoạn văn kết thúc truyện ngắn nói chung
Trang 61.3 Việc nghiên cứu đoạn văn kết thúc văn bản nghệ thuật, cụ thể là
đoạn văn kết thúc truyện ngắn giúp chúng ta nhận diện và hiểu sâu hơn về bản chất của đơn vị ngôn ngữ này Đây cũng la cơ sở để cắt nghĩa, lí giải mối quan
hệ đa chiều giữa đoạn văn kết thúc văn bản với các yếu tố ngoài nó Nghiên cứu đoạn văn kết thúc cũng góp phần tích cực vào việc phân tích và tạo lập văn bản trong nhà tr-ờng
Trong khuôn khổ luận văn này, chúng tôi cố gắng làm nổi bật đặc tr-ng của đoạn văn kết thúc truyện ngắn bằng việc khảo sát, phân tích và đ-a ra kết luận b-ớc đầu ở các mặt sau: Hình thức, nội dung, kiểu kết, quan hệ Thông qua, đó chúng tôi muốn có cái nhìn sâu hơn, toàn diện hơn về đơn vị ngôn ngữ này
2 Lịch sử vấn đề
2.1 Khái quát về tình hình nghiên cứu đoạn văn
Là đơn vị trực tiếp tham gia tạo lập văn bản, đoạn văn đã đ-ợc nhiều các nhà nghiên cứu văn bản quan tâm Có thể đến một số nhà nghiên cứu n-ớc ngoài nh-: N.SPospelop, L.Abulakhovskij, I.RGalperin, Losêva, O.I Moskalskaja, L.G Pilman Trong những công trình của mình, các tác giả đ-a
ra những kiến giải về hình thức, về cấu trúc đoạn Bên cạnh đó, họ bày tỏ quan
điểm về sự trùng hợp hay không trùng hợp giữa đoạn văn và chỉnh thể thống nhất trên câu Nhìn chung, các ý kiến còn gây nhiều tranh cãi và ch-a đi đến thống nhất
Trong n-ớc, từ những năm tám m-ơi của thế kỷ XX trở lại đây, vấn đề
đoạn văn đ-ợc nhiều ng-ời đi sâu tìm hiểu
- Trần Ngọc Thêm trong bài Bàn về đoạn văn nh- một đơn vị ngôn ngữ
(tạp chí Ngôn ngữ - Số 3.1984) đã đ-a ra những luận chứng khẳng định đoạn văn là một đơn vị ngôn ngữ Ông cho rằng:
Thứ nhất, một đơn vị phải có khả năng khu biệt, tức là phải có một hình thức nhất định với những ranh giới rõ ràng cho phép có thể nhận diện và sử dụng
Thứ hai, theo F de Saussure, khi xác định một đơn vị thì “những sự phân chia trên dòng âm thanh phải t-ơng ứng với những sự phân chia trên dòng khái niệm", tức là phải có sự thống nhất giữa hình thức và nội dung
Trang 7Thứ ba, một đơn vị ngôn ngữ phải có khả năng sản sinh và có tính biến thể trên những mô hình cấu trúc nhất định
Ông khẳng định: “Chỉ có chấp nhận đoạn văn là đơn vị mới thoả mãn
đ-ợc tiêu chuẩn một Và chỉ có chấp nhận nó là đơn vị duy nhất mới có khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn hai và ba"
- Công trình Ngữ pháp văn bản và việc dạy tập làm văn (Nguyễn
Trọng Báu, Nguyễn Quang Ninh, Trần Ngọc Thêm - Nxb Giáo dục.1985) cũng bàn nhiều về đoạn văn và chỉnh thể trên câu Các tác giả cho rằng: đoạn văn và chỉnh thể trên câu là những khái niệm khác nhau
- Diệp Quang Ban với công trình Văn bản và liên kết trong tiếng Việt
đã thâu tóm một cách hệ thống những vấn đề về ngữ pháp văn bản Đáng chú
ý, đối với vấn đề đoạn văn, ông rút ra đ-ợc những kết luận xác đáng ở các góc
độ: cấu trúc đoạn, sự chia tách đoạn, liên kết trong đoạn văn và giữa các đoạn văn
Nh- vậy, các nhà Ngữ pháp văn bản đã quan tâm nghiên cứu khá đầy
đủ những biểu hiện về nội dung và hình thức của đơn vị đoạn văn ở những mặt nào đó, các ý kiến ch-a hoàn toàn thống nhất, nh-ng có thể ghi nhận
rằng: những tiền đề lý thuyết họ đưa ra có ý nghĩa rất lớn “đối với ngôn ngữ học và giáo học pháp” [86,121]
2.2 Khái quát về tình hình nghiên cứu đoạn văn kết thúc văn bản nghệ thuật
Vấn đề đoạn văn kết thúc văn bản nghệ thuật nói chung và đoạn văn kết thúc truyện ngắn nói riêng từng đ-ợc một số ng-ời đề cập đến
Tr-ớc hết phải kể đến bài viết Các kiểu kết thúc của truyện ngắn hôm nay
của Lê Thị H-ờng (Tạp chí Văn học số 4.1995) ở đây, tác giả bàn đến các kiểu kết có tính chất chung th-ờng gặp trong truyện ngắn hôm nay:
1.Kết thúc để ngỏ
2.Kết thúc có nhiều đoạn kết
3.Kết thúc đối nghịch
4.Loại truyện có mở đầu mà không có kết thúc
Dừng lại ở nội dung đoạn kết thúc với t- cách là một yếu tố của cốt truyện, tác giả đã đ-a ra những dẫn chứng có tính thuyết phục Trong quan niệm của tác giả bài viết, đoạn kết thúc trùng với phần kết
Trang 8ở bài Nơi tác phẩm kết thúc là nơi cuộc sống bắt đầu (Tạp chí Văn học số 9.1998), tác giả Bùi Việt Thắng đề cập tới vai trò của đoạn kết thúc truyện ngắn Ông đã chứng minh sự tồn tại của các kiểu kết thúc khác nhau,
đó là: Kết khép, kết mở, kết bất ngờ và kiểu truyện không có kết Bài viết có
đoạn: “Cách kết thúc nào trong truyện ngắn cũng đều nhằm tái hiện nghệ thuật sự đa dạng và phức tạp của cuộc sống Điều quan trọng hơn cả là đằng sau mỗi cách kết thúc tác phẩm, tác giả phải gieo vào lòng ng-ời đọc những
dự cảm về t-ơng lai, về cái đẹp và khả năng thấu thị đời sống trong dòng chảy liên tục của nó”
Tác giả công trình Văn bản và liên kết trong tiếng Việt (Nxb Giáo
dục,1998) cho rằng: Đoạn văn kết có chức năng đóng khép văn bản
Về đoạn văn kết thúc tác phẩm của các tác giả cụ thể, Trần Anh Hào có
bài Vai trò của đoạn mở, đoạn kết với tiếng c-ời trong truyện ngắn của Nguyễn Công Hoan (Tạp chí ngôn ngữ số 8,1999) Bài viết này xét cơ chế
gây c-ời của đoạn mở, đoạn kết trong một số truyện ngắn trào phúng tiêu biểu của Nguyễn Công Hoan trên hai quan hệ: h-ớng nội, h-ớng ngoại
Qua tình hình nghiên cứu đoạn văn kết thúc văn bản, chúng ta thấy rằng: ph-ơng diện đ-ợc nhiều ng-ời quan tâm là các kiểu đoạn kết thúc - xét trong mối quan hệ ngữ nghĩa với toàn bộ văn bản Tình hình trên đặt ra vấn đề cần nghiên cứu đoạn văn kết thúc một cách toàn diện hơn, đặt nó trong mối quan hệ đa chiều với các yếu tố khác thuộc văn bản và với độc giả
Những kết quả nghiên cứu về đoạn văn kết thúc văn bản mới chỉ là b-ớc
đầu, song đây là những gợi ý quan trọng cho chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài này
3 Mục đích nghiên cứu
Thông qua việc khảo cứu các đoạn văn kết thúc truyện ngắn, cụ thể là truyện ngắn của một số nhà văn nữ Việt Nam thời kỳ đổi mới, luận văn h-ớng tới những mục đích sau:
3.1 Khảo sát đoạn văn kết thúc truyện ngắn ở các mặt: cấu tạo, vai trò ngữ nghĩa, quan hệ, kiểu kết để từ đó tìm ra những cứ liệu cụ thể làm sáng
tỏ bản chất của đơn vị này
3.2 Thống kê, phân loại, phân tích những chứng liệu, số liệu thu thập
đ-ợc và đi đến những nhận xét tổng quát về đặc điểm đoạn văn kết thúc
Trang 9truyện ngắn của các nhà văn nữ nói riêng và đặc điểm đoạn văn kết thúc truyện ngắn hôm nay nói chung (hình thức, nội dung, quan hệ, các kiểu kết phổ biến định hình)
3.3 Tìm hiểu, nghiên cứu đoạn văn, đặc biệt là đoạn văn kết thúc, chúng tôi mong muốn góp phần vào việc phân tích, bình giá văn bản nghệ thuật nói chung, nhất là văn bản thuộc loại hình tự sự, đồng thời góp phần vào
việc dạy và học môn Tập làm văn trong nhà tr-ờng
4 Đối t-ợng và phạm vi khảo sát
- Luận văn lấy đối t-ợng khảo sát là đoạn văn kết thúc truyện ngắn và
đặt đối t-ợng này trong mối quan hệ với các yếu tố khác thuộc phạm trù nội dung và hình thức nghệ thuật của văn bản
Có thể thấy truyện ngắn là thể tài điển hình trong loại hình tự sự Để tạo lập nó, ng-ời viết phải cân nhắc một cách kỹ l-ỡng từng yếu tố nội dung cũng nh- hình thức, đặc biệt là việc dồn nén sự kiện để đi đến giải quyết một vấn đề hợp với lôgích cuộc sống Đoạn văn kết thúc không nằm ngoài sự cân nhắc đó
Nhà văn Vũ Thị Thường nhận xét: “ ở truyện ngắn, chỉ cần viết nửa trang lỏng lẻo là truyện đổ liền [56,31] Đoạn văn kết thúc góp phần tạo sự lắng
đọng, tạo d- âm cho văn bản nghệ thuật trong lòng độc giả
- T- liệu khảo sát chính của luận văn lấy từ truyện ngắn của ba nhà văn nữ Việt Nam: Phan Thị Vàng Anh, Nguyễn Thị Thu Huệ, Võ thị Hảo Họ là những nhà văn trẻ, cùng thời và đã đạt đ-ợc những thành công đáng ghi nhận Tác phẩm của họ đã bắt kịp nhịp vận động về hình thức và nội dung của thể loại (mà đoạn văn kết thúc là một trong những biểu hiện cụ thể) Vẻ đẹp nữ tính, sự táo bạo, quyết liệt của tuổi trẻ cũng là những yếu tố giúp họ hiện diện một cách ấn t-ợng trong lòng ng-ời đọc
Ngoài ra, chúng tôi cũng lấy t- liệu từ truyện ngắn của một số nhà văn khác để làm cơ sở so sánh, đối chiếu
5 Ph-ơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình thực hiện đề tài này, chúng tôi sử dụng một số ph-ơng pháp nghiên cứu sau:
- Ph-ơng pháp thống kê, phân loại
Trang 10- Ph-ơng pháp phân tích, tổng hợp
- Ph-ơng pháp so sánh, đối chiếu
6 Đóng góp mới của luận văn
- Làm sáng tỏ bản chất, đặc tr-ng của đoạn văn kết thúc truyện ngắn nói riêng và đoạn văn kết văn bản thuộc loại hình tự sự nói chung trên cơ sở các ngữ liệu cụ thể xác thực
- Chứng minh sự đa dạng, phong phú của đoạn văn kết thúc văn bản nghệ thuật, mà nhất là ở truyện ngắn, ở các mặt: Hình thức biểu đạt và nội dung ngữ nghĩa
7 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1: Truyện ngắn và đoạn văn kết thúc truyện ngắn
Ch-ơng 2: Đặc điểm hình thức đoạn văn kết thúc truyện ngắn của Võ
Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan thị Vàng Anh
Ch-ơng 3: Đặc điểm nội dung - ngữ nghĩa đoạn văn kết thúc truyện
ngắn của Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan thị Vàng Anh
Trang 11Ch-ơng 1 Truyện ngắn và đoạn văn kết thúc truyện ngắn
1.1 Truyện ngắn
1.1.1 Khái niệm
Truyện ngắn là thể loại văn học rất nhạy cảm với những biến đổi của
đời sống xã hội Với hình thức gọn nhẹ, truyện ngắn luôn bắt kịp nhịp vận
động của xã hội và tái hiện đ-ợc mọi biến thái trong đời sống vật chất cũng nh- tinh thần của con ng-ời Các nhà văn danh tiếng trên thế giới nh-: T.Sêkhốp, O.Henry, Mofatxăng, K.Pautôpxki, Hêminguê khẳng định sự bất
tử của mình trên văn đàn bằng chính thể loại tự sự “cỡ nhỏ” này ở Việt Nam,
tên tuổi các nhà viết truyện ngắn nh- Nam Cao, Nguyễn Công Hoan, Thạch Lam luôn có vị trí trang trọng trong đời sống tinh thần của ng-ời yêu văn học
Truyện ngắn hiện đại trong xã hội hiện đại có nhiều -u thế riêng Bêlinxki từng nhận định: “Nếu có những tư tưởng của thời đại thì cũng có những hình thức của thời đại” [49,32] Truyện ngắn là một trong những hình thức của thời đại
Truyện ngắn thu hút đ-ợc mối quan tâm của ng-ời sáng tác, ng-ời nghiên cứu, ng-ời đọc Ng-ời ta bàn luận về truyện ngắn, và cũng bởi vậy, quan niệm về truyện ngắn thật muôn vẻ
Các nhà văn định nghĩa về truyện ngắn bằng sự trải nghiệm nghề nghiệp
K.Pautôpxki - nhà văn Nga - xác định: “Thực chất truyện ngắn là gì? Tôi nghĩ rằng truyện ngắn là một truyện viết ngắn gọn, trong đó cái không bình th-ờng hiện ra nh- một cái gì bình th-ờng, và cái gì bình th-ờng hiện ra nh- một cái gì không bình th-ờng” [56,121] Có thể thấy, K.Pautôpxki rất
quan tâm đến tính sự kiện trong truyện ngắn Ông nhấn mạnh sự đan xen giữa cái bình th-ờng và cái không bình th-ờng Đây cũng chính là lôgích cuộc
sống Thể hiện thành công cái lôgích “đa sự” ấy, truyện ngắn đã thực sự có
chỗ đứng trong lòng ng-ời đọc
Nguyễn Công Hoan - Nhà văn Việt Nam hiện đại - cho rằng: “Truyện ngắn không phải là truyện, mà là một vấn đề đ-ợc xây dựng bằng chi tiết với
Trang 12sự bố trí chặt chẽ, và bằng thái độ với cách đặt câu, dùng tiếng có cân nhắc Muốn truyện ấy là truyện ngắn chỉ nên lấy một trong ngần ấy ý làm ý chính, làm chủ đề cho truyện Những chi tiết trong truyện chỉ nên xoay quanh chủ
đề ấy thôi” [42,321-322] Trong quan niệm về truyện ngắn, Nguyễn Công Hoan chú ý hơn cả đến tính chủ đề - chỉ là “một vấn đề”, một lớp truyện
Nhà văn Nguyễn Kiên định nghĩa: “Mỗi truyện ngắn là một tr-ờng hợp Trong quan hệ giữa con ng-ời với đời sống, có những khoảnh khắc nào đó, một mối quan hệ nào đó đ-ợc bộc lộ Truyện ngắn phải nắm bắt đ-ợc cái tr-ờng hợp ấy Tr-ờng hợp ở đây là một màn kịch chớp nhoáng, có khi chỉ là một trạng thái tâm lý, một chuyển biến tình cảm kéo dài chậm rãi trong nhiều ngày Nh-ng nhìn chung, thì vẫn có thể gọi là một tr-ờng hợp” [56,40] Với
quan niệm này, nhà văn muốn đề cập đến dung l-ợng của truyện ngắn, nhấn
mạnh ý nghĩa điển hình của sự việc, tình huống “Khoảnh khắc” được nhắc ở
đây là khoảnh khắc mà đối t-ợng phản ánh bộc lộ rõ nét nhất bản chất, quy luật của nó
Nguyên Ngọc - nhà văn thành công trong những truyện ngắn mang không khí lịch sử, chứa đựng một phạm vi khá rộng của đời sống xác nhận:
“Truyện ngắn là một bộ phận của tiểu thuyết nói chung” Vì thế “không nên nhất thiết trói buộc truyện ngắn vào những khuôn mẫu gò bó Truyện ngắn vốn nhiều vẻ Có truyện viết về cả một đời ng-ời, lại có truyện chỉ ghi lại một vài giây phút thoáng qua” [56,28] ở đây, nhà văn chỉ rõ sức ôm chứa và khả
năng khái quát hiện thực của truyện ngắn Quan niệm này có điểm gặp gỡ với
quan niệm của nhà văn Nguyễn Quang Thân: “Một khoảnh khắc cực ngắn hay một ngàn năm, truyện ngắn chuyên chở hết ” [57,62]
Đứng từ góc độ của ng-ời nghiên cứu và tiếp nhận, các nhà biên soạn từ
điển cũng đã cắt nghĩa về truyện ngắn
Từ điển Văn học (Tập 2 - Nxb Khoa học xã hội H.1984), mục Truyện ngắn:
“Hình thức tự sự loại nhỏ Truyện ngắn khác với truyện vừa ở dung l-ợng nhỏ hơn, tập trung mô tả một mảnh của cuộc sống: một biến cố hay một vài biến cố xảy ra trong một giai đoạn nào đó của đời sống nhân vật, biểu hiện một mặt nào đó của tính cách nhân vật, thể hiện một khía cạnh nào đó của vấn đề xã hội
Trang 13Cốt truyện của truyện ngắn th-ờng diễn ra trong một không gian và thời gian hạn chế Kết cấu của truyện ngắn cũng không chia thành nhiều tuyến phức tạp Truyện ngắn đ-ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ, nên đặc điểm của truyện ngắn là tính ngắn gọn”
Từ điển thuật ngữ Văn học ( Nxb Đại học quốc gia H.1988), mục Truyện ngắn:
“Tác phẩm tự sự cỡ nhỏ Nội dung thể loại của truyện ngắn bao trùm hầu hết các ph-ơng diện của đời sống: đời t-, thế sự hay sử thi, nh-ng cái độc
đáo của nó là ngắn Truyện ngắn đ-ợc viết ra để tiếp thu liền một mạch, đọc một hơi không nghỉ
Truyện ngắn hiện đại là một kiểu t- duy mới, một cách nhìn cuộc đời, một cách nắm bắt đời sống rất riêng mang tính chất thể loại
Cốt truyện của truyện ngắn th-ờng diễn ra trong một không gian, thời gian hạn chế, chức năng của nó nói chung là nhận ra một điều gì đó sâu sắc
về cuộc đời và tình ng-ời Kết cấu của truyện ngắn th-ờng không chia thành nhiều tầng, nhiều tuyến mà th-ờng đ-ợc xây dựng theo nguyên tắc t-ơng phản hoặc liên t-ởng Bút pháp trần thuật của truyện ngắn th-ờng là chấm phá
Yếu tố quan trọng bậc nhất của truyện ngắn là những chi tiết cô đúc,
có dung l-ơng lớn và lối hành văn mang nhiều ẩn ý, tạo cho tác phẩm những chiều sâu ch-a nói hết”
Những ý kiến về truyện ngắn đã trình bày ở trên cho chúng ta một cách
nhìn toàn diện về thể tài này Mỗi ý kiến dù mang tính nghề nghiệp hay “ hàn lâm” đều bắt đầu từ những xuất phát điểm tin cậy
Trở lên là những ý kiến về truyện ngắn của những ng-ời sáng tác và ng-ời nghiên cứu, tiếp nhận Các ý kiến rất đa dạng, nh-ng nhìn chung đều xoay quanh những khía cạnh chính: Dung l-ợng, kết cấu, độ dồn nén, sức khái quát hiện thực, hình thức biểu đạt
Có thể rút ra những điểm chính về thể tài truyện ngắn nh- sau:
- Một thể tài tự sự cỡ nhỏ Nhỏ ở đây đồng nghĩa với ngắn gọn, hàm súc, tinh lọc và hay
- Về dung l-ợng và cốt truyện: Truyện ngắn tập trung vào một mặt nào
đó của đời sống, xoay quanh một vài biến cố, sự kiện tập trung trong một không gian, thời gian nhất định
Trang 14- Kết cấu truyện ngắn cực kỳ chặt chẽ và là kết cấu đơn tuyến
- Nhân vật truyện ngắn th-ờng thể hiện một tâm thế của con ng-ời trong thời đại
1.1.2 Một vài đặc điểm của truyện ngắn
Là hình thức tự sự cỡ nhỏ, truyện ngắn th-ờng bao gồm một lớp truyện thể hiện một vấn đề, một b-ớc ngoặt, một tr-ờng hợp hay một tâm trạng nhân vật Truyện ngắn không h-ớng tới khắc hoạ những tính cách đầy đặn, không miêu tả một quá trình hiện thực với quy mô lớn Lớp sự kiện trong truyện ngắn xảy ra trong một không gian nhất định Những tính cách, những quan hệ trong truyện ngắn đ-ợc miêu tả ở thời khắc chúng bộc lộ rõ bản chất, quy luật Nói cách khác, truyện ngắn chỉ xoáy vào một điểm của hiện thực nh- là
sự thể hiện kết quả của một quá trình
Ngắn gọn là một yêu cầu về hình thức của truyện ngắn Song sự dao
động về khối l-ợng của thể loại này có biên độ rất lớn Trong thực tế, có cốt truyện đầy đủ các khâu: trình bày, khai đoạn, phát triển, đỉnh điểm và kết thúc Bên cạnh đó cũng có những cốt truyện không có khai từ cũng chẳng có kết thúc, chỉ là sự vận động của dòng tâm trạng
Sức nén của truyện ngắn th-ờng rất lớn, có khi chỉ trong một số l-ợng ít
ỏi trang giấy mà làm hiện lên cả một cuộc đời, tạo đ-ợc không khí của một
giai đoạn lịch sử Truyện ngắn làm được điều đó nhờ vào sự hỗ trợ “dòng ngầm” của tác giả, của ngôn từ Vậy là “hình thức nhỏ không có nghĩa là nội dung không lớn lao” (A Tônxtôi) [56,116] Xét về hiệu quả nghệ thuật,
“truyện ngắn có quyền bình đẳng với tiểu thuyết” [70,75], bởi nó mang đến
cho ng-ời đọc một khả năng lớn trong việc tiếp nhận hiện thực Đặc biệt với
lối viết “phá cách” của một số cây bút hiện nay, sức ôm chứa của hình thức tự
sự cỡ nhỏ này còn có thể v-ơn tới những giới hạn mới
Trang 151.1.2.2 Bố cục, kết cấu, cốt truyện
Khi sáng tác nói chung và viết truyện ngắn nói riêng, nhà văn phải sắp xếp các cảnh ngộ, tính cách và sự kiện theo một trình tự, một hệ thống nhất
định, theo những tỉ lệ nhất định để trình bày với ng-ời đọc nội dung tác phẩm Cái đó gọi là tổ chức kết cấu tác phẩm
Có thể hiểu: kết cấu là kiến trúc của tác phẩm, là quan hệ hữu cơ giữa toàn thể với bộ phận, giữa bộ phận với bộ phận nhằm biểu đạt nội dung
Tr-ớc một truyện ngắn nói riêng và tác phẩm văn học nói chung, ta có thể nhìn thấy trực tiếp mối quan hệ giữa các phần, các đoạn đ-ợc phân chia trên bề mặt văn bản t-ơng ứng với từng ý lớn Sự phân chia đó chỉ là một khía cạnh của kết cấu Nó đ-ợc gọi là bố cục Nh- vậy, bố cục là sự tổ chức bề mặt ngôn từ của tác phẩm Khái niệm bố cục thuộc nội hàm khái niệm kết cấu Dù
là kết cấu bề mặt hay chiều sâu thì nhiệm vụ của chúng đều h-ớng tới làm rõ chủ đề t- t-ởng, bộc lộ tính cách nhân vật, tổ chức truyện thành một thể thống nhất
Kết cấu truyện ngắn không chia thành nhiều tuyến phức tạp nên nhà văn càng có điều kiện tập trung tạo sức dồn nén có tính liên tục của các sự kiện và nhiều mối quan hệ trực tiếp giữa chúng để làm nên cốt truyện
Cốt truyện trong truyện ngắn là kiểu cốt truyện đơn tuyến - Xét về quy mô - nó đối lập với cốt truyện đa tuyến th-ờng tồn tại trong tiểu thuyết và tác phẩm tự sự dài hơi Cốt truyện (dù đơn tuyến hay đa tuyến) th-ờng có năm thành phần: trình bày, khai đoạn (thắt nút), phát triển, đỉnh điểm (cao trào) và kết thúc (mở nút) Tuy nhiên, không phải cốt truyện nào cũng đầy đủ năm thành phần và đặc biệt trong tác phẩm cụ thể không phải bao giờ chúng cũng
đ-ợc sắp xếp theo trình tự nh- vậy Mối quan hệ nội tại (do kết cấu cụ thể) sẽ quy định sự tiến triển và thành phần cốt truyện
Nhà nghiên cứu Bùi Việt Thắng cho rằng: “Trong thực tiễn sáng tác truyện ngắn thì th-ờng các nhà văn chú ý đến hai khâu quan trọng nhất khi xây dựng cốt truyện: chi tiết và đoạn kết” [70,84] Điều đó cho thấy, đoạn văn
kết thúc có vai trò to lớn trong việc kiến tạo tác phẩm
1.2 Vấn đề đoạn văn
1.2.1 Khái niệm
Thực tế phân tích và tạo lập văn bản cho thấy đoạn văn với những biểu
Trang 16hiện về hình thức và nội dung giữ một vai trò khá quan trọng Tuy nhiên, trên ph-ơng diện lí thuyết, chung quanh khái niệm đoạn văn còn có những điều gây tranh cãi Với những tiêu chí xác định cụ thể, các nhà nghiên cứu đã đ-a
ra quan niệm của mình
Trần Ngọc Thêm cho rằng: “Đoạn văn là một bộ phận của văn bản, gồm một chuỗi phát ngôn đ-ợc xây dựng theo một cấu trúc và mang một nội dung nhất định (đầy đủ hoặc không đầy đủ), đ-ợc tách ra một cách hoàn chỉnh về hình thức : ở dạng nói, nó có kiểu ngữ điệu nhất định và kết thúc bằng quãng ngắt hơi dài; ở dạng viết, nó bắt đầu bằng dấu mở đoạn (gồm thụt
đầu dòng, viết hoa) và kết thúc bằng dấu ngắt đoạn (gồm dấu ngắt phát ngôn, xuống dòng)” [72]
Trong cuốn Từ điển - Sách tra cứu các thuật ngữ ngôn ngữ học do
Nhà xuất bản Giáo dục Liên Xô ấn hành, đoạn văn được định nghĩa: “Là một
đoạn của văn bản viết hoặc in nằm giữa hai chỗ thụt đầu dòng, th-ờng bao gồm một chỉnh thể trên câu hoặc một bộ phận của nó, đôi khi bao gồm một câu đơn hoặc một câu phức” [27,127]
Giáo trình Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt (Bùi Tất T-ơm, Nguyễn
Văn Bằng, Hoàng Xuân Tâm - Nxb GD 1997) quan niệm: “Đoạn văn là một tập hợp nhiều câu thể hiện một chủ đề”
Diệp Quang Ban xác nhận “Đoạn văn thông th-ờng đ-ợc hiểu là một phần của văn bản tách từ chỗ viết hoa, th-ờng lui vào ở đầu dòng cho đến chỗ chấm xuống dòng” [25,203]
Qua khảo sát, nghiên cứu đoạn văn trong văn bản, các nhà Ngữ pháp văn bản nhận thấy đoạn văn không chỉ đơn thuần mang ý nghĩa kết cấu - ấn loát mà còn có vai trò kết cấu - phong cách (đặc biệt là đối với các tác phẩm
văn học) T.I Sinman viết: “Vấn đề là ở chỗ thuật ngữ này không phải là hai nghĩa nh- có thể thấy từ cách giải thích của A.M Pescôpxki (Tức là ý nghĩa
“ấn loát” và cú pháp”), mà đúng hơn phải là ba: ngoài hai ý nghĩa đã nêu còn
có ý nghĩa là một đoạn t-ơng đối hoàn chỉnh của văn bản văn học, tức là ý nghĩa văn học - kết cấu” [61,47]
Vấn đề mấu chốt gây nhiều tranh cãi về đơn vị đoạn văn xuất phát từ mối quan hệ giữa đoạn văn và chỉnh thể trên câu (chỉnh thể cú pháp phức hợp, thể thống nhất trên câu) Về mối quan hệ của đoạn văn và chỉnh thể trên câu tồn tại các nhóm ý kiến khác nhau Một số nhà nghiên cứu đồng nhất đoạn
Trang 17văn và chỉnh thể trên câu, phủ nhận khái niệm “thể thống nhất trên câu”, coi
đoạn văn là đơn vị cú pháp bậc cao L.G Pritman đã cực đoan khi cho rằng:
“Không có một dấu hiệu t-ơng thích nào cho phép xác định địa vị của đơn vị
cú pháp, chỉnh thể cú pháp phứp hợp, chính vì vậy mà không thể, theo chúng tôi, đ-ợc xem là một đơn vị nh- thế Chúng tôi cho rằng đơn vị cú pháp trên câu có bộ các dấu hiệu t-ơng thích khu biệt nó về mặt phẩm chất với những
đơn vị thuộc cấp độ thấp hơn - các câu - đó là đoạn văn” [61,47]
Nhiều nhà nghiên cứu đã chứng minh sự tồn tại tách biệt của hai đơn vị: chỉnh thể trên câu và đoạn văn Trong xu h-ớng này, chỉnh thể trên câu đ-ợc
hiểu là “một chuỗi câu đóng đ-ợc tổ chức một cách đăc biệt thể hiện một phát ngôn thống nhất” [61,26] Nói vắn tắt, chỉnh thể trên câu là một thực thể cấu
trúc- nghĩa- giao tiếp; Đoạn văn đ-ợc hiểu là một kết cấu - phong cách học
Chúng ta thấy rằng đoạn văn và chỉnh thể trên câu là những đơn vị tách biệt, song không phải là những phạp trù đối lập L.M Lôxeva xác nhận:
“Không nên đối lập đoạn văn với chỉnh thể cú pháp phức hợp, bởi vì đó không phải là những phạm trù đối lập mà là những phạm trù t-ơng tác lẫn nhau”, và
“Một đoạn văn có thể đ-ợc giải thích nh- kết hợp của những chỉnh thể cú pháp phức hợp, ng-ợc lại, một chỉnh thể cú pháp phức hợp có thể bao gồm trong mình vài đoạn văn”[61,48-49]
Đoạn văn là ph-ơng tiện để phân đoạn văn bản về mặt phong cách học
Đoạn văn có khả năng thể hiện: đặc tr-ng của phong cách chức năng và của
thể loại văn bản, đặc trưng của văn phong cá nhân Đoạn văn “là một đoạn của văn bản thể hiện bằng những đơn vị ngữ pháp khác nhau Bất kỳ một từ, một câu một nhóm câu, một chỉnh trên thể câu, một nhóm chỉnh thể trên câu cũng có thể tách ra đ-ợc một đoạn văn”[61,127]
Đoạn văn trong tác phẩm tự sự là minh chứng thuyết phục cho sự đa dạng về mặt kích th-ớc của loại đơn vị ngôn ngữ này Có thể thấy kích th-ớc, cấu trúc của đoạn văn biến hoá rất linh hoạt
Trang 18Khi đoạn văn trùng với chỉnh thể trên câu, nó có tính chất khép kín t-ơng đối về nội dung ngữ nghĩa Tuy nhiên, mỗi đoạn văn-chỉnh thể trên câu luôn có mối liên kết với những đoạn văn còn lại thuộc phạm trù văn bản
Ví dụ:
“Nắng nh- cầm lửa mà đổ xuống trên rừng núi Ch- Lây D-ới suối n-ớc đi trốn hết, dân làng phải dỡ từng hòn đá ra mới tìm đ-ợc n-ớc Rẫy muốn cháy Cây lúa cứ thấp lè tè, hột cứng ít, hột lép nhiều
Thêm cái đói muối Hũ muối nhà nào cũng ăn tới hạt cuối cùng rồi Hết muối phải đổ n-ớc ngâm cái hũ muối một đêm rồi dốc ra lấy n-ớc mặn mặn
đó ăn với cơm”
(Đất n-ớc đứng lên - Nguyên Ngọc)
ở ví dụ này, mỗi đoạn văn là một cấu trúc khép kín, thể hiện một nội dung vừa có tính chất tách biệt, vừa có sợi dây ràng buộc với đoạn văn còn lại Tuy mỗi đoạn văn có tính khép kín t-ơng đối nh-ng ng-ời đọc vẫn có thể nhận thức tổng hợp - khái quát để thấy những khó khăn chồng chất mà ng-ời dân Ch- Lây phải gánh chịu:
1 Nỗi khổ do thiên nhiên đ-a lại: hạn hán
2 Nỗi khổ do bọn xâm l-ợc tạo ra: đói muối
Nh- vậy, đoạn văn có vai trò tạo cơ sở cho hình thức kết cấu của văn bản, cũng tức là đánh dấu liên kết tổng thể (liên kết chiều sâu của văn bản) ở ph-ơng diện này, đoạn văn giúp làm rõ cấu trúc ý của văn bản, do đó ý của mỗi đoạn văn th-ờng t-ơng đối trọn vẹn Tác dụng này có tính chất chung cho các văn bản văn xuôi thuộc những phong cách khác nhau
Trang 19Với các văn bản nghệ thuật, việc chia tách đoạn tạo sắc thái ý nghĩa bổ sung có tính chất tu từ học, những sắc thái có ý nghĩa tác động đến tình cảm hoặc nhận thức không đ-ợc diễn đạt bằng từ ngữ t-ờng minh
Là một đơn vị có tính chất trung gian giữa câu và văn bản, đoạn văn có hình thức xác định, ôm chứa một nội dung nhất định (mang nghĩa t-ờng minh hoặc hàm ẩn) Đoạn văn luôn h-ớng về đích giao tiếp và quan hệ chặt chẽ với tổng thể văn bản Đoạn văn xuất hiện trong t- cách là một đơn vị tất yếu của văn bản
Hiện nay vẫn tồn tại những cách hiểu khác nhau về đoạn văn Song có thể hiểu về đơn vị ngôn ngữ này theo một quan niệm chung nhất:
Đoạn văn là một bộ phận của văn bản gồm một câu hoặc một chuỗi câu đ-ợc xây dựng theo một cấu trúc và mang nội dung nhất định (đầy đủ hoặc không đầy đủ), đ-ợc tách ra một cách rõ ràng về mặt hình thức
1.2.2 Phân loại đoạn văn
Với t- cách là một đơn vị ngôn ngữ và là bộ phận trực tiếp cấu thành văn bản, đoạn văn có cấu tạo, quan hệ, chức năng xác định Việc phân loại
đoạn văn cũng đ-ợc quan tâm xem xét trên cơ sở các tiêu chí đó
1.2.2.1 Dựa vào cấu tạo
Xét mặt cấu tạo của bản thân đoạn văn, có thể nhận ra hai kiểu đoạn:
đoạn văn bình th-ờng và đoạn văn đặc biệt (Đoạn văn bình th-ờng)
* Đoạn văn bình th-ờng
Là đoạn văn có nội dung t-ơng đối trọn vẹn và có hình thức t-ơng đối
ổn định Loại đoạn văn này chiếm tỉ lệ lớn trong các văn bản phi nghệ thuật (là loại văn bản lấy t- duy lô gích trừu t-ợng làm cơ sở), song cũng xuất hiện không ít ở các văn bản văn xuôi nghệ thuật Có thể nói: Đoạn văn bình th-ờng
là kiểu đoạn văn có tính phổ biến
Đoạn văn bình th-ờng có thể trùng hoặc không trùng với chỉnh thể trên câu
Ví dụ:
“Tôi lại rất nhớ những khi xế tr-a, nắng ngả vào bếp nhà tôi Lửa tắt, than lạnh, chỉ đôi con ruồi lơ thơ đậu d-ới đất thỉnh thoảng bay lên kêu vo vo
Trang 20Nắng vàng phai lặng, chán nản làm sao! Lúc ấy, mọi ng-ời đều cảm thấy nỗi mơ hồ nhạt nhẽo của những ngày này tiếp ngày nọ Đến nỗi một ng-ời đơn giản nh- mẹ tôi cũng buột mồm nói: “Cơm mai rồi cơm chiều, rút cục mỗi ngày hai bữa cơm”
Mà ai chẳng thế! Đứa nào mộc mạc nhất cũng đã từng buồn bã khi làm bữa cơm chiều Ai lại không nghe ít ra là một lần, nỗi đìu hiu của cái Ao Đời bằng phẳng Chúng ta nhảy múa, gào khóc quay cuồng để cho có việc; nếu không, ta sẽ thấy một sự vắng vẻ vô cùng thê thảm Và dù siêng năng đến đâu,
đôi lúc ta cũng bắt gặp ở đáy hồn ta một nỗi trống không rất tuyệt vọng”
(Tỏa nhị Kiều - Xuân Diệu)
Ví dụ trên có hai đoạn văn
Đoạn văn thứ nhất tự bản thân nó lập thành một chủ đề con, mang nội dung thông tin hoàn chỉnh
Đoạn văn thứ hai không thể tồn tại một cách độc lập Nó chỉ đứng vững trong mối liên kết với đoạn văn thứ nhất
+ Đoạn văn đặc biệt một từ
Ví dụ:
“ Thứ ba
Buổi sáng.
Nó tỉnh dậy lúc m-ời giờ sáng Nó tự dằn vặt mình vì đã ngủ quên Thật
là thảm hại khi chỉ có việc thức cũng không xong Thế là toi một đêm”
(Phù thủy - Nguyễn Thị Thu Huệ)
Đoạn văn thứ nhất và thứ hai ở ví dụ vừa nêu chỉ gồm một từ
+ Đoạn văn đặc biệt một cụm từ
Trang 21Đoạn văn thứ nhất ở ví dụ trên chỉ gồm một cụm từ lập thành một câu
đặc biệt - nhấn mạnh khoảng thời gian xảy ra sự kiện đáng nhớ trong cuộc đời một họa sĩ tài hoa nh-ng nghèo xơ xác
+ Đoạn văn đặc biệt một câu
Ví dụ:
“Khoảng hai năm sau chị Ph-ơng về
Chị mang về theo giấy xuất viện của trại phong Quy Hòa
Khuôn mặt chị buồn r-ợi nh-ng vẫn đẹp nh- x-a”
(Phiên chợ ng-ời cùi - Võ Thị Hảo)
Mỗi đoạn văn trong ví dụ trên đ-ợc làm bằng một câu Ba đoạn văn thuộc một chỉnh thể trên câu Mỗi đoạn đứng tách ra theo dụng ý nghệ thuật của tác giả và mang những ẩn ý không lời: nỗi cô đơn đã và sẽ mãi mãi gắn với cuộc đời một ng-ời đàn bà đẹp nh-ng bất hạnh
Nh- vậy, văn bản có sự đan xen giữa đoạn văn bình th-ờng và đoạn văn
đặc biệt Sự xuất hiện ít hoặc nhiều một kiểu loại đoạn văn xét về mặt cấu tạo
là do sự chi phối của đặc tr-ng phong cách chức năng và phong cách tác giả
1.2.2.2 Dựa vào quan hệ giữa các câu trong đoạn văn
Các câu trong đoạn văn liên kết chặt chẽ theo những kiểu cấu trúc nhất
định Xét từ góc độ quan hệ giữa các câu trong đoạn có thể thấy loại đơn vị ngôn ngữ này gồm các kiểu: quy nạp, diễn dịch, song hành, móc xích
* Đoạn văn diễn dịch
Là đoạn văn trình bày theo cách đi từ khái quát đến cụ thể, từ cái chung
đến cái riêng Câu đầu là nòng cốt, là câu chủ đề, là đầu mối của mọi liên kết (nhất là nội dung) trong toàn đoạn Những câu sau là sự phát triển chủ đề theo h-ớng cụ thể hóa
Ví dụ:
“Đời chúng ta nằm trong vòng chữ tôi Mất bề rộng ta đi tìm bề sâu, nh-ng càng đi sâu càng lạnh Ta thoát lên tiên cùng Thế Lữ, ta phiêu l-u
Trang 22trong tr-ờng tình cùng L-u Trọng L-, ta điên cuồng với Hàn Mặc Tử, Chế Lan Viên, ta đắm say cùng Xuân Diệu Nh-ng động tiên đã khép, tình yêu không bền, điên cuồng rồi tỉnh, say đắm vẫn bơ vơ Ta ngẩn ngơ buồn trở về hồn ta cùng Huy Cận”
(Thi nhân Việt Nam 1932-1941 Hoài Thanh - Hoài Chân )
ở đoạn trên, câu mở đầu thể hiện nội dung khái quát của toàn đoạn- ng-ời nghệ sĩ đóng khung trong cái tôi cá thể Những câu tiếp theo minh chứng, làm nổi bật ý khái quát đó: mỗi thi sĩ là một khoảng trời riêng
* Đoạn văn quy nạp
Đoạn văn quy nạp đ-ợc thiết lập ng-ợc chiều với đoạn văn diễn dịch Nghĩa là những ý nghĩa riêng, cụ thể đ-ợc trình bày ở những câu đứng tr-ớc Câu cuối cùng là tiêu điểm h-ớng về của các câu tr-ớc nó
Ví dụ:
“Chiều vàng mặt trời, phu tầng đã về hết, những phát mìn ở tầng trên thi nhau nổ để phá đất và đá Ng-ời đi lại th-a thớt, lờ đờ, cửa các nhà đã
đóng, chỉ còn mở một cánh Phố mỏ đang sống những ngày nh- bị bệnh dịch tả hoành hành”
* Đoạn văn song hành
Là đoạn văn không có câu chủ đề Các câu trong đoạn ngang hàng với nhau về mặt nội dung và giống nhau về chức năng h-ớng tới bộc lộ một tiểu chủ đề Vì vậy, các câu trong đoạn có độ độc lập khá cao Nội dung của chúng không móc nối vào nhau mà liên kết với nhau theo kiểu liệt kê
Ví dụ:
“Cây đa già cỗi và cái quán gạch vẫn đứng đợi nàng ở đầu làng Đ-ờng ngõ vẫn lồi lõm vó trâu đi, hai bên vệ vẫn mùi bèo và mùi dạ -ớt Trong làng
Trang 23chẳng có gì thay đổi Khi nghe tiếng bà T- đón hỏi trên thềm, tiếng thằng ái
và em bé reo mừng chị, lòng Tâm dịu lại nh- ngày còn gánh hàng về Tâm b-ớc vào ngồi lên phản cạnh mẹ; căn nhà đối với nàng hình nh- rộng rãi và lặng lẽ hơn tr-ớc”
(Cô hàng xén - Thạch Lam)
* Đoạn văn móc xích
ở đoạn văn có quan hệ móc xích, một (một số) bộ phận ở câu tr-ớc sẽ
đ-ợc lặp lại ở câu sau Sự lặp lại đó đ-ợc biểu hiện bằng phép lặp từ hoặc phép thế đại từ Với kiểu đoạn này, các câu d-ờng nh- móc nối vào nhau, câu sau làm nhiệm vụ phát triển t- t-ởng cho những câu tr-ớc Liên kết móc xích
đ-ợc sử dụng trong tất cả các phong cách chức năng
Ví dụ:
“Văn học Việt Nam hôm nay phải v-ơn mình lên đạt tới trình độ đó
bằng những tác phẩm có giá trị thẩm mĩ - nghệ thuật cao Những tác phẩm nh- vậy đã bắt đầu xuật hiện Và đó chính là những sợi dây nối liền văn học
Việt Nam với văn học thế giới, là dấu hiệu nói lên sự thay đổi, sự tr-ởng thành
và b-ớc đầu hoà nhập của văn hoá Việt Nam vào cộng đồng nhân loại”
(Lê Ngọc Trà Văn học Việt Nam những năm đầu đổi mới - Tạp chí Văn học Số 2-2002)
“Cám tức lắm, vội về nhà kể cho mẹ nghe Mẹ nó xui bắt chim làm thịt
ăn Cám về cung sai lính giết chim ăn rồi vứt lông ra v-ờn Lông chim lại hoá ra hai cây xoan đào t-ơi tốt Vua thấy cây đẹp, lấy làm thích, sai mắc
võng đào để nằm chơi hóng mát”
(Tấm Cám Theo Văn 6 Nxb Giáo dục 1995)
Trang 24tranh đòi quyền sống, nhân danh một dân tộc bảo vệ quyền độc lập tự do Đó
là tiếng nói của ng-ời cần lao “ng-ời đi dép lốp cao su” và “nhà chiến l-ợc” (Katep Vaxin, Angiêri) luôn lạc quan tin vào sức mạnh của chân lý và của con ng-ời đang v-ơn tới chân - thiện - mỹ Qua di sản văn ch-ơng quý giá đó, các thế hệ hôm nay và mai sau có thể tìm thấy những bài học và giá trị tinh thần cao quý”
(Văn học 12 Tập 1 Nxb Giáo dục H.2000)
1.2.2.3 Dựa vào chức năng đoạn văn
Xét chức năng của đoạn văn trong văn bản, có thể nhận diện đ-ợc ba loại: đoạn văn mở đầu, đoạn văn luận giải, đoạn văn kết htúc
* Đoạn văn mở đầu
Là đoạn văn đứng đầu văn bản có nhiệm vụ đặt vấn đề hay giới thiệu khung cảnh chung Đoạn văn mở giúp ng-ời tạo văn bản và ng-ời đọc văn bản nhớ là văn bản sẽ nói về cái gì và nói nh- thế nào
Ví dụ:
“Đã có m-a bụi Về buổi sáng, từng cơn m-a nhỏ, rây bụi n-ớc bay vân vân, phủ mịt mờ trong cánh đồng, cỏ xanh rờn, cây lên ngút ngàn Mùa xuân mới đã sang rồi”
(Mùa ăn chơi - Tô Hoài)
Đoạn văn trên mở đầu văn bản, định h-ớng cho ng-ời đọc nắm bắt nội dung chủ yếu của tác phẩm (đ-ợc trình bày qua các đoạn luận giải sau nó): một mùa trong bốn mùa lòng ng-ời phấn chấn cùng cây cỏ, khí trời tràn trề sức sống
* Đoạn văn luận giải
Là đoạn văn triển khai đề tài, chủ đề theo h-ớng đã đ-ợc xác định ở
đoạn mở của văn bản Mỗi đoạn văn luận giải có thể thuộc một trong hai tr-ờng hợp: thể hiện một vấn đề t-ơng đối trọn vẹn hoặc chỉ là một bộ phận của vấn đề, khía cạnh đang đ-ợc triển khai
Trang 25máu nóng hổi của mình đang dứt khỏi huyết quản luồn qua chiếc kim và chảy vào ngực chàng trai Mọi vật nhảy múa quay cuồng tr-ớc mặt Ng-ời nàng run lên vì rét”
(Nàng tiên xanh xao - Võ thị Hảo)
Đoạn văn vừa nêu chỉ là một khía cạnh của vấn đề đang đ-ợc triển khai
- tình yêu, lòng nhân hậu của ng-ời phụ nữ có thể làm cho sự sống hoàn thai
và thành những giá trị cao khiết, bất biến Đoạn này nằm trong mạch vận động của cốt truyện, soi tỏ cho chủ đề
* Đoạn văn kết thúc
Là đoạn văn đứng ở cuối văn bản, có tác dụng tạo cho văn bản tính chất
“đóng” cả về phương diện nội dung lẫn phương diện hình thức Cần hiểu tính
chất “đóng” ở đây là điểm dừng về mặt văn bản theo dự định của ng-ời viết
Nó là dấu hiệu kết thúc của văn bản nh-ng ch-a hẳn chấm dứt mạch t- duy
(Chị Mai - Nguyễn Khải)
“Lúc ấy tôi không hay biết gì Tôi chỉ mơ hồ thấy một cái gì đó đen tối nh- đ-ờng hầm Rồi có một cái gì đó chảy tràn qua, vàng choé, lấp lánh nh-
Trang 26vàng cám chảy xuống máng Thỉnh thoảng có tiếng chảy ầm ầm, trắng xoá Rồi tiếng dòng sông quê tôi chảy miên man Tiếng gà gáy leo lắt Tiếng chó sủa ngai ngái Tiếng rái cá lội bì bõm ngoài ao khuya Lá khô rơi xào xạc
Buồn da diết ”
(Cầu khỉ - Hoa Ngõ Hạnh)
+ Nội dung đoạn văn kết thúc
Đoạn văn kết thúc biểu lộ những nội dung khác nhau, song có một điểm chung là ng-ng tóm vấn đề đã trình bày
- Đoạn văn kết thâu tóm vấn đề, nêu kết cục
Đoạn văn kết theo kiểu này th-ờng gặp ở các văn bản khoa học, các văn bản chính luận, văn nghị luận
(Số phận con ng-ời - lòng nhân ái, tính kiên định nâng đỡ con ng-ời v-ợt qua số phận Trần Đình Sử) Lối trình bày kết cục, khép lại mọi suy đoán từ phía độc giả cũng th-ờng xuất hiện ở đoạn kết văn bản văn xuôi thời trung đại và các truyện cổ dân gian
Ví dụ:
“Vợ chồng nhà giàu không chối đằng nào đ-ợc, lại cũng muốn sống yên lành nên đem ngọc ra trả Anh ta cầm chắc hòn ngọc trong tay, mới đ-a cành hoa đỏ cho cả nhà bố vợ ngửi Tức thì mũi ngắn lại nh- tr-ớc Chúng mừng nh- cha chết sống lại Nh-ng ng-ời vợ ấy anh ta bỏ và đi tìm ng-ời vợ khác có tình nghĩa hơn”
(Hòn ngọc -ớc - Truyện cổ tích Việt Nam theo Truyện đọc 3 Nxb Giáo dục.2001)
Trang 27- Đoạn kết có ý nghĩa gợi mở, định h-ớng
Trong các văn bản phi nghệ thuật ta gặp không ít những đoạn kết thúc một mặt khép lại vấn đề đã trình bày, mặt khác mở ra một h-ớng suy nghĩ hoặc h-ớng nghiên cứu mới
Ví dụ:
“T- t-ởng Hồ Chí Minh là linh hồn, ngọn cờ thắng lợi của Cách mạng Việt Nam trong suốt hơn nửa thế kỷ qua Cùng với chủ nghĩa Mác- Lê nin, t- t-ởng Hồ Chí Minh là nền tảng t- t-ởng, kim chỉ nam cho hành động của
Đảng ta, nhân dân ta T- t-ởng Hồ Chí Minh mãi mãi soi sáng con đ-ờng cách mạng Việt Nam, con đ-ờng tiến lên chủ nghĩa xã hội của toàn dân tộc ta d-ới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam”
(T- t-ởng Hồ Chí Minh - những luận điểm sáng tạo lớn
Võ Nguyên Giáp Nxb chính trị quốc gia Tr89)
Lối kết thúc theo h-ớng mở là lối kết thúc xuất hiện với mật độ ngày càng đậm đặc ở các văn bản văn xuôi nghệ thuật
Ví dụ:
“Đột nhiên thị thoáng thấy hiện ra một cái lò gạch cũ bỏ không, xa nhà cửa và vắng ng-ời qua lại”
(Chí Phèo - Nam Cao)
“Chị tháo chiếc chân giả ra Để ngoài mũi ghe đó, chân giả sợ gì m-a -ớt Chị phì c-ời ừ, thật đơn giản, chân giả thì sợ gì khô -ớt Chị đẩy chiếc chân giả ra ngoài mũi ghe Chiếc chân giả của hắn cũng ở ngoài đó Tại sao anh lại bị mất một giò? Câu hỏi cũ lại mấp máy nơi khoé miệng nh-ng sau cùng chị đã không hỏi”
(Khách th-ơng hồ - Hào Vũ) Những hình ảnh, sự suy t-ởng gợi ra từ những đoạn văn kết thúc nh- vậy làm cho tác phẩm có đ-ợc những khoảng trống cần thiết để ng-ời đọc tham gia đồng sáng tạo
1.2.2.4 Dựa vào nội dung - ý nghĩa đoạn văn
* Đoạn văn tự nghĩa
Đoạn văn tự nghĩa biểu đạt một l-ợng thông tin nhất định, hoàn chỉnh
và t-ơng đối độc lập Những đoạn văn tự nghĩa khi tách khỏi văn bản vẫn
Trang 28không gây cách hiểu mơ hồ về nội dung Đoạn văn tự nghĩa không chứa những từ ngữ chuyển tiếp hay những từ ngữ liên đới, phụ thuộc
Ví dụ:
“Ngày tháng đi thật chậm mà cũng thật nhanh Những bông hoa đỏ ngày nào nay đã trở thành những quả gạo múp míp, hai đầu thon vút nh- con thoi Sợi bông trong quả đầy đặn, căng lên; những mảnh vỏ tách ra cho các múi bông nở đều, chín nh- nồi cơm chín đội vung mà c-ời, trắng loá Cây gạo nh- treo rung rinh hàng ngàn nồi cơm gạo mới”
(Cây gạo - Vũ Tú Nam)
Tính độc lập của đoạn văn tự nghĩa chỉ mang ý nghĩa tạm thời; nó luôn
ở trong mối ràng buộc với các yếu tố khác của văn bản Trong sự vận động đi
lên của văn bản thì đoạn văn tự nghĩa chỉ là “chỗ ngừng tạm thời” để rồi sau
đó lại hoà vào trong dòng chảy liên tục để bộc lộ chủ đề của văn bản
* Đoạn văn hợp nghĩa
Trong văn bản th-ờng xuyên xuất hiện những đoạn văn không trọn vẹn
về nội dung, tồn tại theo cách phụ thuộc vào đoạn văn đứng tr-ớc hoặc sau nó
“Đường về Qua sông Thiên sứ vừa cười vừa chỉ cho Đường Tăng thấy
thân xác ông đang trôi dạt d-ới chân cầu
Nh-ng Đ-ờng Tăng đã không nghe thấy gì nữa Đôi mắt vô hồn ”
Trang 291.3 Đoạn văn kết thúc truyện ngắn
1.3.1 Các đoạn văn chức năng trong truyện ngắn
Truyện ngắn mang những đặc tr-ng nổi bật của loại hình tự sự Với
hình thức “nhỏ”, truyện ngắn th-ờng gồm một lớp truyện với độ dồn nén cao
Đoạn văn trong truyện ngắn mang dấu ấn của thể loại và phong cách tác giả
Cũng nh- đoạn văn ở các kiểu loại văn bản khác, đoạn văn trong truyện ngắn khi đứng ở những vị trí khác nhau thì thực hiện những chức năng khác nhau Xét tổng thể, có ba loại đoạn văn chức năng trong truyện ngắn: Đoạn văn mở đầu - làm nhiệm vụ của phần mở; đoạn văn luận giải - làm nhiệm vụ của phần thân; đoạn văn kết thúc - làm nhiệm vụ của phần kết
Về đoạn văn kết thúc truyện ngắn, chúng tôi sẽ trình bày trong phần tiếp theo ở đây chỉ xin đề cập những nét cơ bản nhất về đoạn văn mở đầu và
đoạn văn luận giải
Trang 30Đoạn văn trên (giới thiệu tình hình lúc đầu của nhân vật tr-ớc khi xung
đột đ-ợc triển khai) h-ớng sự chú ý của ng-ời đọc đến nhân vật và nhân vật này chắc chắn sẽ là tâm điểm của dòng biến đổi trong truyện
* Kiểu mở gián tiếp
Là kiểu mở không đi ngay vào vấn đề mà dẫn dắt ng-ời ta bằng lời giáo
đầu, bằng dòng suy t- của nhân vật hoặc bằng những sự kiện, tình huống, khung cảnh có tính chất làm nền chung cho truyện
Ví dụ:
“Tôi cứ t-ởng là mình đã quên mọi chuyện từ lâu Bỗng d-ng Chiều nay Tất cả ùa về Đầy ắp ứ nh- thể có ai đó đã thu gom mọi thứ vào một cái bao tải to t-ớng, buộc chặt nút lại Và nay, đem mở oà ra tr-ớc tôi Đầy đủ, nguyên vẹn”
(Hậu thiên đ-ờng -Nguyễn Thị Thu Huệ)
Ngoài hình thức mở thông th-ờng, đoạn văn mở đầu truyện ngắn có khi chỉ một từ, một câu Nó là lối ngỏ đầu tiên đ-a ng-ời đọc vào thế giới nghệ thuật Nó tạo ấn t-ợng ngay từ phút đầu tiên khi ta tiếp cận tác phẩm
Ví dụ:
“Tháng năm
Những chùm ph-ợng vít cong cành trên các ngõ phố Không gian ing ing tiếng ve gợi cảm giác hồi hộp và sôi động Nàng đứng nơi góc phố chờ chàng Đ-ờng Nguyễn Du Nắng tràn lan, thừa thãi xối xuống các hàng cây Mặt hồ sóng sánh n-ớc màu ráng nắng”
Tình yêu ơi, ở đâu? - Nguyễn Thị Thu Huệ)
Đoạn văn mở đầu ở ví dụ trên chỉ vẻn vẹn một từ chỉ thời gian Nh-ng bản thân nó thành một dấu ấn đong đầy tâm trạng mà đoạn tiếp theo đã diễn tả
Là cánh cửa đầu tiên mở ra thế giới nghệ thuật, đoạn văn mở có quan hệ chặt chẽ với các yếu tố khác thuộc tác phẩm Đoạn văn mở tạo tâm thế hoặc khơi nguồn xúc cảm cho ng-ời đọc Nó luôn gắn với phong cách và sự sáng tạo của tác giả Nó đ-ợc trình bày bằng những cách thức, những thủ pháp khác nhau nhằm mục đích đạt hiệu quả cao nhất trong giao tiếp nghệ thuật
Trang 311.3.1.2 Đoạn văn luận giải
Truyện ngắn bao gồm nhiều đoạn văn luận giải (bình th-ờng và bất th-ờng) Những đoạn văn luận giải làm nhiệm vụ triển khai phần nội dung chính của truyện Đoạn văn luận giải có thể t-ơng ứng với một sự kiện, một tình tiết, cũng có thể xoay quanh làm rõ một nét tính cách thông qua việc miêu tả ngoại hình, hành động hay tâm lí nhân vật
Sau đây là một số kiểu đoạn luận giải th-ờng gặp
* Đoạn văn luận giải một sự kiện
Truyện ngắn luôn coi trọng sự kiện Có sự kiện đánh dấu sự chuyển h-ớng của cốt truyện, có sự kiện là b-ớc ngoặt đối với cuộc đời nhân vật hoặc tạo cảnh huống để nhân vật bộc lộ cách ứng xử Thông th-ờng, mỗi sự kiện t-ơng ứng với một đoạn văn
Ví dụ:
“Giữa cái cảnh tối sầm lại vì đói khát ấy, một buổi chiều ng-ời trong xóm bỗng thấy Tràng về với một ng-ời đàn bà nữa Mặt hắn có một vẻ gì phởn phơ khác th-ờng Hắn tủm tỉm c-ời một mình và hai mắt thì sáng lên lấp lánh Ng-ời đàn bà đi sau hắn chừng ba bốn b-ớc Thị cắp cái thúng con, đầu hơi cúi xuống cái nón rách tàng, nghiêng nghiêng che khuất đi nửa mặt Thị có vẻ rón rén, e thẹn Mấy đứa trẻ con thấy lạ vội vàng chạy ra đón xem Sợ chúng
nó đùa nh- ngày tr-ớc, Tràng vội vàng nghiêm nét mặt, lắc đầu ra hiệu không bằng lòng”
(Vợ nhặt - Kim Lân)
Đoạn văn trên tái hiện một sự kiện - bất th-ờng trong hoàn cảnh bình th-ờng nh-ng lại bình th-ờng trong hoàn cảnh bất th-ờng Nó làm nên những thay đổi trong suy nghĩ, tâm lí nhân vật
* Đoạn văn luận giải thể hiện diện mạo, tính cách nhân vật
Ví dụ:
“Cái đầu Trạch Văn Đoành không húi nh- đầu của chúng ta Một lối riêng Hắn gọi là mốt tiền văn minh, hậu nhà s- Đằng tr-ớc có mấy món tóc
Trang 32dài để trải lật lên Đằng sau cạo nhẵn thín nh- quả b-ởi Cho nó sạch Hắn tắc l-ỡi mà bảo thế khi vui miệng Bởi vì nếu hắn không vui miệng thì hắn không nói thế Hắn không thích cắt nghĩa việc làm của hắn Ai nói gì, mặc họ Hắn cứ làm theo ý hắn, không cần nói, để tự bênh vực mình”
(Đôi móng giò - Nam Cao)
Sự góp mặt của đoạn văn nh- vậy dần làm lộ rõ chân dung nhân vật Cũng nhờ đó mà từng nét tính cách đ-ợc gợi mở, đem đến cho ng-ời đọc những nhận thức nhất định trong quá trình theo dõi tác phẩm
Trong truyện ngắn, đoạn văn luận giải có cấu tạo đặc biệt xuất hiện không ít Sự xuất hiện của những đoạn văn này th-ờng ngụ ý nhấn mạnh một trọng tâm ngữ nghĩa, một nét cảm xúc, một trạng thái tâm lý hoặc mang ý nghĩa chuyển tiếp
Ví dụ:
“Ba hôm sau
Hảo và con trai lên tàu về quê
Ngôi nhà đó bây giờ là của My”
(Thiếu phụ ch-a chồng - Nguyễn Thị Thu Huệ)
ở ví dụ trên, mỗi câu văn đ-ợc tách ra thành một đoạn văn luận giải
Đặt trong mối quan hệ với văn bản nghệ thuật, việc tách đoạn này khiến từ ngữ có sức mạnh hơn bản thân nó Nhờ việc tách đoạn mà các chi tiết đang
đ-ợc kể bằng một giọng kể hết sức lạnh lùng cũng đã gây đ-ợc ấn t-ợng không nhỏ đối với ng-ời đọc
Tóm lại, dù có cấu trúc bình th-ờng hay đặc biệt, dù để tái hiện sự kiện, diện mạo hay tính cách nhân vật thì các đoạn văn luận giải đều h-ớng về cái đích chung: duy trì sự phát triển của cốt truyện và đạt hiệu quả nghệ thuật một cách tốt đẹp
1.3.2 Đoạn văn kết thúc truyện ngắn
Ng-ời viết truyện ngắn th-ờng tạo sức lắng đọng, tạo d- ba cho tác
phẩm bằng chính đoạn văn kết thúc A.Sêkhốp từng nói: “Theo tôi, viết truyện ngắn, cốt nhất phải tô đậm cái mở đầu và cái kết luận” [56, 75] Nhà văn Đỗ Chu lại nói: “Còn nh- việc kết thúc truyện ngắn: đó là một hành động dễ gây ra những xúc động đột ngột Ta sẽ rất sung s-ớng nếu cảm thấy vừa
Trang 33khép kín một cái gì hình thành Và ta sẽ buồn bã biết bao nếu chợt nhận ra mình đã lầm lẫn ở phút dừng lại, có thể biết những gì mình đã viết ra thành công đến đâu Cái thú của ng-ời viết truyện ngắn có khi nằm ngay ở chỗ đó nữa” [56, 70]
Cũng nh- các kiểu loại văn bản khác, đoạn văn kết thúc truyện ngắn có chức năng đóng khép văn bản, là dấu hiệu hình thức rõ nhất thể hiện điểm dừng văn bản Đoạn kết thúc truyện ngắn không đ-ợc lập theo một cách thức nhất định, nó phụ thuộc vào các yếu tố nh-: cốt truyện, phong cách ngôn ngữ tác giả, những biện pháp nâng cao hiệu quả nghệ thuật
1.3.2.1 Cấu tạo của đoạn văn kết thúc truyện ngắn
Xét mặt cấu tạo của đoạn văn kết thúc truyện ngắn, chúng ta có thể nhận diện đ-ợc hai kiểu: đoạn kết bình th-ờng và đoạn kết đặc biệt
* Đoạn kết bình th-ờng
Đoạn kết bình th-ờng là một chuỗi câu liên kết với nhau hợp thành một cấu trúc nhất định, thể hiện một nội dung t-ơng đối hoàn chỉnh và đứng ở vị trí cuối tác phẩm
Ví dụ:
“Truyện tôi viết ra chắc chắn là truyện cổ tích Các bạn! Mà vớ phải
ông chồng h- thân thì phải dạy Chứ đừng bao giờ quyên sinh Muôn năm cho
đến ngày hôm nay, cuộc đời bao giờ cũng quý giá nhất Các cụ ngày x-a có câu: “Gái chính chuyên dạy chồng ” Tôi mong rằng các bạn cũng nh- cô gái nọ Tất nhiên không đ-ợc diễn lại truyện cũ Thật buồn! Các bạn nếu cứ
tự quyên sinh Nàng Hoạn Th- d-ới suối vàng sẽ c-ời các bạn “Hậu sinh khả uý”, các bạn không hơn thì cũng bằng ng-ời x-a vậy”
(Mĩ nhân quyên sinh - Nguyễn Thị ấm)
* Đoạn kết đặc biệt
Đoạn kết đặc biệt trong truyện ngắn chỉ gồm một câu, một cụm từ hoặc một từ đứng ở vị trí cuối tác phẩm Với hình thức nh- vậy, đoạn kết đặc biệt th-ờng có nội dung không trọn vẹn và khó có thể tồn tại khi tách rời tác phẩm Song những đoạn kết theo cách này lại có khả năng đ-a thêm vào văn bản
những “ý không lời” mà tác giả không thể diễn đạt bằng loại ý nghĩa tường
minh của ngôn ngữ Có thể thấy l-ợng câu chữ và ý nghĩa ở những đoạn kết
Trang 34đặc biệt luôn tỉ lệ nghịch với nhau L-ợng câu chữ phải tự sinh ra một sức nén lớn
(Anh xẩm- Nguyễn Công Hoan)
1.3.2.2 Các kiểu lời trong đoạn kết
Ngôn từ đoạn văn kết thúc đ-ợc thể hiện d-ới hai dạng thức cơ bản: đơn thoại và đối thoại
* Đoạn kết đơn thoại
Là đoạn kết chỉ gồm lời của một đối t-ợng duy nhất không trực tiếp h-ớng tới đối t-ợng tiếp nhận cụ thể, xác định (lời ng-ời kể chuyện, lời tác giả hoặc lời nhân vật)
Truyện ngắn đ-ợc kết bằng lời ng-ời kể khá phổ biến Ng-ời kể có thể
ở ngôi thứ nhất (ng-ời trong cuộc), cũng có thể ở ngôi thứ ba (ng-ời chứng kiến) Ta thấy rõ điều này trong hai ví dụ sau:
“ Có lẽ nàng nghĩ đúng Tôi không trách gì nàng Nh-ng tôi yêu nàng vô hạn ở cuộc đời, có những ng-ời cha không có quyền nhận con đẻ của mình”
(Câm lặng- Nguyễn Thị ấm)
“Sáng hôm sau, Điền ngồi viết, giữa tiếng con khóc, tiếng vợ gắt gỏng, tiếng léo xéo đòi nợ ngoài đầu xóm Và cả tiếng chửi bới của một ng-ời láng giềng ban đêm mất gà”
(Giăng sáng - Nam Cao) Những đoạn kết bằng lời ng-ời kể bị chi phối bởi nguyên tắc tôn trọng hiện thực nên diễn ra một cách tự nhiên, gắn với hành động hoặc số phận nhân vật
Ng-ời viết truyện ngắn th-ờng không lộ diện nh-ng lại là ng-ời dẫn dắt diễn biến của truyện Trong nhiều tr-ờng hợp, đoạn kết truyện ngắn chính là nơi tác giả trực tiếp bày tỏ thái độ đối với vấn đề đặt ra trong tác phẩm
Ví dụ:
Trang 35“Chao ôi! Một anh thợ vô danh ở làng mà dám có cao vọng đoạt quyền tạo hoá bằng cái tràng cái đục của mình sao? Biết thế nào đ-ợc! Cõi mơ mộng của con ng-ời ta là vô cùng mà”
(Nghệ nhân ở làng - Nguyễn Khải)
Đoạn kết bằng ngôn ngữ tác giả mang những yếu tố chủ quan Thái độ
đồng tình, phản đối, tôn trọng, khinh ghét, căm thù, xót th-ơng đ-ợc biểu hiện hết sức rõ ràng
* Đoạn kết đối thoại
Là loại đoạn văn tham gia biểu thị một tình huống đối thoại Trong văn bản truyện ngắn, chúng xuất hiện khá th-ờng xuyên; bao gồm các tiểu loại:
+ Đoạn lời một nhân vật duy nhất
Ví dụ:
“Nhưng ông Lũng ăn có ba miếng Ông đứng phắt dậy lấy cái đĩa, xếp
vào đó độ hai chục múi to nhất và nói:
- Để đến tối, họp xong, tao đánh lừa anh cán bộ về nhà, để mời anh ấy
ăn với tao, thì tao mới thấy ngon, thấy s-ớng ”
(Cây mít - Nguyễn Công Hoan)
Ví dụ trên biểu đạt một tình huống đối thoại ở đây, ng-ời trao lời (ông Lũng) h-ớng tới đối t-ợng cụ thể (vợ và con) nh-ng không có nhu cầu tiếp nhận lời đáp
+ Đoạn lời trao - đáp
Ví dụ:
“Con bé lau nước mắt xong rồi mới chạy vào Nó rón rén đứng bên gi-ờng:
- Thầy bảo gì con cơ ?
- Con lên đây nằm thầy quạt cho
- Vợ hắn biết là chồng đã hết giận, bảo chồng:
- Mình lại đây này cả cái H-ờng cũng lại đây, nằm ghé bên em Em
nó ngủ rồi Mình quạt cả cho thằng Chuyên với cái H-ờng Tôi đi lấy gạo thổi cơm Lúc nãy còn một ít cơm nguội, chúng nó ăn, tôi ch-a ăn gì ”
(N-ớc mắt - Nam Cao)
Trang 36ở đây, lời thoại của mỗi nhân vật đ-ợc tách thành một đoạn văn riêng
Đoạn kết là lời đáp, nằm trong mạch hội thoại của các nhân vật
1.3.2.3 Vai trò của đoạn văn kết thúc truyện ngắn
Là đoạn văn khép văn bản, đoạn kết thúc có vai trò đáng kể trong việc tạo sức sống, sức sinh sôi cho truyện Đoạn kết không chỉ có vai trò tạo sự hoàn chỉnh cho cốt truyện (h-ớng nội) mà còn có tác động không nhỏ đến những suy ngẫm, đến mối liên t-ởng của độc giả (h-ớng ngoại)
+ Đoạn kết khép lại một lớp truyện, khép lại số phận của những nhân vật Đó là những đoạn kết không gây tranh cãi Nó trùng với kết cục của truyện Nó cho độc giả thấy rõ t-ơng lai, số phận của nhân vật
Ví dụ:
“Nhu đã nghe những lời nh- đinh đóng cột của anh Nhu lại thừ mặt ra một lúc lâu Nhu khóc nh- m-a Rồi Nhu đã làm gì? Hỡi ôi! Nhu đã vâng theo: Nhu trở về với chồng, với vợ hai và sống nh- một con vú trong nhà chúng, trong cái cơ nghiệp mà chính tay Nhu đã dùng tiền của mẹ mình tạo ra”
(ở hiền - Nam Cao)
Với đoạn kết này, có thể thấy số phận Nhu đã an bài Trong hoàn cảnh
ấy, với bản tính lành hiền đến nhu nh-ợc nh-ờng ấy, cuộc đời Nhu rồi sẽ chẳng bao giờ sang một t-ơng lai khác Nhu sẽ mãi mãi chịu mọi khổ nhục và
an phận Đó là tất cả những gì chúng ta có thể nhận thấy từ cái kết truyện này
+ Đoạn kết gợi ra sự liên t-ởng về những khả năng của đời sống Đoạn kết theo h-ớng này có thể gặp hàng loạt ở truyện ngắn hiện đại Với sự gợi mở
từ đoạn kết, câu chuyện mà nhà văn trình bày thực chất mới chỉ khép lại về mặt ngôn từ Cái kết thực sự lại ở trong sự suy đoán của độc giả
Ví dụ:
“Khi trở về, qua căn nhà lạnh lẽo âm u, họ thấy mấy đứa con nhỏ bác
Lê ngồi ở vỉa hè, con Tý đang dỗ cho thằng Hy nín khóc, nói dối rằng mẹ nó
đi một lát sẽ về Nh-ng họ biết rằng bác Lê không trở về nữa Và họ thấy một cái cảm giác lo sợ đè nén lấy tâm can họ, những ng-ời ở lại, những ng-òi còn sống mà cái nghèo khổ cứ đeo đuổi mãi không biết bao giờ dứt”
(Nhà mẹ Lê - Thạch Lam)
Trang 37Tiếng khóc của những đứa bé, cảnh bơ vơ mồ côi của chúng để lại trong lòng ng-ời đọc âm h-ởng của nỗi buồn khó dứt Truyện khép lại cái chết của ng-ời mẹ, song số phận những đứa con sẽ ra sao ? Đoạn kết của truyện mở ra những mối liên t-ởng từ lòng trắc ẩn của ng-ời đọc
Rất nhiều truỵện ngắn hiện đại để một khoảng trống tự do ở cuối truyện Cốt truyện vì thế không bao bao giờ khép Ng-ời đọc thực sự có khoảng trống nhập thân, có cơ hội đồng sáng tạo
Ví dụ đoạn kết truyện “Con gái thuỷ thần” (Nguyễn Huy Thiệp):
“Tôi cứ đi Phía tr-ớc mặt tôi còn biết bao điều bất ngờ chờ đợi Nàng là ai? Con gái thuỷ thần? Là tình chi? Con gái thuỷ thần? Để tôi m-ợn màu son phấn ra đi ”
Kết truyện còn bỏ ngỏ Trong màn h- ảo, nhân vật vẫn cứ đi và ch-a tìm thấy lời đáp cho hành trình của mình Những câu hỏi liên tục ở đoạn kết tạo một khoảng trống lớn gieo vào ng-ời đọc bao nỗi suy t-
Tiểu kết:
ở ch-ơng 1, chúng tôi đã trình bày một cách khái quát những đặc tr-ng nổi bật của thể tài truyện ngắn - một điển hình của loại hình tự sự Cũng trong ch-ơng này, chúng tôi trình bày tóm l-ợc đặc điểm, tính chất, chức năng của một loại đơn vị trực tiếp cấu thành văn bản - đó là đoạn văn, đặc biệt là đoạn văn kết thúc Những cơ sở về lí thuyết và thực tiễn về đoạn văn là tiền đề quan trọng giúp chúng tôi phân tích, so sánh, đối chiếu để tìm ra đặc điểm của đoạn văn kết thúc truyện ngắn hôm nay nói chung và đoạn văn kết thúc truyện ngắn của các nhà văn nữ nói riêng
Trang 38ChƯƠng 2
Đặc điểm hình thức đoạn văn kết thúc truyện ngắn của Võ thị hảo, nguyễn thị thu Huệ, Phan thị vàng Anh
Sau năm 1975, văn học Việt Nam đứng tr-ớc những vận hội và thử
thách mới Cuộc sống “đa diện”, “đa sự”, gồ ghề đòi hỏi ở văn học một
ph-ơng pháp tiếp cận mới Đại hội lần thứ VI của Đảng kêu gọi đổi mới t- duy Nghị quyết 05 của Bộ chính trị về công tác văn hoá văn nghệ nhấn mạnh:
“Văn học n-ớc ta phải đổi mới t- duy, đổi mới cách nghĩ, cách làm” Các nhà văn cũng tự xác định: “Không thể viết nh- tr-ớc nữa” [53] Trong bối cảnh đó,
ng-ời ta nhận thấy sự xuất hiện đầy hứng khởi và tự tin của lực l-ợng sáng tác nữ trẻ Có lẽ đây là sự gặp gỡ giữa không khí dân chủ trong sáng tác và đặc
điểm tính nữ Nói tới phái nữ, ng-ời ta nói đến sự dịu dàng, mềm mại và đặc biệt là sự nhạy cảm tr-ớc những biến thái tinh vi của đời sống Tìm hiểu về
đặc điểm nữ văn sĩ, nhà lý luận văn học Phương Lựu chỉ ra rằng: “nữ tính bộc
lộ các đặc điểm trên các mặt: lòng tự tin, dũng cảm, sự xã giao chi phối hoặc tính thụ động Về năng lực ngôn ngữ, động cơ hành động cũng khác nam giới” [58,449]
Sở tr-ờng phần lớn của các nhà văn nữ trẻ thời kỳ đổi mới là truyện ngắn Tính năng động của thể loại kết hợp với sự linh hoạt, uyển chuyển, -a tìm tòi của ng-ời viết làm nên những thành công đáng kể Có những cây bút ngay từ đầu đã gây đ-ợc ấn t-ợng và nhanh chóng ổn định về phong cách Các nhà nghiên cứu đã nói về một Võ Thị Hảo vừa hiện thực vừa h- ảo, một
Nguyễn Thị Thu Huệ “bụi bặm” trong tả chân nhưng lại đằm thắm trong suy tư, một Phan Thị Vàng Anh điềm tĩnh và trí tuệ Trong khuôn khổ “cỡ nhỏ”
của thể loại, họ tìm tòi cách thể hiện sao cho những điều cần đề cập không bị khuôn lại trên bề mặt câu chữ Họ hoàn thiện và tạo hiệu quả nghệ thuật cho tác phẩm của mình không chỉ bằng sự kế thừa hình thức nghệ thuật mà bằng
cả những “phá cách” mới
Truyện ngắn nữ cuối thế kỷ XX - đầu thế kỷ XXI thực sự đem đến cho
văn học Việt Nam “một luồng sinh khí mới” Đây cũng là đối tượng đã và
đang đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu phê bình văn học quan tâm Trên lĩnh vực nghiên cứu ngôn ngữ, nó ch-a có đ-ợc mối l-u tâm thích đáng Trong khuôn khổ đề tài này, chúng tôi bàn về đoạn văn kết thúc truyện ngắn của ba tác giả
Trang 39nữ tiêu biểu thời kỳ đổi mới: Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh với mong muốn góp phần phát hiện vẻ đẹp ngôn ngữ trong tác phẩm của họ Đồng thời, qua việc xem xét đoạn văn kết thúc ở các góc độ, đặt
nó trong mối quan hệ với các yếu tố khác thuộc văn bản, chúng tôi cố gắng làm nổi bật đặc tr-ng của đơn vị ngôn ngữ này, tr-ớc hết ở ph-ơng diện hình thức
Hình thức là ph-ơng thức thứ nhất của sự tồn tại Hình thức đoạn văn kết thúc truyện ngắn hết sức linh hoạt Sự linh hoạt đó thể hiện ở các mặt: cấu tạo, kích th-ớc, ph-ơng thức biểu thị ngôn từ
2.1 Cấu tạo đoạn kết
Xét cấu tạo đoạn văn kết thúc truyện ngắn Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, chúng ta thấy có hai loại: đoạn kết bình th-ờng
và đoạn kết đặc biệt
2.1.1 Đoạn kết có cấu tạo bình th-ờng
Theo số liệu thống kê, đoạn kết có cấu tạo bình th-ờng chiếm tỉ lệ 77,2% (91/118) Loại đoạn văn này đ-ợc xây dựng theo một cấu trúc nhất
định và có quan hệ nội tại t-ơng đối chặt chẽ
* Đoạn văn kết song hành
Đoạn văn kết có cấu trúc song hành chiếm tỉ lệ khá cao: 64,8% (59/91)
Điều đó cho thấy -u thế của nó đối với thể loại truyện ngắn, cụ thể là truyện ngắn của các nhà văn nữ đ-ơng đại Xuất phát điểm của nó là ở chỗ: truyện ngắn coi trọng sự kiện Những diễn tiến của sự kiện tạo ra hiệu quả giao tiếp
ở truyện ngắn của Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, cảm xúc, thái độ của tác giả th-ờng đ-ợc giấu kín sau câu chữ Ng-ời ta vẫn
thừa nhận: “Quan điểm của tác giả càng đ-ợc giấu kín, tác phẩm nghệ thuật càng có giá trị” (Ăng Ghen) Trong nhiều trường hợp, phương thức trần thuật
khách quan đem đến cho văn phong họ một giọng điệu lạnh lùng Bởi vậy, rất th-ờng gặp những đoạn văn đ-ợc trình bày theo phép liệt kê sự kiện
+ Liệt kê diễn đạt quan hệ đồng thời
Là kiểu liệt kê các sự kiện xảy ra trong cùng một phạm vi thời gian
Ví dụ:
“Bà Vy chết Nhà cửa sau phen xáo trộn lại đi vào nề nếp Cuộc sống nhàn hơn nh-ng anh Cả, anh Hai lại xem ra lầm lì, khó tính Còn cô út, cô ít
Trang 40đi đêm mà th-ờng quanh quẩn ở nhà Cô lại làm những việc của bà Vy ngày x-a, nh-ng không đ-ợc mĩ mãn bằng Hết việc, cô bật ti vi xem Đến ch-ơng trình ca nhạc ca sĩ Nhã Ph-ơng hát một bài về mẹ Cô út nhớ nhất câu: “Mẹ già nh- chuối chín cây, gió lay mẹ rụng Con thành mồ côi”
(Của để dành - Nguyễn Thị Thu Huệ) + Liệt kê bằng quan hệ liên t-ởng
Là liệt kê theo cách từ sự vật, sự việc này mà dẫn đến sự vật, sự việc khác t-ơng đồng hay đối lập với nó
Ví du:
“Lo gì tôi tốn công tu hành m-ời một năm Tôi ngày nào mà chẳng hun
đúc trong lửa lạnh Thí chủ về, lửa lạnh Thí chủ ơi ”
(Lửa lạnh - Võ Thị Hảo) + Liệt kê diễn đạt quan hệ thời gian tr-ớc sau
Là phép liệt kê sự kiện diễn ra theo chiều thuận của thời gian Lối liệt
kê này hoàn toàn tuân theo lô gích của hiện thực khách quan
Ví dụ:
“Học trò đã về hết Bà Năm đã ngủ rồi Con Thảo sau khi cãi nhau với
bồ cũng đã hầm hầm ngủ mất Chị Hoa đứng bên giá sách, nghĩ bụng: “Chắc mình không thể bỏ hẳn đâu ! “Những trang sách sột soạt giữa những ngón tay Chị Hoa nghĩ ra một thời khóa biểu từ ngày mai để khi trở về tr-ờng, học trò
sẽ thấy mình không quên gì cả ”
(Bỏ tr-ờng - Phan Thị Vàng Anh)
ở đoạn văn song hành, các câu có sứ mệnh ngang nhau trong việc biểu
đạt nội dung Tất cả cùng h-ớng vào một trung tâm ngữ nghĩa, cùng bộc lộ một chủ đề Tuy nhiên, đoạn kết có cấu trúc song hành còn gánh phần trách nhiệm tổng hợp tất cả những gì đã đ-ợc khai triển trong các đoạn văn luận giải tr-ớc đó Sự liệt kê ở đây đã mang ý nghĩa khái quát, tổng hợp, nh- là kết luận từng khía cạnh trong nội dung truyện
* Đoạn kết móc xích
Trong tr-ờng hợp đoạn kết cần huy động những mắt xích liên đới để đi
đến hồi sáng tỏ, các nhà văn nữ th-ờng sử dụng đoạn văn có kiểu cấu trúc móc xích Kiểu đoạn văn này ở truyện ngắn của Võ Thị Hảo, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh chiếm tỉ lệ 30,7% (28/91)