1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học môn đạo đức ở lớp 4 5 bậc tiểu học

74 33 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 845,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2- Trong dạy học môn Đạo đức ở tiểu học, hiện nay phương pháp dạy học giải quyết vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều và có hệ thống.. Nhiều tìm tòi để đổi mới phương pháp dạy học như “ph

Trang 1

Chúng tôi đã hoàn thành đề tài- “ Sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức ở lớp 4-5 bậc tiểu học ” - trong thời gian ngắn và trong điều kiện không ít khó khăn Chúng tôi nhận được sự góp ý rất tận tình của các thầy giáo, cô giáo cùng sự động viên, khích lệ của bạn bè Chúng tôi đã thu thập tài liệu, xử lý thông tin với tinh thần khẩn trương để thực hiện nhiệm vụ mà đề tài đề ra Tôi xin chân thành cảm ơn TS Phạm minh Hùng người trực tiếp hướng dẫn tôi trong quá trình thực hiện đề tài này Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa GDTH cùng bạn bè đã chỉ bảo, góp ý tận tình Cảm

ơn các thầy, cô giáo và học sinh trường tiểu học Hưng Dũng I đã tạo điều kiện thuận lợi, giúp đỡ để tôi hoàn thành công trình nghiên cứu đầu tiên này Tôi mong nhận được sự chỉ bảo, nhận xét của các thầy, cô giáo và bạn bè về những điều thiếu sót trong đề tài này

Tác giả Hoàng Thu Hiền

Trang 2

PHẦN MỞ ĐẦU

1- LÝ DO ĐỀ TÀI

1.1- Xuất phát từ nhịp độ phát triển nhanh của khoa học kỹ thuật, công nghệ, con người không những cần có hiểu biết và khéo tay mà cần có năng lực đề ra và độc lập giải quyết vấn đề mới Sự cần thiết phải bồi dưỡng năng lực này đặt ra chung cho mọi người, đặc biệt với học sinh tiểu học Năng lực giải quyết vấn đề không chỉ giúp cho học sinh khi còn ngồi trên ghế nhà trường mà còn ứng dụng trong cuộc sống Ra đời, con người không trực tiếp gặp kiến thức mà trực tiếp gặp các vấn đề phải giải quyết; nhưng tiếc thay nhà trường lại chưa chú trọng bồi dưỡng cho học sinh nhiều về năng lực giải quyết vấn đề mà vẫn đặt trọng tâm vào kiến thức để sau này học sinh vận dụng Như vậy, khó khăn về sự tăng kiến thức mâu thuẫn với thời gian có hạn ở trường, vẫn chưa có hướng giải quyết

Trong cuộc sống, con người phải có năng lực giải quyết những vấn đề nảy sinh, thường vận dụng những kiến thức, kỹ năng đã học được, phát huy những phẩm chất đạo đức, phẩm chất đã rèn luyện trong nhà trường Vấn đề đặt ra là không đợi đến khi ra trường mới “tập giải quyết vấn đề ”mà phải tập ngay trong quá trình học tập Như thế, năng lực thích ứng của con người

sẽ được nâng lên rõ rệt và có hiệu quả hơn Như vậy, “giải quyết vấn đề ” trở thành một phạm trù của “mục tiêu đào tạo ”, phạm trù “năng lực ”

1.2- Trong dạy học môn Đạo đức ở tiểu học, hiện nay phương pháp dạy học giải quyết vấn đề chưa được nghiên cứu nhiều và có hệ thống Giáo viên chỉ nêu câu hỏi rồi chờ đợi câu trả lời đúng của học sinh mà không tạo

Trang 3

điều kiện để cho học sinh thực hành xử lý các tình huống để phát hiện các chuẩn mực Đạo đức Nếu phương pháp này có đưa vào môn đạo đức ở tiểu học thì cũng chỉ là hình thức nêu vấn đề và yêu cầu học sinh trả lời, chưa đem lại hiệu quả

Hơn nữa, phương pháp dạy học truyền thống còn khá phổ biến trong dạy học đạo đức.các phương pháp dạy học này chỉ thiên về lý thuyết, ít các kiến thức ứng dụng và hoạt động thực hành và ít gắn bó với cuộc sống thực của học sinh để giúp các em có khả năng ứng xử linh hoạt trong cuộc sống 1.3- Khi nói về sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học, Nghị quyết BCH Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII đã ghi rõ : “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học, gắn với nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề

Nhiều tìm tòi để đổi mới phương pháp dạy học như “phương pháp tiếp cận chủ đề ”, “phương pháp tích hợp các kiến thức khoa học ”, “phương pháp dạy dựa trên vấn đề ”, “phương pháp xử lý tình huống ”,…đã xuất hiện

ở các cấp học từ Tiểu học đến Đại học,từ đào tạo ban đầu đến đào tạo tiếp tục,bồi dưỡng thường xuyên… Những đổi mới này có rất nhiều nét độc đáo riêng nhưng đều có xu hướng chung là thay đổi phương pháp sư phạm truyền thống làm cho người học chủ động, “lấy người học làm trung tâm ”, nói rộng hơn, người thầy giữ vai trò hướng dẫn, chỉ đạo giúp người học chiếm lĩnh bằng chính hành động của mình kiến thức, kỹ năng thông qua việc giải quyết các tình huống… Đó là những bước tiến tới bồi dưỡng “năng lực giải quyết vấn đề” Cần phải chú trọng đúng mức hơn, thậm chí phải đặt lên hàng đầu ấn đề đào tạo về phương pháp theo hướng biết đặt và giải quyết vấn đề trong tình hình kiến thức gia tăng, bùng nổ cả về khối lượng và

Trang 4

chất lượng, nhất là kiến thức về nhân cách của con người trong thời đại mới Bởi vậy,chúng tôi lựa chọn vấn đề “sử dụng phương pháp giải quyết vấn đề trong dạy học đạo đức ở lớp 4,5 bậc Tiểu học” làm đề tài nghiên cứu

2- LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Trong dạy học giải quyết vấn đề mà trước đây thường được gọi là dạy học nêu vấn đề, học sinh được tập dượt phát hiện và giải quyết vấn đề Đó là yêu cầu không chỉ phụ thuộc về phương pháp dạy học mà trở thành mục tiêu của giáo dục Hiện nay, dạy học giải quyết vấn đề được coi là một trong những phương pháp dạy học có hiệu quả cao nhất nhằm phát huy tính tích cực và sáng tạo của học sinh trong hoạt động học tập Phương pháp dạy học này đã xuất hiện từ rất lâu theo nhiều cách gọi, ý nghĩa khác nhau nhưng cùng hướng đến mục tiêu là hình thành ở học sinh năng lực giải quyết vấn

đề một cách chủ động, độc lập

Trong giáo dục, học thuyết Rogers có đóng góp rất lớn Ông khuyên thanh niên : “Các bạn đừng nên làm một toa tàu chở đầy đạn mà hãy làm một khẩu súng bắn được”(1) Về phương pháp, theo ông giáo dục phải là những gì cá nhân tự khám phá ra và chiếm hữu được trong mối quan hệ với người dạy, với tập thể,với chính mình Phương pháp này được ông gọi là phương pháp tập trung vào học sinh và được trình bày trong các tác phẩm, các bài báo, đặc biệt trong cuốn sách “Freedom to Learn”

Các nhà sinh học A.la.Ghecđơ,B.E.Raicôp, các nhà sử học M.M Xtaxiulêvit, N.A.Rơgiơcôp, các nhà ngữ ngôn X.P.Batalôn, M.A Rưpnicôva ở Nga, nhà hoá học H.E Amxtơrông ở Anh, các đại biểu của nền

“giáo dục học mới ” từ những năm 70 của thế kỉ trước và sau đó đã đưa ra phương pháp tìm tòi, phát kiến (ơrixtic) trong dạy học nhằm động viên và hình thành năng lực nhận thức của học sinh bằng cách lôi cuốn họ tự lực

Trang 5

tham gia phân tích các hiện tượng, những bài trước đây chưa từng làm và có chứa đựng những khó khăn nhất định

Xa hơn nữa, các hiện tượng “nêu vấn đề ”đã gặp thấy trong các buổi toạ đàm do Xôcrat tổ chức, trong các tư tưởng của Canhtilian, trong các cuộc tranh luận “quỷ biện” thời Trung cổ Họ đã góp phần giải quyết những vấn đề tuy là phi lý trên quan điểm hiện nay nhưng dù sao cũng là những

“vấn đề”, điều đó đòi hỏi phải có tư duy, để lựa chọn lời giải, phải nhìn thấy vấn đề, tức là phải có những nét của hoạt động sáng tạo

C.L Rubinstein nhấn mạnh rằng tư duy chỉ bắt đầu ở nơi xuất hiện tình huống có vấn đề Nói cách khác là ở đâu không có vấn đề thì ở đó không có

tư duy “Tình huống có vấn đề ” luôn luôn chứa đựng một nội dung cần xác định, một nhiệm vụ cần giải quyết, một vướng mắc cần tháo gỡ… Và do vậy, kết quả của việc nghiên cứu và giải quyết “tình huống có vấn đề ” sẽ là những tri thức mới, nhận thức mới hoặc phương thức hành động mới đối với chủ thể

Năm 1955 trong “Báo cáo gửi Tổng thống” do “ Uỷ ban chuẩn bị cho Hội nghị của Nhà Trắng về giáo dục” soạn thảo, các nhà giáo dục Mỹ đã xác định 15 điểm trong mục tiêu của giáo dục chung, từ việc hình thành thái độ công dân, lòng yêu nước, các giá trị tinh thần, đạo đức … Tuy nhiên, ngoài các yêu cầu vừa nêu, người ta đã thấy cần phải bổ sung một điểm rất quan trọng đó là “phát triển khả năng suy nghĩ và giải quyết vấn đề”

Không những thế, để chuẩn bị đi vào thế kỷ 21, trong cuốn “Chiến lược phát triển giáo dục hướng về xã hội công nghiệp tương lai” (1989) của Viện phát triển giáo dục Hàn Quốc, có ghi rõ là cần phải xây dựng con người Triều Tiên “tự tin, sáng tạo, có đạo đức ”, cần phải làm cho nền giáo dục có tính nhân văn, tính dân tộc, tính đạo đức và tính tiến bộ Tính tiến bộ được giải thích là “phải nuôi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề, tính sáng tạo và thái độ hướng về tương lai” Cũng trong văn bản này đã ghi rõ là “để đáp

Trang 6

ứng được những đòi hỏi mới được đặt ra do sự bùng nổ kiến thức và sáng tạo ra kiến thức mới, cần thiết phát triển năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề và tính sáng tạo…Các năng lực này có thể tóm tắt lại là năng lực giải quyết vấn đề ”.(2)

Ở Việt Nam, vấn đề bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh cũng được đặt ra từ rất sớm Cụ thể, đổi mới PPDH ở tiểu học là chuyển sự tập trung từ “quá trình dạy” của giáo viên sang “quá trình học” của học sinh Nói cách khác, trong mọi khâu của quá trình dạy học, cần tạo điều kiện

để học sinh thực sự hoạt động , hoạt động một cách tự giác độc lập, có hệ thống Học sinh biết chọn lựa các phương án tối ưu thích hợp nhất để giải quyết các tình huống có vấn đề

Nghị quyết BCH Trung ương Đảng lần thứ 4 khoá VII cũng đã chỉ rõ : Mục tiêu đào tạo mới phải hướng vào đạo tạo những con người “lao động,

tự chủ, sáng tạo”, có năng lực thích ứng với kinh tế thị trường cạnh tranh và hợp tác, có năng lực giải quyết được những vấn đề thường gặp, tìm được việc làm, lập nghiệp và thăng tiến trong cuộc sống, qua đó góp phần tích cực thực hiện mục tiêu lớn của đất nước “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh”

Ở một số trường đã có những thực nghiệm giảng dạy mới, theo hướng nghiên cứu “chủ đề ”, “vấn đề” như ở các ngành học nông nghiệp, công nghiệp, kinh tế, y học, quản lý… Ví dụ: GS Trần Văn Hà đã ứng dụng

“Phương pháp xử lí tình huống - hành động” để giảng dạy ở một số trường Đại học và Trung học chuyên nghiệp, đã biên soạn hệ thống một số bài giảng về phương pháp này, áp dụng mở rộng cho một số lĩnh vực khác như quản lý, hành chính…Gần đây, với sự cố vấn của GS Trần Văn Hà trong các đề án I-27-93, I-05-94 thuộc chương trình I của Bộ GD-ĐT, một số bài giảng đã được tiến hành theo phương pháp tình huống – hành động tại

Trang 7

trường Cán bộ quảm lý GD-ĐT Trung ương I, trường Đại học Nông nghiệp

3 (Thái Nguyên)

Phương pháp dạy học bồi dưỡng cho học sinh năng lực giải quyết vấn

đề được đông đảo cán bộ giáo viên hưởng ứng Cố Thủ tướng Phạm Văn Đồng, Cựu Bộ trưởng Bộ GD-ĐT Trần Hồng Quân đã có những bài phát biểu chỉ đạo Tuy nhiên, phương pháp giáo dục tích cực, phương pháp bồi dưỡng “năng lực giải quyết vấn đề” còn chậm được phổ biến Trong khi đó,

ở nhiều nước tiên tiến, tư tưởng “giáo dục tích cực”, “bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề ”, “lấy người học làm trung tâm” đang được triển khai rất phong phú, đa dạng, đặc biệt với việc áp dung những phương tiện hiện đại, nhất là sử dụng máy vi tính hỗ trợ Không những thế, vấn đề này chưa được

sự chỉ đạo chặt chẽ, chưa được tổ chức nghiên cứu một cách đầy đủ và hệ thống Bởi vậy, chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu vấn đề này với mong muốn nâng cao chất lượng học tập môn Đạo đức, bồi dưỡng năng lực giải quyết vấn đề thông qua môn Đạo đức ở trường Tiểu học

3- MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU

Nâng cao chất lượng dạy học môn Đạo đức ở lớp 4-5 bậc Tiểu học

4- KHÁCH THỂ VÀ ĐỐI TƢỢNG NGHIÊN CỨU

4.1- Khách thể nghiên cứu

Phương pháp dạy học môn Đạo đức ở lớp 4,5 bậc Tiểu học

4.2- Đối tượng nghiên cứu

Việc sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức ở lớp 4, 5 bậc tiểu học

Trang 8

5- GIẢ THUYẾT KHOA HỌC

Có thể nâng cao được chất lượng dạy học môn Đạo đức ở lớp 4, 5 bậc Tiểu học, nếu sử dụng phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

6- NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU

6.1- Tìm hiểu cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề nghiên cứu

6.2 – Thiết kế một số bài dạy đạo đức ở lớp 4, 5 theo phương pháp dạy học giải quyết vấn đề

6.3 - Đánh giá hiệu quả của phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức ở lớp 4-5 thông qua thực nghiệm sư phạm

7.- PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

7.1- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

- Đọc và nghiên cứu, tổng kết các tài liệu có liên quan đến đề tài cần nghiên cứu

7.2- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp điều tra

- Phương pháp thực nghiệm

- Phương pháp thống kê toán học

Trong đó phương pháp chủ yếu là phương pháp điều tra và phương pháp thực nghiệm

Trang 10

NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

CHƯƠNG I CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA

VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU I- CƠ SỞ LÝ LUẬN

1 Phương pháp dạy học

Nói đến phương pháp dạy học (PPDH) là nói đến sự gia công sư phạm

và sáng tạo công nghệ của nhà giáo trong lĩnh vực dạy học Dù có sách giáo khoa, sách hướng dẫn, sách tham khảo hoàn thiện đến mấy, dù mọi phương tiện thiết bị dạy học hiện đại tới mấy chúng vẫn chỉ là những yếu tố cần nhưng chưa đủ để dạy tốt, dạy hay, dạy hấp dẫn, dạy hiệu quả và những thứ

đó cũng chưa đủ để học sinh học tập có chất lượng

PPDH là một trong những yếu tố quan trọng nhất của quá trình dạy học Cùng một nội dung như nhau nhưng học sinh, học tập có hứng thú, có tích cực hay không, giờ học có phát huy được trí sáng tạo của trẻ hay không,

có để lại những dấu ấn sâu sắc và khơi dậy những tình cảm trong sáng, lành mạnh trong tâm hồn các em hay không …phần lớn đều phụ thuộc vào PPDH của người thầy giáo

Không những thế, một phương pháp được lựa chọn đúng đắn phải xuất phát từ chính bản thân môn học, phải dựa trên cơ sở nghiên cứu lịch sử phát triển của ngành tri thức đó, phải quy định bởi mục đích của nhà trường, phải dựa trên thành tựu của tâm lý học hiện đại, trên sự hiểu biết toàn diện về trẻ

em, vế các đặc điểm lứa tuổi của trẻ và về các đặc điểm đó được khúc xạ như thế nào trong môi trường tương ứng với thời đại đang xét

Vấn đề PPDH là một trong những vấn đề cơ bản nhất của lí luận dạy học Đồng thời, đây cũng là vấn đề tồn tại nhiều kiến giải khác nhau.Vậy, nên hiểu PPDH như thế nào cho đúng ? Mỗi người, mỗi quan điểm, mỗi

Trang 11

nhau về PPDH Chẳng hạn, PPDH là cách thức tương tác giữa thầy và trò nhằm giải quyết các nhiệm vụ giáo dưỡng, giáo dục và phát triển trong quá trình dạy học (Iu k.Babanxki- 1983) Hay, PPDH là một hệ thống những hành động có mục đích của giáo viên nhằm tổ chức hoạt động nhận thức và thực hành của học sinh, đảm bảo cho các em lĩnh hội nội dung học vấn (I Ia.Lécne 1981)

Ngoài ra còn nhiều định nghĩa khác nữa Tóm lại, có thể hiểu PPDH là

tổ hợp các cách thức hoạt động của cả thầy và trò trong quá trình dạy học, dưới sự chỉ đạo của thầy và với vai trò tích cực chủ động của trò nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học

2 - Phương pháp giải quyết vấn đề ( PPGQVĐ)

2.1- Khái niệm :

Nghị quyết BCH TW Đảng lần thứ 4 khoá VII đã chỉ rõ: “Đổi mới phương pháp dạy và học ở tất cả cấp học, bậc học Kết hợp tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu khoa học ,gắn nhà trường với xã hội Áp dụng những phương pháp giáo dục hiện đại để bồi dưỡng cho học sinh năng lực tư duy sáng tạo, năng lực giải quyết vấn đề Học sinh cần có năng lực giải quyết vấn đề để làm chủ tri thức khoa học và công nghệ hiện đại có tư duy sáng tạo, có kỹ năng thực hành giỏi” Để có được những cái đó, học sinh cần chiếm lĩnh tri thức một cách tích cực, chủ động, hình thành kỹ năng giải quyết mọi vấn đề trong học tập cũng như trong cuộc sống Đây là một năng lực cần thiết phải hình thành ở học sinh nhưng không thể không nói đến vai trò của giáo viên Người thầy phải là người tổ chức, hướng dẫn trò tiến hành giải quyết vấn đề

PPGQVĐ hiểu một cách chung nhất là phương pháp đặt học sinh trước khó khăn, những mâu thuẫn đòi hỏi các em phải tìm cách thức giải quyết những khó khăn, những mâu thuẫn đó bằng chính sự nỗ lực của mình, dưới

sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên

Trang 12

Như vậy, trong PPGQVĐ, hai công đoạn nêu vấn đề và tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề gắn bó chặt chẽ với nhau Bản chất của PP GQVĐ chính là ở chỗ, học sinh tự tìm ra tri thức mới, cách thức hành động mới thông qua việc giải quyết các vấn đề do giáo viên đặt ra Ưu điểm nổi bật của PP GQVĐ là phát huy được tính tích cực độc lập của học sinh, làm cho quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh trở thành quá trình giải quyết vấn

đề PP GQVĐ còn kích thích được hứng thú học tập của học sinh Hiện nay, PPGQVĐ đang được áp dụng rộng rãi trong nhà trường phổ thông nói chung, trong nhà trường Tiểu học và ở môn Đạo đức nói riêng

2.2 - Đặc trưng của PPGQVĐ trong dạy học môn Đạo đức lớp 4, 5 bậc Tiểu học

Môn Đạo đức là một trong 9 môn bắt buộc ở trưòng Tiểu học và cũng

là một trong những phương tiện hữu hiệu để hình thành nhân cách của học sinh

Với mỗi môn học, PP GQVĐ lại có cách tiếp cận vấn đề riêng Với môn Đạo đức ở Tiểu học nói chung và lớp 4,5 nói riêng có thể khái quát lên bằng những đặc trưng cơ bản khi sử dụng PPGQVĐ sau đây:

* Đặc trưng thứ nhất của PPGQVĐ ở môn Đạo đức lớp 4, 5 là xây dựng tình huống Đạo đức

Tình huống đạo đức là những tình huống trong đó có sự “gay cấn ”, có

sự “đấu tranh động cơ ”để lựa chọn hành động phù hợp Khi các tình huống đạo đức này được giải quyết cũng có nghĩa là học sinh đã nắm được tri thức đạo đức mới hoặc củng cố, khắc sâu thêm phương thức hành vi đã có trước đây C.L Rubinstein đã từng nhấn mạnh rằng tư duy chỉ bắt đầu ở nơi xuất hiện tình huống có vấn đề Nói cách khác là ở đâu không có vấn đề thì ở đó không có tư duy Còn M A.Macherstin thì coi “ tình huống có vấn đề ’’là một dạng đặc biệt của sự tác động qua lại giữa chủ thể và khách thể, được

Trang 13

một tình huống đạo đức, mà việc giải quyết vấn đề đó lại cần đến tri thức mới cũng như khả năng nhìn nhận thực tế cuộc sống

Ở lớp 4,5, học sinh đã có vốn sống, vốn kinh nghiệm đạo đức tương đối phong phú Chính điều đó, cho phép giáo viên có thể đặt các em trước các tình huống có vấn đề (mà ở đây thực chất là các tình huống đạo đức)

Việc đặt học sinh trước các tình huống như vậy, buộc các em phải vận dụng những kiến thức đạo đức đã học để đưa ra cách ứng xử phù hợp hoặc nhận xét đánh giá hành vi của các nhân vật trong tình huống trên cơ sở đối chiếu với các chuẩn mực đạo đức

Ví dụ : Dạy bài “Biết cảm ơn, biết xin lỗi ” ở lớp 1 có thể đưa ra các

tình huống :

- Không may em làm bẩn áo của bạn , em sẽ nói gì với bạn ?

- Em ngã, bạn đỡ em dậy, giúp em phủi sạch quần áo, em sẽ nói gì với bạn?

Những tình huống đưa ra cho học sinh, một mặt phải phù hợp với nội dung của bài đạo đức, mặt khác phải phù hợp với trình độ nhận thức của học sinh

* Đặc trưng thứ hai của dạy học GQVĐ ở môn Đạo đức lớp 4,

5 là quá trình giải quyết vấn đề được thực hiện thông qua hệ thống hoạt động của học sinh trong giờ học

Mục đích của PP GQVĐ là hướng vào việc phát huy tính tích cực, độc lập của học sinh thông qua việc giải quyết vấn đề Việc sử dụng PP GQVĐ trong dạy học môn Đạo đức ở các lớp 4,5 đòi hỏi phải tổ chức quá trình giải quyết vấn đề như là quá trình thực hiện các hoạt động kế tiếp nhau Mỗi hoạt động tương ứng với một giai đoạn của quá trình giải quyết vấn đề : tiếp nhận vấn đề, đưa ra các cách giải quyết vấn đề khác nhau, lựa chọn cách giải quyết tối ưu, kết thúc vấn đề

Trang 14

* Đặc trưng thứ ba của dạy học GQVĐ ở môn Đạo đức lớp 4,5 là việc nêu và giải quyết vấn đề phải xuất phát từ những chuẩn mực đạo đức cụ thể

Môn Đạo đức ở tiểu học nói chung và môn Đạo đức ở các lớp 4, 5 nói riêng bao gồm những chuẩn mực đạo đức dựa trên các mối quan hệ chủ yếu của học sinh đối với bản thân, gia đình, nhà trường, cộng đồng xã hội và môi trường thiên nhiên

Mỗi bài Đạo đức đề cập đến một chuẩn mực đạo đức Vì thế, thực chất của dạy học giải quyết vấn đề trong môn Đạo đức ở tiểu học nói chung và các lớp 4, 5 nói riêng là giúp học sinh tự lực nắm được những chuẩn mực

đạo đức đó Nó đặt “những viên gạch đầu tiên” cho sự hình thành ở các

em cơ sở ban đầu của nhân cách người công dân, người chủ xã hội tương lai,

và hình thành những hành vi ứng xử phù hợp với những chuẩn mực đạo đức

xã hội từ đơn giản đến phức tạp, từ thấp đến cao

2.3 ý nghĩa của PPGQVĐ trong dạy học môn Đạo đức

ở Tiểu học

- Trước hết, PPDH GQVĐ phát huy được tính tích cực của học sinh trong giờ Đạo đức

Trong PPGQVĐ các bài Đạo đức được thiết kế trên cơ sở “trẻ em là

trung tâm”, “là chủ thể” Học sinh không học thụ động mà học tích cực

Trang 15

Những gì học sinh học được đều thể hiện bằng hành động cụ thể và ngược lại : hành động thống nhất với những gì đã học Hơn nữa, đó là hành động tự giác, tự nguyện Mệnh lệnh áp đặt của thầy giáo “các em phải,” “các

em được ” được thay bằng “tôi cho rằng,” “tôi có thể ” phản ánh ý

thức tự giác của chủ thể học sinh “các em phải có tinh thần tập thể” được thay thế bằng “tôi có thể là người đồng đội tốt ”, “các em phải yêu ông bà, cha mẹ,” được thay thế bằng “tôi có thể chứng tỏ mình thương yêu ông bà, cha mẹ ”

- Học sinh tự chiếm lĩnh các tri thức đạo đức một cách tích cực, chủ động

Mục tiêu mà môn Đạo đức đặt ra là phát triển toàn diện nhân cách học sinh Bởi vậy, tăng cường dạy học sinh chiếm lính tri thức trong quá trình hình thành và phát triển chứ không phải dưới dạng những mẫu hành vi có sẵn Điều này có thể được thực hiện bằng dạy học giải quyết vấn đề ở những cấp độ khác nhau

Ở giai đoạn đầu, giai đoạn tự nghiên cứu vấn đề, tính độc lập của người học được phát huy cao độ Thầy giáo chỉ tạo ra tình huống gợi vấn đề, người học tự phát hiện và giải quyết vấn đề hoặc cùng lắm là giáo viên giúp học sinh ở khâu phát hiện vấn đề Như vậy, người học độc lập thực hiện hầu như tất cả các khâu cơ bản của quá trình nghiên cứu

Tri thức đạo đức được học sinh tiếp nhận thông qua các tình huống đạo đức Học sinh phát biểu bảo vệ cách xử lý, ứng xử của mình, tranh luận, đồng thời lắng nghe ý kiến, cách xử lý, ứng xử của bạn, cuối cùng được nghe giáo viên kết luận Từ các kết luận về các tình huống đơn giản và phức tạp (qua truyện kể ), được sự dẫn dắt của giáo viên, học sinh tự tìm ra các khái niêm, các chuẩn mực đạo đức Thực hiện “học để hành”, học sinh tiếp tục thảo luận để hiểu rõ các “hành động” mà mình cần và nên ứng dụng trong đời thường Sau khi đã nhận thức đầy đủ học sinh tự giác vạch cho

Trang 16

mình một kế hoạch về hành động trước mắt (ví dụ :siêng năng học tập, giữ gìn trật tự kỉ luật, vệ sinh) Và như vậy, chính việc đưa vào dạy học Đạo đức PP GQVĐ đã góp phần phát huy tính tích cực học tập của hoc sinh cũng như khả năng tự chiếm lĩnh tri thức đạo đức của các em

- Tránh được sự nặng nề, áp đặt trong dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học

Ý nghĩa này được thể hiện rõ khi học sinh tham gia xử lý tình huống đạo đức Tình huống đạo đức luôn đặt học sinh trước sự ngạc nhiên, hứng thú và gây được niềm tin cho các em Chính vì vậy, giờ học Đạo đức không thể chỉ dạy thông qua con đường thuyết giáo mà phải bằng việc tổ chức những hành động cụ thể Không ai phán xét được một người là tốt hay xấu, thiện hay ác nếu họ đóng cửa lại, ngồi một mình trong căn phòng kín Luôn tạo cho học sinh được tham gia hoạt đông, đó là mục tiêu mà PP GQVĐ hướng tới Mỗi chuẩn mực đạo đức có thể xây dựng nhiều tình huống đạo đức Và mỗi tình huống lại có nhiều cách giải quyết, xử lý khác nhau Chính đây là điều kiện phát huy cái “tôi” trong mỗi học sinh Các em được trao đổi, tranh luận, cùng nghe và cùng thảo luận, cùng tìm ra những khái niệm , cách hiểu về một chuẩn mực đạo đức Như vậy, nhờ PP GQVĐ mà có thể tránh được sự nặng nề áp đặt trong giờ Đạo đức Học sinh không còn phải nghe hay chấp nhận những gì mà giáo viên nêu ra là “phải thế này”, “phải thế kia” mà hoàn toàn mang tính độc lập, sáng tạo của học sinh Mặc dù vậy, khi dạy học môn Đaọ đức ở lớp 4,5 bậc Tiểu học nói riêng theo PP GQVĐ cần tuân theo 5 bước :

Bước 1 : Tích cực hóa tri thức cũ

Bước 2 : Giáo viên nêu vấn đề

Bước 3 : Học sinh giải quyết, xử lý tình huống

Bước 4 : Học sinh rút ra bài học

Trang 17

Có thể nói, đây là cấu trúc chung cho việc dạy học môn Đạo đức bậc Tiểu học khỉ dụng PP GQVĐ Yêu cầu đặt ra cho mỗi giáo viên khi sử dụng

là phải xem xét đối tượng cần dạy, điều kiện địa phương, hoàn cảnh tiến hành bài học để áp dụng nó một cách có hiệu quả Cần dựa vào nội dung bài học và khả năng có thể ứng dụng nó trong cuộc sống cũng như vốn hiểu biết của học sinh để học sinh đưa ra cách giải quyết hay và đầy sức thuyết phục Giáo viên cần có sự phối hợp nhiều yếu tố một cách hợp lý, đúng mức, tạo điều kiện nâng cao hiệu quả giờ học Đạo đức ở lớp 4, 5 bậc Tiểu học nói riêng và môn Đạo đức bậc Tiểu học nói chung

II – CƠ SỞ THỰC TIỄN

1- Thực trạng nhận thức của giáo viên tiểu học về phương pháp dạy học giải quyết vấn đề trong dạy học môn Đạo đức ở lớp 4,5 bậc tiểu học

1.1 Nhận thức của giáo viên tiểu học (GVTH) về khái niệm PP GQVĐ

của mình, tranh luận, đồng thời lắng

nghe ý kiến, cách xử lý, ứng xử của

bạn, cuối cùng được nghe thầy giáo

kết luận

Là phương pháp giúp học sinh biết

vạch ra những cách thức giải quyết

Trang 18

2 vấn đề, biết xử lý các tình huống Đạo

quyết và tìm kiếm lời giải trong quá

trình “hoạt động hợp tác” giữa thầy và

trò, phát huy tối đa tính độc lập của

học sinh kết hợp với sự hướng dẫn

của giáo viên

4

Là phương pháp thầy nêu tình

huống để trò giải quyết 2 8

5 Là phương pháp tập trung chủ

yếu vào hoạt động của học sinh

Kết quả điều tra cho thấy:

- Việc hiểu khái niệm PPGQVĐ của GVTH có sự khác biệt nhau

Ở cách hiểu thứ nhất, PPGQVĐ chỉ giới hạn trong hoạt động tích cực, độc lập của học sinh để đi đến việc giải quyết vấn đề Vai trò của giáo viên trong việc nêu vấn đề, tổ chức, hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề chưa được nói tới Bởi vậy, số ý kiến đồng ý là 6 chiếm 24% Hơn nữa, việc giải quyết vấn đề rất cần đến sự “hợp tác hỗ trợ” giữa thầy và trò Nhưng ở cách hiểu trên, vấn đề này chưa được nói tới Học sinh chỉ mới tham gia xử lý tình huống mà chưa rút ra được kết luận Kết luận về chuẩn mức đạo đức đó được thầy giáo rút ra sau khi học sinh thảo luận, đưa ra cách giải quyết

Trang 19

Ở cách hiểu thứ 2, đã đề cập đến vai trò của giáo viên cũng như của học sinh Số ý kiến đồng ý là 3 chiếm 12% Cách hiểu này tập trung hình thành cho học sinh cách thức giải quyết các tình huống đạo đức cụ thể Ở đây chỉ mới đề cập nhiều đến mục đích cần đạt được mà chưa nêu lên một cách hiểu cụ thể về khái niệm PPGQVĐ

Cách hiểu thứ 3 về khái niệm PPGQVĐ là cách hiểu đúng đắn nhất và đầy đủ nhất so với các cách hiểu khác được nêu ra ở bảng 1 Số ý kiến đồng

ý trong cách hiểu thứ 3 này là 10 chiếm 40% Trong cách hiểu này đã nói đến yêu cầu của phương pháp là phải tổ chức tình huống có vấn đề Không chỉ có thế, vai trò hợp tác giữa thầy và trò đã được đề cập và đặc biệt là cách hiểu này còn đã nói đến việc phát huy tính tích cực, độc lập trong suy nghĩ của học sinh Như vậy, PPGQVĐ đã được hiểu một cách đầy đủ Tuy nhiên, rất tiếc ở cách hiểu này, số giáo viên đồng ý, lựa chọn còn chưa cao

Chính vì nhận thức của giáo viên trong cách hiểu trên- cách hiểu đúng đắn- đầy đủ nhất chiếm tỷ lệ chưa cao, nên khi điều tra chúng tôi đưa ra cách hiểu thứ 4 thì chỉ có 2 ý kiến chiếm 8% Nếu đi sâu vào phân tích cách hiểu này, thực ra giải quyết vấn đề cũng chính là giải quyết các tình huống được đặt ra trong mỗi chuẩn mực đạo đức Cách hiểu này đã đề cập đến vai trò của thầy, của trò, thầy đã đưa ra được tình huống có vấn đề để trò giải quyết nhưng chưa đề cập đến sự hợp tác, hỗ trợ giữa thầy và trò Số ý kiến đồng ý với cách hiểu này quá ít bởi cách hiểu này còn chưa làm rõ vai trò tổ chức, hướng dẫn của giáo viên Chưa phát huy được tính tích cực, độc lập suy nghĩ của học sinh Điều này thể hiện ở chỗ tình huống nêu ra mang tính chất áp đặt Giáo viên chưa khai thác được năng lực tư duy của học sinh

So với cách hiểu thứ 4, ở cách hiểu thứ 5 nhận thức của giáo viên về PPGQVĐ có phần đúng đắn Phần đông giáo viên không đồng ý với cách hiểu đó là phương pháp tập trung vào hoạt động của học sinh Số ý kiến đồng ý chỉ có 1 chiếm 4% Cách hiểu này quá thiên lệch về hoạt động của

Trang 20

học sinh mà không đề cập đến vai trò của giáo viên cũng như phát huy tính tích cực của học sinh Học sinh được hoạt động nhiều nhưng không nói đến

sự tổ chức, hướng dẫn của giáo viên

Từ sự phân tích trên đây,cho phép chúng tôi rút ra nhận xét : Nhận thức của GVTH về khái niệm PPGQVĐ còn hạn chế (chưa đầy đủ, chưa toàn diện)

1.2 Nhận thức của giáo viên về vai trò của PPGQVĐ

đề trong dạy học môn Đạo đức ở Tiểu học

Bảng 2: Nhận thức về hiệu quả của PPGQVĐ trong dạy

học môn Đạo đức ở tiểu học

kiến

Tỷ lệ %

1 Kết quả học tập của học sinh được nâng cao 18 72

2 Học sinh chú ý , tích cực tham gia xây dựng

4 Tinh thần độc lập suy nghĩ ,năng lực sáng

tạo của học sinh được phát huy

5 Phát triển năng lực lập luận lôgic, nuôi

dưỡng năng lực trừu tượng hoá và chiếm lĩnh

vững chắc các chuẩn mực đạo đức cần thiết

Trang 21

- 48 % số giáo viên được hỏi đã cho rằng PPGQVĐ có ảnh hưởng tích cực đến hoạt động của học sinh trong giờ học (các em chú ý hơn, hăng hái phát biểu ý kiến hơn)

- 60% số giáo viên được hỏi cho rằng PPGQVĐ làm cho học sinh hứng thú trong học tập, trong nhận thức và hành động cao hơn Phương pháp này kích thích hứng thú học tập của học sinh, phù hợp với việc nâng cao kết quả học tập của học sinh

- 80% số giáo viên lại cho rằng phương pháp này phát huy tinh thần độc lập suy nghĩ, năng lực sáng tạo của học sinh trong học tập

- 74% số giáo viên cho rằng PPGQVĐ góp phần phát triển năng lực lập luận lôgic, nuôi dưỡng năng lực trừu trượng hoá và chiếm lĩnh vững chắc các chuẩn mực đạo đức cần thiết

2- Thực trạng sử dụng PPGQVĐ trong dạy học môn Đạo đức ở trường Tiểu học hiện nay

Bảng 3 : Mức độ sử dụng PPGQVĐ trong dạy học môn

Đạo đức của giáo viên

Bảng trên cho thấy chỉ có 8% giáo viên thường xuyên sử dụng PPGQVĐ, 32% giáo viên đôi khi sử dụng và có đến 60% giáo viên chưa bao giờ sử dụng Như vậy, sẽ nảy sinh sự chênh lệch trong nhận thức và việc sử dụng Giáo viên nhận thức được tầm quan trọng của phương pháp nhưng không đưa vào sử dụng

Trang 22

2.1 Hiệu quả sử dụng PPGQVĐ trong dạy học môn Đạo đức ở lớp 4, 5 của giáo viên

Chúng tôi đã tìm hiểu hiệu quả sử dụng PPGQVĐ trong dạy học môn Đạo đức ở tiểu học của một số giáo viên

Qua tìm hiểu chúng tôi rút ra những nhận xét sau đây:

- Việc sử dụng PPGQVĐ trong dạy học Đạo đức của số giáo viên này chưa theo đúng các bước bắt buộc : nêu vấn đề, tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề, tự rút ra bài học đạo đức

- Có giáo viên cho là mình đã sử dụng PPGQVĐ trong dạy học môn Đạo đức nhưng thực ra chỉ mới dừng lại ở việc đặt các câu hỏi và yêu cầu học sinh trả lời những câu hỏi đó Thực chất đây chỉ là phương pháp đàm thoại mà thôi

- Hiệu quả sử dụng PPGQVĐ của giáo viên chưa cao, thể hiện ở chỗ: + Chưa phát huy được tính tích cực, độc lập của học sinh trong giờ học Đạo đức

+ Việc tìm ra tri thức đạo đức mới của học sinh không phải bằng con đường giải quyết vấn đề

+ Hứng thú học tập của học sinh trong giờ học thấp

Tóm lại : Tuy có một số giáo viên đã có ý thức sử dụng PPGQVĐ trong dạy học Đạo đức ở tiểu học nhưng hiệu quả sử dụng chưa cao, khiến cho nhiều ưu điểm của phương pháp này không được phát huy một cách đầy

đủ

2.2- Nguyên nhân của thực trạng

Qua tìm hiểu thực trạng nhận thúc và sử dụng PPGQVĐ của giáo viên, chúng tôi rút ra nhận xét chung là: Đa số GVTH còn chưa nhận thức đúng đắn về PPGQVĐ, việc sử dụng phương pháp này vào dạy học môn Đạo đức

ở tiểu học còn hạn chế

Trang 23

Sở dĩ có tình trạng trên là do nhiều nguyên nhân: từ phía giáo viên , từ

sự chỉ đạo của các cấp quản lý giáo dục, từ cơ sở vật chất,

2.2.1- Về phía giáo viên

- Giáo viên chưa được trau dồi, bổ túc về kiến thức cũng như kinh nghiệm, năng lực hiểu biết về PPGQVĐ GVTH chưa nắm bắt được tinh thần của phương pháp này do đó còn nhiều hạn chế trong nhận thức và khả năng sử dụng nó

- Ở trường chúng tôi điều tra, hầu hết trình độ của GVTH chỉ dừng lại

ở Trung cấp, một số Cao đẳng tiểu học, số ít là Đại học và duy nhất một người là Sau đại học Xuất phát từ yêu cầu thực tế, có nhiều giáo viên theo học lớp Đại học tại chức nhưng trình độ vẫn còn có chỗ bất cập

- Do giáo viên còn xem đây là môn phụ, coi nhẹ môn Đạo đức trong giảng dạy nên ít đầu tư về thời gian , kiến thức cũng như phương tiện để đưa PPGQVĐ vào dạy học Đạo đức Rất ít giáo viên chú ý đến hiệu quả giờ dạy, như tiết 2, chỉ dạy cho qua, cho có dạy Chính vì thế mà phương pháp này xuất hiện rất ít trong dạy học Đạo đức Hầu như việc làm bài tập điền vào chỗ trống hoặc đánh dấu chiếm chủ yêú ở tiết 2 Rất ít khi bắt gặp một bài tập xử lý tình huống theo nội dung bài học

- Để xây dựng một tình huống có vấn đề phù hợp với nội dung bài, đối tượng dạy học là rất khó Nên nhiều giáo viên cảm thấy ngại suy nghĩ, tìm tòi, vận dụng thực tế cuộc sống Nếu có nghĩ thì cũng rất đơn điệu , có khi

xa nội dung bài học Đây là một nguyên nhân rất dễ xảy ra nhất là đối với giáo viên đã có tuổi hoặc mới ra trường

- Vì chưa có lý luận về PPGQVĐ nên trong các giờ dạy, giáo viên không bồi dưỡng được năng lực giải quyết vấn đề cho học sinh Năng lực này rất cần thiết cho học sinh sau này vào đời Và cũng chính vì điều này mà GVTH còn bị hạn chế trong việc khéo léo lôi cuốn, thu hút sự chú ý của học

x

Trang 24

sinh Chưa tạo được hứng thú cho học sinh do không có năng lực tổ chức, vận hành phương pháp, cách thức đúng nội dung, đúng đối tượng dạy học

- GVTH quá coi trọng môn Tiếng Việt và Toán, không nhận thức đúng vai trò môn Đạo đức – môn học nhằm hình thành nhân cách của học sinh

- Tư tưởng, thói quen của phương pháp truyền thống ăn nhập quá sâu trong mỗi giáo viên Do vậy, để thay đổi một nếp nghĩ, một thói quen quả rất khó Hơn nữa, dạy học truyền thống nhàn hơn, ít phải đầu tư, mức độ tốn kém ít hơn nên giáo viên hầu như né tránh PPGQVĐ

- Một số giáo viên suy nghĩ rằng dạy học GQVĐ tuy hay nhưng có vẻ

ít cơ hội thực hiện do khó tạo được nhiều tình huống nêu vấn đề

- GVTH chưa thực sự trở thành người “kĩ sư tâm hồn” Bởi giáo viên chưa hoàn thành tốt những điều mà như Ma-ki-gu-chi đã viết : “Giáo viên không còn là ống dẫn thông tin mà là chất xúc tác của quá trình dẫn thông tin ấy Giáo viên không đứng giữa môn học và học sinh mà ở bên cạnh học sinh kích thích, duy trì, thúc đẩy bước đi vừa sức với những giải thích bổ sung Giáo viên là trợ lực viên của tiến trình học tập nhưng không bao giờ học thay cho học sinh Giáo viên phải làm cho học sinh tự kiểm nghiệm, thực nghiệm những tri thức Giáo viên là những bà đỡ giúp cho tiến trình

tự thể hiện, đứng kề bên mà không bao giờ đứng giữa lối đi ”

2.2.2- Về phía chỉ đạo cấp trên

- Chưa chú trọng tổ chức cho giáo viên học các lớp bồi dưỡng lý luận

về đổi mới PPDH Có viết sáng kiến kinh nghiệm, các cuộc họp tổ chuyên môn, chuyên đề, nhưng cũng ít khi lưu tâm về hạn chế trong việc dạy học các môn phụ Ít quan tâm đến kết quả dạy học các môn phụ như Đạo đức của giáo viên Có kiểm tra giáo án nhưng giáo án chỉ là hình thức Vì thế mà làm cho giáo viên nhận thức còn nông cạn sự cần thiết đưa PPGQVĐ vào dạy học môn Đạo đức

Trang 25

- Do chỉ đạo cấp trên cũng có tư tưởng xem nhẹ môn học này nên còn lơi lỏng trong kiểm tra giờ dạy Hầu hết chỉ đạo cấp trên chỉ biết giáo viên báo lên dạy buổi nào, nghỉ buổi nào chứ thực sự kiểm tra giáo viên có thực hiện nghiêm túc không ? Cấp trên chưa tạo được khuôn phép, buộc giáo viên coi trọng việc tạo cho học sinh năng lực lập luận lôgic, xử lý, vận dụng cách ứng xử qua các tình huống đạo đức cụ thể

- Chưa tổ chức thanh tra giáo viên trong dạy học các môn phụ như Đạo đức Chỉ tập trung thanh tra Toán, Tiếng Việt mà không quan tâm đến môn Đạo đức và các môn học khác Trong xu thế chung hiện nay là đào tạo một người học sinh phát triển toàn diện đức, trí , thể, mĩ và nếu thiếu một trong những mặt đó thì rất khó đáp ứng yêu cầu hiện nay

- Môn Đạo đức có 2 tiết, tiết 1 là tiết lý thuyết, liên hệ; tiết 2 là tiết thực hành Nhưng phần lớn chỉ đạo của cấp trên tập trung vào tiết một Cái chính của môn Đạo đức đó là ứng dụng thực tế, vận dụng ngay những gì học được trong tiết một kết hợp thực tế cuộc sống để xử lí các tình huống đạo đức, giải quyết những vấn đề có thể xảy ra trong thực tế đời thường Đây là tiết học cần thiết và phải chỉ đạo sát sao, yêu cầu giáo viên phải dạy đủ, đầu tư nhiều hơn

2.2.3 Cơ sở vật chất

- Thiết bị dạy học hiện nay còn gặp nhiều khó khăn, chưa trang bị tốt

để có thể sử dụng một cách thường xuyên và hiệu quả PP GQVĐ

- Cách thức tổ chức lớp học, phòng học còn khuôn mẫu, cứng nhắc Giáo viên và học sinh cùng làm trong một phòng học Nếu thể hiện tình huống đạo đức thì việc thể hiện gặp rất nhiều khó khăn Đứng trên bục giảng cao thì không đủ chỗ, mà đứng ở dưới thấp thì học sinh phía sau không theo dõi được Hệ thống bàn học bố trí chưa khoa học, đặt sát nhau nên việc ồn ào trong giờ học là không tránh khỏi Vì thế việc vận dụng phương pháp này rất nhiều trở ngại

Trang 26

- Một số trường hiện cũng có thiết bị dạy học hiện đại, có tranh vẽ minh hoạ cho mỗi bài học nhưng khi cần tranh để dạy một bài nào đó, giáo viên bắt đầu lục tìm tranh trong vô số tranh vẽ của các môn học khác Nhiều giáo viên vì thế mà dạy “chay” vì ngại đứng tìm tranh và đồ dùng minh hoạ

- Một tình huống thành công hay không nhờ rất nhiều vào thiết bị, cơ

sở vật chất Nhưng đồ dùng để thể hiện một tình huống hoàn toàn không có Nếu thấy cần thiết thì giáo chuẩn bị ở nhà mà điều này sẽ rất khó đối với giáo viên đã có tuổi và đôi khi cả những giáo viên trẻ, thiếu trách nhiệm đối với dạy học đạo đức cho học sinh

- Hiện nay như trường Hưng Dũng 1 , đồ dùng dạy học có đưa về minh họa cho tiết dạy quả không biết nên đặt ở đâu cho tiện Trên bàn giáo viên

để cặp giáo viên còn đồ dùng cũng để luôn trên bàn giáo viên Thiếu hẳn giá

đỡ, khi nhìn lên bàn giáo viên trông không đẹp mắt, hạn chế sự khoa học đối với tiết học

Để thấy rõ những điều chúng tôi điều tra và phân tích ở trên là xác thực

và để kiểm nghiệm lại hiệu quả của việc vận dụng PP GQVĐ, chúng tôi tiến hành thiết kế các bài Đạo đức theo phương pháp này Ở chương I chúng tôi

đã đi sâu phân tích cơ sở lí luận và thực tiễn và toàn bộ chương II chúng tôi tiến hành thiết kế các bài Đạo đức theo PPGQVĐ với mong muốn sẽ nâng cao hiệu quả dạy học môn Đạo đức ở lớp 4, 5 bậc Tiểu học

Trang 27

CHƯƠNG II THIẾT KẾ CÁC BÀI ĐẠO ĐỨC LỚP 4- 5 THEO

PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

I- CƠ SỞ ĐỂ THIẾT KẾ CÁC BÀI ĐẠO ĐỨC THEO PHƯƠNG PHÁP GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ

1 Đặc điểm môn Đạo đức ở tiểu học

Môn đạo đức ở tiểu học là môn học rất quan trọng, góp phần hoàn thiện nhân cách của ngưòi học sinh Nhận thức đúng tầm quan trọng của môn học mới mong dạy tốt môn học này trong hệ thống 9 môn ở trường Tiểu học Cùng với chức năng quan trọng của nó, môn Đạo đức ở Tiểu học có đặc điểm

1.1 Môn Đạo đức ở tiểu học đưa ra các chuẩn mực đạo đức dưới dạng những mẫu hành vi cụ thể

- Trường Tiểu học phải chuẩn bị cho học sinh những cơ sở ban đầu, cần thiết cho sự hình thành nhân cách người công dân, xứng đáng là người chủ tương lai của dân tộc, của đất nước, biết sống, học tập và lao động trong

xã hội đang đổi mới với muôn vàn mối quan hệ đa dạng Vì vậy, một trong những vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt là làm cho học sinh tiểu học dần dần hình thành một cách tự giác những hành vi ứng xử theo những chuẩn mực xã hội nhất định ; đồng thời , đề phòng và khắc phục những sai lệch so với những chuẩn mực đã được quy định

Các chuẩn mực xã hội bao gồm nhiều hệ thống khác nhau, liên quan mật thiết với nhau Ngoài những hệ thống chuẩn mực như chuẩn mực pháp luật, chuẩn mực phong tục truyền thống, chuẩn mực thẩm mỹ, chuẩn mực tôn giáo , chúng ta không thể không nói đến chuẩn mực đạo đức

- Từ hệ thống các chuẩn mực đạo đức xã hội, chúng ta đã lựa chọn những chuẩn mực cần thiết để giáo dục cho học sinh tiểu học trên cơ sở tính

Trang 28

đến mục tiêu giáo dục tiểu học, tới các đặc điểm tâm - sinh lý của các em cũng như tới hoàn cảnh thực tế của đất nước

Ở đây, có điều đáng chú ý là học sinh tiểu học, do trình độ nhận thức còn thấp, tư duy cụ thể còn chiếm vai trò rất quan trọng, có tính hay bắt chước, nhất là học sinh lớp 1 – 3 Ngoài ra, kinh nghiệm sống của học sinh tiểu học còn nghèo nàn Vì vậy, các chuẩn mực đạo đức được đưa ra dưới dạng các mẫu hành vi cụ thể (như “đi xin phép về chào hỏi” , “giữ yên lặng khi ông bà, cha mẹ nghỉ ngơi”, “học điều tốt ở bạn ”, )

Thế nhưng đến lớp 4,5 , nhận thức của các em bước đầu mang tính chất khái quát Kinh nghiệm sống của các em phong phú hơn Tuy nhiên, nhận thức của các em chưa thoát li những đối tượng và những tình huống cụ thể nên chương trình và sách Đạo đức vẫn đưa ra các chuẩn mực đạo đức dưới dạng các mẫu hành vi, nhưng đã chứa đựng nội dung tương đối khái quát cho nhiều tình huống (“Tích cực tham gia công việc chung” “Giúp đỡ hàng xóm láng giềng”, “Kính mến và biết ơn thầy giáo, cô giáo cũ” ) Như vậy, trên thực tế, chúng ta đã cung cấp cho học sinh Tiểu học những tri thức khoa học về các chuẩn mực đạo đức qua các chuẩn mực hành

vi Những chuẩn mực hành vi này giúp cho các em có cách ứng xử đúng đắn trong mối quan hệ đa dạng phù hợp với những yêu cầu đạo đức mà xã hội quy định Mỗi bài Đạo đức biểu dương một thái độ, một cách cư xử, một việc làm hợp đạo đức và cũng đôi khi phê phán một thái độ , một cách cư

xử, một việc làm trái đạo đức nhằm hình thành nên một ý thức đạo đức nhất định cho học sinh Thông qua các bài Đạo đức ấy, các em sẽ hiều vì sao phải có thái độ và hành động như thế này mà lại không nên có thái độ và hành động như thế kia Đó chính là cơ sở của những tri thức đạo đức Và những tri thức đạo đức này được thể hiện trong mối quan hệ thống nhất: nhà trường, gia đình, xã hội

Trang 29

1.2 Các chuẩn mực hành vi đạo đức được quy định trong chương trình Đạo đức ở Tiểu học có tính đồng tâm

Tính đồng tâm được thể hiện ở chỗ một chuẩn mực hành vi đạo đức được lặp đi lặp lại nhiều lần từ lớp dưới lên lớp trên, song càng lên lớp trên thì yêu cầu của các chuẩn mực được nâng cao hơn, tổng hợp hơn, khái quát hơn Vì vậy, ở các lớp trên, khi dạy một loại chuẩn mực hành vi đạo đức nào

đó có tính đồng tâm thì cần vận dụng những điều có liên quan mà học sinh

đã tiếp thu ở các lớp dưới Các chuẩn mực đạo đức được xây dựng theo hướng đồng tâm giúp cho học sinh củng cố , mở rộng và hoàn thiện kiến thức Cũng là “giữ lời hứa” nhưng ở những mức độ khác nhau theo từng khối lớp phù hợp với nhận thức của học sinh Các chuẩn mực đạo đức xây dựng theo hướng này phù hợp với đặc điểm tâm- sinh lý của học sinh, đi từ đơn giản, cụ thể đến phức tạp, khái quát hơn

1.3 Mẫu hành vi đạo đức trong môn Đạo đức ở tiểu học thường được giới thiệu một cách sinh động qua truyện

kể đạo đức

Truyện kể đạo đức là phương tiện có hiệu quả để chuyển tải tri thức đạo đức đến cho học sinh một cách nhẹ nhàng sinh động Mỗi truyện kể đạo đức đề cập đến một mẫu hành vi Trong xu thế mới, truyện kể đạo đức được minh họa bằng tranh, tác động rất lớn đến nhận thức của học sinh Điều này chứng tỏ truyện kể đạo đức là một hình thức giúp học sinh lĩnh hội tri thức rất tốt Bên cạnh đó, giọng điệu kể của giáo viên dễ gây những xúc cảm đạo đức mạnh mẽ ở học sinh, giúp cho học sinh hình thành những biểu tượng đạo đức đúng đắn

1.4 Mỗi bài Đạo đức ở Tiểu học được thực hiện trong hai tiết: tiết kể chuyện và tiết thực hành

Sự phân định này có mục đích của nó, chúng hỗ trợ, tác động lẫn nhau, giúp học sinh hình dung dần vấn đề cần lĩnh hội

Trang 30

Nhiệm vụ của tiết kể chuyện là cung cấp cho học sinh những tri thức về chuẩn mực đạo đức, cụ thể là giúp học sinh nắm được các hành vi đạo đức được học là gì ? Ý nghĩa của hành vi đạo đức ? Cần phải làm gì để thực hiện chuẩn mực hành vi đạo đức đó? Tiết kể chuyện còn giúp học sinh rèn luyện năng lực, sử dụng ngôn từ, cách diễn đạt và đặc biệt thể hiện cái “tôi” thông qua nhập vai trong các truyện kể

Tiết thực hành giúp học sinh luyện tập, củng cố những tri thức đã học ở tiết 1và chuyển tri thức đó thành thói quen đạo đức Tiết thực hành còn giúp học sinh rèn luyện năng lực phản ứng nhanh trước các tình huống đạo đức, hình thành khả năng lập luận lôgic cho các em Tiết thực hành là hệ quả của tiết kể chuyện đồng thời chúng có tác động ngược lại

2 Đặc điểm nhận thức của học sinh tiểu học (HSTH) các lớp 4,5

Nghiên cứu đặc điểm nhận thức của học sinh Tiểu học các lớp 4, 5 là

cả một quá trình lâu dài Nhưng với chúng tôi, chúng tôi không đặt ra cho mình nhiệm vụ sẽ đi sâu nghiên cứu đặc điểm tâm – sinh lý của học sinh lớp

4, 5.Chúng tôi chỉ nghiên cứu một mặt nào đó liên quan đến đề tài của chúng tôi

- Về mặt giải phẩu sinh lý

Khi nghiên cứu mặt giải phẫu sinh lý học sinh 4,5, chúng tôi nhận thấy

có sự thay đổi khá nhanh về mặt này Các nhà khoa học cũng đã xác định rằng trọng lượng não có sự thay đổi Trẻ 7 tuổi trọng lượng não bằng 1.250g, trẻ 9 tuổi 1.300g, người lớn 1.360g Như vậy, trọng lượng não của trẻ ở lứa tuổi tiểu học đạt gần 90 % trọng lượng não của người lớn Bộ não của trẻ đã phát triển Chính vì thế, các em có thể tích cực tìm tòi, khám phá, chiếm lĩnh tri thức đạo đức mới

- Về mặt nhận thức :

Trang 31

Nhận thức của HSTH còn mang tính chất cảm tính và phân định rõ ở 2 giai đoạn : giai đoạn một (lớp 1,2,3), giai đoạn hai (4,5 ).Chúng tôi sẽ đi vào nghiên cứu nhận thức của học sinh tiểu học ở giai đoạn 2

Tri giác : HSTH tri giác mang tính chất đại thể, ít đi vào chi tiết và mang tính chất không chủ động Ở giai đoạn cuối bậc Tiểu học, học sinh đã biết tìm ra dấu hiệu đặc trưng cho sự vật, phân định màu sắc và biết phân tích, suy luận, đi sâu vào bản chất của sự vật Nhìn chung ở giai đoạn 2 cần chú ý vận dụng “trăm nghe không bằng một thấy, trăm thấy không bằng một làm” trong dạy học Đạo đức ở Tiểu học một cách hiệu quả

Chú ý : “Sự chú ý của học sinh đối với việc thực hiện hành động bên ngoài thường bền vững hơn sự chú ý đối với việc thực hiện các hành động trí tuệ” Càng cuối tiết học, khả năng chú ý càng giảm và nhất là đối với môn học từ trước đến nay vẫn xem là phụ như môn Đạo đức Chính vì vậy khi sử dụng PPGQVĐ trong dạy học Đạo đức, giáo viên cần có cách thức chuyển tải phù hợp Cần thay đổi hình thức dạy học để thu hút sự chú ý của học sinh

Trí nhớ: HSTH nhìn chung có trí nhớ tốt Học sinh Tiểu học ở giai đoạn 2 đã có khả năng nhớ nhanh, nhớ lâu Mức độ nhớ của học sinh phát triển từ thấp đến cao, từ không chủ định đến có chủ định Chính vì điều này

mà tiết 2 của giờ học Đạo đức có vai trò rất quan trọng, giúp học sinh củng

cố, vận dụng kiến thức đã học ở tiết 1 vào xử lí, ứng xử tình huống đạo đức

cụ thể Qua thực hành để rèn luyện khả năng ghi nhớ của học sinh Những bài học rút ra qua mỗi tình huống đạo đức được giáo viên dẫn dắt, gợi mở bằng hệ thống câu hỏi, qua việc học sinh xử lí tình huống cụ thể

Tưởng tượng: Ở giai đoạn 2, HSTH đã biết phân tích, đi sâu vào bản chất của sự vật Các em có thể nhào nặn, gọt dũa những hình tượng cũ để sáng tạo ra những hình tượng mới Điều này chứng tỏ tưởng tượng ở học sinh lớp 4,5 phát triển hơn Chính vì vậy mà các chuẩn mực đạo đức được

Trang 32

xây dựng theo hướng đồng tâm, mức độ nâng dần từ cụ thể đến khái quát Học sinh thoát li khỏi những ấn tượng trực tiếp, Tính hiện thực của tưởng tượng đã gắn liền với sự phát triển của tư duy và ngôn ngữ Các em đã tạo được những biểu tượng tưởng tượng dựa trên khả năng so sánh, phân tích tổng hợp

Tư duy : tư duy của HSTH còn mang nặng tính chất trực quan chưa phải tư duy lôgic – từ Ở cuối bậc Tiểu học chỉ mới bước đầu hình thành tư duy lôgíc Việc vận dụng PPGQVĐ cụ thể là tổ chức cho học sinh xử lí các tình huống đạo đức giúp học sinh phát triển năng lực lập luận lôgic Tuy nhiên , ở giai đoạn này các em có khả năng phân biệt những dấu hiệu, những khía cạnh khác nhau của đối tượng dưới dạng ngôn ngữ Đó là những cơ sở giúp học sinh nắm được các khái niệm khoa học, hình thành được những khái quát sơ đẳng, đầu tiên về các chuẩn mực đạo đức Quá trình học tập sẽ làm cho tư duy của học sinh thay đổi Việc vận dụng PPGQVĐ trong dạy học Đạo đức giúp học sinh phát huy tính tích cực trong nhận thức, hành động, rèn luyện khả năng tư duy lôgíc Chúng tôi không đi sâu vào bản chất của vấn đề, chỉ đề cập đến hiệu quả của PPGQVĐ trong việc phát triển tư duy cho học sinh

Tình cảm là yếu tố nối liền nhận thức với ý chí của HSTH Đối tượng gây xúc cảm cho trẻ là những sự vật, hiện tượng có hình ảnh cụ thể, sinh động Sự thích thú, buồn bực, lo âu, sợ hãi của trẻ thường xảy ra khi các em trực tiếp tri giác các sự vật hiện tượng cụ thể

Vì thế, trong dạy học cũng như giáo dục cần tránh những lời thuyết lí chung chung, trừu tượng, những bài giảng khô khan, dài dòng chẳng những không gây cho trẻ những xúc cảm tích cực mà còn làm cho các em mệt mỏi, chán nản Các em suy nghĩ bằng “hình thù, màu sắc, âm thanh và xúc cảm” (Usinxki ) Tình cảm đạo đức phát triển thể hiện trong cách ứng xử với cha,

Trang 33

mẹ, ông , bà, thầy, cô giáo và bạn bè trong những tình huống cụ thể Chính điều này là cơ sở để giáo dục hành vi đạo đức cho HSTH

Tóm lại, đặc điểm nổi bật của học sinh lớp 4, 5 bậc Tiểu học nói riêng, HSTH nói chung là dễ ấn tượng, dễ xúc cảm, hay hướng tới những hoạt động cụ thể, không chú ý được lâu, dễ nghe theo những lời hướng dẫn của thầy, cô giáo, hay bắt chước bạn bè và người lớn, Do đó việc chú ý đến những đặc điểm nói trên trong nhận thức của học sinh lớp 4, 5 là một trong những nhân tố đảm bảo cho những thành công của nhà giáo dục trong việc

sử dụng PPGQVĐ Hiệu quả của công việc sử dụng phương pháp này trong dạy học đạo đức có sự đóng góp rất lớn của việc hiểu đúng đặc điểm tâm - sinh lí của học sinh

II – HỆ THỐNG CÁC BÀI ĐẠO ĐỨC THIẾT KẾ THEO PPGQVĐ

Chúng tôi tiến hành thiết kế 6 bài Đạo đức và phân đều ở hai khối lớp Sau đây là hệ thống các bài thiết kế :

Trang 34

II- TÀI LIỆU- PHƯƠNG TIỆN

- Sách giáo khoa Đạo đức 4

- Tranh minh hoạ truyện “một phút”

- Một số tấm gương, truyện kể về chủ đề “tiết kiệm thời giờ”

- Phiếu bài tập

- Trò chơi : “Ai nhanh hơn và khéo hơn ”

III- CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY CHỦ YẾU

Tiết 1 Hoạt động 1 : Quan sát tranh và thảo luận

1 Học sinh quan sát

2 Giáo viên nêu tình huống

Hùng đang ngồi học bài chuẩn bị cho bài kiểm tra Toán ngày mai Hải đến rủ Hùng đi xem đá bóng nhưng Hùng từ chối : Hải năn nỉ Hùng tối về hãy học Hùng đang lưỡng lự

- Theo em , Hùng sẽ xử sự như thế nào trong tình huống trên ?

3 Học sinh liệt kê các giải pháp, giáo viên chốt các giải pháp chính

- Không đi xem đá bóng, ở nhà học bài

- Đi xem đá bóng, tối về học

- Bảo bạn chờ làm xong bài tập sẽ cùng đi xem đá bóng

4 Giáo viên tổ chức cho học sinh giải quyết vấn đề (thảo luận nhóm)

* Giáo viên hỏi :

- Nếu em là Hùng trong tình huống, em sẽ xử sự như thế nào ?(chọn cách giải quyết 1? 2? 3?)

* Đại diện từng nhóm trình bày cách giải quyết Phân tích mặt tích cực,tiêu cực trong từng cách giải quyết và nêu rõ lí do tại sao chọn cách giải quyết đó

Trang 35

5 Giáo viên kết luận

- Thời giờ rất cần cho mọi người để làm việc có ích

- Thời giờ sẽ qua nhanh nếu mọi người không biết tiết kiệm và làm những việc vô ích

- Cần phải giải thích rõ tác dụng của việc tiết kiệm thời giờ để người khác hiểu và biết quý trọng thời giờ

HS xem phần ghi nhớ trong SGK

Hoạt động 2: Kể chuyện “một phút ”

1.Giáo viên kể chuyện (có tranh minh hoạ )

2 Thảo luận lớp (câu hỏi dựa vào truyện kể )

3 Giáo viên kết luận

IV- HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH

1.Trả lời câu hỏi :

- Thế nào là tiết kiệm thời giờ?

- Điều gì sẽ xảy ra nếu em không biết tiết kiệm thời giờ?

2.Thực hiện tiết kiệm thời giờ trong học tập và trong công việc

3.Sưu tầm các câu ca dao, tục ngữ, câu chuyện, về chủ đề “tiết kiệm thời giờ”

Tiết 2 I- KIỂM TRA BÀI CŨ

II- LUYỆN TẬP

Hoạt động 1 Xử lý tình huống (Phiếu bài tập )

1.Giáo viên nêu tình huống (đọc phần bài tập)

- Hoàng học buổi chiều nên sáng nào cũng dậy muộn Hoàng làm vệ sinh cá nhân sau đó ngồi vào học Hoàng vừa học vừa chơi cho đến giờ ăn trưa và chuẩn bị đi học buổi chiều

* Nếu em là Hoàng, em sắp xếp thời giờ như thế nào cho hợp lý?

Trang 36

- Trong buổi lao động, cô giáo phân công cho tổ 1 quét dọn 1 nửa sân trường, tổ 2 quét một nửa Tổ 1 phân công rõ ràng công việc và bắt tay vào làm ngay nên xong trước.Tổ 2 phân công không rõ ràng, vừa làm vừa chơi nên công việc hoàn thành chậm hơn

* Em có nhận xét gì về 2 tổ trên ? Nếu em là tổ trưởng tổ 1 em sẽ nói

gì với các bạn tổ 2 ?

2 Học sinh trao đổi, thảo luận, đưa ra cách giải quyết

3 Giáo viên tổ chức cho HS cả lớp giải quyết vấn đề

- Đại diện từng nhóm trình bày ý kiến

- Tổ chức cho HS trao đổi chéo giữa các nhóm

Hoạt động 2 : Thảo luận lớp

1 Giáo viên nêu tình huống (cho học sinh tự xây dựng tình huống) 2.Học sinh thảo luận, đưa ra các cách giải quyết

3.Giáo viên kết luận – Chốt ý :

Hoạt động 3: Trò chơi “Ai nhanh và khéo hơn”

Trang 37

- Giáo dục học sinh lòng kính trọng, biết ơn, yêu quý ông bà, cha mẹ

- Luôn ủng hộ, tán thành những người biết yêu quý, chăm sóc ông bà, cha mẹ Nghiêm khắc phê bình những người không biết yêu quý, chăm sóc ông bà, cha mẹ

II- TÀI LIỆU – PHƯƠNG TIỆN

- Sách giáo khoa Đạo đức 4

- Tranh minh hoạ truyện “Quạt nồng ấp lạnh ”

- Thơ, truyện về chủ đề “Chăm sóc ông bà, cha mẹ ”

- Đồ dùng đóng tiểu phẩm “Bà em”

- Chuẩn bị một số tình huống

III- CÁC HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC CHỦ YẾU

Tiết 1 Hoạt động 1: Xử lý tình huống

1 Học sinh đóng tiểu phẩm “Bà em ”

2- Giáo viên nêu tình huống

- An ở nhà chăm sóc bà đang ốm Một buổi chiều Quang sang rủ An đi xem xiếc An từ chối nhưng Quang bảo chỉ xem 1 lát rồi về An chần chừ vừa muốn đi, vừa muốn không đi

- Nếu là An, em sẽ làm gì?

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Nguyễn Hữu Dũng: Bàn về đổi mới phương pháp dạy học ở bậc tiểu học. NCGD, 12/1998 Khác
[2] Nguyễn Nghĩa Đàn : Đổi mới PPDH môn Đạo đức và GDCD . NXB Giáo dục, 1998 Khác
[3] Giáo trình tâmlý học tiểu học (dành cho ngành cử nhân GDTH hệ đào tạo tại chức và từ xa). NXB Giáo dục, 1997 Khác
[4] SGK và SGV môn đạo đức ở lớp 4,5. NXB Giáo dục, 1999 – 2000- Nhiều tác giả Khác
[5] Sách giáo khoa – Tài liệu thử nghiệm (lớp 1, 2 ). NXB Giáo dục, 2000 – Nhiều tác giả Khác
[6] PGS- PTS Đỗ Đình Hoan : Chương trình tiểu học năm 2000. NCGD , 12/1998 Khác
[7] Đặng Vũ Hoạt – Nguyễn Hữu Dũng – Lưu Thu Thuỷ: Phương pháp dạy học đạo đức (Giáo trình đào tạo giáo viên tiểu học hệ CĐSP và SP 12+2 ). NXB Giáo dục, 1998 Khác
[8] PGS- PTS Bùi Văn Huệ : Tâm lý học tiểu học – trường ĐHSP Hà Nội 1 - Hà nội, 1994 Khác
[9] PTS Phạm Minh Hùng : Một số hình thức luyện tập thói quen hành vi đạo đức cho học sinh tiểu học. NCGD, I /1999 Khác
[10] Phạm Minh Hùng – Chu Thị Lục : Phương pháp dạy học môn Đạo đức ở tiểu học (tài liệu lưu hành nội bộ ) Khác
[11] TS Phạm Minh Hùng – Thái Văn Thành : Giáo dục học tiểu học (tài liệu dùng cho sinh viên chuyên ngành GDTH) – Trường Đại học Sư phạm Vinh – Khoa GDTH – Vinh, 2000 Khác
[12] Hướng dẫn giảng dạy đạo đức cấp I – NXB Giáo dục, 1979 Khác
[13] I.Ia.lence :Dạy học nêu vấn đề. NXB Giáo dục, 1977 Khác
[14] I.F. Kharlabmop : Phát huy tính tích cực học tập của học sinh như thế nào (tập 1,2 ). H. Giáo dục, 1979 Khác
[15] Trần Mậu Kiên : Đạo đức học. NXB Giáo dục, 1997 Khác
[16] Nguyễn Kỳ : Thử dạy bài Đạo đức theo phương pháp tích cực. NCGD , 2/1994 Khác
[17] Lê Nguyễn Long : Thử đi tìm những phương pháp dạy học hiệu quả. NXB Giáo dục, 2000 Khác
[18] N.V.Savin: Giáo dục học (tập 2). NXB Giáo dục, 1983 Khác
[20] GS Vũ Văn Tảo – GS Trần Văn Hà : Dạy – học giải quyết vấn đề – một hướng đổi mới trong công tác giáp dục, đào tạo, huấn luyện. Trường Cán Bộ quản lý Giáo dục và đào tạo – Hà Nội, 1996 Khác
[21] PGS – PTS Hà Nhật Thăng : Một số phương pháp chủ yếu: Đổi mới dạy học môn Đạo đức và GD ĐĐ ở tiểu học. NCGD, quý I /1999 Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w