Những tác phẩm có giá trị nhất về nội dung t- t-ởng cũng nh- về nghệ thuật ngôn từ đều là tác phẩm bằng chữ Nôm tiếng Việt - đó là thơ của Hồ Xuân Hương, người được mệnh danh là ‚Bà chúa
Trang 1Lời Nói Đầu
Nền văn học viết trung đại Việt Nam, bao gồm văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Tuy ra đời muộn hơn văn học chữ Hán gần bốn thế kỷ nh-ng văn học chữ Nôm làm nên cốt lõi tinh hoa của văn học dân tộc thời trung đại
Văn học chữ Nôm ra đời, tồn tại và phát triển chứng tỏ đ-ợc sức sống tiềm tàng của ngôn ngữ văn học dân tộc
Nguyễn Trãi là ng-ời mở đầu gian khổ xuất sắc, là ng-ời xây dựng lên
đ-ợc niềm tin vào khả năng lớn lao của tiếng Việt văn học Nguyễn Khuyến mang đến cho lịch sử văn học dân tộc một giọng nói riêng, một thứ ngôn ngữ không lặp lại và là ng-ời có vai trò khép lại nền văn học bằng chữ Nôm
H-ớng so sánh vốn từ đ-ợc dùng trong thơ Nôm của hai nhà thơ lớn dân tộc có thể góp phần tích cực cho việc tìm hiểu tiến trình phát triển của tiếng Việt văn học từ chặng đầu sang chặng cuối của dòng thơ Nôm Đ-ờng luật trung đại
Trong quá trình thực hiện đề tài, nhận đ-ợc sự giúp đỡ th-ờng xuyên của quý thầy cô, đáng kể nhất là sự chỉ bảo tận tình của thầy h-ớng dẫn, TS Trần Văn Minh, và sự cổ vũ của bạn bè, ng-ời thân
Chúng tôi nhận thức sâu sắc rằng: mục đích tốt ch-a đủ điều kiện để đạt tới hiệu quả tốt, nhiệt tình ch-a đủ dẫn đến thành công Còn một điều kiện tiên quyết là năng lực của chính bản thân Luận văn chắc không tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót Rất mong sự chỉ giáo của thầy cô và bạn bè đồng nghiệp
Xin ghi đây lời cảm tạ sâu sắc
Vinh, tháng 11 năm 2002
Lê Thị Lài
Trang 2I Khái quát về thơ Nôm trong văn học Việt Nam trung đại
1 Khái niệm thơ Nôm và vai trò của thơ Nôm trong văn học Việt Nam
2 Những thay đổi về đề tài, chủ đề nổi bật trong thơ Nôm
II Thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến
1 Vị thế của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến trong văn học trung đại Việt Nam
2 Giới thiệu ‚Quốc âm thi tập‛ của Nguyễn Trãi
3 Giới thiệu ‚thơ Nôm Nguyễn Khuyến‛
III Thành phần từ vựng trong văn học Việt Nam
Trang 3KÕt luËn
Tµi liÖu tham kh¶o
Trang 4Mở Đầu
I Lý do chọn đề tài
1 Trong nền văn học Việt Nam thời trung đại, bộ phận văn học bằng chữ Nôm làm nên cốt lõi tinh hoa của dân tộc Nhiều tác giả và tác phẩm văn thơ Nôm kế tiếp nhau trong năm thế kỉ (thế kỉ XV- thế kỷ XIX) Vào thế kỷ thứ XIII đã có Nguyễn Thuyên, Nguyễn Sĩ Cố làm thơ phú bằng chữ Nôm, mặc dù cho đến nay những ng-ời nghiên cứu ch-a có trong tay một văn bản thơ Nôm
Đ-ờng luật còn l-u lại của thế kỷ XIII Đến đời Lê, Nguyễn Trãi là một ngôi sao sáng vận dụng chữ Nôm vào sáng tác văn học và Quốc âm thi tập là sáng tác chữ Nôm Đ-ờng luật đầu tiên hiện còn l-u lại bằng văn bản chữ viết Sau Nguyễn Trãi là Lê Thánh Tông (vừa là quốc vương vừa là thi sĩ) với tập ‚Hồng
Đức quốc âm thi tập‛ và là bước phát triển tiếp theo của thơ Nôm Đường luật Tiếp đến là ‚Bạch Vân quốc ngữ thi tập‛ của Nguyễn Bỉnh Khiêm Đến nửa cuối thế kỷ XVIII- nửa đầu thế kỷ XIX, nền văn học thành văn của dân tộc ta
đã đạt đến đỉnh cao rực rỡ Tác phẩm viết bằng chữ Nôm đã hoàn toàn chiếm lĩnh -u thế trên văn đàn Những tác phẩm có giá trị nhất về nội dung t- t-ởng cũng nh- về nghệ thuật ngôn từ đều là tác phẩm bằng chữ Nôm (tiếng Việt) -
đó là thơ của Hồ Xuân Hương, người được mệnh danh là ‚Bà chúa thơ Nôm‛ (Xuân Diệu), thơ bà Huyện Thanh Quan, Truyện Kiều (Nguyễn Du), thơ Cao Bá Quát, Tú Xương, Nguyễn Khuyến… Điều đó đã chứng tỏ sức sống, sự phát triển ngôn ngữ dân tộc Việt trong vai trò là ph-ơng diện thứ nhất của tác phẩm văn ch-ơng
Thơ Nôm Đ-ờng luật là một trong những thành tựu lớn vào bậc nhất của nền văn học Việt Nam Vì thế, việc tìm hiểu vốn từ đ-ợc dùng trong tác phẩm Quốc âm của các tác giả thời kì văn học này có ý nghĩa đối với công việc nghiên cứu sự phát triển của vốn từ dân tộc trong tiến trình văn học Nôm nói chung, đối với việc nghiên cứu phong cách ngôn ngữ tác giả nói riêng
2 Trong số các tác giả có những tập thơ Quốc âm sáng giá thời kì văn học Việt Nam trung đại, Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến là hai nhà thơ ghi
đậm dấu ấn không chỉ về nội dung mà còn về phong cách ngôn ngữ
Từ tác phẩm mở đầu hiệu còn là ‚Quốc âm thi tập‛ – mà có nhà nghiên cứu đã nhận định đó là ‚đường gươm thử thách, đường gươm bậc thầy‛ của Nguyễn Trãi Ông là một ngôi sao sáng, vận dụng chữ nôm vào sáng tác văn học, Quốc âm thi tập của ông gồm 254 bài thơ là một trong những tập thơ Nôm x-a nhất có giá trị đ-ợc truyền cho đến ngày nay Có thể xem Nguyễn Trãi
Trang 5ng-ời mở đầu cho nền văn học Nôm Nguyễn Khuyến với tập thơ Nôm của mình (gần 90 bài) là nhà thơ có phong cách lớn, có vị trí đặc biệt trong lịch sử văn học dân tộc và đ-ợc xem là nhà thơ khép lại nền văn học bằng chữ Nôm
H-ớng khảo sát so sánh vốn từ đ-ợc dùng trong thơ Nôm của hai tác giả,
có thể góp phần tích cực cho việc tìm hiểu phong cách ngôn ngữ và sự diễn biến các thành phần tự vựng trong thơ Nôm Việt Nam từ chặng đầu sang chặng cuối của thể loại này
3 Trong ch-ơng trình môn văn ở nhà tr-ờng Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến là những tác giả lớn, có nhiều bài thơ đ-ợc trích giảng Việc nghiên cứu cơ cấu vốn từ và việc sử dụng nghệ thuật ngôn từ trong thơ Nôm của hai nhà thơ lớn này là một đóng góp hữu ích cho việc dạy và học tốt văn học trung
đại nói chung và các bài thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến nói riêng
II Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát, tìm hiểu quá trình biến đổi thành phần vốn từ đ-ợc dùng trong thơ Nôm của hai nhà thơ lớn dân tộc – Nguyễn Trãi – Nguyễn Khuyến, luận văn nhằm mục đích chứng minh vai trò của từ ngữ tiếng Việt trong nền văn học bằng chữ Nôm thời kỳ trung đại và xu h-ớng phát triển của chúng trong lộ trình văn học dân tộc
2 Các nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể
a Hệ thống hoá những nhận thức về vị trí và đóng góp của Nguyễn Trãi
và Nguyễn Khuyến đối với nền thơ Nôm Việt Nam thời trung đại
b Khảo sát vốn từ được dùng trong tập thơ ‚Quốc âm, thi tập‛ (Nguyễn Thạch Giang – khảo đính và giới thiệu - nhà xuất bản Thuận Hoá 2000) và phần thơ Nôm trong tập (Nguyễn Khuyến tác phẩm, nhà xuất bản khoa học xã hội – Hà Nội 1984) từ góc nhìn thành phần từ vựng (lớp từ thuần việt, lớp từ Hán Việt, lớp từ văn học dân gian v.v…)
c So sánh đối chiếu các thành phần từ vựng trong thơ Nôm của hai nhà thơ trên để thấy sự thay đôỉ trong phong cách ngôn ngữ và sự biến đổi tỉ lệ các thành phần ngôn ngữ giữa chặng đầu và chặng cuối của thể loại này trong văn học Việt Nam
d Qua việc nghiên cứu rút ra những kết luận về sự biến đổi của vốn từ tiếng Việt trong quá trình phát triển để làm ph-ơng tiện sáng tác văn ch-ơng
III Lịch sử vấn đề
1 Trong nền văn học Việt Nam trung đại, dòng văn học viết của dân tộc bao gồm văn học chữ Hán và văn học chữ Nôm Tuy văn học chữ Nôm ra đời muộn hơn gần 4 thế kỷ, nh-ng văn học Nôm là dòng văn học đ-ợc sáng tác
Trang 6bằng chữ viết riêng của mình (chữ Nôm) Sự ra đời, tồn tại và phát triển tiếng Việt đã chứng tỏ đ-ợc sức sống tiềm tàng của ngôn ngữ văn học dân tộc và có thể khẳng định rằng chữ Nôm có tác dụng rất lớn đối với sự phát triển của tiếng Việt
Hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu văn học bằng chữ Nôm thời kỳ trung đại và đã rút ra đ-ợc những kết luận quan trọng về vị trí của văn học bằng chữ Nôm trong lịch sử văn học dân tộc
Giáo trình ‚Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu thế kỷ XVIII‛ (Định Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Ch-ơng – NXBGD 1997) đề cập đến nhiều vấn đề của quá trình văn học gần 8 thế kỷ về ph-ơng diện thời đại, cũng nh- các tác giả, tác phẩm văn học và nghiên cứu khá kỹ về văn học bằng chữ Nôm (nh- văn thơ Nôm đời Trần- Thiện Nam ngữ lục) ở công trình nghiên cứu
về thơ văn Nôm đời Trần, tác giả khẳng định ‚Văn học Nôm đời Trần đã hình thành như một bộ phận không thể coi nhẹ trong dòng văn học viết‛… ‚Những tài liệu đáng tin cậy cho phép khẳng định rằng việc sáng tác thơ văn Nôm đời Trần không phải là việc làm lẻ tẻ của một vài cá nhân‛ (1) ‚ … đã có lúc việc sáng tác thơ Nôm trở thành phong trào trí thức dân tộc Các tác giả đời Trần đã
đặt cơ sở vững chắc cho việc sáng tác bằng ngôn ngữ dân tộc‛ ‚ Nếu không công nhận sự thực ấy thì khó mà giải thích tại sao Nguyễn Trãi, một tác giả sinh vào cuối đời Trần và sáng tác vào đầu đời Lê, lại có thể làm thơ Nôm với
số lượng nhiều như thế và chất lượng cao như thế‛ 2
Trong cuốn ‚Văn học Việt Nam nửa cuối thế kỷ XVIII đến hết thế kỷ XIX‛ (NXBGD –2000) Tác giả Nguyễn Lộc cho rằng khi nhắc đến văn học thời kỳ này là nhắc đến văn học bằng chữ Nôm, và trong dòng văn học bằng chữ Nôm thì thơ Nôm Đ-ờng luật là phát triển hơn cả Các nhà thơ Hồ Xuân Hương, Bà huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, các tác giả ‚…đưa
đ-ợc vào thể thơ vốn đài các, trang trọng một nội dung thông tục, hàng ngày và cũng diễn đạt cái nội dung ấy bằng thứ ngôn ngữ thông tục, hàng ngày‛ Hơn nữa tác giả còn đi sâu vào tìm hiểu các phong cách ngôn ngữ của từng tác giả một cách khá cụ thể Với hai cuốn giáo trình này, các tác giả đã đề cập đến sự
ra đời và phát triển văn học bằng chữ Nôm thời kỳ trung đại ở các giai đoạn khác nhau và thấy đ-ợc sự thay đổi về thể tài cũng nh- đề tài của các tác phẩm
Tác giả Lã Nhâm Thìn đã xác định vị trí quan trọng của thơ Nôm Đ-ờng luật trong lịch sử văn học dân tộc Ông cho rằng những công trình nghiên cứu
(1) : Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Ch-ơng: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu XVIII- NXBGD, 1997
2 : Đinh Gia Khánh, Bùi Duy Tân, Mai Cao Ch-ơng: Văn học Việt Nam từ thế kỷ X đến nửa đầu XVIII- NXBGD, 1997
Trang 7tr-ớc đây nhìn chung hầu nh- đều xuất phát từ góc độ phạm vi tác giả, tác phẩm trong công trình của mình, thơ Nôm Đ-ờng luật đ-ợc nghiên cứu từ ph-ơng diện lịch sử phát triển đến cấu trúc thể loại Tác giả đã chỉ ra các giai
đoạn phát triển của thơ Nôm Đường luật: ‚Giai đoạn hình thành, giai đoạn phát triển, giai đoạn cuối‛ Tác giả đã khẳng định: ‚Sự tồn tại không thể thay thế của thể loại này trong lịch sử văn học Việt Nam‛ ‚Về cơ bản quá trình này đã
đ-ợc hoàn thành từ giai đoạn Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân H-ơng và còn tiếp tục với thành tựu của Nguyễn Khuyến, Tú X-ơng tạo nên năm thế kỷ phát triển rực
rỡ với diện mạo ‚Không có tuổi già‛ của thơ Nôm Đường luật‛ (1)
Với các công trình nghiên cứu trên, các tác giả đã cung cấp cho chúng ta một bức tranh tổng thể về văn học bằng chữ Nôm, nhất là thơ Nôm
2 Việc nghiên cứu cụ thể tác phẩm của các tác giả thơ Nôm thời kỳ trung đại rất phong phú, nh- thơ của Nguyễn Trãi, Hồ Xuân H-ơng, Nguyễn
Du, Nguyễn Khuyến, Tú Xương… đã đạt được những thành tựu rất lớn Nhưng riêng về thơ Nôm của Nguyễn Trãi-ng-ời đ-ợc xem là mở đầu sáng tác thơ Nôm Đ-ờng luật, và Nguyễn Khuyến – ng-ời đ-ợc coi là khép lại 5 thế kỷ văn học bằng chữ Nôm thì các nhà nghiên cứu hầu nh- chỉ mới dừng lại ở góc độ lý luận văn học, còn việc tìm hiểu sự đóng góp của hai nhà thơ về ph-ơng diện ngôn ngữ thì ch-a nhiều
3 Nghiên cứu thơ Nôm của Nguyễn Trãi xuất phát từ tín hiệu ngôn ngữ chỉ đ-ợc thực hiện ở một số bài viết ít ỏi Có thể nói rất nhiều tác giả nghiên cứu
về thơ Nôm của Nguyễn Trãi chỉ mới dừng lại tìm hiểu ở một số bài thơ cụ thể
và tìm hiểu con ng-ời, hồn thơ của ông qua thơ Nôm (Xuân Diệu, Hoài Thanh,
Tế Hanh…) Các tác giả chỉ mới dừng lại ở những nhận định đánh giá tiêu biểu khái quát
Tìm hiểu về đóng góp của Nguyễn Trãi đối với ngôn ngữ dân tộc có bài nghiên cứu của Hoàng Tuệ, ‚Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt‛
được in trong cuốn ‚Nguyễn Trãi về tác gia tác phẩm‛ (NXBGD – 2000), tác giả của bài nghiên cứu đã khẳng định rằng: ‚Nếu như về tiếng Việt đến thế kỷ XIX, Nguyễn Du đã tạo ra đ-ợc niềm tự hào, thì ở thế kỷ XV điều mà Nguyễn Trãi xây dựng lên được đó là niềm tin‛(1) và ‚Nguyễn Trãi – ng-ời mở đầu gian khổ và xuất sắc sự nghiệp lớn lao của tiếng Việt – Văn học‛ (2) ở công trình nghiên cứu này tác giả đã chỉ ra những đóng góp đáng ghi nhận của Nguyễn
(1) Lã Nhâm Thìn- Thơ Nôm Đ-ờng luật – NXBGD 1998
(1), (2) :Nguyễn Trãi về tác gia, tác phẩm – NXBGD, 2000
Trang 8Trãi trong ‚Quốc âm thi tập‛ về phương diện từ vựng, ngữ pháp, tục ngữ… nh-ng tác giả chỉ mới dừng lại những nét chung nhất, khái quát nhất chứ ch-a
đi sâu vào nghiên cứu một cách cụ thể
Trong ‚Nguyễn Trãi về tác gia và tác phẩm‛ (NXBGD 2000) có bài viết của Bùi Văn Nguyên ‚Âm vang tục ngữ, ca dao trong Quốc âm thi tập‛ Tác giả Bùi Văn Nguyên đã khẳng định yếu tố tục ngữ, ca dao đậm đà ở nhiều câu, nhiều bài thơ trong ‚Quốc âm thi tập‛ của Nguyễn Trãi ‚…tiếng nói của tổ tiên ta đ-ợc truyền lại gần nh- nguyên vẹn trong tục ngữ ca dao gần bao nhiêu thế hệ Tuy nhiên, cho đến nay chúng ta khó biết đích xác đ-ợc xuất xứ nhiều câu tục ngữ, ca dao cổ truyền Chính nhờ Nguyễn Trãi ghi lại một số câu tục ngữ ca dao trong thơ Quốc âm của mình mà chúng ta có đ-ợc cái mốc lịch sử chắc chắn để tìm hiểu một số dạng về tục ngữ, ca dao với ý nghĩa lịch đại của nó‛ (1)… Đây là một công trình nghiên cứu khá sâu sát về ảnh h-ởng của văn học dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Trãi…
Tuy nhiên các công trình nghiên cứu về thơ văn của Nguyễn Trãi nhiều, nh-ng chúng tôi vẫn ch-a nhận thấy một công trình nghiên cứu nào cung cấp cho chúng ta một cái nhìn cụ thể về thành phần vốn từ trong (nh- từ thuần Việt,
từ Hán Việt, từ phức, từ đơn, từ ngữ văn học dân gian…)
Về Nguyễn Khuyến, cho đến nay lịch sử tìm hiểu và nghiên cứu đã có hơn nửa thế kỉ với nhiều công trình và bài viết đ-ợc công bố đề cấp đến nhiều ph-ơng diện trong thơ văn của ông Việc nghiên cứu riêng phần thơ Nôm Nguyễn Khuyến xuất phát từ tín hiệu ngôn ngữ cũng đã có ít nhiều tác giả đề cập tới nh-ng cũng ch-a thành hệ thống và nhất là việc tìm hiểu vốn từ trong thơ Nôm của ông ch-a đ-ợc nghiên cứu một cách thoả đáng
Trần Ngọc Vượng trong sách: ‚Văn học Việt Nam dòng riêng giữa nguồn chung‛ (NXBGD, H, 1997) có bàiviết ‚Thơ Nôm đến Nguyễn Khuyến‛ (trang 219 – 309) Tác giả đã khẳng định ‚thơ Nôm là bộ phận quan trọng nhất,
có ý nghĩa nhiều mặt nhất mà Nguyễn Khuyến để lại cho văn học dân tộc‛
Trịnh Bá Đĩnh trong bài: ‚Phong cách dân gian trong thơ Nôm Yên Đổ‛ (tạp chí văn học số 1 – 1994) đã tìm cái ‚mã‛ thông tin nghệ thuật của Nguyễn Khuyến để đi đến khẳng định môi tr-ờng văn hoá dân gian và đặc tr-ng về chức năng dân gian là hai cơ sở để lý giải sự tồn tại phong cách dân gian trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến
(1) Nguyễn Trãi về tác gia, tác phẩm- SĐD
Trang 9Trong ‚Nguyễn Khuyến về tác gia và tác phẩm‛ (NXBGD – 1998) có bài viết của Lê Chí Dũng ‚Sáng tạo trong thơ Đường luật‛ Tác giả cho rằng ‚trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến, về mặt thể tài nhà thơ thành công trong cả thơ
đ-ờng luật, cả trong thơ lục bát, hát nói và câu đối, nh-ng thơ Đ-ờng luật quả
là có vị trí nổi bật xét về ph-ơng diện đặc tr-ng cho phong cách của ông cũng như mặt thống kê định lượng…‛(1) ‚Nguyễn Khuyến mang lại cho thơ Nôm
Đ-ờng luật cảnh sắc quê h-ơng nhà thơ, sự khu biệt về sắc thái của sự vật và của tâm hồn Tài năng của Nguyễn Khuyến là chỗ ông chiếm lĩnh đ-ợc thơ
Đường luật, chiếm lĩnh được quan niệm ‚thi trùng hữu hoạ‛, chiếm lĩnh được khả năng đạt tới đỉnh cao trong sự hoà trộn tài tình hình ảnh sự vật khách quan
và tình cảm gắn bó với quê hương đất nước‛ (2)
Tác giả Biện Minh Điền trong: ‚Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến‛ – tóm tắt luận án tiến sĩ- (Hà Nội – 2001) ở ch-ơng 3 đã nghiên cứu ‚Biện pháp, giọng điệu, ngôn ngữ nghệ thuật thơ Nguyễn Khuyến‛ ở phương diện đặc sắc ngôn ngữ nghệ thuật thơ Tác giả nghiên cứu hiện t-ợng song ngữ và mối quan hệ qua lại Hán Việt – Việt Hán, hiện tượng từ láy… trong thơ Nguyễn Khuyến Tác giả đi đến kết luận ‚Nguyễn Khuyến mang đến cho lịch sử văn học dân tộc một giọng nói riêng, tức một thứ ngôn ngữ không lặp lại‛…(3)
Trong những công trình nghiên cứu nói trên, các tác giả đã đề cập khá sâu về phong cách thơ Nguyễn Khuyến cũng nh- về ngôn ngữ nghệ thuật trong thơ Nôm của ông để đi đến khẳng định Nguyễn Khuyến có một phong cách thơ lớn, độc đáo, đa dạng Tuy nhiên, đến nay vẫn ch-a có một tác giả nào nghiên cứu một cách cụ thể về vốn từ trong thơ Nôm của ông
4 Các công trình nghiên cứu dẫn trên đã góp phần rất lớn để tìm hiểu thơ văn của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến về hồn thơ, phong cách thơ và ngôn ngữ nghệ thuật thơ của hai tác giả Nh-ng chúng tôi nhận thấy ch-a có một công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể và thấu đáo các thành phần từ vựng
đ-ợc dùng trong hai tập thơ: ‚Quốc âm thi tập‛ và ‚thơ Nôm Nguyễn Khuyến‛, nhất là khảo sát, so sánh vốn từ đ-ợc dùng trong hai tập thơ, để thấy đ-ợc sự phát triển cũng nh- sự biến đổi của vốn từ tiếng Việt đ-ợc dùng trong thơ Nôm
Đ-ờng luật từ chặng đầu sang chặng cuối thời kì trung đại
IV Ph-ơng pháp nghiên cứu của đề tài
1 Ph-ơng pháp thống kê phân loại
(1) , (2) Nguyễn Khuyến về tác gia, tác phẩm- NXBGD, 1998
(3) Biện Minh Điền: Phong cách nghệ thuật Nguyễn Khuyến, tóm tắt luận án Tiến sĩ, H.2001
Trang 10Chúng tôi thống kê tất cả vốn từ của hai tập thơ Nôm, sau đó tiến hành phân loại các thành phần từ loại định l-ợng (trích tỉ lệ phần trăm) Ph-ơng pháp này đ-ợc áp dụng ở ch-ơng II (mục I, II)
4 Ph-ơng pháp tổng hợp
Sau khi đã thống kê, phân loại, phân tích, miêu tả, so sánh, đối chiếu, chúng tôi sẽ tổng hợp lại để rút ra những nhận xét Ph-ơng pháp này đ-ợc dùng
ở phần mở đầu, mục tiểu kết các ch-ơng và phần kết luận
Ngoài ra, chúng tôi còn sử dụng một số ph-ơng pháp nghiên cứu khác
V Đóng góp của đề tài
- Từ việc khảo sát, so sánh vốn từ đ-ợc dùng trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến, luận văn nhằm mục đích chứng minh vai trò của từ ngữ tiếng việt trong nền văn học bằng chữ Nôm thời kỳ trung đại Qua đó, giúp những ng-ời quan tâm đến quá trình phát triển của tiếng việt nhận thức rõ hơn
về ngôn ngữ của dân tộc, qua sự phát triển từ ngữ của thơ Nôm Đ-ờng luật
- Luận văn góp phần vào thực tiễn dạy tốt, học tốt thơ Nôm cụ thể là thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến
VI Kết cấu của luận văn
Luận văn ngoài phần mở đầu và phần kết luận
Phần nội dung gồm hai ch-ơng
Ch-ơng I : Những vấn đề chung
I Khái quát về thơ Nôm trong văn học Việt Nam
trung đại
II Thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến
III Các thành phần từ vựng trong văn học Việt Nam
Ch-ơng II: So sánh vốn từ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi và Nguyễn
Khuyến
I:
II:
III:
Thành phần từ vựng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
Thành phần từ vựng trong thơ Nôm Nguyễn Khuyến
So sánh thành phần từ vựng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
và Nguyễn Khuyến
Ch-ơng I: Những vấn đề chung
Trang 11Thơ Nôm Đ-ờng luật là một trong những thể loại độc đáo vào bậc nhất của văn học Việt Nam Một thể loại có nguồn gốc ngoại lai nh-ng trong quá trình phát triển lại trở thành thể loại văn học dân tộc, có địa vị ngang hàng với những thể loại thuần tuý văn học dân tộc nh- thể lục bát, thể song thất lục bát
I Khái quát về thơ Nôm trong văn học Việt Nam trung đại
1 Khái niệm thơ Nôm và vai trò của thơ Nôm trong văn học Việt Nam.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, thơ Nôm Đ-ờng luật có vị trí quan trọng bởi những đóng góp to lớn của nó đối với sự phát triển của văn học dân tộc cả về hai ph-ơng diện: Thực tiễn sáng tác và ý nghĩa lý luận Thơ Nôm
Đ-ờng luật là một hiện t-ợng vừa tiêu biểu, vừa độc đáo Tiêu biểu ở chỗ nó phản ánh những điều kiện, bản chất quy luật của quá trình giao l-u tiếp nhận văn học Độc đáo bởi thơ Nôm Đ-ờng luật tuy mô phỏng thể thơ ngoại lai nh-ng lại có vị trí đáng kể bên cạnh các thể thơ dân tộc
Có hai yếu tố hết sức quan trọng đối với sự ra đời của thơ Nôm Đ-ờng luật, đó là yếu tố về ngôn ngữ và yếu tố về thể loại, trong đó yếu tố về ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng hơn
Tiếng Việt, tiếng Hán có sự gần gũi, t-ơng đồng ở ba ph-ơng diện cơ bản nhất: Không biến hình đơn âm và tuyến tính, thêm vào đó là sự gần gủi về thanh điệu Thơ Đ-ờng luật là một thể thơ có tính cố định rất cao về vần, có số chữ cố định, mỗi chữ đồng thời là một âm tiết trong câu Ví nh- thơ ngũ ngôn
tứ tuyệt vẻn vẹn chỉ có 20 âm tiết Nhiều chữ nhất là thơ thất ngôn bát cú cũng chỉ có 56 âm tiết Tiếng đa âm không thể thoả mãn đ-ợc những quy định nghiêm ngặt của thơ Đ-ờng luật Đối với tiếng Việt cũng nh- tiếng Hán, trật tự tr-ớc sau giữa các từ là rất quan trọng Thơ Đ-ờng luật là thể thơ không chấp nhận bất kỳ một sự xáo trộn nào dù nhỏ nhất về trật tự các từ trong câu Bởi vì nh- thế không những nó làm đảo lộn hoặc phá vỡ nội dung thông báo mà còn không đảm bảo trật tự qui định rất chặt chẽ về niêm và luật Tuy nhiên luật bằng trắc của thơ Nôm Đ-ờng luật phụ thuộc chủ yếu vào thanh điệu Thay đổi trật tự từ sẽ vi phạm luật bằng trắc nghiêm ngặt của thơ Đ-ờng luật
Tiếng Việt có khả năng đáp ứng hoàn toàn luật bằng trắc của thơ Đ-ờng luật Sự gần gủi về mặt thanh điệu cũng là một đặc điểm rất quan trọng giữa tiếng Việt và tiếng Hán Đặc điểm này càng quan trọng đối với sự ra đời của thơ Nôm Đ-ờng luật Sự gần gủi t-ơng đồng giữa tiếng Việt và tiếng Hán ở những ph-ơng diện cơ bản vừa nêu trên là điều kiện có ý nghĩa quyết định để có thể tiếp thu thơ Đ-ờng luật Trung Quốc chuyển hoá thành thơ Nôm Đ-ờng luật
Trang 12Về ph-ơng diện thể loại, điều đáng chú ý tr-ớc hết đó là mối quan hệ giữa thơ Đ-ờng luật Trung Quốc và thơ Nôm Đ-ờng luật Thơ Đ-ờng luật là một trong những thành tựu rực rỡ nhất của nền văn học Trung Quốc, là đỉnh cao của nền nghệ thuật thi ca nhân loại Từ góc độ thể loại, thơ Đ-ờng luật là thể thơ hoàn thiện và độc đáo vào bậc nhất Càng hoàn thiện và độc đáo, thơ
Đ-ờng luật càng có -u thế trong giao tiếp văn học Lựa chọn thơ Đ-ờng luật làm đối t-ợng tiếp nhận để tạo nên thơ Nôm Đ-ờng luật là một trong những thành tựu xuất sắc của nền văn học dân tộc Thứ nữa, thơ Đ-ờng luật là thơ có kết cấu ổn định và chặt chẽ Đặc điểm này khiến cho thơ Đ-ờng luật có -u thế lớn hơn nhiều thể loại khác trong giao tiếp văn học Tính chất mô hình hoá và kết cấu của thơ Đ-ờng luật tạo điều kiện dễ dàng cho sự tiếp thu và chuyển hoá
và vừa là thử thách vừa là lợi thế cho việc sáng tác thơ Nôm Đ-ờng luật
1.1 Khái niệm thơ Nôm Đ-ờng luật
Thơ Nôm Đ-ờng luật là một thể thơ tiếng Việt mà cách luật mô phỏng thi luật Trung Hoa
Luật thơ áp dụng cho các thể ngũ ngôn và thất ngôn (Câu thơ 5 âm tiết và câu thơ 7 âm tiết) đ-ợc đặt ra từ đời Đ-ờng (618 – 907) nên gọi là thơ Đ-ờng luật Cách luật của thể thơ rất chặt chẽ về: vần, đối, luật, niêm, cách bố cục
Vần (chữ Hán: vận, trỏ những âm tiết có chung phần vần hoặc phần vần t-ơng đối gần nhau), thơ Đ-ờng luật th-ờng dùng vần bằng, ít dùng vần trắc; mỗi bài thơ chỉ dùng một vần (độc vận) Một bài thơ Đ-ờng luật bát cú (ngũ ngôn hoặc thất ngôn) có cả thảy năm chỗ hiệp vần, gieo ở cuối câu đầu hoặc cuối các câu chẵn, nh- vậy ở đây chỉ dùng vần chân (c-ớc vận) Tr-ờng hợp gieo vần sai lạc (lạc vận) hoặc g-ơng ép (c-ỡng áp) đều là sai phạm
Đối (đối: đặt sóng đôi sao cho ý và chữ đối xứng với nhau) gồm: Đối ý – hai ý t-ởng cân xứng với nhau và đối chữ - những chữ đem đối phải đối nhau về thanh (bằng đối với trắc và ng-ợc lại) và t-ơng xứng về từ loại (phải cùng một từ loại, tức cùng là danh từ hoặc cùng là động từ, …), một bài thơ Đường luật bát
cú (thất ngôn, ngũ ngôn) phải có đối ở bốn câu giữa bài: Câu 3 đối với câu 4; câu
5 đối với câu 6
Luật: (đây chủ yếu nói về luật bằng, trắc), tức là sự qui định về cách phân
bố các âm tiết mang thanh bằng và các âm tiết mang thanh trắc Nếu âm tiết (chữ, tiếng) thứ 2 của câu thơ thứ nhất là vần bằng thì bài thơ thuộc luật bằng, nếu vần trắc thì bài thơ thuộc luật trắc Sự sắp xếp theo luật này tạo cho ở mỗi câu, các cặp bằng trắc lần l-ợt thay nhau ở mỗi cặp câu (còn gọi là ‚liên‛), các
âm tiết t-ơng ứng ở các câu số lẻ và số chẵn phải mang thanh điệu ng-ợc nhau
Trang 13(trừ các âm tiết thứ 5 và thứ 7 ở liên đầu) Có thể nêu thành sơ đồ về luật bằng
và về luật trắc cho thể ngũ ngôn bát cú và thể thất ngôn bát cú
Ví dụ: Thể thất ngôn bát cú luật bằng
(viết tắt: b – bằng, t – trắc, v – vần) Những chữ viết in là bắt buộc theo luật
vị trí này có thể bằng hay trắc đều đ-ợc Tuy vậy, nếu theo lệ bất luận này mà chỗ đáng trắc lại đổi ra bằng hoặc ngược lại, thì sẽ khiến câu thơ thành ra ‚khổ
độc‛ (khó đọc), đó là các trường hợp ở thể ngũ ngôn, âm tiết thứ nhất các câu chẵn và âm tiết thứ 3 của tất cả các câu đáng bằng lại đổi ra trắc, ở thể thất ngôn, âm tiết thứ 3 của câu chẵn và âm tiết thứ 5 các câu lẻ đáng bằng lại đổi ra trắc Các trường hợp ‚khổ độc‛ đều là sai phạm Mọi trường hợp đáng bằng mà lại đổi ra trắc hoặc ng-ợc lại đều gọi là thất luật (sai luật) không đ-ợc phạm
Niêm (niêm nghĩa đen là dính) tức là sự gắn bó về âm luật giữa hai câu thơ: Chúng là niêm với nhau khi âm tiết thứ 2 của chúng theo cùng một luật (bằng cùng bằng, trắc cùng trắc) ở một bài Đ-ờng luật bát cú, những câu phải
Trang 14niêm với nhau là: 1 với 8, 2 với 3, 4 với 5, 6 với 7 Khi bị đặt sai không niêm với nhau theo lệ trên thì gọi là ‚thất niêm‛ (mất sự dính liền), coi như một sai phạm không đ-ợc mắc
Về bố cục: Một bài bát cú (ngũ ngôn, thất ngôn) gồm 4 phần: đề, thực, luận, kết Đề gồm: Phá đề (câu 1) là mở bài và thừa đề (câu 2) là nối với câu phá mà vào bài Hai câu thực (hoặc trạng)- hai câu 3 và 4 – giải thích rõ ý của
đầu bài, luận (2 câu 5 và 6) là bàn rộng nghĩa của câu đầu bài, kết (2 câu 7, 8)
là tóm tắt ý nghĩa toàn bài và thắt lại
Về nhịp: Câu thơ Đ-ờng luật ngắt theo nhịp 3/4 (thất ngôn) hoặc 2/3 (ngũ ngôn), nói chung các thể thơ mô phỏng thi luật Trung Hoa đều ngắt nhịp chẵn tr-ớc lẻ sau, khác với các thể thơ tiếng Việt- thuần tuý vốn ngắt nhịp ‚lẻ trước chẵn sau‛
Đ-ờng luật là thể chặt chẽ nên dễ thành gò bó, vì vậy ngoài biệt lệ về
‚bất luận‛ người ta còn có thêm biệt lệ về chiết vận tức là bớt vần (bài 8 câu
đáng 5 vần chỉ còn 4 vần, bài 4 câu đáng 3 vần chỉ còn 2 vần, bài 16 câu chỉ còn 8 vần nh-ng hai câu trốn vần đó phải đối nhau gọi là song phong Ng-ời ta cũng đặt tên cho những ‚bệnh‛ thường hay mắc trong thể này như ‚khổ độc‛
‚phong yêu‛ (từ thứ 4 hiệp vần với từ thứ bảy) ‚hạc tất‛ (một câu thơ bị cắt làm
3 nhịp) Trong khi đó, các thi gia thành thạo lại có lối chơi cố ý đặt sai một số vần, tạo ra các dạng gọi là ‚cô nhạn xuất quần‛ (nhạn lẻ ra bầy), ‚cô nhạn lập quần‛ (nhạn lẻ vào bầy)
Luật thơ Đ-ờng đ-ợc áp dụng vào sáng tác bằng tiếng Việt (ghi bằng chữ Nôm) gọi thơ Nôm Đ-ờng luật Các thi gia Việt Nam từ thế kỷ XIII đến thể kỷ XIX dần đạt tới những mẫu mực ở đỉnh cao, với nhiều sáng tạo độc đáo của những tài năng lớn nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân H-ơng,
bà Huyện Thanh Quan, Nguyễn Du, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Tú X-ơng, Tản Đà v.v
1.2 Vai trò của thơ Nôm trong văn học Việt Nam
Vào thế kỷ X, lịch sử Việt Nam đã chứng kiến một b-ớc ngoặt hết sức quan trọng và hết sức có ý nghĩa chấm dứt điểm đêm tr-ờng ngàn năm bắc thuộc, mở ra thời kỳ độc lập và tự chủ đất n-ớc của phong kiến Việt Nam
Thời kì phục h-ng của Đại Việt bắt đầu từ chiến thắng Bạch Đằng – 938, sau đó với việc Ngô Quyền x-ng v-ơng, đóng đô ở Cổ Loa, định trăm quan, đặt nghi lễ… vào mùa xuân năm 939, công cuộc phục hưng đất nước được các triều kế tiếp Đinh, Tiền- Lê, Lý, Trần tiến hành với một tinh thần vừa khẩn tr-ơng vừa bền bỉ Nhiệm vụ lớn lao của suốt bốn thể kỷ này là khẳng định, xây
Trang 15dựng và bảo vệ độc lập dân tộc Nhiệm vụ ấy chi phối mọi hoạt động, mọi tầng lớp trong xã hội Đó là về chính trị và văn hoá Riêng lĩnh vực văn hoá nhiều lúc đ-ợc đặt ở vị trí rất cao Tr-ớc thế kỉ X, trong hoàn cảnh mất n-ớc, để khẳng định tính độc lập của văn hoá dân tộc, ý thức của nhân dân chủ yếu h-ớng vào việc giữ gìn, bảo vệ truyền thống để chống lại âm m-u đồng hoá của
kẻ xâm lược Sự ‚đóng cửa‛ trong giao lưu văn hoá thời kỳ này không hẳn là nh-ợc điểm mà có khi còn là một việc làm tích cực, cần thiết Sau thế kỉ X, đất n-ớc dành đ-ợc quyền tự chủ, bên cạnh ý thức gìn giữ những tinh hoa bản sắc dân tộc, là ý thức học tập, tiếp thu thành tựu n-ớc ngoài để làm giàu thêm truyền thống, để sáng tạo một nền văn hoá có thể sánh ngang hàng ph-ơng Bắc Sự đóng cửa giờ đây không những bộc lộ tính chất hạn chế trong giao l-u văn hoá mà còn đẩy nền văn hoá dân tộc vào thế bị động Chính vì vậy tiếp thu ph-ơng Bắc, ngoài giao l-u tự nhiên còn là nhu cầu h-ớng tới một cách chủ
động của văn hoá Đại Việt Tiếp thu ph-ơng Bắc trở nên một động lực tinh thần to lớn, một sự ‚mở cửa‛ có ý thức, đầy đủ hơn, sâu sắc hơn Đó là một yếu
tố rất quan trọng cho sự hình thành thơ Nôm Đ-ờng luật
Từ khi hình thành, thơ Nôm Đ-ờng luật trở thành bộ phận văn học đáng
kể trong dòng văn học viết Một khi mà Hàn Thuyên đã thấy phải nghiên cứu việc áp dụng luật thơ Đ-ờng vào tiếng Việt thì tất cả là để đáp ứng một nhu cầu cấp thiết nảy sinh từ sự phát triển của phong trào làm thơ Nôm Kể từ thế kỉ
XV, văn học bằng chữ Nôm- trong đó thơ Nôm Đ-ờng luật thành phần đáng kể nhất, đã dần dần trở thành một bộ phận quan trọng của dòng văn học viết Số l-ợng tác phẩm văn học bằng chữ Nôm nhìn chung ít hơn số l-ợng tác phẩm văn học bằng chữ Hán Văn học bằng chữ Nôm th-ờng bị giai cấp thống trị coi nhẹ Ngay cả trong thời kỳ mà văn học chữ Nôm đ-ợc Triều đình khuyến khích (nh- d-ới Triều Lê Thánh Tông chẳng hạn) thì văn học bằng chữ Nôm cũng không đ-ợc đặt ngang hàng với văn học chữ Hán
Sang thế kỉ XVII văn học chữ Nôm trong đó có thơ Nôm Đ-ờng luật đã rất phát triển, tuy có những lúc giai cấp phong kiến đem đốt sách Nôm đi ‚có hại cho giáo hoá‛ Và không biết từ bao giờ giai cấp phong kiến đã đưa ra thành ngữ ‚nôm na là cha mánh qué‛ Với nhận thức nh- vậy, các triều đại phong kiến Việt Nam không có ý thức xây dựng văn học Nôm Tuy nhiên quy luật tất yếu của lịch sử vẫn đ-a đến sự phát triển ngày càng mạnh của các tác phẩm văn học Nôm Để miêu tả thiên nhiên đất n-ớc, để phản ánh hiện thực của dân tộc, để phát biểu những t- t-ởng, tình cảm trực tiếp và sâu xa nhất của con ng-ời- mà đây chính lại là chức năng chủ yếu của văn học – thì tốt nhất
Trang 16vẫn là dùng tiếng mẹ đẻ, mà có khi lại nhất thiết phải dùng tiếng mẹ đẻ Văn học bằng chữ Nôm ra đời vì yêu cầu rất có tính chất văn học ấy ‚sứ mệnh nghệ thuật‛ của thơ Nôm Đường luật kéo dài hơn bảy thế kỉ Như nhiều thể loại văn học, thơ Nôm Đ-ờng luật có quá trình hình thành, phát triển, kết thúc Ngoài giai đoạn hình thành và phát triển thơ Nôm Đ-ờng luật thành tựu ở cả giai đoạn cuối Từ ‚Quốc âm thi tập‛ của Nguyễn Trãi đến thơ Nôm Nguyễn Khuyễn, Tú X-ơng, trong 5 thế kỷ đó đã qua hai chặng, có những đặc điểm riêng khá rõ Giai đoạn Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân H-ơng là giai đoạn đi từ thể nghiệm đến
ổn định đồng thời cũng là giai đoạn phát triển rực rỡ nhất của thể thơ này Giai
đoạn sau Hồ Xuân H-ơng là giai đoạn tiếp tục sự phát triển của thơ Nôm
Đ-ờng luật, thành tựu không bằng tr-ớc nh-ng vẫn có những đóng góp lớn, đây cũng là giai đoạn cuối để chuyển sang thơ Quốc ngữ Đ-ờng luật
Từ Nguyễn Trãi đến Hồ Xuân H-ơng thơ Nôm Đ-ờng luật ở vào giai
đoạn phát triển rực rỡ Nhờ có giai đoạn này mà ngay từ đầu thơ Nôm Đ-ờng luật đã khẳng định đ-ợc vị trí của mình trong lịch sử văn học dân tộc
Ng-ời có công đầu tiên trong ‚một cố gắng để xây dựng một lối thơ Việt Nam‛ chính là Nguyễn Trãi Với ‚Quốc âm thi tập‛ lịch sử văn học Việt Nam trên thực tế đã có thêm một thể thơ mới: Thơ Nôm Đ-ờng luật Để sáng tạo một thể thơ mới trên cơ sở tiếp thu, vận dụng một thể thơ có sẵn trong văn học Trung Quốc, mọi cố gắng của Nguyễn Trãi đã giải toả những gò bó của Đ-ờng luật, xây dựng một lối thơ Việt Nam có những điểm khác dễ nhận thấy so với thơ Đ-ờng luật
Đến thể kỉ thứ XV có thể gọi là thế kỉ của thơ Nôm Đ-ờng luật bởi sự xuất hiện của hai tập thơ lớn ‚Quốc âm thi tập‛ nửa đầu thể kỉ và ‚Hồng Đức Quốc âm thi tập‛ nửa cuối thế kỉ ‚Hồng Đức Quốc âm thi tập‛ là bước phát triển tiếp theo của thơ Nôm Đ-ờng luật ở đó ta quan sát thấy cả sự kế thừa cùng những tìm tòi, mở hướng ‚Hồng Đức Quốc âm thi tập‛ vẫn tiếp tục nội dung dân tộc đã có từ ‚Quốc âm thi tập‛, nhưng xu hướng xã hội hoá trong nội dung phản ánh đã thể hiện khá rõ nét Tất nhiên vì đây là tập thơ của nhiều tác giả nên phạm vi phản ánh những vấn đề xã hội đ-ợc mở rộng hơn Nh-ng nếu
so sánh với những tác giả tiếp theo nh- Nguyễn Bỉnh Khiêm, Hồ Xuân H-ơng thì xu h-ớng xã hội hoá d-ờng nh- là qui luật phát triển của thơ Nôm Đ-ờng luật
Đến ‚Bạch Vân Quốc ngữ thi tập‛ của Nguyễn Bỉnh Khiêm thì tầm khái quát của thơ Nôm Đ-ờng luật đ-ợc nâng lên một b-ớc Đề tài, chủ đề dân tộc trong ‚Bạch vân Quốc ngữ thi tập‛ không đậm nét như trong thơ thế kỉ XV
Trang 17Nổi bật trong thơ Nôm Nguyễn Bỉnh Khiêm là những đề tài, chủ đề mang tính chất xã hội ‚Tư duy thế sự‛ trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm một mặt làm cho sáng tác của ông gần ‚triết‛ và xa ‚thơ‛ hơn so với Nguyễn Trãi, mặt khác đã
đ-a thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp cận cuộc sống vừa cụ thể, sinh động, vừa có tầm khái quát xã hội rộng lớn Xu h-ớng phá cách trong sáng tác thơ Nôm
Đ-ờng luật vẫn đ-ợc Nguyễn Bỉnh Khiêm tiếp tục Điều này phản ánh qui luật phát triển của thơ Nôm Đ-ờng luật: Hiện t-ợng không theo quy cách thơ
Đ-ờng giảm dần và quá trình phát triển của thơ Nôm Đ-ờng luật là đi từ thế ch-a ổn định tới ổn định
Sau Nguyễn Bỉnh Khiêm đến tr-ớc Hồ Xuân H-ơng, thơ Nôm Đ-ờng luật phát triển với nhịp độ bình th-ờng Cùng trong khoảng thời gian gần hai thế kỉ, thơ Nôm Đ-ờng luật thế kỉ XV, XVI đã đạt đ-ợc những thành tựu hết sức rực rỡ, trong khi đó thế kỉ XVII đến nửa đầu thế kỉ XVIII Đ-ờng luật Nôm không có những tác giả, tác phẩm nổi tiếng, mặc dù thơ Nôm Đ-ờng luật không phải là ít Những tác giả sáng tác nhiều Đ-ờng luật Nôm nh- Trịnh Căn, Trịnh Doanh… thì ‚ Ngay cả những bài hay nhất cũng chưa thể đọ được với thơ Nôm của các bậc đại gia tr-ớc ông một vài thế kỉ nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm…‛(1) Nói nh- vậy không có nghĩa gần hai thế kỉ này thơ Nôm
Đ-ờng luật không có đóng góp gì đáng kể cho lịch sử văn học nói chung và cho
sự phát triển thể loại nói riêng Trên thực tế những tìm tòi, thể nghiệm của thơ Nôm Đ-ờng luật thời kỳ này rất có ý nghĩa Bài toán về chức năng tự sự của thơ Nôm Đ-ờng luật đ-ợc đặt ra từ thế kỉ XV đến giờ đã tìm thấy lời giải đáp
Sau gần hai thể kỉ (XVII – XVIII) với nhịp điệu phát triển bình th-ờng, không có những thành tựu lớn, không có gì đặc sắc, b-ớc vào nửa cuối thế kỉ XVIII- nửa đầu thế kỉ XIX Đ-ờng luật Nôm khởi sắc trở lại Ng-ời ta th-ờng nói đến vai trò to lớn của những ‚cú huých‛ trong quá trình vận động của sự vật, sự phát triển của thể loại văn học thường cũng có những ‚cú huých‛ như vậy Với thơ Nôm Đường luật ‚cú huých‛ đầu tiên là ‚Quốc âm thi tập‛ và lần này ‚cú huých‛ thứ hai chính là hiện tượng Hồ Xuân Hương Chuyển động có
xu hướng tắt dần của thơ Nôm Đường luật nhờ có ‚cú huých‛ thứ hai này mà khởi động trở lại, hơn thế lực tác động còn làm cho nó chuyển h-ớng một cách tích cực ‚Bà chúa thơ Nôm‛ đã dành lại vị trí vốn có trước đây của thơ Nôm
Đ-ờng luật
(1) Trần Thị Băng Thanh: Thơ Bà Huyện Thanh Quan- Tạp chí văn học, số 1, 1991
Trang 18Với Hồ Xuân H-ơng thơ Nôm Đ-ờng luật tiếp tục xu h-ớng dân tộc hoá
đồng thời chuyển nhanh trên con đ-ờng dân tộc dân chủ hoá nội dung và hình thức thể loại Xu h-ớng dân chủ hoá thể Đ-ờng luật là xu h-ớng mạnh mẽ nhất trong sáng tác của Hồ Xuân H-ơng Trong văn học Việt Nam Trung đại, Hồ Xuân H-ơng gần nh- là tr-ờng hợp duy nhất không viết d-ới bất cứ một ánh sáng của học thuyết tôn giáo nào, không một học thuyết chính trị nào từ phía trên dọi xuống Hồ Xuân H-ơng là sự giải toả hoàn toàn lễ giáo phong kiến là
sự đoạn tuyệt khá triệt để với tinh thần ‚đẳng cấp‛ của Nho giáo Với Hồ Xuân Hương, thơ Đường luật không còn ở địa vị ‚Đẳng cấp trên‛ trong hệ thống thể loại văn học dân tộc thời kì trung đại, ‚và với nhà thơ, thể thơ Đường luật đã xa phong cách trữ tình, trang nghiêm, ‚cao quí‛ để đi thẳng vào cuộc sống đời th-ờng, góc cạnh, chua xót, kịch liệt – nh-ng đó là cuộc sống đích thực, không chỉ là dân tộc mà còn hết sức dân dã‛(1) Đến Hồ Xuân H-ơng, Đ-ờng luật Nôm đã thực hiện một cách tân đầy ý nghĩa Cuộc sống đời th-ờng, nguyên sơ, chất phác, dân dã trở thành đối t-ợng, thẫm mĩ của thơ Bà Cái bản năng, tự nhiên, trần tục vốn xa lạ với phong cách trang trọng cao quí của Đ-ờng luật bỗng trở nên thích dụng với phong cách trữ tình trào phúng của thơ Hồ Xuân H-ơng Nếu Nguyễn Trãi là ng-ời đầu tiên thể hiện mạnh mẽ tinh thần phá cách thì Hồ Xuân H-ơng là ng-ời đầu tiên thể hiện ý muốn trở về, với hình thức kết cấu vốn có của Đ-ờng luật Đóng góp lớn nhất của Hồ Xuân H-ơng
đối với sự phát triển của Đ-ờng luật Nôm không phải ở xu h-ớng dân tộc hoá
mà ở xu h-ớng dân chủ hoá Thơ Hồ Xuân H-ơng là tiếng nói dân chủ nhất
đồng thời cũng là ‚những vần thơ Việt Nam nhất trong dòng thơ Nôm Đường luật‛ Không có sự khác nhau trong mục đích xây dựng ‚một lối thơ Việt Nam‛ giữa những ng-ời nh- Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm với Hồ Xuân H-ơng
Do đó, không có sự khác nhau về tinh thần ‚phá cách‛ chỉ có sự khác nhau về phương thức ‚phá cách‛ mà thôi Để ‚xây dựng một lối thơ Việt Nam‛, Nguyễn Trãi đã thử nghiệm đã phá cách cấu trúc hình thức Đ-ờng luật, đến Hồ Xuân H-ơng, Đ-ờng luật Nôm đã tiến tới sự ổn định về cấu trúc hình thức, nhà thơ phá cách Đ-ờng luật đã phá mối quan hệ chỉnh thể giữa nội dung và hình thức vốn có của thể loại Hồ Xuân Hương đã đưa một nội dung ‚không nghiêm chỉnh‛ vào một hình thức ‚nghiêm chỉnh‛, đã tạo nên sức công phá mạnh mẽ
để khẳng định chức năng trào phúng to lớn của Đ-ờng luật Nôm Đến Hồ Xuân Hương, thơ Nôm Đường luật đã đạt tới đỉnh cao ‚so trước nhìn sau mọi người
(1) Đặng Thanh Lê: Hồ Xuân H-ơng và dòng thơ Nôm Đ-ờng luật- Tài liệu bồi d-ỡng GV dạy văn theo SGK văn 10 mới, ĐHSP Hà Nội I, 1990
Trang 19đều thừa nhận rằng: Thơ Hồ Xuân H-ơng là rực rỡ nhất vì hình thức thơ đẹp, dân tộc hơn và đại chúng hơn cả‛(1)
Làm nên vẻ đẹp rạng rỡ của Đ-ờng luật Nôm không chỉ riêng gì nữ sĩ họ
Hồ mà còn cả g-ơng mặt hoài cổ- bà Huyện Thanh Quan Với ch-a đầy m-ời bài thơ, bà Huyện Thanh Quan vẫn có một vị trí xứng đáng trong lịch sử văn học Việt Nam Nhờ có bà mà tâm hồn dân tộc đ-ợc biểu hiện một cách tuyệt vời trong một phong cách Đ-ờng thi mẫu mực, chải chuốt nh-ng không sáo mòn, công thức Nhờ có bà mà Đ-ờng luật Nôm thời kì này trở nên phong phú
đa dạng Đến bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân H-ơng, dòng thơ Nôm
Đ-ờng luật đã xuất hiện phong cách tác giả Đây là b-ớc phát triển v-ợt bậc Tr-ớc hai thi sĩ, chúng ta chủ yếu chỉ thấy phong cách thời đại và phong cách thể loại của thơ Nôm Đ-ờng luật Với khoảng 40 bài thơ của Hồ Xuân H-ơng
và ch-a đầy m-ời bài thơ của bà Huyện Thanh Quan- số l-ợng quá ít so với nhiều tác giả tr-ớc, chúng ta đã có thể nói tới phong cách thơ Hồ Xuân H-ơng, phong cách thơ bà Huyện Thanh Quan Đó quả là một điều kì diệu Sự xuất hiện phong cách thơ Hồ Xuân H-ơng, thơ Bà huyện Thanh Quan chứng tỏ thơ Nôm Đ-ờng luật sẵn sàng b-ớc vào quĩ đạo của văn học hiện đại cùng với nhiều thể loại văn học khác
Đến giai đoạn Tú X-ơng, Nguyễn Khuyến thì thơ Nôm Đ-ờng luật đã chuyển từ văn học trung đại sang văn học cận hiện đại Với Nguyễn Khuyến
và Tú X-ơng, tầm khái quát nghệ thuật của thơ Nôm Đ-ờng luật vừa đ-ợc mở rộng, vừa đ-ợc nâng cao hơn Chức năng phản ánh xã hội của thể loại không chỉ dừng ở mức ‚trữ tình thế sự‛, ‚tư duy thế sự‛ và ‚trào phúng thế sự‛ mà còn v-ơn tới chỗ phản ánh xã hội với những chi tiết hiện thực sinh động, phong phú Tuy nhiên hoàn cảnh lịch sử đã chấm dứt sứ mệnh nghệ thuật của một thể loại ở thời kì vẫn đang còn nhiều thành tựu Chữ Nôm mất hẳn vai trò trong cuộc sống và trong sáng tác văn học đ-ơng đại nh-ng thể Đ-ờng luật vẫn tìm
đ-ợc chỗ đứng riêng của mình Hình thức thơ qui phạm, trong trọng, chuyển tải nội dung hài hước, ‚không nghiêm chỉnh‛ đã tạo thế mạnh cho thơ trào phúng luật Đ-ờng Thơ Đ-ờng luật tiếng Việt vẫn còn tiếp tục tồn tại trong văn học hiện đại
Suốt bảy thế kỉ tồn tại và phát triển, thơ Nôm Đường luật không là ‚kiều bào nước ngoài‛ mang quốc tịch Việt Cái nguồn gốc ngoại lai của nó trở nên rất thứ yếu Thơ Nôm Đ-ờng luật đứng ngang hàng với lục bát, song thất lục
(1) Hoàng Hữu Yên: Văn học Việt Nam cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX- NXBGD, Hà Nội
1990, Tr 123
Trang 20bát – những thể loại thuần tuý dân tộc Trong tất cả các thể loại có nguồn gốc ngoại lai, Đường luật Nôm là thể loại duy nhất chia tay những ‚đồng hương‛ của mình, dám ‚lột xác‛ để thực hiện một sứ mệnh nghệ thuật mới Điều quan trọng nhất là Thơ Nôm Đ-ờng luật đã mang một chức năng văn học mới, chức năng thẫm mĩ mới khẳng định sự tồn tại không thể thay thế của thể loại này trong lịch sử văn học dân tộc Thơ Nôm Đ-ờng luật làm nên cốt lõi tinh hoa của dân tộc, nó góp phần rất lớn vào sự phát triển của tiếng Việt
2 Những thay đổi về đề tài, chủ đề nổi bật trong thơ Nôm
Đề tài, chủ đề trong thơ Nôm Đ-ờng luật rất phong phú, đa dạng Thơ Nôm Đ-ờng luật đề cập đến những vấn đề lớn của lịch sử, của thời đại, của đất n-ớc, con ng-ời, đồng thời cũng phản ánh những khía cạnh tinh tế, phức tạp trong cuộc sống, trong t- duy cảm xúc, nhiều khi rất thầm kín, riêng t- của mỗi cuộc đời, của từng số phận Có thể nói thơ Nôm Đ-ờng luật đề cập tới mọi ph-ơng diện của đời sống con ng-ời
- Tuy đề tài, chủ đề rất phong phú, đa dạng nh-ng thơ Nôm Đ-ờng luật th-ờng h-ớng nhiều về những đề tài, chủ đề chứa đựng những yếu tố dân chủ
Hệ thống đề tài, chủ đề thơ Nôm Đ-ờng luật là một hệ thống mang tính lịch sử
Có thể thấy diễn tiến đề tài, chủ đề trong thơ Nôm Đ-ờng luật từ thế kỷ XV
đến đầu thế kỷ XVIII nổi bật là những đề tài chủ đề gắn liền với cuộc sống, tâm sự của tác giả, với quan niệm lý t-ởng, phẩm chất của kẻ sĩ, nh- lý t-ởng
‚ái ưu‛ ‚trung hiếu‛, như cốt cách người quân tử, trách nhiệm minh quân, lương thần… Những đề tài, chủ đề này thường hướng tới nhiều mục đích giáo dục nh- tu d-ỡng phẩm chất, triết lý nhân sinh, răn dạy cách sống, đề cao đạo
lý nhân nghĩa… Thời kỳ cuối thế kỷ XVIII- cuối thế kỉ XIX nổi bật là những
đề tài, chủ đề gắn liền với cuộc sống xã hội của con ng-ời nh-: thể hiện số phận ng-ời phụ nữ, những quan hệ gia đình, khát vọng giải phóng, khát vọng tình cảm, đồng thời phê phán những biểu hiện trái tự nhiên, phi nhân bản…Những đề tài, chủ đề này thường hướng nhiều vào mục đích phản ánh cuộc sống, mục đích đấu tranh vì những quyền lợi cơ bản và chính đáng của con ng-ời Tuy nhiên có một hệ thống lớn xuyên suốt quá trình phát triển của thơ Nôm Đ-ờng luật, đó là hệ thống đề tài, chủ đề thiên nhiên
Đề tài, chủ đề thiên nhiên là hệ thống xuyên suốt của thơ Nôm Đ-ờng luật Tuy nhiên có những nhà thơ, nh- nhà thơ Tú X-ơng không viết về đề tài thiên nhiên, Nguyễn Bỉnh Khiêm không có một bài thơ hoàn chỉnh nào về đề tài thiên nhiên, nhưng trong ‚Bạch Vân quốc ngữ thi tập‛ vẫn có những câu thơ rất hay về thiên nhiên
Trang 21Những bài thơ có đề tài thiên nhiên có thể mang nhiều chủ đề khác nhau,
lý tưởng ‚ưu ái‛ phẩm chất kẻ sĩ, cuộc sống thanh cao, đạm bạc, phủ nhận danh lợi, tình yêu lứa đôi, triết lý nhân sinh, răn dạy đạo đức v.v… Nhìn chung số bài có chủ đề thiên nhiên ít hơn số bài có đề tài thiên nhiên Có thể nói ở Nguyễn Trãi thì những bức tranh thiên nhiên của ông phong phú và nhiều tới mức còn lấn sang những mảng đề tài khác Với Nguyễn Bỉnh Khiêm cũng vậy,
ông không viết một bài thơ nào hoàn chỉnh về thiên nhiên nh-ng nguồn cảm xúc của ông vẫn chảy tràn giữa thiên nhiên, tạo vật Đến mức khi muốn phủ nhận danh, lợi ông cũng phủ nhận bằng thiên nhiên, muốn ca ngợi cuộc sống
điền viên, ca ngợi thú nhàn tản, ẩn dật cũng lại bằng thiên nhiên:
‚Thu ăn măng trúc, đông ăn giá, Xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao
R-ợu đến cội cây ta sẽ uống, Nhìn xem phú quí tựa chiêm bao.‛
(Thơ Nôm – bài 74) Thiên nhiên trong thơ Nôm Đ-ờng luật rất phong phú và đa dạng Tuy nhiên đó là sự phong phú, đa dạng của thiên nhiên bình dị chứ không phải là thiên nhiên kỳ vĩ, hoành tráng Đây là điểm khác biệt giữa thơ Đ-ờng luật Nôm
và Đ-ờng luật Hán Miêu tả vẻ đẹp kỳ thú của thiên nhiên vốn đã là sở tr-ờng của Đ-ờng luật Hán và ở Việt Nam bề dày kinh nghiệm cũng đã gần thiên niên
kỷ Những cảnh trí thiên nhiên sơn thuỷ hữu tình (‚phong‛, ‚hoa‛, ‚tuyết‛,
‚nguyệt‛) từ lâu là niềm cảm hứng thẩm mĩ của các thi nhân và đã tạo nên biết bao bài thơ nổi tiếng trong thơ Đ-ờng, thơ Tống, và thơ chữ Hán Việt Nam
Đ-ờng luật Nôm tiếp thu rất nhiều kinh nghiệm của Đ-ờng luật Hán khi miêu tả vẻ đẹp thiên nhiên kỳ thú Tuy nhiên dù kỳ thú, mỹ lệ đến đâu, thiên nhiên trong thơ Nôm Đ-ờng luật vẫn mang những nét đẹp bình dị của cuộc sống, ấm
áp hơi thở của con ng-ời Những vật nhỏ mọn bình th-ờng, nh- bè rau muống, lảnh mùng tơi, cây núc nác, con niềng niễng, củ ấu, củ khoai… rất xa lạ với thơ chữ Hán lại xuất hiện rất nhiều trong Đường luật Nôm ‚Tả cảnh ngụ tình‛ là
đặc tr-ng của thơ trung đại Qua cảnh vật nhà thơ bộc lộ những cảm xúc, gửi gắm những tâm sự Thiên nhiên luôn là thiên nhiên của tâm trạng, ít khi là thiên nhiên khách quan thuần tuý Đặc điểm này làm nên bản chất trữ tình của thiên nhiên trong thơ trung đại và lại càng rõ nét trong Đ-ờng luật Nôm Bởi vì thiên nhiên trong Đ-ờng luật Nôm mang chức năng ẩn dụ của đời sống tình cảm hơn gấp nhiều lần cho những suy t- triết học Chính vì vậy hệ thống đề tài,
Trang 22chủ đề thiên nhiên góp phần làm nên phong cách trữ tình hay phong cách triết
lý trong sáng tác Nôm của các tác giả
Tóm lại, mảng đề tài, chủ đề viết về thiên nhiên là hệ thống lớn xuyên suốt quá trình phát triển của thơ Nôm Đ-ờng luật
Lý tưởng ‚ưu ái‛, ‚trung hiếu‛ là chủ đề nổi bật trong thơ Nôm Đường luật thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XVIII sang nửa cuối thế kỉ XVIII đến thế kỉ XIX chủ đề này trở nên mờ nhạt Thậm chí nó hoàn toàn không xuất hiện trong sáng tác của hai tác giả Đ-ờng luật Nôm tiêu biểu của thời kỳ sau là bà Huyện Thanh Quan và Hồ Xuân H-ơng Chủ đề này cũng rất mờ nhạt trong thơ Tú Xương, Nguyễn Khuyến Hiện tượng chủ đề lý tưởng ‚ái ưu‛ , ‚trung hiếu‛ nhìn chung càng về sau càng trở nên thứ yếu Chủ đề phẩm chất kẻ sĩ, quân tử
là chủ đề có tỷ lệ cao nhất so với chủ đề lý tưởng ‚ưu ái‛ và lý tưởng ‚trung hiếu‛ ‚Ưu ái‛, ‚trung hiếu‛ là những khái niệm Nho giáo đồng thời là những khái niệm mang tính lịch sử Lý tưởng ‚ưu ái‛, ‚trung hiếu‛ một mặt nhà thơ sống một cách cụ thể với một ông vua, một nhân dân cụ thể, ở một hoàn cảnh nhất định, mặt khác lý t-ởng đó còn đ-a nhà thơ đến những suy t- hết sức trừu tượng với hàng loạt sách thánh kinh hiền truyện, những ‚từ viết‛ ‚thi vân‛ Trong khi đó việc tu d-ỡng phẩm chất kẻ sĩ, quân tử không phải không có ít nhiều tính chất sách vở, nh-ng chủ yếu hơn là nó đặt nhà thơ trong sự đối diện th-ờng xuyên với bản thân mình với công việc, với cuộc sống hàng ngày Phải chăng vì thế mà chủ đề phẩm chất kẻ sĩ chiếm tỷ lệ cao nhất trong thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm
Trong hoàn cảnh đặc biệt của lịch sử dân tộc giai đoạn cuối thế kỷ XIX, vấn đề phẩm chất kẻ sĩ quân tử là vấn đề bức xúc nh-ng đồng thời nó cũng hết sức phức tạp đối với các nhà Nho Quan trọng nhất đối với nhà Nho lúc này là thái độ sống Cùng một lúc họ phải đối diện với triều đình phong kiến nhà Nguyễn và đối diện với dân tộc, trong hoàn cảnh giữa triều đình phong kiến và nhân dân, là những lực l-ợng đối lập Tình trạng đó dẫn đến sự băn khoăn, day dứt, sự lúng túng của không ít nhà Nho Nguyễn Khuyến buộc phải lựa chọn giữa hai ngã đ-ờng
‚Lại còn giục giã về hay ở?‛
Trong khi:
‚Đôi gót phong trần vẫn khoẻ khoe‛
(Về hay ở) Cuối cùng cụ Tam Nguyên Yên Đỗ chọn cho mình một tấm g-ơng nhân cách là Đào Tiềm
Trang 23Đề tài, chủ đề triết lí nhân sinh, răn dạy đạo lý có vị trí quan trọng trong thơ Nôm Đ-ờng luật thế kỷ XV- nửa đầu thế kỷ XVIII, đặc biệt là hai tác giả lớn Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm, song đến thời kỳ Nguyễn Khuyến rất
mờ nhạt và đến giai đoạn Tú X-ơng thì hầu nh- không có Từ cuối thế kỷ XVIII trở đi, giai cấp phong kiến Việt Nam thực sự b-ớc vào thời kỳ khủng hoảng, kéo theo sự khủng hoảng về ý thức hệ Triết lý nhân sinh giáo huấn đạo
lý theo quan điểm Nho giáo không thật thích hợp với tình hình xã hội đang có nhiều biến đổi T- t-ởng quần chúng và truyền thống dân tộc trở nên có vai trò
to lớn trong việc bồi d-ỡng nhân cách con ng-ời thời đại Nội dung triết lý, giáo huấn trong Đ-ờng luật Nôm có cơ sở từ ý thức hệ Nho giáo, từ truyền thống dân tộc Việt Nam, từ hiện thực xã hội và t- t-ởng thời đại Hội tụ ở đây
có những biểu hiện tích cực của đạo Nho, những giá trị tinh thần truyền thống của dân tộc, những tinh hoa của thời đại, (không chỉ hội tụ mà còn dung hợp) Nho giáo có những khái niệm định tính của nó như ‚tam cương‛, ‚ngũ thường‛, ‚ngũ luân‛, ‚thiên mệnh‛, ‚trung dung‛… Dân tộc có những đặc
điểm truyền thống riêng nh-: đoàn kết, tinh thần vị tha, đức tính tiết kiệm v v
ở thơ Nguyễn Trãi và Nguyễn Bỉnh Khiêm nội dung triết lý và giáo huấn tr-ớc hết chịu ảnh h-ởng sâu sắc truyền thống dân tộc, sau đó là ảnh h-ởng mạnh mẽ của Nho giáo Đề tài, chủ đề này góp phần xây dựng nhân cách con ng-ời Việt Nam, bởi nội dung chứa đựng những yếu tố tích cực của Nho giáo, những tinh hoa dân tộc và thời đại Tuy vẫn nằm trong hệ thống đề tài, chủ đề phản ánh cuộc sống và tâm sự của tác giả nh- đề tài, chủ đề phản ánh triết lý nhân sinh, răn dạy đạo lý đã có khuynh h-ớng h-ớng ngoai, khuynh h-ớng xã hội hoá
Đây xem nh- b-ớc chuyển tiếp từ hệ thống đề tài cuộc sống và tâm sự tác giả sang hệ thống đề tài có tính thế sự trong quá trình phát triển của Đ-ờng luật Nôm
Đề tài, chủ đề lịch sử không phải là đề tài, chủ đề xuyên suốt trong thơ Nôm Đường luật Nó chỉ xuất hiện trong ‚Hồng Đức quốc âm thi tập‛ và thơ bà Huyện Thanh Quan Thơ về đề tài lịch sử trong ‚Hồng Đức quốc Âm thi tập‛ hầu hết là nhân vật lịch sử Địa danh lịch sử d-ờng nh- không đ-ợc đề cập đến Với nhân vật lịch sử các tác giả chú ý đề cao những tấm g-ơng cứu n-ớc thời Hùng V-ơng nh- Phù Đổng Thiên V-ơng, Chử Đồng Tử Cảm hứng chung bao trùm là cảm hứng yêu n-ớc và tự hào dân tộc, các tác giả hầu nh- không mang t- t-ởng Nho giáo khoác lên họ
Thơ bà Huyện Thanh Quan thể hiện cảm hứng lịch sử khác với cảm hứng đó trong ‚Hồng Đức quốc âm thi tập‛ Nếu cảm hứng lịch sử trong ‚Hồng
Trang 24Đức quốc Âm thi tập‛ là cảm hứng tràn đầy niềm vui, tràn đầy niềm lạc quan thì trong thơ bà Huyện Thanh Quan lại thấm đ-ợm nỗi buồn cô đơn, xót xa, nuối tiếc Đi vào đề tài, chủ đề lịch sử, bà Huyện Thanh Quan d-ờng nh- không xuất phát từ ý thức giai cấp hoặc tinh thần dân tộc mà xuất phát từ sự ý thức, từ thức tỉnh cá nhân Con ng-ời cá nhân đã bắt đầu đối diện với tr-ờng
kỳ lịch sử và cảm nhận tất cả nỗi cô đơn, nhỏ bé của mình Cảm hứng hoài cổ trong thơ bà Huyện Thanh Quan không phải là sự trốn tránh hiện tại mà chính
là sự tìm cách để khẳng định mình tr-ớc thực tại ý nghĩa nhân bản trong thơ bà Huyện Thanh Quan cũng chính là ở đó
Với đề tài, chủ đề lịch sử đối t-ợng phản ánh của Đ-ờng luật Nôm không còn giới hạn trong phạm vi cuộc sống và tâm sự tác giả Đ-ờng luật Nôm đã chiếm lĩnh được ‚thời gian nghệ thuật‛ dài hơn và đang tiến tới chiếm lĩnh những
‚không gian nghệ thuật‛ rộng lớn hơn
Đề tài, chủ đề xã hội, đất n-ớc và con ng-ời đã xuất hiện trong ‚Quốc
Âm thi tập‛ nhưng với số lượng còn ít Thơ Nguyễn Trãi đã có phản ánh cuộc sống xã hội nh-ng chủ yếu thông qua cảm xúc và tâm trạng tác giả Đề tài, chủ
đề này thực sự bắt đầu từ ‚Hồng Đức quốc Âm thi tập‛, qua ‚Bạch Vân quốc ngữ thi tập‛, đến thơ Hồ Xuân Hương, thơ Nguyễn Công Trứ từ đề tài, chủ đề này càng quan trọng Trong thơ Nôm Đ-ờng luật Nguyễn Khuyến và đặc biệt
là trong thơ Tú X-ơng, phản ánh hiện thực xã hội, đất n-ớc, con ng-ời trở thành đề tài, chủ đề lớn nhất So với ‚Quốc Âm thi tập‛ thì hiện thực xã hội, đất nước, con người trong ‚Hồng Đức quốc Âm thi tập‛ phong phú và đa dạng hơn Tác phẩm đề cập tới nhiều mặt của cuộc sống xã hội, chủ yếu là cuộc sống nông thôn, cảnh sinh hoạt cảnh lao động- với những công việc đồng áng, sông nước… Đề tài này trong ‚Bạch Vân quốc ngữ thi tập‛ có tỉ lệ thấp hơn và nội dung cũng chưa phong phú, đa dạng bằng ‚Hồng Đức quốc Âm thi tập‛ Từ thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm đến thơ Hồ Xuân H-ơng là một b-ớc tiến dài trong khuynh h-ớng xã hội hoá, dân chủ hoá đề tài Cuộc sống Hồ Xuân H-ơng khác hẳn về căn bản so với Nguyễn Bỉnh Khiêm, nếu Nguyễn Bỉnh Khiêm xuất phát
từ lập tr-ờng phong kiến từ quan điểm đạo đức để xem xét hiện thực xã hội thì
Hồ Xuân H-ơng lại xuất phát từ lập tr-ờng đối lập với xã hội đó và từ quan
điểm nhân sinh để nhìn nhận những vấn đề đặt ra trong cuộc sống Tr-ớc Hồ Xuân H-ơng, thơ nói đến thế sự qua những tầng lớp xã hội nói chung, kiểu
‚ngư tiều canh mục‛ trong ‚Hồng Đức quốc Âm thi tập‛ kiểu giàu nghèo, sang hèn trong thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm, ch-a hoàn toàn v-ợt lên trên những khái niệm những phạm trù công thức có sẵn Đến Hồ Xuân H-ơng con ng-ời cụ thể
Trang 25đã xuất hiện: anh học trò dốt, s- hổ mang, bà lang khóc chồng, phụ nữ chửa hoang…Điểm nổi bật trong đề tài, chủ đề thơ Hồ Xuân H-ơng không phải là sinh hoạt xã hội mà là số phận con ng-ời Hoà vào âm h-ởng chung mang tinh thần nhân văn cao cả của văn học nửa cuối thế kỷ XVIII nửa đầu thế kỷ XIX,
Hồ Xuân H-ơng đã góp một tiếng nói riêng: tiếng nói của ng-ời phụ nữ về thế giới phụ nữ
Đến thời kỳ Tú X-ơng, Nguyễn Khuyến xu h-ớng xã hội hoá dân chủ hoá đề tài đ-ợc mở rộng và thay đổi về chất ở hai nhà thơ cuối cùng của văn học trung đại Việt Nam ta có thể thấy những dấu nối của văn học các thế kỷ tr-ớc đồng thời thấy dấu hiệu của một nền văn học hiện đại mới ra đời Mặc dù vẫn còn giới hạn trong chức năng phản ánh xã hội qua ‚trữ tình thế sự‛ ‚tư duy thế sự‛ ‚trào phúng thế sự‛ nhưng cả Tú Xương và Nguyễn Khuyến đều đã cố gắng v-ợt ra ngoài sự giới hạn đó để phản ánh đời sống xã hội với những chi tiết hiện thực, sinh động
Tú X-ơng đ-ợc xem nh- là một bức ký hoạ chân thực về xã hội thực dân phong kiến ở thành thị ở đó ta vừa thấy tính chất, đặc điểm, vừa thấy thật cụ thể diện mạo của một xã hội đang có những biến đổi lớn mà nét nổi bật là sự nhốn nháo, ô hợp trong những quan hệ gia đình, xã hội, khi lối sống ‚tây‛ đang tấn công vào ‚tam cương‛ ‚ngũ thường‛ và lấn sang phá huỷ cả truyền thống
đạo đức tốt đẹp của dân tộc Xét từ góc độ phản ánh hiện thực xã hội, có thể thấy thơ Nôm Nguyễn Khuyến là bức tranh toàn cảnh, chân thực về đời sống,
về con ng-ời ở giai đoạn cuối của Đ-ờng luật Nôm đã xuất hiện khuynh h-ớng
đi vào đời t-, mặc dù ch-a thật sự đậm nét Những b-ớc đi đầu tiên này chắc hẳn có một ý nghĩa nào đó đối với sự phát triển và mở rộng chủ đề đời t- trong thơ ca Việt Nam giai đoạn sau
Đề tài, chủ đề thơ Nôm Đ-ờng luật phản ánh khuynh h-ớng cảm hứng sáng tạo nghệ thuật Từ những cảm hứng mang những yếu tố tích cực của Nho giáo đến những cảm hứng bắt nguồn từ truyền thống dân tộc, t- t-ởng của nhân dân và tinh thần thời đại, Đ-ờng luật Nôm đã khẳng định mạnh mẽ cảm hứng dân tộc và cảm hứng dân chủ là hai cảm hứng chủ đạo xuyên suốt quá trình phát triển nội dung thể loại Tuy nhiên ở từng thời kỳ, cảm hứng dân tộc, dân chủ có những mức độ và sắc thái biểu hiện khác nhau Thế kỷ XV đến nửa
đầu thế kỷ XVIII là sự khẳng định vai trò của cảm hứng dân tộc và tinh thần tích cực của Nho giáo Cuối thế kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX là sự khẳng
định cảm hứng dân chủ trong sự kết hợp giữa t- t-ởng quần chúng với tinh thần nhân văn cao cả của thời đại
Trang 26II Thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến
1 Vị thế của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến trong văn học trung đại Việt Nam
1.1 Nguyễn Thuyên đ-ợc coi là ông tổ của thơ Nôm – cùng với Nguyễn Thuyên có Nguyễn Sĩ Cố, Chu Văn An, Hồ Quý Ly là những ng-ời đầu tiên xây dựng lâu đài thi ca Việt Nam Nh-ng đó là buổi đầu còn sơ sài Phải chờ
đến Nguyễn Trãi, thi ca mới nở trọn vẹn những cánh hoa muôn màu sắc rực rỡ
ở thời Lý – Trần, thi ca chữ Hán cũng nh- chữ Nôm còn quá ít ỏi Nhất là một số lớn thơ ca thời này đã bị quân nhà Minh mang về Kim Lãng cho nên ngày nay chúng ta không còn giữ lại đ-ợc những tác phẩm quí giá của tổ tiên
ta Nh-ng qua sự thống kê của Lê Quý Đôn, Phan Huy Chú, ta thấy rằng thơ ca n-ớc nhà còn rất ít Chính Nguyễn Trãi là ng-ời làm giàu cho văn học Việt Nam về công trình sáng tạo cũng nh- biên khảo - Nguyễn Trãi là một cây đại thụ của nền văn học thế kỉ XV mà bóng cả còn bao trùm nền văn học các thế
hệ sau
Thực vậy, Nguyễn Trãi đã góp phần to lớn xây dựng một n-ớc Việt Nam
độc lập, hùng mạnh cùng với quân dân thời Lê Lợi chống giặc Minh Nguyễn Trãi đã góp vào nền thi ca còn ít của dân tộc 254 bài thơ Nôm và 105 bài thơ chữ Hán Ngoài ra, ông còn nhiều tác phẩm có giá trị như ‚gia huấn ca‛ ‚ức Trai dư địa chí‛… công phu của Nguyễn Trãi thật lớn lao Trải qua bao nhiêu thời gian, Nguyễn Trãi vẫn đ-ợc hậu thế suy tôn ng-ỡng mộ
Vua Lê Thánh Tông đã viết : ‚ức Trai lòng dạ sáng như sao khuê‛ thừa chỉ quan phục hầu Nguyễn Trãi, hiệu ức Trai, đỗ tiến sĩ đời Nhuận Hồ, khi vua Thánh tổ sáng nghiệp, Nguyễn Trãi đến qui phụ ở Lôi Giang Trong thì bày m-u đặt kế phù tá, ngoài thì thảo th- giao thiệp với quân Minh ở các thành và vua Trung Quốc, được vua tín nhiệm‛ (1)
Nguyễn Hậu Trai nhận định : ‚Nguyễn Trãi có được môn học chính tông,
về văn ch-ơng, về đức hạnh, d-ới Triều Lê, đ-ợc vào hạng tuấn tú Cứ coi việc lấy nhân nghĩa định được nước, lấy hoà bình làm gốc yên vui, thì biết rõ‛ (1)
Tô Thế Huy, trong bài tựa ‚Quần hiền‛ viết: ‚Từ thời Trần đến nay, hạng
mũ áo cân đai kề hàng trăm, hàng ngàn, thế mà văn ch-ơng để lại chỉ có vài ng-ời thôi Nguyễn Chứ Bật khơi nguồn, Đào S- Tích dẫn cho n-ớc chảy, Lý Chuyết Am, (Tử – Tấn), Nguyễn Cúc Pha (Mộng Tuân), Trần Mật Liêu (Thuấn Du), Nguyễn ức Trai làm cho sóng gợn Hùng văn trong n-ớc không đâu lớn
(1) Nguyễn Trãi, ức trai thi tập- tr 672 – SĐD
Trang 27hơn đ-ợc Đó là sông Giang, sông Hán trong các sông và sao ng-u sao đấu trong các sao‛(2)
Ngô Thời Sĩ đã nhắc đến ức Trai bằng một giọng kính cẩn ‚nho sĩ cuối
đời Trần có Nguyễn ức Trai là bậc nhất‛(3)
Những lời khen ngợi, ca tụng trên đã biểu thị lòng kính trọng của hậu thế
đối với ức Trai Đó là những viên ngọc sáng ngời, những nét chạm trổ tinh vi trên chiếc ghế văn học mà hậu thế đã kính cẩn dành cho Nguyễn Trãi
1.2 Nguyễn Khuyến (1835-1909) là một trong những cây đại thụ của văn học dân tộc Tuy bóng mát của cây đại thụ ấy không rợp bóng nhiều thế kỉ nh- Nguyễn Trãi và Nguyễn Du, nh-ng gốc rễ của nó đã ăn sâu vào đất Việt, góp phần tạo nên tâm hồn dân Việt
Nguyễn Khuyến là nhà thơ cuối thế kỉ XIX nh-ng ông vẫn còn viết cho
đến tận những năm đầu thế kỉ XX Trên chặng đ-ờng chuyển tiếp giữa hai thời
kỳ văn học, từ trung đại b-ớc sang cận đại ông là một trong những đại diện lớn nhất cuối cùng của văn học Việt Nam trung đại, đồng thời cũng là ng-ời chứng kiến những b-ớc thăng trầm bi th-ơng vào loại bậc nhất của lịch sử văn học dân tộc Tận mắt chứng kiến sự thất bại của Triều Nguyễn và các phong trào yêu n-ớc tr-ớc một kẻ thù hoàn toàn xa lạ, nhận thấy một cách một đau xót sự sụp đổ của một hệ t- t-ởng đã lỗi thời, cũng nh- sự bất lực đến hài h-ớc của một loại hình trí thức đại diện cho hệ t- t-ởng ấy tr-ớc thực tế lịch sử
T-ởng chừng cùng với sự kết thúc của thể chế xã hội lạc hậu ấy, nền văn học trung đại sẽ rơi vào ngõ cụt của sự bế tắc với một ph-ơng thức phản ánh
đã lỗi thời Nh-ng thật kì lạ từ trong sự suy thoái t-ởng chừng đã đến đỉnh
điểm lại xuất hiện một tài năng thơ ca vào loại xuất chúng nh- Nguyễn Khuyến Ông giống nh- một dấu chấm cảm thán khẳng định tính cổ điển có sức làm lay động lòng ng-ời của văn học trung đại vào giai đoạn cuối cùng của thời kì văn học dài hàng chục thế kỉ này của dân tộc
Nguyễn Khuyến là vị đại diện khá tiêu biểu cho lớp ng-ời đ-ợc xã hội phong kiến đào tạo Ông quyết chí đi thi và đỗ đầu cả 3 kỳ thi, đ-ợc vua Tự
Đức ban cờ biển và 2 chữ Tam Nguyên, tài năng lẫy lừng một thời Nh-ng số ng-ời đỗ đạt cao mà tên tuổi l-u truyền cho hậu thế nh- Nguyễn Khuyến không phải là nhiều, bởi Nguyễn Khuyến đã thể hiện tài năng của mình ở cả hai ph-ơng diện: tài học và tài thơ văn, cả hai đều xuất sắc, cái tr-ớc là cái của một thời còn cái sau là cái của muôn đời ông không phải anh hùng dân tộc nh-
Trang 28Nguyễn Trãi, nỗi niềm của ông có điểm gần với Nguyễn Du hơn: đều phải làm những việc miễn c-ỡng, đều có những nỗi dằn vặt éo le không tiện nói ra và
đều mong hậu thế hiểu cho lòng mình, cho nỗi khó xử của mình Đó là những nhân cách lớn của lịch sử Họ là những ng-ời mang ơn sâu nặng của chế độ xã hội đã đào tạo và tôn vinh mình và đến khi đạt đến đỉnh cao của vinh quang cũng là lúc họ chợt nhận ra mặt trái đen tối của xã hội mà mình nguyện đem hết sức mình ra phụng sự, tôn thờ
Sự trở về Yên Đổ là một b-ớc ngoặt quyết định quan trọng trong sự nghiệp văn học của Nguyễn Khuyến Và thơ văn ông chính là sự kết hợp một cách nhuần nhuyễn giữa những tinh hoa của văn học bác học với nguồn sữa dân gian đ-ợc chắt lọc từ ngàn đời của dân tộc ở mỗi một thời kì lịch sử văn học, nhất là những giai đoạn phát triển rực rỡ th-ờng xuất hiện những tài năng có năng lực kết hợp ở mức độ cao hơn tinh hoa của văn học dân gian và văn học bác học Văn học dân gian chính là cội nguồn nuôi d-ỡng văn học dân tộc, giúp văn học dân tộc thoát khỏi những bế tắc, ràng buộc Nh-ng cũng chính văn học bác học với những trí thức thông kim, bác cổ đã góp phần vô cùng quan trọng giữ gìn, phát huy, sáng tạo giúp cho văn học dân gian phát triển
Sự kết hợp quan trọng nhất trong văn học Việt Nam bắt đầu từ Nguyễn Trãi - Ông đã tạo ra một b-ớc ngoặt và sự khởi đầu hết sức quan trọng cho nền văn học dân tộc, trong đó thể hiện rõ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa trí tuệ bác học và dân gian đem lại cho văn học tinh thần của thời đại và hơi thở của dân tộc - điều mà tr-ớc đó còn mờ nhạt
Nguyễn Du cùng với Truyện Kiều đã làm một b-ớc tổng hợp lớn tiếp theo có giá trị khẳng định sự lớn mạnh của văn học dân tộc, một lần nữa đ-a văn học dân tộc lên đến đỉnh cao mới Sự kết hợp lần này là hết sức lớn cả về chất l-ợng và qui mô đã góp phần tạo nên một giai đoạn văn học rực rỡ B-ớc tổng hợp ở Nguyễn Khuyến có phần khiêm tốn hơn nh-ng không phải là không
có những thành tựu mới mẻ tạo nên một dáng vẻ riêng biệt Ông không có đ-ợc những ‚thiên cổ hùng văn‛, những tác phẩm dài hơi tầm cổ, mà đặc biệt thành công ở những thể loại nhỏ ở đó, tinh hoa của nền thơ ca gần một ngàn năm của dân tộc đ-ợc chắt lọc, ch-ng cất qua từng câu chữ tạo nên những tác phẩm nh-
có ma lực hấp dẫn và gần gũi ngay cả với những ng-ời nông dân bình th-ờng
Sự gần gũi và dân dã đó, những bậc thi hào tr-ớc ông cũng khó có đ-ợc Thơ
ông là sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhiều phẩm chất thơ ca: dân gian và bác học, trữ tình và trào phúng v.v… là sự hội tụ nhiều phẩm chất của thơ ca dân tộc và các bậc thi hào tr-ớc ông Điều đó đã khiến cho giọng điệu trong thơ
Trang 29Nguyễn Khuyến trở nên đa dạng, là sự kết hợp đan xen, hoà trộn nhiều màu sắc thẩm mỹ Nguyễn Khuyến là ng-ời viết đ-ợc rất nhiều thể loại: thơ trữ tình, thơ trào phúng, các thể thơ thất ngôn, ngũ ngôn, tứ tuyệt, lục bát, song thất lục bát
Ông còn là một nhà soạn câu đối vô địch, là ng-ời viết hát nói có biệt tài và
đầy sáng tạo, một dịch giả xuất sắc Thơ Nôm, thơ Hán của ông đều rất hay
Trong quá trình phát sinh, phát triển lâu dài gian khổ của dòng thơ tiếng Việt, Nguyễn Khuyến là ngôi sao sáng cuối cùng của nền văn học trung đại Việt Nam
2 Giới thiệu “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi
‚Quốc âm thi tập‛ gồm 254 bài Nguyễn Trãi được xem như nhà thơ lớn
đầu tiên viết thơ chữ Nôm, đồng thời cũng là ng-ời sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số l-ợng nhiều bậc nhất trong nền thơ cổ điển dân tộc Xem xét giá trị
tự thân cũng nh- vai trò, vị trí tập thơ trong toàn cảnh nền văn học truyền thống, ‚Quốc âm thi tập‛ mở ra nhiều hướng tiếp cận, nhiều vấn đề lí thú về nội dung và nghệ thuật ngôn từ, về văn học và văn hoá, về chính ý nghĩa tập thơ trong sự phát triển chung của ngôn ngữ dân tộc
Khác với bộ phận thơ chữ Hán, ‚Quốc âm thi tập‛ là thơ Nôm (thơ tiếng Việt) Vì lẽ đó mà lời thơ uyển chuyển, dung di, gần gũi đời th-ờng và gần với nếp cảm, nếp nghĩ dân tộc Đây cũng là lý do khiến các thi nhân và giới nghiên cứu cùng quan tâm, cảm thụ thơ Nôm Nguyễn Trãi chi tiết tới từng đề tài, từng bài thơ, thậm chí từng câu, từng chữ Đó là cả loạt bài bình về mùa xuân, về mùa hè, về trăng, về hoa lá, về cây tùng, cây trúc, cây chuối… So với thơ chữ Hán, tập thơ Nôm đại thành của Nguyễn Trãi có khả năng thể hiện sâu sắc tâm hồn dân tộc, cảm quan về thiên nhiên, quê h-ơng, đất n-ớc Đây cũng chính là vấn đề nhạy cảm, dễ khơi gợi niềm yêu th-ơng, gắn bó cùng xứ sở, đ-ợc nhiều nhà nghiên cứu quan tâm và đạt tới những trang viết lắng sâu, ân nghĩa Ngoài
ra, nhờ sử dụng ngôn ngữ dân tộc, Nguyễn Trãi có thể bộc lộ các cung bậc tình cảm, các sắc thái trữ tình, thế giới nội tâm và mọi -u phiền một cách tự do, linh
động hơn Cảm nhận rõ điều này, các nhà nghiên cứu đã tập trung tìm hiểu những vấn đề về con ng-ời cá nhân trong thơ, những đ-ờng biên giữa nhà t- tưởng và nhà nghệ sĩ, tính chất đa dạng của hồn thơ Với ‚Quốc âm thi tập‛ các vấn đề về ngôn ngữ, từ loại, thể loại, tiếng nói triết lí, tính bác học và dân gian,
đóng góp của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt đều rất có giá trị Nhà văn hoá lớn Phạm Văn Đồng đã có chỉ dẫn cụ thể : ‚Về thơ của Nguyễn Trãi, chúng ta nên quí trọng hơn nữa thơ chữ Nôm, tiếng ta của Nguyễn Trãi, đó là vốn rất quí của văn học dân tộc Bình luận về thơ t-ởng không bằng đọc một vài câu thơ:
Trang 30‚Nước biếc non xanh thuyền gối bãi,
Đêm thanh nguyệt bạc, khách lên lầu.‛
Thơ của Nguyễn Trãi hay là vậy ! V-ờn văn học của n-ớc nhà có những hoa quả đẹp và thơm ngon, thế mà hình nh- chúng ta ch-a thấy hết giá trị, tiếng nói của chúng ta có cái giàu cái đẹp của nó, phải biết yêu nó, dùng nó, trau dồi nó Vì sao phải đi mượn đâu đâu ?‛- Phạm Văn Đồng (Nguyễn Trãi, ng-ời anh hùng dân tộc, báo nhân dân, ngày 19-9-1962)
Nhìn chung, có thể nói ‚Quốc âm thi tập‛ là tập đại thành về thơ Nôm của Nguyễn Trãi đóng góp vào v-ờn hoa văn học đầy màu sắc Ông đã làm giàu thêm cho vốn ngôn ngữ dân tộc
3 Giới thiệu “Thơ Nôm Nguyễn Khuyến”
Nguyễn Khuyến là nhà thơ sớm đ-ợc ng-ời đời đón nhận khi về ở Yên
Đổ Thơ văn ông, nhất là thơ Nôm đã đ-ợc mọi ng-ời h-ởng ứng và đua nhau ghi chép So với thơ chữ Hán, số l-ợng thơ chữ Nôm ít hơn (86/267 bài) Nh-ng đóng góp của ông ở bộ phận thơ chữ Nôm rất lớn Qua các tác phẩm bằng chữ Nôm ng-ời ta gọi Nguyễn Khuyến là nhà thơ trào phúng, trào phúng
- hiện thực, nhà thơ yêu nước, nhà thơ ‚dân tình‛ và ‚làng cảnh Việt Nam‛…
Thoạt nhìn, căn cứ vào những chủ đề của thơ Nôm Nguyễn Khuyến ch-a nhận ra điều gì mới lạ Đó cũng là chủ đề quen thuộc của các thi tập: cảm hoài, ngôn chí, vịnh cảnh, vịnh vật, thù tạc x-ớng hoạ trổ tài Có thể nhìn nhận thơ Nôm Nguyễn Khuyến thành hai bộ phận quan trọng: trữ tình và trào phúng Khác với Trần Tế X-ơng là ng-ời đã lấy cái c-ời làm cảm hứng chủ đạo, thì ở Nguyễn Khuyến trào phúng và trữ tình liên kết khá hữu cơ với nhau Nguyễn Khuyến không hề tỏ ra cảm thấy gò bó trong khuôn khổ chặt chẽ của quy phạm Đ-ờng luật, cũng nh- không dụng công tìm kiếm những chủ đề khác biệt Nguyễn Khuyến có ý thức cao độ về giới hạn không nên v-ợt qua trong cuộc đời, và trong thơ ông, những giới hạn đó đã đ-ợc duy trì khá thận trọng Thế nh-ng ng-ời nghệ sĩ cơ hồ bẩm sinh ở Nguyễn Khuyến lại th-ờng trực cự
nự vui với ông quan khoa bảng Không xé rào, phạm vào những điều cấm kỵ lớn, Nguyễn Khuyến lại phá vỡ hàng loạt những phên dậu của văn ch-ơng chính thống
Nguyễn Khuyến tự biểu hiện một tâm hồn khác lạ, mang dấu vết trữ tình sâu đậm Tr-ớc Nguyễn Khuyến, văn học thế kỷ XVIII đã khẳng định cái tôi trữ tình qua văn học Nôm Cái thành kiến cho rằng những tâm sự, những cảm xúc nghiêm trang không tìm đ-ợc ở văn ch-ơng Nôm, thực ra là một ý t-ởng nhầm lẫn, không đứng vững khi gặp các bậc đại bút Là nhà nho, Nguyễn
Trang 31Khuyến bộc lộ những cảm xúc quen thuộc với vận mệnh một nhà Nho điển hình: thủa nhỏ hàn vi, phải nhờ vả ng-ời này kẻ khác vừa làm thầy, vừa làm trò, cay đắng vì nghèo, vì ch-a đúng số, phẫn chí và bền chí, đến lúc đỗ đạt mũ áo vinh quy cũng đắc ý Rồi quan tr-ờng lúc thăng, lúc trầm, rồi đồng liêu ng-ời tốt kẻ xấu, rồi -ớc vọng minh quân, l-ơng t-ớng, mối quan tâm đến đời sống dân c-, cho đến lúc vì một lý do nào đó, họ kiêu hãnh khép áo lui chân, về với
‚ba luống cúc‛ với ‚rau thuần cá vược‛ ‚thú điền viên‛ ‚dắt tai, ngoảnh mặt làm ngơ‛ trước các biến cố của đời sống xã hội, ca tụng cảnh nhàn dật, thả lỏng với phong nguyệt, lâm tuyền…Nguyễn Khuyến cũng lần theo từng b-ớc trong cái chu trình đó
Tâm hồn phong phú đa sắc của Nguyễn Khuyến găm sẵn một yếu tố phi nho nổi bật: sắc sảo và tinh nghịch Bức bối trong hoàn cảnh của mình, Nguyễn Khuyến tìm tới sự cân bằng trong tình nghĩa xóm làng, gia đình, trong các quan
hệ bạn hữu, vẫn ch-a đủ, Nguyễn Khuyến mổ xẻ nội tâm, cũng không yên, vẫn
bế tắc… Nguyễn Khuyến có biệt tài dùng những chữ bông lơn để diễn đạt những cơn sóng lòng dữ dội: ‚Lúc hứng đánh thêm dăm chén rượu, Khi buồn ngâm láo một câu thơ‛, ‚Tấm thân xiêm y sao mà nhẹ Cái giá khoa danh ấy mới hời‛, ‚Ghế chéo lọng xanh ngồi bảnh choẹ Nghĩ rằng đồ thật hoá đồ chơi‛ Lắm lúc ông muốn được mặc kệ: ‚Túi vũ trụ mặc đàn sau gánh vác‛,
‚Tuổi cả chơi bời hoạ sống lâu‛ cũng muốn làm như người ‚giả ngây, giả
điếc‛ Nguyễn Khuyến đã kết hợp tài tình cái tinh tế đến mức tinh quái, óc phê phán sắc sảo của t- duy dân gian với cái thâm thuý độc địa, sâu sắc Thơ Nôm trào phúng đến Nguyễn Khuyến mới thực sự ra đời: ông đ-a thể loại này sang môi tr-ờng hoạt động mới Với sáng tác trào phúng, Nguyễn Khuyến không còn là tác giả của văn học nhà Nho truyền thống Ngay từ đầu, với Nguyễn Khuyến, văn ch-ơng trào phúng đạt tới đỉnh cao
Sống trăn trở, đồng cảm với những con ng-ời bình th-ờng, lòng yêu th-ơng con ng-ời ở Nguyễn Khuyến đã phá vỡ giới hạn của văn ch-ơng bác học tr-ớc ông Nếm trải sâu sắc nỗi cay đắng trăm bề của ng-ời dân mất n-ớc, Nguyễn Khuyến đã thể hiện tấm lòng yêu n-ớc thiết tha theo cách riêng của
ông, tiếng nói của đa số ng-ời dân trong cơn quốc nạn
Thơ Nôm Nguyễn Khuyến đã bộc lộ đ-ợc nỗi lòng của chính ông, vẻ nên
đ-ợc một bức tranh toàn cảnh phong phú của đất n-ớc lúc bấy giờ
Tác phẩm thơ Nôm của ông gồm 86 bài, trong đó đ-ợc chia ra hai giai
đoạn sáng tác
- Tr-ớc khi về Yên Đổ: 23 bài
Trang 32- Sau khi về Yên Đổ : 53 bài
III Thành phần từ vựng trong văn học Việt Nam
Khi khảo sát vốn từ đ-ợc dùng trong thơ Nôm trung đại, có thể thấy nhiều thành phần từ vựng khác nhau
Tr-ớc hết xét về nguồn gốc có các lớp từ: Thuần Việt và Hán Việt
Xét về cấu tạo, có từ đơn và từ phức
Ngoài ra, nếu xét về phạm vi sử dụng phổ biến của từ ngữ, trong thơ Nôm còn có lớp từ ngữ văn học dân gian và lớp từ ngữ thông dụng Để tiện cho việc thống kê khảo sát d-ới đây, chúng tôi nêu cách hiểu về các thành phần từ vụng đó
Ví dụ: Ông, bà, cha, mẹ, anh, em…
2 Từ Hán Việt
‚Từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai
đoạn hai, mà ng-ời việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình‛(2)
Ví dụ: Hy sinh, dũng cảm, chiến đấu, hữu nghị, hoà bình…
(1) Nguyễn Thiện Giáp – từ vụng học tiếng Việt – NXBĐH và THCN, N.1985, tr.269
(2) Mai Ngọc Chữ, Vũ Đức Nghiệm, Hoàng Trọng Phiến – cơ sở ngôn ngữ học và tiếng việt – NXBĐH và GDCN, N.1990, tr.254
(3) Đỗ Kim Liên – Ngữ pháp Tiếng Việt – NXBGD, 1999 (tr.31)
* Nguyễn Văn Tu – Từ và vốn từ tiếng Việt hiện đại – NXBGDĐH & THCN, H 1976 (tr.213)
(3) Lã Nhâm Thìn – thơ Nôm Đ-ờng luật (tr.173) SĐD
Trang 33Ví dụ: Mấp mô, lóng lánh, chập chờn, chon von…
Ví dụ: ‚Chuột chạy cùng sào‛, ‚Một nắng hai sương‛, ‚nước chảy đá mòn‛…
6 Từ ngữ đời sống
‚Ngôn ngữ đời sống là ngôn ngữ giao tế dùng trong cuộc sống hàng ngày Lời nói được sử dụng trong sáng tác văn học làm thành ‚ngôn ngữ văn học nói‛*‛(3)
Ví dụ: Thì, mà, là, nha, nhé…
Trang 34Ch-ơng II: So sánh vốn từ trong thơ Nôm của Nguyễn Trãi và Nguyễn Khuyến
I Thành phần từ vựng trong thơ Nôm Nguyễn Trãi
Mục đích thống kê nhằm định l-ợng các thành phần từ vựng tạo điều kiện cho việc phân tích và nêu ra đ-ợc các nhận xét, đánh giá định tính về đối t-ợng nghiên cứu
Chúng tôi khảo sát các thành phần từ vựng trong tập thơ: ‚Quốc âm thi tập‛ của Nguyễn Trãi – Nguyễn Thạch Giang phiên khảo và chú giải NXB Thuận Hoá - Huế 2000
Và phần thơ Nôm trong cuốn ‚Nguyễn Khuyến tác phẩm‛ Nguyễn Văn Huyền s-u tầm, biên dịch, giới thiệu NXBKHX-HN 1984
Lớp từ thuần Việt thuộc ngôn ngữ dân tộc, đó là lớp từ do ng-ời Việt tạo
ra, đ-ợc dùng trong các sáng tác văn học dân gian nh- tục ngữ, ca dao, dân ca, thành ngữ… Những từ thuần Việt thường trùng với bộ phận từ vựng gốc của tiếng Việt, biểu thị những sự vật, hiện t-ợng cơ bản nhất, đã tồn tại từ rất lâu
đời Trong thơ Nôm Đ-ờng luật, các từ thuần Việt chắc chắn đ-ợc dùng nhiều
Trang 35hơn các từ Hán Việt Ch-a có một bài thơ nôm Đ-ờng luật nào mà từ Hán Việt lại nhiều hơn từ thuần Việt Ng-ời đ-ợc xem trong sáng tác thơ Nôm Đ-ờng luật sử dụng nhiều từ Hán Việt nhất là bà Huyện Thanh Quan thì cũng không
có sự đảo ngược Trong bài ‚Thăng Long thành hoài cổ‛ (được xem là bài sử dụng nhiều từ Hán Việt nhất), số từ Hán Việt cũng chỉ là 10 từ tỷ lệ = 1,3 từ Hán việt/1 câu thơ Bằng việc xác định số l-ợng, tỉ lệ từ thuần Việt chúng ta có thể thấy đ-ợc vài trò, vị trí của lớp từ này trong quá trình phát triển của thơ Nôm Đ-ờng luật
Qua việc khảo sát tập thơ Nôm của Nguyễn Trãi -‚Quốc âm thi tập‛- có thể thấy Nguyễn Trãi dùng 9.268 từ thuần Việt, trong tổng số 254 bài thơ Đó
là một tỉ lệ rất lớn Từ thuần Việt đã chiếm -u thế ngay từ đầu trong thơ Nôm
Đ-ờng luật của Nguyễn Trãi Ông đã sử dụng ngôn ngữ dân tộc một cách nhuần nhuyễn và rất có giá trị nghệ thuật
Khi miêu tả các sự vật hiện t-ợng gần gũi, quen thuộc Nguyễn Trãi đều
sử dụng các từ thuần Việt như: rau muống, niềng niễng, múc nác, mồng tơi…
Ví dụ: ‚Ao cạn vớt bèo cấy muống,
Đìa thanh phát cỏ ương sen.‛
(Thuật hứng – bài 24)
‚Một cày một cuốc thú nhà quê,
áng cúc lan chen vãi đậu kê.‛
(Ngôn chí – bài 9) Khi có những sự vật, hiện t-ợng cần gọi tên bằng một từ đơn, ông cũng
đều dùng từ thuần Việt, mà ít dùng từ Hán Việt có nghĩa t-ơng ứng Trong tập thơ Nôm của mình, Nguyễn Trãi dùng từ ‚non‛ 22 lần, 3 lần dùng từ ‚núi‛ (không lần nào dùng ‚sơn‛) Từ ‚nước‛ được dùng trong ‚Quốc âm thi tập‛ 34 lần (không dùng từ ‚thuỷ‛) Từ ‚địa‛ và từ ‚thổ‛ không được sử dụng trong khi
từ ‚đất‛ được dùng tới 7 lần, chẳng hạn:
‚Non cao non thấp mây thuộc, Cây cứng cây mềm gió hay.‛
( Mạn thuật – bài 4)
Trang 36‚Non lạ n-ớc thanh làm dấu,
Đất phàm cõi tục cách xa.‛
(Thuật hứng – bài 9)
‚Hàng chim ngủ khi thuyền đỗ, Vừng nguyệt lên thuở n-ớc cường.‛
(Trần tình – bài 6)
‚Bui một tấc lòng ưu ái cũ,
Đêm ngày cuồn cuộn n-ớc triều đông.‛
(Thuật hứng – bài 5)
‚Ruộng đôi ba khóm đất con ong,
Đầy tớ cưỡi đầy kẻ muộn mòng.‛
(Thuật hứng – Bài 11) Trong ‚Quốc âm thi tập‛, những từ biểu đạt quan hệ gia đình thân tộc th-ờng là từ thuần Việt, thay cho việc sử dụng từ Hán Việt t-ơng ứng Đó là các từ: cha, mẹ, vợ, anh, em…
Để phản ánh đất n-ớc, cuộc sống tâm hồn ng-ời Việt Nam, những từ thuần Việt có những khả năng mà các từ ngoại lai không thể có đ-ợc, đó là tính chính xác, cụ thể, sinh động và biểu cảm Tuy trong lĩnh vực tri giác, từ thuần Việt có một số hạn chế so với từ Hán Việt nh-ng b-ớc vào thế giới của trực giác thì từ thuần Việt hoàn toàn chiếm -u thế Có thể nói, không một tình huống nào của tâm trạng, không một hoàn cảnh nào của đời sống, không một thực tế của xã hội lại có thể hạn chế khả năng sử dụng ngôn từ của ng-ời nghệ
sĩ khi mà họ đã có thể sử dụng từ thuần Việt một cách thành thạo Nguyễn Trãi
là một ng-ời suốt đời hành động nh-ng tính cách cũng bộc lộ ngay khi ông về
ở ẩn Thơ ẩn dật của ông vẫn dùng nhiều từ thuần Việt:
‚Giũ bao nhiêu bụi, bụi lầm, Giơ tay áo tới tùng lâm.‛
(Ngôn chí- bài 4)
ở câu trên, chỉ có từ Hán Việt ‚tùng lâm‛ không bị thay thế bởi từ Việt t-ơng ứng nh-ng điều đó không quan trọng Trong cảm thức ngôn ngữ của người Việt, từ ‚lâm‛ trong ‚lâm tuyền‛, ‚sơn lâm‛ thường mang nét nghĩa gắn với sự ẩn dật Điều quan trọng là những từ thuần Việt trên đã khắc hoạ rõ nét,
cụ thể, sinh động một thái độ, một cử chỉ và trên hết là một tính cách
Khi thấy mình bị rẻ lạnh, ý kiến chẳng đ-ợc nghe theo, có ở lại triều đình cũng không giúp gì đ-ợc cho n-ớc, lại có thể gây hiềm khích, ông đã cáo quan
về ở ẩn:
Trang 37‚Ngàn dặm xem mây nhớ quê, Chẳng chờ gói ấn g-ợng xin về
Một bầu phong nguyệt nhàn tự tại, Hai chữ công danh biếng vả vê.‛
(Bảo kính cảnh giới – bài 28)
ông lui về Côn Sơn, nơi non xanh n-ớc biếc – và cũng là nơi mà chính ngoại tổ của ông là Trần Nguyên Đán đã một lần lui về ở ẩn Từ đây ông sống một cuộc sống tầm th-ờng, giản dị ở nông thôn:
‚Bữa ăn dù có dưa muối,
áo mặc nài chi gấm là.‛
(Ngôn chí – Bài 3) ‚Thấy nguyệt tròn thì kể tháng, Nhìn hoa nở mới hay xuân.‛
(Tự thán – bài 32)
‚Hài cỏ đạp chân đi đủng đỉnh,
áo bô quen cật vận xềnh xoàng.‛
(Tự thán – Bài 36) Những từ thuần Việt trên đã khắc hoạ rất rõ nét thái độ của Nguyễn Trãi khi ông đã lui về ở ẩn
Ông viết chân ph-ơng, mới lạ nhất là việc dùng từ ngữ thuần Việt thật xuất sắc Từ thuần Việt không làm biến dạng những sự vật, hiện t-ợng bình th-ờng trong cuộc sống Tuy nhiên, để trở thành ngôn ngữ Văn học, từ thuần Việt không chỉ làm chức năng thông báo, mà còn phải h-ớng tới mục đích thẩm mỹ, chức năng thẩm mỹ Các tác giả đ-ờng luật Nôm đã làm đ-ợc điều
đó Mở đầu là Nguyễn Trãi, tiếng Việt trong thơ ông không chỉ làm chức năng thông báo thông th-ờng mà còn có chức năng thông báo nghệ thuật
Để đạt đ-ợc điều này, Nguyễn Trãi một mặt giữ nguyên vẻ đẹp thô sơ, mộc mạc của từ thuần Việt, mặt khác bằng cách kết hợp từ, cấp cho từ thuần Việt những nghĩa bóng, những nét nghĩa ‚tinh thần‛ thoát khỏi khái niệm vật chất cụ thể, đơn nghĩa Nguyễn Trãi th-ờng sử dụng cách thứ hai Chúng ta thử theo dõi xem cách ông dùng từ ‚trăng‛:
‚ Quét trúc bước qua lòng suối, Th-ởng mai về đạp bóng trăng.‛
(Ngôn chí - bài 15)
‚Trì cỏ được câu ngâm gió, Hiên mai cầm chén hỏi trăng.‛
Trang 38(Mạn thuật – Bài 1) ‚Trăng‛ trong những câu thơ trên không còn là ‚trăng‛ vật chất, vô tư, khách quan, vô tình ‚trăng‛ chính là tâm hồn con người, đồng cảm thành tâm
sự, đồng cảm thành bóng hình Từ ‚trăng‛ thuần Việt cũng mang nét ý nghĩa tinh thần không kém gì từ ‚nguyệt‛ Hán Việt Có thể thấy rõ điều đó khi so sánh:
‚Chè tiên nước nghín, nguyệt đeo về.‛
(Thuật hứng – Bài 3) và: ‚Quẩy trăng túi nặng thằng hề.‛
(Bảo kính cảnh giới – bài 28) và: ‚Hiên mai cầm chén hỏi trăng.‛
‚Trăng‛ trong câu thơ ‚Lòng bạn trăng vằng vặc cao‛ có cùng hàm lượng
ý, hàm lượng thơ bằng với ‚nguyệt‛ trong câu:
‚Nọ nào biết được lòng tri kỷ, Vẳng non tây, nguyệt một vừng.‛
(Bảo kính cảnh giới – Bài 35) Qua đó rõ ràng, từ ‚trăng‛ có thể mang mọi nét nghĩa như từ ‚Nguyệt‛ hơn thế tính chất cụ thể, sinh động của từ ‚trăng‛ thì từ ‚Nguyệt‛ không có
đ-ợc
Nh-ng Nguyễn Trãi cũng rất thành công khi dùng từ thuần Việt thô sơ, mộc mạc:
‚Đông hiềm giá lạnh chằm mềm kép, Hạ lệ mồ hôi kết áo đơn
Nằm có chiếu chăn cho ấm áp,
động Ông không đặt từ trong môi tr-ờng trung tính về mặt tình cảm mà đã phát huy khả năng biểu cảm của từ Phải chăng vì thế Nguyễn Trãi đã không dùng các từ ‚phụ‛, ‚thân phụ‛, ‚phụ mẫu‛ mà chỉ dùng các từ thuần Việt như
‚cha‛, ‚mẹ cha‛ Đối với người Việt các từ ‚cha‛, ‚mẹ cha‛ gần gũi, thân mật hơn các từ ‘phụ‛, ‚phụ mẫu‛ rất nhiều Người Việt kính trọng cha mẹ trước hết
là xuất phát từ tình cảm, chứ không phải xuất phát từ tôn ti trật tự theo tinh thần
Trang 39đạo lý nho giáo Từ ‚cha mẹ‛ trong thơ Nguyễn Trãi được phát ra từ trái tim chân thành tha thiết:
2.1.2 Từ Hán Việt
Nh- trên đã nói, hệ thống ngôn ngữ thơ Nôm đ-ờng luật gồm hai bộ phận: thuần Việt và gốc Hán Từ của tiếng Hán du nhập vào Việt Nam đ-ợc ng-ời Việt đọc theo hệ thống ngữ âm của tiếng Việt thì đ-ợc gọi là từ Hán Việt Nói cách khác, ‚từ Hán Việt là những từ gốc Hán du nhập vào tiếng Việt trong giai đoạn hai, mà ng-ời Việt đã đọc âm chuẩn của chúng theo hệ thống ngữ âm của mình‛ (1)
Qua thống kê của chúng tôi trong thơ Nôm Đ-ờng luật của Nguyễn Trãi
từ Hán Việt có số l-ợng thấp hơn nhiều so với từ thuần Việt
Trong ‚Quốc âm thi tập‛ có hiện tượng một số từ Hán việt đ-ợc dùng song song với từ thuần Việt như ‚nguyệt‛ và ‚trăng‛
‚Trăng kề cửa kẻo đèn khều.‛
Trang 40(Tự thán – bài 14)
‚Ao quan thả gửi hai bè muống.‛
(Thuật hứng – bài 24)
‚Một ao niêng niếng‛ mấy đòng đòng.‛
Những từ song tiết Hán việt được dùng trong ‚Quốc âm thi tập‛ với nghĩa
cụ thể chứ ch-a mong ý nghĩa trìu t-ợng nh- sau này Chẳng hạn
‚Tham nhàn lánh đến giang san.‛
tổ quốc nh- sau này
Bộ phận từ Hán Việt th-ờng thể hiện những khái niệm Nho giáo Trong thời kỳ này, Nho giáo vẫn giữ vai trò quốc giáo, có ảnh h-ởng mạnh mẽ trong xã hội Nhiều thuật ngữ, khái niệm Nho giáo đã trở thành từ vựng toàn dân Mặt khác, do các tác giả Đ-ờng luật Nôm ở giai đoạn này chủ yếu là Nho sĩ (dù là nhập thế hay ẩn dật) nên trong sáng tác của họ có nhiều từ Hán Việt thể hiện nội dung Nho giáo là điều dễ hiểu Trong ‚Quốc âm thi tập‛ của Nguyễn Trãi cũng thế Một số lớn thuật ngữ Nho giáo hoàn toàn dùng từ Hán Việt, mà không có từ thuần Việt tương đương Ví dụ như các từ ‚nhân nghĩa‛, ‚cương thường‛, ‚xuất xứ‛, ‚tự tài, ‚quân tử‛, ‚tiểu nhân‛, ‚quân thân‛… ví dụ:
‚Chữ học ngày xưa quên hết dạng, Chẳng quên có một chữ c-ơng th-ờng.‛
(Tự thán – bài 12)
‚Nhân nghĩa trung cần chờ tích ninh, Khó thì hay khéo, khốn hay hanh.‛
(Báo kính cảnh giời – bài 4)
‚Mừng thủa thái bình yêu hết tấc,
No lòng tự tại quản chi là.‛
(Trần tình – Bài 3)
‚Thân nhân đến chốn dầu tự tại, Xuân muôn hoa nào chẳng rụng rời.‛
(Thuật hứng – bài 14)
‚Nẻo khỏi tiểu nhân quân tử nhọc,