1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đóng góp của nguyễn đình thi về lí luận phê bình văn học từ 1945 đến 1975

63 129 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 63
Dung lượng 557,03 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đảng giao phó cho lý luận phê bình những trách nhiệm hết sức nghiêm túc và trọng đại: “Nhà phê bình văn nghệ thì không chỉ đóng vai người thưởng thức bình thường mà phải làm đúng trách

Trang 1

PHẦN MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

1.1 Cách mạng tháng Tám là một cuộc “tái sinh màu nhiệm” (Hoài Thanh) [1,107], “một cuộc hồi sinh vĩ đại” (Nguyễn Huy Tưởng) [1, 926] cho dân tộc, nhân dân Đồng thời, Cách mạng cũng tạo ra một bước ngoặt, một cuộc đổi mới cho văn học Việt Nam Hơn nửa thế kỷ qua, văn học đã gặt hái được thành công trên nhiều lĩnh vực: thơ, tiểu thuyết, truyện ngắn, tuỳ bút, ký Trên đà phát triển chung ấy, lý luận phê bình văn học cũng đạt được những thành tựu đáng kể, góp phần thúc đẩy nền văn học phát triển mạnh mẽ

Lý luận phê bình văn học từ năm 1954 phát triển theo định hướng của Đảng với trách nhiệm nặng nề nhưng cũng vô cùng cao quý Đảng giao phó cho lý luận phê bình những trách nhiệm hết sức nghiêm túc và trọng đại:

“Nhà phê bình văn nghệ thì không chỉ đóng vai người thưởng thức bình thường mà phải làm đúng trách nhiệm nhà phê bình, tức là phải đấu tranh để bảo vệ đường lối văn nghệ của Đảng, góp phần vào việc chỉ đạo sáng tác và nghiên cứu văn nghệ nâng cao chất lượng của tác phẩm nghệ thuật, nâng cao

tư tưởng, nhận thức và trình độ thẩm mỹ của quần chúng nhân dân” [14,175] Đáp ứng niềm tin cậy của Đảng, đội ngũ những người làm công tác lý luận phê bình đã thể hiện ý thức trách nhiệm cao cả của người chiến sĩ cách mạng trên mặt trận văn hoá Bên cạnh một số cây bút chuyên viết lý luận phê bình văn học, còn có những người vừa sáng tác vừa viết lý luận phê bình Trong số này không thể không nhắc đến Nguyễn Đình Thi

1.2 Nghĩ về Nguyễn Đình Thi, chúng ta nghĩ đến một nghệ sĩ đa tài Ông không chỉ làm thơ, viết tiểu thuyết, soạn kịch, soạn nhạc, nghiên cứu và viết những vấn đề thuộc về triết học mà còn là một cây bút lý luận phê bình văn học xuất sắc Có thể nói, ở lĩnh vực nào Nguyễn Đình Thi cũng xây dựng cho mình được một “cái nhà” Người ta có thể gọi ông là nhà thơ, nhà văn, nhà

Trang 2

soạn kịch, nhạc sĩ và nhà lý luận phê bình văn học Riêng ở lĩnh vực lý luận phê bình có thể nói Nguyễn Đình Thi đã tạo được cho mình một phong cách riêng, độc đáo Những bài tiểu luận của ông có sức lôi cuốn mạnh mẽ và mang tính thời sự nóng hổi

Tuy nhiên, cho đến nay những bài viết, những công trình nghiên cứu về thể loại phê bình lý luận của Nguyễn Đình Thi chưa nhiều và chưa khái quát được toàn bộ chặng đường làm lý luận phê bình của Nguyễn Đình Thi Với luận văn này, chúng tôi mong muốn có được cái nhìn toàn diện hơn về những đóng góp của Nguyễn Đình Thi ở khu vực lý luận phê bình văn học

1.3 Từ năm 1975 trở về sau, Nguyễn Đình Thi dường như ít viết lí luận phê bình Đúng như nhận xét của Giáo sư Hà Minh Đức: “Tiếc rằng hoạt động lí luận phê bình của ông kết thúc quá sớm và sau này ông ít có dịp trở lại” [ , 29] Luận văn của chúng tôi giới hạn vấn đề nghiên cứu chỉ đến 1975

là vì thế

2 Lịch sử vấn đề nghiên cứu

Nếu như Cách mạng tháng Tám thành công mở ra cho nhiều văn nghệ sĩ một con đường rộng mở trước mắt, giục bước chân họ mạnh dạn đi vào phong trào sục sôi của dân tộc, mang tài năng, lý tưởng của mình phục vụ quần chúng đồng đảo thì với Nguyễn Đình Thi, con đường đó đã in dấu chân ông Ngay từ những ngày đầu của thập kỷ bốn mươi, Nguyễn Đình Thi đã có những bài viết những buổi nói chuyện với học sinh, sinh viên với tư cách là một người đi theo Cách mạng

Nguyễn Đình Thi không phải là người chuyên viết lý luận phê bình văn học Ông viết lý luận phê bình để sáng tác và sáng tác dựa trên những vấn đề

mà lý luận phê bình của mình đề ra Đã có rất nhiều công trình nghiên cứu, những bài viết về các thể loại khác như: tiểu thuyết, thơ, kịch, nhạc của Nguyễn Đình Thi và những công trình ấy dù lớn, dù nhỏ đều đã khẳng định

Trang 3

được vị trí của ông trong nhiều thể loại, thể hiện một tài năng đa dạng và sung sức

Những bài viết về Nguyễn Đình Thi ở khu vực lý luận phê bình văn học không nhiều Có thể kể ra một số bài viết tiêu biểu sau:

- Lê Anh Trà: Nhân đọc “Mấy vấn đề văn học” và “Một số vấn đề đấu tranh tư tưởng trong văn nghệ hiên nay” của Nguyễn Đình Thi, Tạp chí

Văn học, số 8, năm 1960

- Vũ Đức Phúc: Nguyễn Đình Thi và việc viết tiểu thuyết, Báo Văn nghệ số

97, năm 1965

- Chu Nga: Nhà văn Nguyễn Đình Thi, Báo Văn nghệ, số 390, năm 1971

- Lê Đình Kỵ: Cây bút lí luận phê bình Nguyễn Đình Thi, Tạp chí Tác phẩm

mới, số 34, tháng 11 năm 1974

- Phan Cự Đệ: Nguyễn Đình Thi, trong sách Nhà văn Việt Nam (1945-1975),

Nxb Đại học và THCN năm 1979

- Trần Hữu Tá: Văn học Việt Nam 1945-1975, Nxb Giáo dục, 1990

- Mai Hương: Nguyễn Đình Thi – Từ quan niệm đến thơ, Tạp chí Văn học

Trang 4

bình văn học, tác dụng dẫn đường và sự cổ vũ, động viên mạnh mẽ của những bài lý luận ấy

Phan Cự Đệ trong bài Nguyễn Đình Thi đã có một cái nhìn tương đối khái

quát về tài năng đa dạng của ông trên các lĩnh vực: thơ, tiểu thuyết, lý luận phê bình Nhận xét về ngòi bút lý luận phê bình của Nguyễn Đình Thi, ông viết: “Ở Nguyễn Đình Thi có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa lý luận và phê bình, giữa khả năng tổng hợp và phân tích, đề xuất những vấn đề có ý nghĩa khái quát với năng khiếu thẩm mỹ tinh tế Lý luận của ông không sách vở, kinh viện mà xuất phát từ thực tế sáng tác, thực tiễn đời sống nhà văn” [20,61] Gần gũi với Phan Cự Đệ, Trần Hữu Tá đánh giá cao ngòi bút lý luận phê bình của Nguyễn Đình Thi Trong bài viết, ông nhận xét: “Nói đến Nguyễn Đình Thi là ta nói đến một tài năng nhiều mặt, vừa sắc sảo trong lý luận phê bình, vừa sung sức trong sáng tác” Tác giả khẳng định: “Văn lý luận của ông không kinh viện, khô cứng mà tươi mát, lôi cuốn và có cái nền vững trãi của triết học” [16,245]

Hà Minh Đức, trong bài Sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Thi, viết:

“Lý luận của Nguyễn Đình Thi không thuộc dạng thuần lý mà gắn với kinh nghiệm hoạt động của bản thân qua từng thể loại văn học hoặc tổng kết về phong trào Ý kiến của Nguyễn Đình Thi về thơ, về tiểu thuyết, đặc biệt là tiểu thuyết vừa mang đặc điểm riêng vừa có giá trị chung” [4,28]

Lê Anh Trà, khách quan và thẳng thắn nhìn thấy những thiếu sót những hạn chế trong lý luận của Nguyễn Đình Thi Mặc dù vậy tác giả cũng vẫn phải khẳng định rằng: “Trong những bài tiểu luận của mình, Nguyễn Đình Thi đã sớm nêu ra một số vấn đề lý luận cơ bản, có tác dụng tốt đến hoạt động sáng tác của các nhà văn nghệ Việt Nam” [17,324]

Nhận xét về phong cách Nguyễn Đình Thi trong lý luận phê bình văn học,

Lê Đình Kỵ khẳng định: “Nguyễn Đình Thi đã tạo được cho mình một phong cách riêng trong lý luận phê bình Anh hiểu biết sâu sắc nhiều đặc trưng thẩm

Trang 5

mỹ của văn nghệ và nắm khá vững ngôn ngữ nhiều ngành nghệ thuật Bằng một lời văn trong sáng, giàu hình tượng và cảm xúc ngôn ngữ, phê bình tiểu luận của anh có chiều sâu của sự suy nghĩ và tầm khái quát đồng thời vẫn tạo

ra được một sự rung động tinh tế về mặt thẩm mỹ Nguyễn Đình Thi viết tiểu luận, phê bình bằng cả tâm hồn mình, cho nên những trang viết từ những ngày đầu kháng chiến đến nay đọc lại vẫn còn xúc động” [7,338]

Lê Đình Kỵ nhận ra sức sống trong những bài lý luận của Nguyễn Đình Thi, một ngòi bút giàu chất thơ nhưng cũng giàu khả năng tư duy: “Đứng vững trên lập trường nguyên tắc, đưa sự sống, đưa tâm hồn, đưa suy nghĩ sáng tạo vào lý luận phê bình, đó là ưu điểm nổi bật của Nguyễn Đình Thi Ngòi bút phê bình và lý luận ở anh thật nhịp nhàng Có người nghệ sĩ hơn trong cách nhìn nhận vấn đề, có người thi sĩ hơn trong cách cảm thụ, có người uyên bác và bề thế hơn trong lập luận Trước cái đúng, cái sai có người dứt khoát, quả quyết hơn Nhưng Nguyễn Đình Thi nổi bật lên ở khả năng tư duy,

ở sự hài hoà giữa chính trị, triết học và văn nghệ, kết hợp với sự nhận xét sâu sắc với trình độ cảm thụ sắc bén và nét bút khi nghệ sĩ, khi chính luận Nhờ vậy mà Nguyễn Đình Thi đã thoả mãn được giới yêu thích văn nghệ có những

sở thích và xu hướng khá trái ngược nhau Nói sao cho phía sáng tác nghe có

lý, có tình, không phút nào hạ thấp yêu cầu của văn nghệ điều đó không phải người phê bình nào cũng làm được” [7, 344]

Khẳng định sức lôi cuốn trong những bài lý luận phê bình của Nguyễn Đình Thi, Chu Nga đánh giá: “Nó như chiếc chìa khoá mà người văn nghệ sĩ dùng để mở cửa đi vào một thế giới mới vô cùng hấp dẫn, nhưng còn lạ lẫm đối với họ Và tuy lúc đầu những đòi hỏi ấy cũng có phần cao, song dần dần

họ đã làm được” [7, 41]

Hà Minh Đức cũng đánh giá tương tự Điểm nổi bật của lý luận phê bình Nguyễn Đình Thi là “giá trị tư tưởng vừa phù hợp với quy luật vận động chung của đời sống, vừa mang ý nghĩa tiên phong mở đường” [4, 30]

Trang 6

Với những luận điểm chúng tôi hệ thống trên đây, các nhà nghiên cứu đều thống nhất trong nhận định, đánh giá Nguyễn Đình Thi là một cây bút lý luận phê bình văn học sắc sảo, mang một phong cách riêng, giản dị nhưng lại có một sức lôi cuốn mạnh mẽ, mang tính thời sự cao nhưng không hề khô khan, cứng nhắc

Luận văn của chúng tôi không phải bắt đầu từ mảnh đất trống Ý kiến của những người đi trước giúp chúng tôi định hướng được cho luận văn Từ đó mong muốn có được cái nhìn toàn diện hơn, bao quát hơn với thể loại lý luận phê bình văn học của Nguyễn Đình Thi, trên cơ sở một số nét mà chúng tôi cho là đặc sắc, tiêu biểu nhất

3 Mục đích, đối tượng, tài liệu nghiên cứu

3.1 Mục đích nghiên cứu

Tìm hiểu những đóng góp của Nguyễn Đình Thi đối với lý luận phê bình văn nghệ từ 1945 đến 1975

3.2 Đối tượng nghiên cứu

Các luận điểm về văn học nghệ thuật được Nguyễn Đình Thi trình bày từ

1945 đến 1975

3.3 Tài liệu nghiên cứu

Tập Hồi ức – Kỷ niệm Cách mạng – Kháng chiến và đời sống văn học (1945 – 1954) gồm 3 tập do Ban Văn học Việt Nam hiện đại, Viên Văn học

tổ chức biên soạn, Phong Lê chủ biên, đến 1995 được tập hợp lại, bổ sung thêm và in chung trong một tập – gồm trên 60 hồi ký của các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình trong đó có Nguyễn Đình Thi

Tạp chí Tiên phong: (Sưu tập trọn bộ, gồm 24 số, từ 10.11 năm 1945 đến

1.12 năm 1946, của Hội Văn hoá Cứu quốc Việt Nam), NXB Hội Nhà văn,

Hà Nội, 1996

Báo Văn Nghệ: của Hội Văn nghệ Việt Nam, gồm 56 số, xuất bản tại

chiến khu Việt Bắc từ 1948 đến 1954

Trang 7

Nguyễn Đình Thi – Tuyển tập, Nxb Văn học, Hà Nội, 1997

4 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp thống kê, so sánh, đối chiếu, phân tích tổng hợp

5 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu và phần Kết luận, luận văn của chúng tôi gồm có hai

chương

Chương 1 Vấn đề đấu tranh tư tưởng - đóng góp của Nguyễn Đình Thi

qua những thời điểm “nhận đường” của văn học nghệ thuật nước nhà

Chương 2 Đóng góp của Nguyễn Đình Thi đối với lí luận về công chúng

văn học, lý luận về thơ, tiểu thuyết

Trang 8

PHẦN NỘI DUNG

Chương 1

VẤN ĐỀ ĐẤU TRANH TƯ TƯỞNG - ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI

QUA NHỮNG THỜI ĐIỂM “NHẬN ĐƯỜNG” CỦA VĂN HỌC NGHỆ

THUẬT NƯỚC NHÀ

1.1 Thời điểm “nhận đường” lần thứ nhất (1945 – 1954)

Cùng với Nguyễn Huy Tưởng, Nam Cao, Nguyên Hồng, Tô Hoài , Nguyễn Đình Thi là một trong số các văn nghệ sĩ đầu tiên tham gia Hội Văn hoá Cứu quốc, thành lập vào tháng 4 năm1943

Ngay từ những ngày đầu sau Cách mạng tháng Tám, Nguyễn Đình Thi đã

là một cây bút được chú ý trên lĩnh vực lý luận phê bình văn học Đóng góp của Nguyễn Đình Thi cho nền văn học Việt Nam hiện đại trên nhiều lĩnhvực: Tiểu thuyết, kịch, thơ, nhạc Lý luận phê bình chỉ là một mảng trong những đóng góp nói trên Thế nhưng, khi nhắc đến đội ngũ những người làm lý luận phê bình trong kháng chiến từ những ngày đầu không ai lại không nhắc đến Nguyễn Đình Thi Vương Trí Nhàn nhận xét: “Ngoài một vài nhà nghiên cứu

và lý luận từ trước Cách mạng như Đặng Thai Mai, Hoài Thanh, đội ngũ người làm phê bình mới chưa hình thành và chính các nhà văn phải đảm nhiệm lấy lý luận, trong đó nhân vật nổi bật lên hàng đầu là Nguyễn Đình Thi” [10,63] Nguyễn Đình Thi viết lý luận chủ yếu bằng những bài tiểu luận chứ không phải bằng những công trình nghiên cứu quy mô Giai đoạn này Nguyễn Đình Thi viết không nhiều, do phải đảm nhiệm rất nhiều công việc cùng một lúc Là một trong những người đầu tiên tham gia Hội Văn hoá Cứu quốc Việt Nam, từng giữ trọng trách Uỷ viên Ban Chấp hành Hội Văn hoá

Trang 9

Cứu quốc, là thành viên Bộ biên tập Tạp chí Tiên phong, những bài tiểu luận, phê bình của Nguyễn Đình Thi gắn liền với công tác của ông trong Hội Văn hoá Cứu quốc Thế nên, đọc những bài viết của Nguyễn Đình Thi, chúng ta

có thể theo dõi được những sự kiện lớn trong văn học giai đoạn này Những bài viết của Nguyễn Đình Thi mang tính thời sự cao, phục vụ kịp thời trong cuộc đấu tranh trong văn học Nguyễn Đình Thi là tác giả của các bài viết:

Dưới ánh sáng cứu quốc: xét qua văn hoá Việt Nam trong sáu năm chiến tranh (1939 – 1945) (số 1), Văn nghệ với cuộc chiến đấu hiện thời của dân tộc (số 2), Nguồn sống của văn hoá Việt Nam (số 4-5), Xây dựng con người (số 15, 16, 17) nhằm nhận thức và vận dụng Đề cương Văn hoá Việt Nam

1943 trong tình hình đất nước ở thời điểm 1945 - 1946 Bám rất sát phương châm dân tộc hoá, đại chúng hoá, khoa học hoá được khởi động từ Đề cương văn hoá Việt Nam 1943, gắn sự phát triển của văn hoá văn nghệ với cuộc

sống hiện tại của dân tộc là điểm chung trong các bài viết nói trên của Nguyễn Đình Thi “Tất cả nguồn sáng của nhà văn, nghệ sĩ ta hiện nay chỉ có thể ở phong trào dân tộc Con đường đi của văn nghệ hiện nay chỉ có thể là con đường cứu nước” [1, 73] Nguyễn Đình Thi nêu lên trách nhiệm nặng nề nhưng cao cả của văn nghệ lúc bấy giờ là phải “ giúp cho cuộc tranh đấu giành độc lập giúp cho cách mạng giải phóng dân tộc được hoàn thành, thúc đẩy phong trào cứu quốc” [1, 73] Bởi vì theo ông khi một đất nước mất tự do thì văn học nghệ thuật trong nước ấy cũng phải chịu chung số phận bị phụ thuộc, gông cùm Chính vì thế cuộc chiến đấu càng gay go quyết liệt, nhiệm

vụ cứu nước của nhà văn và nghệ sĩ càng rõ rệt, càng cấp bách và đòi hỏi hết

cả tài năng cũng như tâm trí Trong sự phức tạp của tình hình đất nước những ngày đầu mới giành độc lập, văn nghệ không chỉ cổ vũ, động viên quần chúng nhân dân giữ vững tinh thần chiến đấu, đặt trọn niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng mà văn nghệ còn phải nâng đỡ tinh thần quần chúng, giữ vững tinh thần quần chúng “ Lúc ấy, văn nghệ phải là một sức tranh đấu, một sức thúc đẩy,

Trang 10

lúc ấy những cuốn sách, những vỡ kịch, những bài thơ, những tấm hoạ, những điệu hát phải làm rung động được lòng người dân đến trào nước mắt, đến kêu thét lên mà sống chết với quân xâm lược” [1, 74] Nguyễn Đình Thi kêu gọi:

“Con đường cứu nước, con đường giúp cho cách mạng giải phóng dân tộc là con đường sáng duy nhất, nhà văn nghệ ta lúc này hơn lúc nào hết, nhất định phải đi theo” [1, 74]

Thời điểm này, khi Cách mạng mới giành được thắng lợi trong một thời gian chưa lâu, không phải ai cũng xác định được cho mình một con đường đi duy nhất đúng ấy Nhiều người còn chần chừ chưa dám “mạnh bước” trên con đường vinh quang nhưng đầy gian khổ, nhiều người tỏ ra bất lực trước phong trào cách mạng hừng hực sục sôi của dân tộc Trước chiến tranh đa số các văn nghệ sĩ bị trói buộc trong những “tháp ngà” nghệ thuật xưa cũ, “tưởng rằng có thể sống trong “tháp ngà” của mình mà sáng tác mãi mãi và mãi mãi phụng sự cái đẹp thuần tuý”[1, 72] Bài viết của Nguyễn Đình Thi có ý nghĩa rất lớn đối với tầng lớp văn nghệ sĩ lúc bấy giờ

Xây dựng con người ( tên một bài viết của Nguyễn Đình Thi năm 1946),

đặc biệt xây dựng tư tưởng cho con người là một công việc không nhẹ nhàng, không đơn giản Công việc ấy đòi hỏi phải xắn tay thực hiện ngay từ những ngày đầu tiên sau Cách mạng Trong ý thức của Nguyễn Đình Thi, xây dựng con người, nâng cao vị trí xã hội của con người cũng đồng nghĩa với việc phá

bỏ tâm lý tự thu mình lại, đứng ngoài cuộc chiến đấu hiện thời của dân tộc “ cuộc tranh đấu để giải phóng cho con người không thể đóng khung trong phạm vi từng cá nhân, nó phải diễn ra ở toàn thể mặt trận Nó phải là cuộc tranh đấu để đổi thay cả xã hội” [19, 43]

Nhận đường là tên một bài viết của Nguyễn Đình Thi vào cuối năm 1947

Bài viết trở thành một danh từ quen thuộc để gọi một giai đoạn của văn nghệ Việt Nam Bài viết nói lên tâm trạng điển hình, “nỗi đau xót của một cuộc lột vỏ” của các nhà văn lớp trước khi bước vào cuộc cách mạng dân tộc dân chủ,

Trang 11

thâm nhập vào đời sống công nông Bài viết đó không phải không có tâm trạng của Nguyễn Đình Thi Ông bày tỏ quyết tâm sắt đá của mình, cũng là quyết tâm của đội ngũ văn nghệ sĩ yêu nước sẵn sàng rũ bỏ nếp sống cũ để tìm đến những hàng đầu trong trận đánh của dân tộc “ nơi cuộc kháng chiến sáng rõ nhất, nơi sự sống nổi lên thành gió bão” [19, 59] Trước Cách mạng,

họ là những con người hoàn toàn bế tắc, không thể tìm thấy cho mình một con đường đi đúng Cách mạng tháng Tám thắng lợi đã mở ra trước mắt họ một chân trời mới, đã mang đến cho văn nghệ sĩ một cuộc đời mới Nhưng với tư cách là một nghệ sĩ, họ chưa biết phải làm gì để phục vụ cho Cách mạng và kháng chiến “ chúng ta ngày nay đang còn bỡ ngỡ mới bước vào kháng chiến Chúng ta còn loạng choạng trong cơn lốc những sự việc, những buồn vui, những nỗi mừng, lo, yêu gét mới” [19, 50], mặc dù họ đều ý thức được rằng “ văn nghệ là một sức mạnh không kém gì súng đạn, nhất là khi xã hội rung chuyển thay đổi” [19, 50]

Từ thân phận nô lệ trở thành người công dân một nước độc lập, tự do, họ cảm thấy cách mạng như một ngày hội Nhưng phải làm gì để cống hiến cho cách mạng ở vị trí nghề nghiệp của mình, họ cảm thấy lúng túng, hoang mang Xét đến cùng họ vẫn bị cầm tù bởi những quan điểm chính trị, nghệ thuật xưa cũ Ngoài ra văn nghệ trước hết là vấn đề tình cảm thẩm mỹ Tình cảm ấy không dễ gì chịu quy thuận, tuy lý trí đã thức tỉnh trước lẽ sống lớn của thời đại Vấn đề “nhận đường” mà Nguyễn Đình Thi đưa ra mang tính thời sự nóng hổi Nó là nỗi bức xúc của cả một thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ Ông hiểu và cảm thông với quá trình “lột vỏ” đau đớn của họ “Cái xác cũ rụng xuống, chưa dứt hẳn, da non mới mọc, chưa lành, một chút gì chạm phải cũng chảy máu” [19, 48]

Nhưng ý nghĩ của bài viết không chỉ khép khung ở đó Vang vọng mãi chính là lời thúc giục, sự động viên và niềm tin tưởng của Nguyễn Đình Thi với việc “nhận đường” của văn nghệ sĩ “Không, không, sự sống mới đang

Trang 12

chói lọi Đầu óc của chúng ta đã nóng rực, xôn xao, ầm ầm trăm ngàn tiếng nói, hình ảnh muốn bay ra ngoài Chúng ta cứ mạnh bạo sáng tác, những phút ngượng ngập sẽ qua đi rất nhanh chóng” [19, 59]

Cách mạng đã mở ra một con đường đi sáng chói trước mắt Nguyễn Đình Thi kêu gọi các văn nghệ sĩ hãy rũ bỏ cái lốt cũ của mình, tách ra khỏi cái vỏ

ốc của cuộc đời mình mà tung cánh hoà vào cuộc sống đang nổi gió của dân tộc, đem những sáng tác của mình góp phần vào cuộc chiến đấu vĩ đại của dân tộc Phải làm sao để “mỗi sáng tác là một viên đạn bắn vào đầu kẻ thù” [19, 48]

Để thấu hiểu giá trị của Nhận đường cũng như đóng góp của Nguyễn Đình

Thi đối với văn học 1945 – 1954 trên phương diện lý luận cần đặt bài viết trong bối cảnh xã hội và văn học nghệ thuật sau Cách mạng Cách mạng tháng Tám khép lại quá khứ, mở ra hiện tại Kỷ nguyên mới với từng dáng nét

cụ thể ngày càng hiện hữu trong đời sống dân tộc đã chịu đựng 80 năm mất nước Một cuộc đời tươi mới đã bắt đầu với từng con người, với mỗi văn nghệ sĩ Trong đội ngũ những người làm văn chương nghệ thuật hào hứng đón chào Cách mạng và không lâu sau đó lại hăm hở tham gia kháng chiến, chúng ta bắt gặp những gương mặt rạng rỡ của nhiều người đến từ nhiều trào lưu, khuynh hướng nghệ thuật khác nhau Bên cạnh các nhà văn, nhà thơ cách mạng như Tố Hữu, Hải Triều… là các nhà văn hiện thực phê phán như Ngô Tất Tố, Nam Cao, Nguyên Hồng, Nguyễn Công Hoan, các nhà văn, nhà thơ lãng mạn như Thạch Lam, Nguyễn Tuân, Xuân Diệu, Lưu Trọng Lư… Tuổi đời, tuổi nghề của họ cũng rất khác nhau Họ đều từ nhiều miền quê khác nhau, môi trường, hoàn cảnh sống, thành phần xuất thân khác nhau Tâm tư, suy nghĩ của mỗi người về cách mạng và kháng chiến cũng không giống nhau Nhiều người trong số họ không khỏi có những giây phút phân vân, tìm kiếm “nhận đường” như tên gọi dồn nén biết bao ý nghĩa trong tiểu luận của Nguyễn Đình Thi Con đường cách mạng với tư cách công dân ở mỗi nhà

Trang 13

văn, nhà thơ đã quá rõ Con đường văn chương trong tư cách nghệ sĩ rồi sẽ ra sao khi cái cũ đã qua, cái mới đã đến nhưng chưa kịp định hình Bởi vậy,

nhiều người trong số họ như nhận xét của Trường Chinh trong cuốn Kháng chiến nhất định thắng lợi: “muốn làm mà chưa biết làm gì, thậm chí, có người

còn giữ địa vị bàng quan, chưa có phương châm kế hạch dứt khoát” Năm

1947 Nguyễn Huy Tưởng ghi trong nhật ký: “Qua một cơn khủng hoảng muốn sống cho thật (…) sống nửa vời Không biết ngôn ngữ, tâm trạng của đại chúng Tư tưởng cầu an, tâm lý tiểu tư sản còn thích cái pittoresque (cái đẹp mĩ miều ) (…) Nhà văn Việt Nam nhút nhát quá, không dám dấn thân vào vòng nguy hiểm, chỉ nghĩ đến sáng tác mà không nghĩ đến sống cho mạnh mẽ ” [8, ] Tâm trạng ấy đâu phải chỉ riêng của một người, một mình Nguyễn Huy Tưởng Dẫu không nhiều nhưng một số nhà văn theo lời kể của Nguyễn Tuân “người thì không chịu được gian khổ, có người vì nghiện thuốc phiện mà phải “dinh tê”” Còn bản thân Nguyễn Tuân, trong quá trình đi và viết “cũng có lúc tả hữu, có lúc chếnh choáng, ấu trĩ” [8, 54] Cũng vào năm

1947, thời điểm Nguyễn Đình Thi viết Nhận đường, trong nhật ký Ở rừng,

Nam Cao chân thành tự đối chiếu mình trước và sau Cách mạng tháng Tám: “ Tôi nghĩ đến tôi nhiều quá, rằng cái tôi của mình thật ra chẳng có ý nghĩa lý

gì (…) Tôi đã cố gắng rất nhiều và vẫn còn đang cố gắng để có thể thích những công việc nhũn nhặn, thầm lặng nhưng có ích Tôi biết tôi còn phải cố gắng nhiều lắm nữa Vẫn còn những lúc thằng nghệ sĩ trong tôi vùng dậy” Nếu lắm lúc Nguyễn Huy Tưởng “thấy bất lực quá chừng” thì Nam Cao chợt thấy buồn rầu vì luôn mấy năm nay không viết được một tác phẩm nào khiến

cho các bạn nhắc nhở Cũng trong nhật ký Ở rừng, Nam Cao có một so sánh

thú vị: “Gần những người Mán đói rách và dốt nát thấy họ rất yêu Cách mạng, làm Cách mạng chân thành, sốt sắng và tận tuỵ, chúng tôi thấy tin tưởng vô cùng So sánh với những thằng “bố vấu” mà còn gọi là trí thức nửa vời (…) chúng nó chẳng yêu một cái gì, chẳng làm gì Chúng nó chỉ tài chửi

Trang 14

đổng” Nhận đường được viết trong bối cảnh như vậy Bài viết của Nguyễn

Đình Thi xác định dứt khoát: “Còn tìm, còn lý luận gì nữa, đường đi sáng chói trước mắt (…) Văn nghệ phụng sự chiến đấu nhưng chính kháng chiến đem lại cho văn nghệ một sức sống mới” [18, 48, 49]

Trong bài viết của mình, Nguyễn Đình Thi cũng đã làm sáng tỏ được mối quan hệ thống nhất giữa văn nghệ và chính trị Đây là một trong những yêu cầu đặt ra cho lý luận phê bình văn học giai đoạn này… Để làm được điều đó, văn nghệ sĩ “phải biết tìm đến những hàng đầu trong trận đánh của dân tộc, nơi cuộc kháng chiến cháy rõ nhất, nơi cuộc sống nổi lên thành gió bão, cuốn tung mọi chướng ngại” [19, 59] Với định hướng ấy, bài viết của Nguyễn Đình Thi góp phần giải toả, khai thông rào chắn tâm lý đối với văn nghệ sĩ Lúc hai nhà văn thân yêu Trần Đăng và Nam Cao ngã xuống trên chiến trường vào các năm 1949, 1951, trong tư thế đẹp đẽ, hào hùng, tư thế nhà văn – chiến sĩ, Nguyễn Đình Thi trân trọng đánh giá, ghi nhận đóng góp của họ đối với văn học nước nhà mà họ là hai trong số những chân dung tiêu biểu Qua những bài phê bình xúc động, Nguyễn Đình Thi có nhiều khám phá về tài năng của mỗi nhà văn Viết về Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi tóm bắt được đặc điểm lớn nhất của nhà văn này là: “nắm chắc được những cảnh sống, những con người bộ đội, viết nên những trang lạnh lùng mà đốt cháy, gân guốc, ồn ào, gay go, những người cán bộ và đội viên đánh giặc” [19, 88] Văn của Trần Đăng, theo đánh giá của Nguyễn Đình Thi: “cũng như đời sống của anh, nhiều tính cách, lý trí, một lý trí kiểm soát chặt chẽ mọi ý nghĩ và tình cảm, cân nhắc từng nhận xét nhỏ, xoi mói vào sự thật không dừng lại ở

bề ngoài nào” [19, 88] Nguyễn Đình Thi dường như đã nhận ra tất cả thế mạnh của ngòi bút đã làm nên sức sống trong tác phẩm của nhà văn này:

“Những trang viết không hề gợi chút tiểu xảo, với con mắt nhìn thẳng, thật, đầy sức mạnh và ánh sáng bên trong” [19, 87] “Trần đăng muốn thản nhiên

và im lặng, không lúc nào nói to lên Anh muốn nói thêm vào sự việc, dù là

Trang 15

một ý nghĩ hay tình cảm tươi tốt, yêu mến Đọc Trần Đăng thấy tình cảm nén xuống trước sự thật trần trụi hiện lên rất rõ Nhưng người đọc vẫn thấy nhiều yêu mến dưới bề ngoài cố ý lạnh lùng” [19, 88] Với Nam Cao, Nguyễn Đình Thi cũng có những lời yêu thương và cảm phục như thế: “Văn Nam Cao ngay trong những tác phẩm đầu, đã thực sự thu hút Anh nhìn sâu vào sự thực một cách sắc lạnh nhiều khi mĩa mai với một nụ cười buồn, anh làm hiện lên những cảnh, những người của cuộc đời trăm vẻ, quen biết mà luôn lạ lùng không ngờ Lời văn anh đậm đà tiếng nói dân dã, không lúc nào tầm thường,

mà sáng trong tự nhiên như trong thơ văn cổ điển” [19, 94] Thế nhưng, hoài bão ấp ủ của các nhà văn ấy cho một nền văn nghệ kháng chiến, văn nghệ phục vụ nhân dân sẽ không bao giờ được thực hiện Nhưng tấm gương, truyền thống để lại thật là vô giá mà anh chị em văn nghệ sĩ quyết tâm noi theo để cho sáng tác của mình xứng đáng hơn với những người đã ngã xuống, với

cuộc chiến đấu của dân tộc Nhưng điều cơ bản mà Nguyễn Đình Thi muốn gửi gắm qua những bài phê bình ấy là thái độ nhập cuộc, tình thần “nhận đường” quyết tâm đứng vào hàng ngũ của công nông binh trong cuộc kháng chiến vì độc lập vì tự do của dân tộc

Có lẽ đối với các văn nghệ sĩ đây là sự chuẩn bị vất vả, dai dẳng nhưng đúng đắn Viết về Trần Đăng, Nguyễn Đình Thi nhận xét: “Người thanh niên

có tâm hồn phong phú, nhiều suy nghĩ ấy cũng là một con người mê mải ham hành động (…) Rời bỏ cái Hà Nội hoa lệ, hời hợt, kỳ thực Trần Đăng muốn vượt qua những nề nếp, những dấu vết của hai mươi mấy năm tuổi trẻ, sống giữa sách vở, nhà trường, và hè phố của thời nô lệ Kháng chiến ném Trần Đăng về đồng ruộng, lên rừng núi, bấy giờ mới đến những bước khó khăn nhất Thực sự đi vào nhân dân lam lũ, tìm hiểu đời sống và tâm hồn những người thợ, những người nông dân, những con người trước kia Trần Đăng chưa mấy quen biết, công việc đầy những gian nan, trầy trật Trần Đăng thắc mắc, có khi đau đớn nhận thấy những quãng còn xa cách giữa anh và những

Trang 16

người anh yêu mến” [19, 84-85] Nhưng rồi “ bước theo bộ đội, Trần Đăng thấy đỡ bỡ ngỡ Lòng yêu hành động, tâm hồn nhiều nghĩ ngợi của anh được thấy sung sướng, thoải mái trong đời sống bộ đội…Lặng lẽ, nhẫn nại, Trần Đăng đi hết chiến dịch này đến chiến dịch khác…” [19, 86]

Điểm lại những tác phẩm Nam Cao sáng tác trong mấy năm đầu của kháng

chiến chống Pháp nhật ký Ở rừng, Đôi mắt, Bốn cây số cách một căn cứ địch…, Nguyễn Đình Thi viết những dòng độ lượng nhưng cũng đầy trân

trọng: “Những truyện mới của anh còn khô, có khi bị gò ép Có bạn trách anh bắt những nhân vật mới của anh diễn thuyết quá nhiều Mặc, anh nắm cổ nghệ thuật của anh, bắt nó phục vụ cho cuộc chiến đấu sống chết của dân tộc Nhân vật nói nhiều cũng chưa sao, miễn nói đúng” [19, 99]

Phê bình tập truyện ngắn Núi Cứu quốc của Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi phát hiện ngoài những điểm thành công của Núi Cứu quốc, Tô Hoài còn để

lại trong tác phẩm của ông những nhược điểm rất dễ nhận thấy về mặt tư

tưởng: “Núi Cứu quốc là kết quả của một cuộc chuyển biến chưa xong Tập

truyện chưa dứt khoát trong tư tưởng tình cảm của tác giả Tô Hoài ghi vội, chưa kịp hoà tư tưởng và tâm hồn theo đề tài” [19, 276] Qua việc phê bình

Núi Cứu quốc của Tô Hoài, Nguyễn Đình Thi thẳng thắn chỉ rõ: “Đối với tác giả Núi Cứu quốc, câu chuyện chính lúc này là xem lại kỹ hơn con người viết

văn của mình, suy nghĩ hơn nữa Cái nhẹ về đời sống tư tưởng có lẽ là điểm yếu nhất của Tô Hoài Từ lâu, anh đã tìm con đường đẹp nhất và hiệu qủa nhất trong việc tự làm lại con người: là xếp hàng hẳn vào cuộc chiến đấu” [19, 276]

Từ vấn đề nhận đường, qua những bài tiểu luận của mình, Nguyễn Đình

Thi đã có qua niệm mới mẻ về con đường của văn chương kháng chiến, có ý nghĩa như kim chỉ nam cho hoạt động sáng tác của văn nghệ sĩ lúc bấy giờ Nguyễn Đình Thi khẳng định dứt khoát: “Con đường đi của văn nghệ ta hiện thời chỉ có thể là con đường cứu nước” [1, 74] Với ý thức sâu sắc ấy, hàng

Trang 17

loạt bài viết của ông giai đoạn này đều hướng về nhiệm vụ kháng chiến, kêu gọi văn chương hướng về “cuộc chiến đấu hiện thời của dân tộc và phải thổi lên thành gió bão” [18,59] Con đường cứu nước, con đường giúp cho Cách mạng giải phóng dân tộc là con đường sáng duy nhất mà văn nghệ lúc này hơn lúc nào hết phải đi theo “Lúc này chỉ có văn nghệ cứu nước là văn nghệ của đại chúng… Lúc này không có văn nghệ đại chúng nào ở ngoài con đường cứu nước Lúc này chỉ có văn nghệ cứu nước là văn nghệ cách mạng, lúc này không có văn nghệ cách mạng nào ở ngoài con đường cứu nước” [1, 74]

Cuộc kháng chiến không chỉ là đề tài bất tận cho văn nghệ mà nó còn đòi hỏi văn nghệ phải hướng đến như một trách nhiệm Văn nghệ phải góp phần tạo nên chiến thắng của cuộc kháng chiến: “Chúng ta đem sức đóng góp vào cuộc chiến đấu chung Kẻ cũ người mới, kẻ hướng này người hướng khác chúng ta cùng quây tất cả quanh ngọn cờ giải phóng dân tộc, viết, vẽ, làm nhạc, kháng chiến trên mặt trận văn nghệ, những mong mỗi sáng tác là một viên đạn bắn vào đầu kẻ thù” [19,49]

Để tác phẩm mang sức mạnh của tinh thần chiến đấu, Nguyễn Đình Thi cho rằng mỗi văn nghệ sĩ phải xác định dứt khoát một vị trí, một chỗ đứng không ngoài cuộc sống của quần chúng nhân dân, hoà mình vào cuộc sống ấy, biến nó thành máu thịt của mình, phải làm thế nào để “hiểu được tâm hồn những lớp người dân đông đảo đang chiến đấu, làm thế nào để sống được những tình cảm, ý nghĩ của lớp người xưa nay xa cách hẳn ta, làm thế nào để trở thành những con người của tầng lớp khác để sống được sự sống của họ” [19,51]

Vấn đề hoà mình vào cuộc sống của quần chúng đông đảo, tham gia tích cực vào cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc không phải đến Nguyễn Đình

Thi mới đề cập đến Trước đó, trong Đề cương Văn hoá Việt Nam (1943),

Trường Chinh đã nói và nói rất rõ qua phương châm “Đại chúng hoá” Thế

Trang 18

nhưng những ý kiến của Nguyễn Đình Thi nêu ra vẫn làm văn nghệ sĩ phải suy nghĩ, trăn trở “Chúng ta đã nghe nói nhiều: Sống đã rồi viết, nhưng câu chuyện là sống những gì, sống sự sống nào? Chúng ta phải nắm được những nét lớn của cuộc kháng chiến chung quanh rồi khi đã hiểu biết thì dám bắt tay vào việc, cùng nhân dân kháng chiến chứ không phải đứng ngoài nhìn” [19,52] Đây là vấn đề thuộc về lòng yêu nước, ý thức trách nhiệm của văn nghệ sĩ đối với kháng chiến, với dân tộc Ngay từ đầu, Nguyễn Đình Thi chống lại quan điểm tư sản về độc lập tư tưởng, tự do của nghệ thuật, tự do

cá nhân Ông viết: “Không, không, chúng ta không thể tha thứ cho sự đào ngũ của nghệ thuật Chúng ta không thể để cho nghệ thuật, văn học trở nên một thứ thuốc phiện ru ngủ, đưa con người đi trốn tránh trách nhiệm xã hội, xa lánh sự thật, quay lưng lại cuộc đấu tranh của quần chúng” [19,41] Ông kịch liệt lên án thứ văn chương chỉ biết khóc lóc buồn nản, than thân trách phận của những người bị đầu độc bởi chủ nghĩa cá nhân tàn lụi, chỉ biết có mình, tự bịt mắt mình lại, tự quay lại trong một hàng rào kín mít rồi lấy cớ là sống cho hết mức sự sống của riêng mình, miệt mài đi tìm những vị lạ trong những thuốc độc quái gỡ, truỵ lạc, bệnh tật cho đến lúc không còn gì kích thích nỗi những tâm hồn đã cạn ráo chán chường, và kết quả dẫn đến sẽ là sự phụ thuộc một cách đê hèn, cầu xin một bàn tay độc tài sai bảo, để được làm một cái máy, khỏi phải tìm một câu trả lời cho chính mình Theo Nguyễn Đình Thi thì lúc này hơn bao giờ hết người văn nghệ phải “sống được cuộc sống kháng chiến của dân tộc, hiểu được hướng đi của dân tộc ta hiện thời, cảm xúc được cảm xúc mới của kháng chiến Tất cả vấn đề sáng tác quyết định ở điểm ấy” [19,51]

Văn nghệ không phải là súng đạn để có thể bắn thẳng vào đầu kẻ thù nhưng văn nghệ là một thứ vũ khí và sức mạnh của nó cũng không kém gì súng đạn Chính vì thế mà bước vào cuộc kháng chiến, văn nghệ phải “sáng lên được những vui buồn, yêu ghét mạnh mẽ của cuộc kháng chiến, sẽ châm

Trang 19

sáng tất cả những niềm vui, buồn, yêu ghét ấy trong lòng người Văn nghệ chiếu rọi được hướng đi tới của từng sự việc nhỏ trong cuộc chiến đấu hàng ngày, sẽ chiếu rọi được vào ý thức mọi người một luồng ánh sáng làm cho nhận rõ con đường vượt qua những khó khăn trước mắt (…) Văn nghệ đem ý thức kháng chiến vào cuộc đời hàng ngày, châm lên trong lòng người những tình cảm kháng chiến mãnh liệt, làm cho mọi người gắn liền vào cuộc sống kháng chiến bằng những phần sâu xa nhất của đời sống mình Sức mạnh và nhiệm vụ của văn nghệ là ở đấy” [19,57]

Cân nhắc thận trọng, Nguyễn Đình Thi ít dùng, thậm chí tránh dùng những thuật ngữ, khái niệm thuần tuý, khô khan Vì vậy, những bài tiểu luận của Nguyễn Đình Thi không gây cho người đọc cảm giác nặng nề, khô xác mà có sức hấp dẫn, lôi cuốn, mặc dù câu văn của ông không làm duyên, không đưa đẩy như câu văn của Xuân Diệu hay một số nhà lý luận phê bình khác Nhận xét về ngòi bút của Nguyễn Đình Thi qua những bài phê bình văn học của ông, Lê Anh Trà viết: “Cây bút phê bình của Nguyễn Đình Thi tỏ ra là có trách nhiệm và chân thành, thận trọng” [20,335] Có thể nói đó là nhận xét khá chính xác về một thể loại nhỏ nhưng không kém phần quan trọng đã tạo nên sự đa dạng trong tài năng Nguyễn Đình Thi

1.2 Thời điểm “nhận đường” lần thứ hai (1955- 1975)

Chiến thắng Điện Biên Phủ (1954) lừng lẫy năm châu “chấn động địa cầu” buộc Thực dân Pháp phải ký Hiệp định Giơ-ne-vơ, rút quân ra khỏi miền Bắc nước ta Miền Bắc Việt Nam sạch bóng quân thù Thế nhưng, mục đích thống nhất đất nước của dân tộc ta chưa được thực hiện Từ vĩ tuyến 17 trở vào vẫn ngập gót giày xâm lược Nhiệm vụ đặt ra cho toàn thể dân tộc ta lúc này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc, biến miền Bắc thành hậu phương vững mạnh chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam, đồng thời làm cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam, thống nhất đất nước Toàn Đảng, toàn dân, toàn quân dốc sức nhằm thực hiện thắng lợi hai nhiệm vụ thiêng liêng đó

Trang 20

Văn học nghệ thuật trong giai đoạn này cũng lấy những nhiệm vụ đó làm nguồn đề tài chính Giai đoạn này gắn liền với cuộc nhận đường lần thứ hai trong văn học

Mở đầu bằng cuộc đấu tranh chống nhóm Nhân văn – Giai phẩm Đây là cuộc đấu tranh tư tưởng được xem là lớn nhất trên mặt trận văn nghệ kể từ sau Cách mạng tháng Tám Vào các năm 1956-1958, bọn phản động ở miền Bắc gây rối loạn trong xã hội, đả kích chế độ xã hội chủ nghĩa, đòi xét lại vai trò lãnh đạo của Đảng, thậm trí đòi lật đổ chính quyền cách mạng Thời điểm

ấy một số ít văn nghệ sĩ trí thức vốn có những quan điểm lệch lạc, dao động trước tình hình khó khăn trong nước và trên thế giới, ngây thơ chạy theo bọn phản động “ Đọc những cái họ viết người ta chỉ thấy lòng hằn học đối với Cách mạng, một lòng hằn học đen tối, gian xảo, nó bịt kín trí óc và tâm hồn

họ, làm cho không còn nhìn nghe, xúc cảm được với những sự thật lớn lao và mới mẻ của đời sống nữa Cho nên họ chỉ nhai lại một số tư tưởng đã cũ rích của bọn phản Cách mạng và phản động” [18, 52] Dưới sự lãnh đạo kiên quyết của Đảng, cuộc đấu tranh trên mặt trận văn nghệ đã kết thúc thắng lợi

Lý luận phê bình đã có đóng góp quan trọng vào thắng lợi này Và qua đấu tranh, đội ngũ lý luận đã lớn lên về số lượng, về tinh thần cảnh giác chính trị

và tinh thần chiến đấu Thời kỳ này Đảng đặc biệt quan tâm đến công tác lý luận phê bình văn nghệ Những bức thư của Trung ương Đảng gửi các Đại hội Văn nghệ và những lời phát biểu của đồng chí Trường Chinh tại Đại hội Văn nghệ lần thứ III đã giúp lý luận, phê bình ý thức được đầy đủ vai trò, chức năng, phương pháp của nó.Đội ngũ những người làm lý luận phê bình phát triển nhanh chóng và sinh hoạt phê bình trở nên sôi nổi

Trên đà phát triển chung đó, Nguyễn Đình Thi vẫn giữ được “phong độ” của mình Vừa sáng tác vừa viết lý luận phê bình : “Lý luận của ông càng ngày càng vững hơn, chứng tỏ trình độ về lý trí, tình cảm của ông đã có những tôi luyện đích đáng” [17, 337] Trong cuộc đấu tranh với nhóm Nhân

Trang 21

văn - Giai phẩm , Nguyễn Đình Thi là một trong những người đứng đầu đã dùng ngòi bút của mình góp một phần lớn trong việc chống lại những quan điểm không phù hợp với đường lối của Đảng lúc bấy giờ Nguyễn Đình Thi

đã sớm thấy được tính chất sai lầm và tác hại của nhóm Nhân văn - Giai

phẩm Tháng 7 năm 1955, trong bài phê bình tập thơ Việt Bắc, Nguyễn Đình Thi phê phán cái gọi là “điệu tâm hồn” của của dân tộc một tác giả trong nhóm này Tâp Giai phẩm mùa Xuân xuất bản (1956), theo Nguyễn Đình

Thi là một bước đi lệch lạc, nguy hiểm: “Tập sách thể hiện chủ nghĩa cá nhân

mù quáng, đồi trụy, từ hằn học cá nhân đi đến bôi đen sự thật, bôi đen quần chúng của một số tác giả, không những đã phạm sai lầm nghiêm trọng về tư tưởng mà còn có hại về chính trị ” [18,34] “Bọn họ đã làm như thổi phồng vai trò người viết văn, tâng bốc nhà văn là “lương tâm tối cao của thời đại” là

“trọng tài” để xét xử cả Đảng và cả nhân dân, là “kẻ dấn mình vào kho thuốc nổ” để mở đường cho cái mới v.v… Nhưng thực sự như người ta thấy, bọn

họ chỉ gia công vấy bùn lên cuộc sống của chúng ta, trốn tránh đi vào quần chúng lao động để ca ngợi bọn phản động, ca ngợi lối sống ích kỷ và ăn không ngồi rồi Họ chỉ dấn mình vào những vũng bùn của bọn phản động và bóc lột chứ chẳng mở ra con đường nào hết

Lên án những sai lầm của nhóm Nhân văn - Giai phẩm , đồng thời Nguyễn Đình Thi cũng vạch ra con đường đi đúng của văn nghệ chân chính lúc bấy giờ : “Ý nghĩa việc viết văn của chúng ta là phục vụ Tổ quốc, phục vụ đời sống nhân dân, trước hết là phục cho những người hàng ngày làm ra hạt gạo, miếng vải, làm ra tất cả đời sống vật chất và tinh thần của xã hội Làm được việc ấy thì văn học rất cao quý và người viết văn là người lao động của nhân dân” [18,67] Nguyễn Đình Thi khẳng định : “Cái mới của văn học chúng ta chính là chỗ người cầm bút tự mình chọn lấy con đường chiến đấu, đứng dưới

sự lãnh đạo của Đảng, dùng ngòi bút của mình góp phần vào đời sống lao động chiến đấu hàng ngày của nhân dân, và người cầm bút ấy còn có thể cầm

Trang 22

bút hay cầm cày, khi giặc đến thì cầm súng nữa Làm trái lại thì có muốn tự xưng mình là lương tâm tối cao hay gì gì nữa, thực chất cũng chỉ là con đĩa hút máu của nhân dân hoặc con ruồi bay vo ve chung quanh những ngưòi đang nhỏ mồ hôi để tạo ra đời sống”[18,67]

Giai đoạn này, Nguyễn Đình Thi viết phê bình không nhiều, đáng chú ý

nhất là bài phê bình tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu Nguyễn Đình Thi, qua bài

phê bình này, tổng kết lại cả cuộc tranh luận “Một mặt tác giả vận dụng cái nhìn toàn diện vào khía cạnh tác phẩm, nhưng một mặt khác tác giả nắm được một ý chính làm giường mối cho toàn bài đó là tính chất quần chúng trong thơ Tố Hữu, và cái ý chính ấy đã làm cho toàn bài có một mạch lạc chặt chẽ

và sáng sủa”[17,333] Phê bình thơ của một người được xem là lá cờ đầu của thơ ca cách mạng, không phải ai cũng nói được một cách thẳng thắn, trung thực những suy nghĩ của mình như Nguyễn Đình Thi Với phương châm phê bình là để giúp cho tác giả tiến bộ chứ không phải kiểu “bới lông tìm vết”, Nguyễn Đình Thi đã giúp cho bạn đọc có một cái nhìn toàn diện hơn, sâu hơn về thơ Tố Hữu cũng như những trăn trở, tình cảm, tư tưởng của nhà thơ

khi sáng tác mà không hề làm tác giả tập Việt Bắc phật lòng

Luôn luôn khẳng định sự đúng đắn trong đường lối của Đảng, đấu tranh trên những vấn đề nguyên tắc, hay kêu gọi nâng cao chất lượng của sáng tác, Nguyễn Đình Thi “không làm theo lối khẳng định suông, không đao to búa lớn, mà bao giờ cũng có phân tích, chứng minh, có lý lẽ không chối cãi được” [7,343] Đối vơi những cá nhân bị coi là sai lầm trong nhóm Nhân văn - Giai phẩm , qua những bài phê bình của Nguyễn Đình Thi , chúng ta thấy rõ thái

độ kiên trì giáo dục và đối với những cá nhân chủ chốt, hoặc đối với những người nhất thời lầm lạc, bị lợi dụng, ngòi bút của Nguyễn Đình Thi đều có sự phân biệt, đối xử hợp lý và đúng mực

Gắn với thời điểm “nhận đường” lần thứ hai trong văn học, Nguyễn Đình

Thi còn có những bài viết : Nghệ thuật mới của nhân dân, Tiến lên hàng đầu

Trang 23

của đời sống… nhằm xác định tư tưởng, lập trường, thái độ của văn nghệ sĩ

đối với cuộc chiến đấu hiện thời của dân tộc cũng như nội dung cần phản ánh của tác phẩm nghệ thuật lúc bấy giờ Nhiệm vụ của dân tộc ta lúc này là xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và làm cách mạng Dân tộc dân chủ ở miền Nam, nên nội dung của văn nghệ cũng phải hướng vào phục vụ những nhiệm

vụ đó Có lẽ chưa bao giờ những người nghệ sĩ được nhiều điều kiện thuận lợi

và đồng thời lại cảm thấy việc sáng tác nặng trách nhiệm và đòi hỏi mình cố gắng hết sức như ngày nay Cái thuận lợi đó là có một nguồn đề tài phong phú, rộng lớn Nó như một cánh đồng phì nhiêu màu mỡ mà nghệ sĩ chỉ cần gieo những hạt giống tốt nữa là có thể gặt hái một mùa màng bội thu Thuận lợi là thế nhưng để làm được còn cần phải có một tinh thần trách nhiệm xuất phát từ chính bản thân của mỗi nghệ sĩ Đó là thái độ mong muốn được hoà mình vào cuộc đấu tranh của dân tộc, xả thân vào những chốn lao khổ mà quần chúng nhân dân đang phải gánh chiụ Nghĩ được nhưng không phải ai cũng có thể làm được cái điều tưởng như đơn giản trên

Nguyễn Đình Thi kêu gọi nội dung của văn nghệ lúc này đó là “vạch trần sự thật ghê tởm của cái chế độ tàn bạo hiện nay ở miền Nam, giữ vững

và nuôi cho cháy sáng thêm mãi ý chí chiến đấu của nhân dân ta chống lại chế

độ đó, với niềm tin chói ngời vào tương lai của Tổ quốc, vào miền Bắc đang xây dựng cuộc sống mới và xã hội mới” [18,46]

Ngoài ra văn nghệ giai đoạn này còn có nhiệm vụ chính là tham gia vào việc xây dựng xã hội mới Chúng ta bắt tay vào sự nghiệp vĩ đại nhất của loài người từ bao đời nay là xây dựng một xã hội không còn nạn người bóc lột người Xã hội đó ta đang từng bước xây dựng trên miền Bắc thân yêu

Xây dựng miền Bắc Xã hội Chủ nghĩa, biến miền Bắc thành hậu phương vững mạnh để chi viện cho tiền tuyến lớn miền Nam thực hiện thắng lợi cuộc cách mạng dân tộc dân chủ, đó là trách nhiệm cũng là niềm vui, niềm tự hào của những con người lần đầu tiên được làm chủ cuộc đòi mình Văn nghệ cần

Trang 24

phải làm sáng lên được những vấn đề ấy Nhưng để tác phẩm của mình phản ánh được một cách sinh động và sát hiện thực cuộc sống đang từng ngày thay

da đổi thịt của dân tộc, văn nghệ sĩ phải tự “ném mình vào cuộc đấu tranh cách mạng”, không thể ngồi một chỗ mà trông đợi những lời giải sẵn cho muôn nghìn câu hỏi nóng bỏng và phức tạp “ Lòng tin của chúng ta chỉ nảy

nở thực vững vàng trong chiến đấu Và mỗi lời giải đáp mà chúng ta muốn tác phẩm của chúng ta đem đến cho đời sống đều phải do chính bản thân chúng ta lăn vào vật lộn với thực tiến đời sống mới tìm ra được Việc sáng tạo trong nghệ thuật thực ra sáng tạo cuộc sống mới và tình cảm mới của con người Trong trí óc và tâm hồn chúng ta có ánh sáng của cuộc sống mới ấy thì chúng

ta mới xây dựng được nền nghệ thuật của thời đại chúng ta Đối với người văn nghệ, việc sáng tác trước hết là tạo ra cho chính mình một tư tưởng mới, một cách sống, cách suy nghĩ, những tình cảm, những mơ ước mới” [18,48] Đúng như Đảng ta đã chỉ rõ: Muốn tạo ra được con đường mới trong nghệ thuật, nhà văn hay nghệ sĩ phải là một con người mới, con người chiến đấu cho Tổ quốc chúng ta tự do, cho xã hội loài người xoá bỏ được nạn người bóc lột người “Con đường tiến lên của loài người cứ thêm một ngày lại càng thêm rõ ràng, mỗi người sống trong thời đại ta ngày càng nhìn rõ sự thật to lớn của đời sống Đó là sức mạnh vô cùng của nhân dân, đó cũng là nguồn sức mạnh vô cùng của văn học nghệ thuật ở thời đại chúng ta” [18,45]

Kết luận 1

Ở chương 1, chúng tôi tập trung tìm hiểu đóng góp của Nguyễn Đình Thi qua những thời điểm nhận đường của văn học nghệ thuật nước nhà Đóng góp lớn nhất, có ý nghĩa nhất đó là đóng góp về mặt tư tưởng Bằng những bài tiểu luận và phê bình của mình Nguyễn Đình Thi đã góp phần giải toả, khai thông rào chắn tâm lý đối với một thế hệ văn nghệ sĩ lúc bấy giờ Xác định một con đường đi duy nhất đúng cho họ Cảm thông với quá trình “lột vỏ” đau đớn, động viên cổ vũ những bước đi chập chững đầu tiên của họ trên con

Trang 25

đường mới của văn nghệ dân tộc, tin tưởng vào những cố gắng và thành công

sẽ đến

Như trên đã nói, Nguyễn Đình Thi không chỉ làm lí luận phê bình văn học Đóng góp của ông cho nền văn học mới của dân tộc trên nhiều lĩnh vực Thế nhưng, nhắc đến những thời điểm “nhận đường” của văn học nghệ thuật nước nhà, không thể không nhắc đến những đóng góp quan trọng ở khu vực lý luận phê bình của Nguyễn Đình Thi

Trang 26

Chương 2:

ĐÓNG GÓP CỦA NGUYỄN ĐÌNH THI ĐỐI VỚI LÍ LUẬN VỀ CÔNG CHÚNG VĂN HỌC, LÝ LUẬN VỀ THƠ, TIỂU THUYẾT…

2.1 Lí luận về công chúng văn học

Văn nghệ phục vụ cách mạng, góp phần vào sự thắng lợi của cách mạng giải phóng dân tộc Nhưng, như ta đã biết, sự nghiệp giải phóng dân tộc còn

có một phía thứ hai đó là giải phóng con người Người dân Việt Nam sau Cách mạng được giải phóng cả về vật chất và tinh thần Đối với tầng lớp văn nghệ sĩ, Nguyễn Đình Thi nhận thấy Cách mạng tháng Tám đã tạo ra một lớp công chúng mới của nghệ thuật Phạm vi những người hiểu biết nghệ thuật ngày nay không còn thu nhỏ trong một vài thành phố, một vài tỉnh lỵ giữa những bức tường hoa, những salong lai Tây, lai Tàu của các gia đình tiểu tư sản hoặc trưởng giả Quyển sách, bài báo, bức tranh đã làm quen với những bàn tay sù sì, lấm đất hay nhọ đen dầu máy, cầm cày, cuốc hay cầm súng Công chúng ngày nay là quần chúng đông đảo, quần chúng cách mạng, quần chúng kháng chiến, đấu tranh bảo vệ hoà bình, xây dựng đất nước

Cách mạng tháng Tám và cuộc kháng chiến có thể nói đã tạo ra một thời Phục hưng trong sinh hoạt và ý thức của người Việt Nam Xét riêng về mặt văn nghệ, chưa bao giờ quần chúng lại có dịp tỏ rõ sức sáng tạo của mình trên những báo liếp, báo tường, trong các sổ tay, trong các buổi sinh hoạt tập thể tập trung nhất là trong bộ đội Đấy là một niềm vui sướng và thu hoạch lớn đối với anh chị em văn nghệ sĩ Cái mà văn nghệ sĩ chuyên nghiệp trải qua bao nhiêu mò mẫm trăn trở mà chưa giải quyết được thì quần chúng công nông binh ngay từ đầu đã đạt tới một cách tự nhiên

Khẳng định khả năng của quần chúng phê bình nghệ thuật, Nguyễn Đình Thi không rơi và sơ lược, một mặt phân biệt các loại công chúng khác nhau Theo quan niệm của ông thì có hai loại công chúng đó là: công chúng thực và công chúng giả Công chúng thực chính là nhân dân, quần chúng Công chúng

Trang 27

giả là “những người sau bữa ăn no đến một phòng trà nghe mấy khúc đàn cho tiêu cơm, những ông nhà giàu mua tranh chỉ cốt đóng khung vào treo ở giữa salong(…) Những tên quan cai trị thực dân, giám đốc đồn điền cao su, sĩ quan phát xít Đức, chủ nhà băng Mỹ đọc sách cho tiêu cơm” [1,448] Một mặt Nguyễn Đình Thi nhấn mạnh tầm quan trọng của quần chúng “Đại chúng

sẽ tạo nên nhiều, rất nhiều văn nghệ sĩ mới của mình Cả một hệ thống đông đảo, không phải dăm ba con người lạc lõng như ở thời trước Thế hệ văn nghệ

sĩ mới ấy sẽ lượm lấy các tia lửa ngày nay rải rác để chụm lại đố một ngọn

lửa vĩ đại”[1,449] Trong bài Mấy ý nghĩ về văn nghệ bộ đội, Nguyễn Đình

Thi gợi ý, khuyên các văn nghệ sĩ học tập cách viết tự nhiên, giản dị và chân thực của quần chúng: “Ta học ở anh binh nhì lời nói khoẻ mạnh, hồn nhiên của một cuộc đời làm lụng Câu văn của anh quấn lấy cuộc sống, anh sáng tác

tự nhiên như anh thở hàng ngày Ta học ở anh những tình cảm tự chủ và sâu sắc, vui đùa mà đằm thắm của con người sống trong một đoàn thể chặt chẽ

Ta học được một nghệ thuật phối hợp bản năng với ý thức, mộc mạc sù sì không tỉa gọt, mài rũa mà đồng thời đã chứa đựng một mầm ý thức sắc nhọn, thái độ rõ ràng về sự vật Câu văn của anh binh nhì không “trí thức”mà có thái độ rất đúng, nhận định việc chính trị cũng như mọi việc một cách đơn giản mà sáng rõ, và thái độ của anh không phải do suy luận “suông” của trí tuệ mệt mỏi mà là thái độ của một người hoạt động đang ở trong cuộc có lập trường đã rõ Một nghệ thuật còn ròng ròng sự sống, một nghệ thuật chân đứng vững trên sự sống tưới đẫm mồ hôi và khói thuốc súng, một cái đẹp khẻo mạnh, không khéo léo phấn son mà mộc mạc tươi như vừa mới nảy lên

từ một bàn tay hoá công nào, một nghệ thuật vui sống, vui chiến đấu, vui làm lụng, đó là con đường mà thơ văn anh binh nhì đã bước lên Đó cũng là đường đi của tất cả văn nghệ thời đại”[1,183] Sự trưởng thành nhanh chóng trong sinh hoạt văn nghệ của quần chúng được thể hiện trên hai phương diện: Quần chúng sáng tác và quần chúng phê bình nghệ thuật Vì vậy, vấn đề đặt

Trang 28

ra cho văn nghệ hiện thời là phải làm thế nào để trở nên xứng đáng với sự trưởng thành đó của quần chúng: “Nghệ thuật Việt Nam đã được một công chúng lớn lao xứng đáng nhất Nghệ sĩ ngày nay tất phải kính trọng và thành khẩn đem hết sức mình phụng sự quần chúng, làm người đầy tớ và người hướng dẫn quần chúng Nghệ sĩ ngày càng tin chắc và sự phê bình của quần chúng xung quanh ” [1,456] Hướng về đại chúng, Nguyễn Đình Thi cũng khẳng định, đề cao vai trò của quần chúng phê bình nghệ thuật: “Quần chúng

đã thực sự hàng ngày làm công tác phê bình nghệ thuật, nhất là ở nơi nào có

tổ chức, trong các đại đội, trung đội, những tờ báo tay được đem bình cặn kẽ

và các đồng chí cán bộ và đội viên thường cùng nhau tranh luận, phê bình những bài văn, bài thơ đã viết ra” [13, 447] Trong các Hội nghị thường được nghe phê bình của những cán bộ rất nhiều kinh nghiệm góp ý kiến Thực ra đây là vấn đề phức tạp, liên quan đến “tiếp nhận văn học”, nhưng trượt theo quan niệm đại chúng hoá Nguyễn Đình Thi hướng về đại chúng phê bình theo một cách hiểu giản đơn Quần chúng phê bình nghệ thuật thế nào? “Những người xem một vở kịch phê bình trước hết bằng cách vỗ tay la ó vở kịch đó Một quốn sách được ra đời người ta đo trình độ được hoan nghênh nhiều hay

ít tuỳ theo số sách được đọc nhiều hay ít Một bài hát được tung ra được hoan nghênh hay không cứ xem có ai hát nó hay không Sự phê bình rất giản đơn

mà cũng rất căn bản của công chúng là cảm thông hay thờ ơ với tác phẩm nghệ thuật, nhận hay không nhận tác phẩm nghệ thuật ấy vào đời sống tâm hồn của mình Những tác phẩm được hết thời đại này đến thời đại khác đón nhận, rung động, say mê ta gọi là những tác phẩm sống mãi và trái lại sự quên lãng, thờ ơ của quần chúng là cách phê bình đau đớn hơn cả cho nghệ sĩ” [13,450]

Nguyễn Đình Thi còn đề cao vai trò của sự phê bình của công chúng ông cho đó là điều kiện căn bản quyết định hết thảy sự phát triển của một nền nghệ thuật “Việc xây dựng nghệ thuật của một thời đại đúng là một cuộc nói

Trang 29

chuyện tay đôi Nghệ sĩ thu góp trong cuộc đời của nhân dân rồi sáng tạo, công chúng xem tác phẩm và phê bình Người sáng tạo chịu sự phê bình đó rồi sáng tạo nữa Cứ thế mãi toà lâu đài xây đắp lên Nếu cái cầu giữa tác phẩm và công chúng bị cắt đứt thì nghệ sĩ sáng tạo thực mò mẫm” [13, 451] Lấy quần chúng làn thước đo giá trị tác phẩm nghệ thuật không phải là hoàn toàn sai, nhất là trong hoàn cảnh lúc bấy giờ-văn nghệ phục vụ quần chúng, phục vụ kháng chiến Song, quần chúng trình độ thấp, kém hiểu biết

về nghệ thuật mà trở thành nhà phê bình, định giá tác phẩm là một sự cản trở cho sự phát triển của văn học Đặc biệt thời đại ấy, quần chúng công nông binh phần lớn là thiếu học, sự am hiểu nghệ thuật hết sức hạn chế Khi họ trở thành những thước đo của những sáng tạo tài năng thì thật đau khổ cho những thiên tài nghệ thuật Điều này đã được Tô Ngọc Vân phản đối quyết liệt trong

bài Học hay không học?: “Biết tiểu sử bi thảm của Van-Gogh làm ta hiểu

thêm, hưởng thụ hơn nét bút bão táp và xúc động của ông” [12,159]

Nguyễn Đình Thi là người am hiểu và tinh tế về nghệ thuật Với hiểu biết

sâu rộng không phải ông không nhận ra điều này Trong bài Giá trị phê bình của công chúng, ông đặt ra vấn đề: “Phê bình của quần chúng về nghệ thuật

có giá trị mức nào?” Một tác phẩm được quần chúng hoan nghênh có chắc là một tác phẩm có giá trị hay không? Và tác phẩm bị quần chúng thờ ơ hoặc la

ó có phải là một tác phẩm vô giá trị hay không? Bình thường người ta dựa vào sự hoan nghênh hay thờ ơ của quần chúng mà định giá một tác phẩm Nhưng lịch sử văn nghệ có những trường hợp khiến ta phải suy nghĩ Văn hào Sê-khốp lúc đương thời đã bị một nhà phê bình nói: “Cái tên này thế nào cũng chết say rượu ở một gầm cầu nào” Puskin-người sáng lập cả nền văn học Nga-cũng bị gọi là “kẻ ton hót những bàn chân nhỏ của đàn bà” Và không biết có phải thái độ chung quanh đã làm cho Nguyễn Du, trong tác phẩm của mình đã phải đặt câu hỏi “Bất tri tam bách dư niên hậu” hay không? [13, 453]

Trang 30

Rõ ràng là, Nguyễn Đình Thi vẫn cảm nhận được giá trị đích thực đến mức nào đó của quần chúng phê bình nghệ thuật Song theo định hướng “đại chúng hoá” của nền văn học mới, ông không thể nào nói khác đi được Vấn

đề ấy bây giờ đã quá rõ trong lý thuyết tiếp nhận tác phẩm của lí luận phê bình hiện đại ngày nay

Trong bài viết của mình, Nguyễn Đình Thi cũng đề cập đến một cách rộng rãi khái quát hơn về vấn đề quần chúng phê bình nghệ thuật Những ý kiến của Nguyễn Đình Thi về vấn đề quần chúng phê bình nghệ thuật viết từ năm

đó cho đến bây giờ vẫn có một ý nghĩa nhất định

Trong một bài viết khác có tên Quần chúng phê bình nghệ thuật, Nguyễn

Đình Thi đã nói đến mối quan hệ tương hỗ giữa những sáng tác nghệ thuật và

sự phê bình của quần chúng: “Văn nghệ nước ta thiếu những cây bút phê bình sắc sảo ở ngành nghệ thuật, cũng là thiếu đi một yếu tố quan trọng để tiến nhanh Bù vào đấy, chúng ta tổ chức những cuộc phê bình lẫn nhau, quần chúng họp với nghệ sĩ để nghe nghệ sĩ trình bày và phê bình nghệ sĩ Tác phong phê bình và tự phê bình ấy càng ngày càng mạnh, nó là yếu tố căn bản thúc đẩy cho nghệ thuật phải luôn tiến lên Quần chúng ngày càng có ý thức, những người phê bình chuyên môn cố gắng đi sát quần chúng, nghệ sĩ thành khẩn tiếp thụ phê bình của quần chúng, từng ấy có thể bảo đảm cho bước tiến nhanh chóng của nghệ thuật nhân dân chúng ta” [13, 458]

Có thể hình dung về con đường đi của nền văn nghệ mới trong ý thức Nguyễn Đình Thi như sau: Lịch sử thời đại mới, cần phải có một nền văn nghệ mới Nền văn nghệ thời kháng chiến phải hướng về sự sống mới đang lên của quảng đại quần chúng Cách mạng Quần chúng không chỉ là đối tượng phản ánh mà còn là chủ thể tiếp nhận, đánh giá, phê bình nghệ thuật Đồng thời quần chúng cũng là người sáng tạo nghệ thuật Đó là đóng góp của

Nguyễn Đình Thi vốn được định hướng từ Đề cương văn hoá Việt Nam (1943), từ Chủ nghĩa Mác và văn hoá Việt Nam (1948) Đóng góp của

Trang 31

Nguyễn Đình Thi là ở chỗ ông lĩnh hội được sâu sắc tinh thần ấy và bằng một vốn tri thức phong phú, một khả năng lý giải, trình bày giàu sức thuyết phục,

lý luận phê bình của ông có khả năng tập hợp thúc đẩy được tiến trình văn học Chẳng hạn khi Nguyễn Đình Thi viết: “Văn nghệ xây dựng con người bằng cách làm cho con người tự tạo ra được vui buồn, yêu ghét, bằng cách làm hiện lên trong lòng người những vui buồn yêu ghét ấy Nghệ sĩ đem thổi

sự sống vào trong lời thơ, nét vẽ, tiếng đàn, để truyền sang mọi người Sáng tác là thể hiện những rung động vô hình của tâm hồn thành hình thể, thanh

âm, tiếng và chữ Nghĩa là một cái có thể thấy được, nghe được, nói được, nhờ đó giây phút nhớ nhung, ý yêu mến hay tức giận chỉ có một lần của người nghệ sĩ có thể hiện lại trong một tâm hồn khác, vào một lúc khác, có khi hàng mấy trăm năm sau Cảo thơm lần giở trước đèn, đêm nay tôi đọc “Trống tràng thành lung lay bóng nguyệt” mà còn bồi hồi nỗi bồi hồi của bà Đoàn Thị Điểm khi đặt bút viết một đêm trăng nào cách đây hai thế kỷ, trong đầu nghe văng vẳng tiếng trống ngũ liên gọi người ta đi” [ , ]

Cách thể hiện ấy, lối viết ấy là một đóng góp của Nguyễn Đình Thi Ông tiếp nhận những vấn đề lí luận bằng tất cả rung động tâm hồn và thể hiện nó

ra bằng sự sống cảm xúc của chính bản thân mình

2.2 Quan niệm về thơ - từ lí luận đến thực tiễn sáng tác trong thơ Nguyễn Đình Thi

Cùng với Tố Hữu, Xuân Diệu, ở khu vực lí luận về thơ ca, Nguyễn Đình

Thi có những đóng góp riêng Trong bài Mấy ý nghĩ về thơ viết năm 1949,

Nguyễn Đình Thi đã trình bày một quan niệm về thơ từ thực tế sáng tạo của mình Ông gợi một hướng suy nghĩ: “Đầu mối của thơ ca có lẽ ta nên đi tìm bên trong tâm hồn con người chăng?” [19, 14] Dùng phương pháp đối sánh, đặt thơ bên cạnh các thể loại khác, Nguyễn Đình Thi phát hiện nét riêng, độc đáo của thơ: “Thơ không nói bằng ý niệm thuần tuý, nói bằng ý niệm chúng

ta sẽ có triết học, luận lý hay vệ sinh chứ không có thơ Thơ tìm nói với một

Ngày đăng: 17/07/2021, 11:10

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w