1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng tại Thành phố Hồ Chí Minh

133 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Nghiên Cứu Các Yếu Tố Ảnh Hưởng Đến Ý Định Sử Dụng Hệ Thống Chiếu Sáng Thông Minh Của Người Tiêu Dùng Tại Thành Phố Hồ Chí Minh
Tác giả Ngô Quỳnh Phương
Người hướng dẫn TS. Trần Mai Đông
Trường học Trường Đại Học Kinh Tế Tp. Hồ Chí Minh
Chuyên ngành Kinh Doanh Quốc Tế
Thể loại luận văn thạc sĩ kinh tế
Năm xuất bản 2019
Thành phố Tp. Hồ Chí Minh
Định dạng
Số trang 133
Dung lượng 2,13 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI (13)
    • 1.1 Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài (13)
    • 1.2 Mục tiêu nghiên cứu (16)
    • 1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (16)
      • 1.3.1 Đối tượng nghiên cứu (16)
      • 1.3.2 Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.4 Tổng quan và điểm mới của luận văn (16)
    • 1.5 Phương pháp nghiên cứu (17)
    • 1.6 Kết cấu luận văn nghiên cứu (18)
  • CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (19)
    • 2.1 Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng và Hệ thống chiếu sáng thông (19)
  • minh 7 (0)
    • 2.1.1 Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng (19)
    • 2.1.2 Khái niệm về Hệ thống chiếu sáng thông minh (27)
    • 2.1.3 Vai trò của chiếu sáng thông minh trong cuộc sống hiện đại (29)
    • 2.2 Các nghiên cứu về giữa Hệ thống chiếu sáng thông minh và Ý định sử dụng (31)
      • 2.2.1 Các nghiên cứu giữa hệ thống chiếu sáng và ý định sử dụng (31)
      • 2.2.2 Nghiên cứu giữa công nghệ thông minh và ý định sử dụng (32)
      • 2.2.3 Nghiên cứu giữa tiết kiệm điện năng với ý định sử dụng (33)
    • 2.3 Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu (34)
    • 2.4 Kết luận chương 2 (40)
  • CHƯƠNG 3: THIẾT KẾ QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU (41)
    • 3.1 Qui trình nghiên cứu (41)
    • 3.2 Thang đo (42)
    • 3.3 Nghiên cứu sơ bộ (định tính) (45)
      • 3.3.1 Thảo luận tay đôi (45)
      • 3.3.2 Kết quả thảo luận tay đôi (45)
      • 3.3.3 Điều chỉnh giả thuyết và mô hình nghiên cứu (49)
    • 3.4 Nghiên cứu chính thức (định lượng) (55)
      • 3.4.1 Thiết kế bảng câu hỏi (55)
      • 3.4.2 Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu (55)
      • 3.4.3 Phân tích dữ liệu (56)
    • 3.5 Kết luận chương 3 (59)
  • CHƯƠNG 4: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU (60)
    • 4.1 Kết quả mô tả mẫu nghiên cứu (60)
    • 4.2 Đánh giá độ tin cậy thang đo (61)
      • 4.2.1 Thang đo “Hiệu quả mong đợi” (61)
      • 4.2.2 Thang đo “Nỗ lực mong đợi” (62)
      • 4.2.3 Thang đo “Ảnh hưởng xã hội” (62)
      • 4.2.4 Thang đo “Các điều kiện thuận lợi” (63)
      • 4.2.5 Thang đo “Động lực hưởng thụ” (63)
      • 4.2.6 Thang đo “Giá trị cảm nhận” (63)
      • 4.2.7 Thang đo “Nhận thức chi phí” (64)
      • 4.2.8 Thang đo “Ý định sử dụng” (64)
    • 4.3 Phân tích nhân tố khám phá EFA (65)
      • 4.3.1 Phân tích các biến độc lập (65)
      • 4.3.2 Phân tích các biến phụ thuộc (70)
    • 4.4 Mô hình hiệu chỉnh sau khi phân tích nhân tố khám phá (71)
    • 4.5 Phân tích tương quan và hồi qui bội (71)
      • 4.5.1 Phân tích hệ số tương quan (71)
      • 4.5.2 Phân tích hồi qui đa biến (72)
    • 4.6 Kiểm định mô hình nghiên cứu và các giả thuyết (74)
    • 4.7 Phân tích sự khác biệt (76)
    • 4.9 Kết luận chương 4 (83)
  • CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ (84)
    • 5.1 Kết luận (84)
    • 5.2 Một số kiến nghị (86)
    • 5.3 Hạn chế của đề tài và các hướng nghiên cứu tiếp theo (88)
      • 5.3.1 Hạn chế của đề tài (88)
      • 5.3.2 Gợi ý cho hướng nghiên cứu tiếp theo (89)
    • 5.4 Kết luận chương 5 (89)
  • TÀI LIỆU THAM KHẢO (90)

Nội dung

Mục tiêu của đề tài là nghiên cứu và xác định phân khúc thị trường của đối tượng khách hàng có nhu cầu sử dụng HTCSTM; nghiên cứu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh; xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh.

TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

Ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài

Trong ba thập kỷ qua, toàn cầu hóa đã diễn ra mạnh mẽ và sâu rộng, giúp loại bỏ rào cản thương mại và đầu tư xuyên quốc gia Nhờ vào tiến bộ trong viễn thông và giao thông vận tải, khoảng cách nhận thức giữa các quốc gia được thu hẹp Văn hóa trở nên đồng nhất hơn trên toàn cầu, trong khi các nền kinh tế quốc gia hội nhập vào một hệ thống kinh tế toàn cầu phụ thuộc lẫn nhau.

Việt Nam đang tích cực hội nhập vào xu thế toàn cầu, điều này thể hiện rõ qua tốc độ đô thị hóa nhanh chóng, sự gia tăng trong hoạt động xây dựng và tỷ lệ thu nhập của người dân ngày càng cao.

Theo Bộ Xây dựng (2018), tính đến tháng 5/2018, Việt Nam có 813 đô thị các loại, bao gồm đô thị và khu công nghiệp Việt Nam dẫn đầu Đông Nam Á về tốc độ đô thị hóa với khoảng 37,5% vào năm 2017 Dự báo đến những năm 2040, 50% dân số Việt Nam sẽ sống tại các đô thị.

Tốc độ đô thị hóa tại Việt Nam đang đi đôi với sự phát triển mạnh mẽ của ngành xây dựng, với mức tăng trưởng đạt 9,2% vào năm 2018, vượt kế hoạch đề ra Theo đánh giá của Ngân hàng Thế giới, Việt Nam xếp thứ 3 trong ASEAN về chỉ tiêu cấp phép xây dựng, bao gồm cả cấp giấy phép và các thủ tục liên quan, đồng thời đứng thứ 20 trong số 190 nền kinh tế trên toàn cầu.

Cùng với đó là tốc độ tăng thu nhập của người Việt Nam tăng dần qua các năm từ năm 1989 đến năm 2017 qua hình 1.1:

(2) https://bnews.vn/su-dung-dien-nang-cho-chieu-sang-cua-viet-nam-van-o-muc- cao/17986.html truy cập 22h56 ngày 14/03/2019

Hình 1.1: Thu nhập bình quân GNI/người của Việt Nam giai đoạn 1989 – 2017

(ĐVT: USD/người) (Nguồn: World Bank), https://data.worldbank.org/indicator/NY.GNP.PCAP.CD?contextualault&end 1

7&locations=VN&start89&view=chart)

Năng lượng chiếu sáng hiện nay không chỉ là vấn đề của Việt Nam mà còn của toàn cầu, với thách thức tiết kiệm điện năng, giảm chi phí và bảo vệ môi trường Thị trường chiếu sáng Việt Nam đã mở rộng từ những sản phẩm bóng đèn truyền thống của Rạng Đông, Điện Quang, Philips sang nhiều doanh nghiệp trong và ngoài nước, tạo ra sự cạnh tranh khốc liệt Sản phẩm chiếu sáng ngày nay không chỉ đáp ứng nhu cầu chiếu sáng mà còn phục vụ nhiều mục đích khác của người tiêu dùng Theo hội thảo “Chiếu sáng thông minh vì sự phát triển bền vững của Cộng đồng kinh tế ASEAN- AEC” do VCCI tổ chức năm 2016, nhu cầu sử dụng điện cho chiếu sáng ở Việt Nam chiếm 25%, cao hơn mức trung bình toàn cầu là 20% Do đó, các doanh nghiệp và cơ quan quản lý Nhà nước cần áp dụng các công nghệ và giải pháp mới để tối ưu hóa hiệu suất sử dụng điện, từ đó thúc đẩy sự phát triển bền vững cho Việt Nam.

(3) www.saigon-electric.com.vn

Công ty TNHH Điện Sài Gòn được thành lập trong bối cảnh Việt Nam hội nhập và phát triển mạnh mẽ với thế giới, đồng hành cùng sự phát triển của đất nước Công ty đã tham gia vào nhiều dự án xây dựng với tiêu chuẩn chất lượng, an toàn và thẩm mỹ cao Với mục tiêu cung cấp công nghệ và thiết bị tiên tiến, Công ty TNHH Điện Sài Gòn không ngừng nghiên cứu và cung ứng các sản phẩm công nghệ cao đến tay người tiêu dùng.

Vào năm 2018, phòng kinh doanh của Công ty TNHH Điện Sài Gòn đã nhận diện tiềm năng lớn của hệ thống chiếu sáng thông minh, dự đoán rằng sản phẩm này sẽ không chỉ phục vụ cho các tòa nhà lớn và khách hàng doanh nghiệp mà còn mở rộng đến khách hàng cá nhân Nhận định rằng "sản phẩm chiếu sáng thông minh sẽ ngày càng phổ biến, dễ sử dụng và trở thành một phần thiết yếu trong mỗi gia đình".

Vào năm 2019, Giám đốc kinh doanh của Công ty TNHH Điện Sài Gòn đã quyết tâm phát triển Hệ thống chiếu sáng thông minh (HTCSTM) và ra mắt thương hiệu mới Bastech Controls.

Bastech Controls, thuộc Công ty TNHH Điện Sài Gòn, cung cấp giải pháp và dịch vụ chuyên nghiệp trong lĩnh vực tự động hóa tòa nhà và tích hợp hệ thống Với kinh nghiệm dày dạn, Bastech Controls cam kết mang đến giải pháp tối ưu về hiệu quả kinh tế và đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật khắt khe Hợp tác với thương hiệu nổi tiếng Distech Controls từ Canada, Bastech Controls không ngừng phát triển các giải pháp sáng tạo cho tòa nhà xanh, với mục tiêu phát triển hệ thống HTCSTM.

Mục tiêu của nghiên cứu này là tìm hiểu các yếu tố tác động đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh (HTCSTM) của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh Qua đó, tác giả đưa ra những khuyến nghị giúp Công ty TNHH Điện Sài Gòn có cơ sở để đầu tư vào nghiên cứu và phát triển HTCSTM Đây là đề tài luận văn tốt nghiệp của tác giả, nhằm cung cấp cái nhìn sâu sắc về thị trường và nhu cầu của người tiêu dùng trong lĩnh vực chiếu sáng thông minh.

Mục tiêu nghiên cứu

Bài viết với đề tài “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh” tập trung vào việc xác định các yếu tố cụ thể tác động đến ý định sử dụng hệ thống này Tác giả đặt ra các mục tiêu nghiên cứu nhằm làm rõ những ảnh hưởng từ các yếu tố như nhận thức, thái độ và sự tiện lợi đến quyết định của người tiêu dùng.

- Nghiên cứu và xác định phân khúc thị trường của đối tượng khách hàng có nhu cầu sử dụng HTCSTM

- Nghiên cứu và xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

- Xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

Trên cơ sở là các mục tiêu nghiên cứu nói trên, các câu hỏi nghiên cứu được tác giả đặt ra là:

- Các yếu tố nào ảnh hưởng tới ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại

Mức độ tác động của các yếu tố đến ý định sử dụng HTCSTM có sự khác biệt rõ rệt Một số yếu tố ảnh hưởng mạnh mẽ đến quyết định của người tiêu dùng, trong khi những yếu tố khác lại có tác động yếu hơn Việc xác định yếu tố nào có ảnh hưởng lớn nhất và yếu nhất là rất quan trọng để tối ưu hóa chiến lược tiếp thị và nâng cao trải nghiệm người dùng.

- Có tồn tại sự khác nhau về ý định sử dụng HTCSTM giữa nhóm người tiêu dùng ở TP Hồ Chí Minh theo yếu tố về nhân khẩu học?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố tác động đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh Đối tượng khảo sát là người tiêu dùng biết và có ý định sử dụng về HTCSTM tại thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi không gian: Tại thành phố Hồ Chí Minh

Phạm vi thời gian: Bài khảo sát được thực hiện trong thời gian tháng 3 đến tháng 5 năm 2019.

Tổng quan và điểm mới của luận văn

Nghiên cứu về ý định sử dụng hệ thống chiếu sáng mới như LED đã được thực hiện trong những năm gần đây, với các tác giả như Kelly Cowan và Tugrul Daim (2013), Orose Leelakulthanit (2014), và Hasti cùng các cộng sự (2016) Bên cạnh đó, nghiên cứu về hành vi tiêu dùng đối với các hệ thống lớn, bao gồm cả Công nghệ nhà thông minh (HTCSTM), cũng đã có những công trình đáng chú ý từ Shuhaiber, A và Mashal, I (2019) cũng như Moinul Islam (2018) Tuy nhiên, nghiên cứu về HTCSTM vẫn còn hạn chế, chủ yếu tập trung vào các đặc tính kỹ thuật và tính ứng dụng của hệ thống chiếu sáng thông minh, trong khi khía cạnh ý định hành vi và thị hiếu tiêu dùng chưa được khai thác đầy đủ.

Nghiên cứu về ý định sử dụng của HTCSTM giúp các nhà sản xuất và nhà phân phối tiếp cận đúng phân khúc thị trường, từ đó thực hiện các hoạt động xúc tiến thương mại và marketing hiệu quả để quảng bá sản phẩm Mục tiêu là đưa sản phẩm gần gũi hơn với người tiêu dùng, khuyến khích họ sử dụng các sản phẩm hiện đại và tiết kiệm năng lượng.

Phương pháp nghiên cứu

Nguồn dữ liệu được sử dụng trong luận văn gồn các nguồn dữ liệu sơ cấp và thứ cấp

Dữ liệu thứ cấp được thu thập từ nhiều nguồn đáng tin cậy, bao gồm các bài báo và tạp chí nghiên cứu trong và ngoài nước trên scholar.google.com, emeralinsight.com, và sciencedirect.com Ngoài ra, các tài liệu từ các tạp chí Việt Nam, nghiên cứu thị trường của Hiệp hội chiếu sáng Việt Nam, cũng như các nghiên cứu về Smart Home của BKAV và Bastech Controls, và nghiên cứu Smart Lighting của Rạng Đông cũng được xem xét Thêm vào đó, các tài nguyên trực tuyến như LEDinsight.com và Thư viện điện tử Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh cũng đóng góp vào việc thu thập dữ liệu.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập từ khảo sát nhằm xác định các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng HTCSTM của người tiêu dùng Nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng, trong đó phương pháp định tính được thực hiện qua phỏng vấn tay đôi với các đối tượng như chuyên gia trong ngành cung cấp hệ thống chiếu sáng thông minh, các nhà nghiên cứu và khách hàng đã sử dụng hệ thống này Qua đó, thang đo được điều chỉnh và hoàn thiện để phù hợp với nhu cầu thực tế.

Nghiên cứu định lượng được thực hiện trong giai đoạn chính thức thông qua bảng câu hỏi khảo sát online trên Google Drive Dữ liệu thu thập được kiểm định độ tin cậy bằng Cronbach’s Alpha, phân tích nhân tố EFA, xây dựng hàm hồi quy tuyến tính và thực hiện các kiểm định sự khác biệt như T-test hoặc ANOVA.

Trong nghiên cứu này, tác giả đã lựa chọn kích thước mẫu là 226, đủ để đáp ứng yêu cầu cho cả phân tích nhân tố khám phá và phân tích hồi quy bội.

Kết cấu luận văn nghiên cứu

Ngoài phần tóm tắt, tài liệu tham khảo và phụ lục, kết cấu luận văn gồm 5 chương:

Chương 1: Tổng quan nghiên cứu đề tài: Trình bày ý nghĩa và tính cấp thiết của đề tài, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng, phạm vi nghiên cứu, tính mới của đề tài, phương pháp nghiên cứu và kết cấu của luận văn

Chương 2: Tổng quan lý thuyết và mô hình nghiên cứu: Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng, hệ thống chiếu sáng thông minh, vai trò HTCSTM; các nghiên cứu có liên quan, xây dựng mô hình nghiên cứu và đặt ra các giả thiết nghiên cứu

Chương 3: Thiết kế qui trình nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu: Trình bày qui trình nghiên cứu Lý thuyết phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng Mô tả đối tượng thảo luận tay đôi và tổng hợp kết quả thảo luận tay đôi, hiệu chỉnh giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Chương 4: Phân tích kết quả nghiên cứu: Mô tả mẫu nghiên cứu, các kiểm định thang đo, kiểm định giả thiết, xây dựng phương trình hồi quy và kiểm định sự khác biệt của các biến nhân khẩu học tới ý định sử dụng

Chương 5: Kết luận và kiến nghị: Từ kết luận chương 4, nêu lên một số đề xuất cho các doanh nghiệp Việt Nam (các nhà sản xuất và các nhà phân phối) HTCSTM.

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng

Theo Ajzen (1991), ý định bao gồm các yếu tố động cơ ảnh hưởng đến hành vi của mỗi cá nhân, cho thấy mức độ sẵn sàng và nỗ lực mà họ sẽ bỏ ra để thực hiện hành vi Ý định cũng là yếu tố quan trọng để đánh giá khả năng thực hiện hành vi trong tương lai.

Theo Ajzen (1991), Ý định hành vi được cấu thành từ ba nhân tố chính: “niềm tin vào hành vi”, “niềm tin vào chuẩn mực” và “niềm tin vào sự kiểm soát” Sự mạnh mẽ của các niềm tin này tỉ lệ thuận với mức độ ý định hành vi của con người.

Từ thập niên 70 của thế kỷ XX, nhiều nghiên cứu đã được thực hiện về ý định sử dụng công nghệ của con người, với các lý thuyết này được áp dụng và kiểm nghiệm trên toàn cầu Nghiên cứu chủ yếu tập trung vào nhóm khái niệm liên quan đến sự tương tác giữa con người và công nghệ.

- Ý định hành vi (tiêu biểu là thuyết TRA, TPB)

- Thuyết chấp nhận công nghệ (tiêu biểu là TAM và UTAUT)

Mô hình nghiên cứu đầu tiên, “thuyết hành động hợp lý (TRA)” của Fishbein và Ajzen, được công bố vào năm 1975, nhấn mạnh hai yếu tố chính ảnh hưởng đến ý định hành vi: “Thái độ đối với hành vi” và “Chuẩn mực chủ quan” Năm 1991, Ajzen mở rộng TRA thành “lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB)” bằng cách bổ sung “Nhận thức kiểm soát hành vi” Dựa trên TRA, mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) do Davis và Arbor phát triển vào năm 1989, xác định bốn yếu tố ảnh hưởng đến “Ý định sử dụng”: “Biến bên ngoài”, “Nhận thức sự hữu ích”, “Nhận thức tính dễ sử dụng” và “Thái độ” TAM đã được công nhận rộng rãi như một mô hình tin cậy trong nghiên cứu chấp nhận công nghệ thông tin Gần đây, các mô hình UTAUT và UTAUT2 do Venkatesh và cộng sự phát triển đã mở rộng khái niệm về chấp nhận và sử dụng công nghệ trong thế kỷ XXI.

Mô hình UTAUT, phát triển từ năm 2003 đến 2012, tích hợp 8 mô hình liên quan đến ý định hành vi và chấp nhận công nghệ, trong đó chịu ảnh hưởng lớn từ Thuyết hành động hợp lý (TRA), Thuyết hành vi dự định (TPB) và mô hình chấp nhận công nghệ (TAM) Đặc biệt, mô hình UTAUT-2 đã được mở rộng với ba nhân tố mới, trở thành mô hình hiện đại nhất trong nghiên cứu về ý định sử dụng và chấp nhận công nghệ mới hiện nay.

Bảng 2-1 tổng hợp một số mô hình lý thuyết về ý định sử dụng và chấp nhận công nghệ trong nghiên cứu

Bảng 2-1: Bảng tổng hợp một số mô hình lý thuyết về ý định sử dụng và chấp nhận công nghệ

Tác giả Mô hình lý thuyết Cơ sở nền tảng

Các nhân tố ảnh hưởng tới ý định hành vi

“Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)”

“Thái độ đối với hành vi Chuẩn mực chủ quan”

“Thuyết hành vi có hoạch định (Theory of Planned Behavior – TPB)”

“Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)”

“Thái độ Chuẩn mực chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi”

“Mô hình chấp nhận công nghệ (Technology Acceptance Model – TAM)”

“Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action – TRA)”

“Biến bên ngoài Nhận thức sự hữu ích Nhận thức tính dễ sử dụng

Thái độ hướng tới sử dụng”

“Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (Unified theory of acceptance and use of technology – UTAUT)”

8 mô hình về ý định hành vi và chấp nhận công nghệ nhưng có ảnh hưởng lớn nhất tới mô hình UTAUT là “Thuyết hành động

Nỗ lực mong đợi và ảnh hưởng xã hội đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành hành vi của cá nhân Các điều kiện thuận lợi hợp lý, theo Thuyết hành vi dự định (TPB), cùng với mô hình chấp nhận công nghệ (TAM), giúp giải thích cách mà những yếu tố này tác động đến quyết định và hành động của người dùng trong việc chấp nhận công nghệ mới.

“Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng (Unified theory of acceptance and use of technology 2 – UTAUT-2)”

“Mô hình chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất (Unified theory of acceptance and use of technology – UTAUT)”

Nỗ lực mong đợi Ảnh hưởng xã hội Các điều kiện thuận lợi Động lực hưởng thụ Giá trị cảm nhận Thói quen sử dụng”

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Fishbein và Ajzen (1975) trong nghiên cứu về Thuyết hành động hợp lý (Theory of Reasoned Action - TRA) cho rằng "ý định hành vi" là yếu tố quan trọng nhất trong việc dự đoán hành vi tiêu dùng Họ giả định rằng "hành vi thực tế là kết quả của ý định hành vi", nhấn mạnh rằng con người luôn có ý định trước khi thực hiện bất kỳ hành động nào.

Hình 2.1: Thuyết hành động hợp lý (TRA, Ajzen và Fishbein, 1980)

Theo lý thuyết TRA, hành vi của con người bị ảnh hưởng bởi hai yếu tố chính là “thái độ cá nhân” và “chuẩn mực chủ quan” Thái độ cá nhân được xác định qua niềm tin và sự đánh giá của khách hàng về các đặc tính sản phẩm Ngược lại, chuẩn mực chủ quan bị ảnh hưởng bởi các nhóm tham khảo như gia đình, bạn bè và đồng nghiệp Tuy nhiên, lý thuyết TRA có hạn chế trong việc dự đoán hành vi của người tiêu dùng khi họ không kiểm soát được, do mô hình này không xem xét đầy đủ các yếu tố bên ngoài.

“Thái độ đối với hành vi”

“Ý định hành vi” “Hành vi thực tế”

“Chuẩn mực chủ quan” là yếu tố xã hội quan trọng, có thể đóng vai trò quyết định trong hành vi cá nhân (Grandon và Peter P Mykytyn, 2004).

Dựa trên nền tảng của Thuyết hành vi hợp lý (TRA), Ajzen (1991) đã phát triển Thuyết hành vi có hoạch định (TPB), trong đó bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận.

Theo Thuyết hành vi dự kiến (TPB) của Ajzen (1991), "nhận thức kiểm soát hành vi" là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến "ý định hành vi" Ba nhân tố chính tác động đến ý định này bao gồm "thái độ", "chuẩn mực chủ quan" và "nhận thức kiểm soát hành vi".

Hình 2.2: Lý thuyết hành vi có hoạch định (TPB, Ajzen, 1991)

Nhân tố "nhận thức kiểm soát hành vi" thể hiện cách người dùng đánh giá mức độ khó khăn hoặc dễ dàng khi thực hiện một hành vi cụ thể (Ajzen, 1991) Sự đánh giá này phụ thuộc vào việc có sẵn các nguồn lực cần thiết và cơ hội để thực hiện hành vi đó.

Mô hình Thuyết Hành vi Dự đoán (TPB) được chấp nhận rộng rãi trong nghiên cứu nhằm đoán ý định sử dụng của cá nhân, cho thấy khả năng giải thích hành vi khách hàng tốt hơn so với mô hình Thuyết Hành vi (TRA) So với TRA, TPB có mức độ phù hợp cao hơn và giải thích tốt hơn về ảnh hưởng của các yếu tố đến ý định hành vi (Werner, P 2004) Sự khác biệt này chủ yếu là nhờ vào việc bổ sung yếu tố “Nhận thức kiểm soát hành vi”, ảnh hưởng trực tiếp đến “ý định hành vi”.

Dựa trên mô hình TRA – “mô hình TAM (Technology Acceptance Model)” được Davis, D Fred và Arbor, Ann (1989) xây dựng gồm 5 nhân tố: “Biến bên ngoài”,

“Nhận thức sự hữu ích”, “Nhận thức tính dễ sử dụng”, “Thái độ” và “Ý định sử dụng”

“Nhận thức kiểm soát hành vi”

“Ý định hành vi” “Hành vi thực tế”

Hình 2.3: Mô hình chấp nhận công nghệ - TAM (Davis và cộng sự, 1989)

Nhân tố “Biến bên ngoài” là các biến ảnh hưởng đến “nhận thức sự hữu ích” và

“nhận thức tính dễ sử dụng” như thái độ, tần suất sử dụng trong một hệ thống …

Nhân tố "Nhận thức sự hữu ích" đề cập đến mức độ mà cá nhân tin rằng việc sử dụng một sản phẩm cụ thể sẽ cải thiện hiệu quả công việc của họ (Davis, 1989).

Nhân tố "Nhận thức tính dễ sử dụng" đề cập đến niềm tin của người dùng rằng việc sử dụng một hệ thống cụ thể sẽ diễn ra một cách dễ dàng và không cần phải nỗ lực nhiều.

“Thái độ hướng đến sử dụng” xây dựng trên cơ sở niềm tin về “tính dễ sử dụng” và

“nhận thức sự hữu ích”

“Ý định sử dụng” là ý định của người tiêu dùng dẫn đến hành vi sử dụng thực tế của họ cho sản phẩm hoặc dịch vụ đó

Khái niệm về Hệ thống chiếu sáng thông minh

Hệ thống chiếu sáng thông minh (HTCSTM) kết hợp nguồn sáng, cảm biến và mạng truyền thông nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của người sử dụng Bằng cách sử dụng phần mềm và giải pháp phần cứng, hệ thống này cho phép giám sát và kiểm soát hiệu quả việc sử dụng nguồn sáng phù hợp với điều kiện môi trường, từ đó tối đa hóa hiệu suất và tiết kiệm năng lượng.

Có nhiều giải pháp cho HTCSTM như:

- Đèn hành lang, cầu thang sẽ tự động bật bằng cảm ứng nhiệt khi có người di chuyển và tắt khi không có người

- Ngoài ra, hệ thống có thể cho phép bật/tắt chiếu sáng bằng giọng nói

- Hệ thống chiếu sáng trong ngôi nhà sẽ tự động bật tắt theo giờ cài đặt

- Hoặc đèn sẽ tự động sáng khi cửa được mở ra và tắt khi cửa đóng nhờ hệ thống cảm ứng

Giải pháp mang tính ứng dụng công nghệ cao ngày càng được phổ biến và nhân rộng, mang đến cuộc sống nhiều tiện nghi cho gia đình

Giải pháp chiếu sáng thông minh có thể được mô hình hóa bằng các sản phẩm trong

Hệ thống chiếu sáng theo mô hình sau:

Hình 2.6: Giải pháp ánh sáng thông minh trong công nghệ nhà thông minh của HDL

Automation Co., Ltd (Nguồn: https://www.hdlautomation.com/)

Công nghệ chiếu sáng thông minh hiện nay chủ yếu dựa vào các cảm biến phát hiện người trong khu vực cần ánh sáng Ba loại cảm biến chính được sử dụng bao gồm cảm biến hồng ngoại thụ động, cảm biến Radar và cảm biến quang.

Công nghệ kết nối giữa các phần tử trong hệ thống chiếu sáng thông minh đóng vai trò quan trọng Các công nghệ này được chia thành hai loại chính.

(4) http://vecea.vn/tin-tuc/t286/chieu-sang-thong-minh-trong-do-thi-thong-minh.html

Wired connections encompass various technologies, including DALI (Digital Addressable Lighting Interface), Ethernet, BACnet (Building Automation and Control networks), and Lonworks Among these, DALI is particularly prevalent in lighting systems.

- Kết nối không dây bao gồm các công nghệ: ZigBee; Wifi; Bluetooth

Hình 2.7: Công nghệ chiếu sáng thông minh và IoT

(Nguồn: http://vecea.vn/tin-tuc/t286/chieu-sang-thong-minh-trong-do-thi-thong- minh.html)

Xu hướng phát triển hệ thống chiếu sáng thông minh ngày càng gia tăng, cho phép giám sát và điều khiển từ xa qua thiết bị di động Kiến trúc mạng HTCSTM trong nhà cho thấy các đèn có thể kết nối bằng dây hoặc không dây với một Gateway Thiết bị điều khiển, thường là smartphone hoặc máy tính, kết nối với Gateway qua bộ Router để quản lý các đèn trong hệ thống.

Vai trò của chiếu sáng thông minh trong cuộc sống hiện đại

Theo nghiên cứu của Chew I và cộng sự (2017), hệ thống chiếu sáng thông minh tiết kiệm năng lượng (HTCSTM) mang lại nhiều lợi ích, nổi bật nhất là khả năng tiết kiệm năng lượng Các hệ thống này có thể tiết kiệm từ 17% đến 60% năng lượng so với hệ thống chiếu sáng truyền thống, tùy thuộc vào cách sử dụng của người dùng Nhờ vào tiềm năng giảm tiêu thụ năng lượng đáng kể, các hệ thống chiếu sáng này thường được lắp đặt trong các tòa nhà và dễ dàng tích hợp thêm các tính năng khác.

Chiếu sáng thông minh không chỉ nâng cao chất lượng ánh sáng mà còn điều chỉnh nhịp sinh học, tăng năng suất và thúc đẩy sự phát triển của thực vật Việc áp dụng công nghệ này mang lại lợi ích cho con người và có thể cải thiện các lĩnh vực như làm vườn, kiến trúc, quản lý tòa nhà, kiểm soát chất lượng ánh sáng và hoạt động sinh hoạt hàng ngày Sự tiến bộ trong công nghệ của HTCSTM hứa hẹn sẽ có ảnh hưởng tích cực đến các ứng dụng và nghiên cứu trong những lĩnh vực này.

Tương lai của ánh sáng thông minh rất hứa hẹn, nhưng việc áp dụng rộng rãi vẫn gặp phải rào cản, bao gồm khó khăn trong việc chứng minh tiết kiệm năng lượng so với chi phí đầu tư ban đầu.

Tạp chí Phố Wall dự đoán rằng các thiết bị nhà thông minh, đặc biệt là sản phẩm chiếu sáng thông minh, sẽ tiếp tục phát triển mạnh mẽ trên thị trường thương mại trong thời gian tới.

Hình 2.11 minh họa sự phân chia thị trường chiếu sáng thông minh toàn cầu trong các lĩnh vực thương mại – công nghiệp, công cộng và khu dân cư vào năm 2017, cũng như dự báo cho năm 2020 Đồ thị cho thấy thị phần của khu dân cư có xu hướng mở rộng và dự kiến sẽ chiếm tỷ trọng lớn hơn vào năm 2020.

Thương mại và công nghiệp Ngoài trời Khu dân cư Công cộng

Thị phần toàn cầu của chiếu sáng thông minh trong các lĩnh vực nhà ở, thương mại, công nghiệp, ngoài trời, công cộng và khu dân cư vào năm 2017, dự báo sẽ có sự tăng trưởng đáng kể vào năm 2020.

(Nguồn: https://www.ledinside.com/news/2018/2/smart_lighting_most_widely_adopted_in_indu strial_market_yet_grows_at_fastest_pace_in_residential_space)

Chiếu sáng thông minh trong khu vực dân dụng

Theo nghiên cứu của tạp chí LEDinside, chiếu sáng dân dụng đã chiếm 23% thị trường chiếu sáng thông minh toàn cầu vào năm 2017 và dự kiến sẽ tăng lên 31% vào năm 2020 Các nhà nghiên cứu thị trường nhận định rằng nhà thông minh và chiếu sáng thông minh sẽ hỗ trợ lẫn nhau, dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của chiếu sáng thông minh trong khu dân cư trong những năm tới.

Trong bối cảnh nghiên cứu của đề tài sẽ tập trung nghiên cứu ý định sử dụng của người tiêu dùng trong khu vực dân dụng này.

Các nghiên cứu về giữa Hệ thống chiếu sáng thông minh và Ý định sử dụng

Chưa có nghiên cứu thực nghiệm nào về hành vi hoặc ý định sử dụng sản phẩm HTCSTM, mà chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu thiết kế và ứng dụng của nó trong nhà thông minh và đô thị thông minh HTCSTM là một sản phẩm mới mẻ với công nghệ cao Do đó, tác giả quyết định nghiên cứu mối liên hệ giữa ý định sử dụng và HTCSTM, dựa trên các thành phần cơ bản như hệ thống chiếu sáng, công nghệ thông minh và tiết kiệm điện năng.

2.2.1 Các nghiên cứu giữa hệ thống chiếu sáng và ý định sử dụng

Hiện nay, có nhiều nghiên cứu về tính ứng dụng của công nghệ chiếu sáng thông minh (HTCSTM) trên thế giới Một trong số đó là nghiên cứu của Petritoli, E và cộng sự (2018) về “Chiếu sáng thông minh trong xây dựng cơ bản của thành phố thông minh: Một nghiên cứu trường hợp so sánh hiệu suất năng lượng” Nghiên cứu của Chew I và cộng sự (2017) mang tên “Chiếu sáng thông minh: Con đường phía trước? Xem lại quá khứ để định hình tương lai” đã xem xét hiện trạng công nghệ chiếu sáng thông minh, tập trung vào hệ thống chiếu sáng tiết kiệm năng lượng, chi phí thương mại và tiện ích Những nghiên cứu này đánh giá xu hướng công nghệ chiếu sáng thông minh trong tương lai.

Nghiên cứu năm 2016 về "Hệ thống thông minh để điều khiển ánh sáng trong thành phố thông minh" đã ứng dụng hệ thống điều khiển ánh sáng thông minh không chỉ trong các tòa nhà mà còn cho chiếu sáng công cộng.

Bùi Lê Tuyên Dương (2017) trong bài nghiên cứu “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đèn chiếu sáng công nghệ LED tại các công trình xây dựng dân dụng” đã xác định các yếu tố tác động đến việc áp dụng đèn LED trong xây dựng dân dụng Công nghệ LED không chỉ tiết kiệm điện năng mà còn có hiệu suất cao, giảm phát thải carbon và bảo vệ môi trường Nghiên cứu tập trung vào đối tượng là các chủ đầu tư, công ty phát triển dự án và công ty quản lý dự án tại thành phố Hồ Chí Minh, cho thấy 7 yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng đèn LED, bao gồm “Kỳ vọng kết quả thực hiện”, “Kỳ vọng nỗ lực”, “Ảnh hưởng xã hội”, “Các điều kiện thuận lợi”, “Ý kiến tư vấn”, “Giá cả” và “Bảo hành” Kết quả cũng khẳng định rằng sự tư vấn từ các công ty chiếu sáng, nội thất và cơ điện có ảnh hưởng lớn nhất đến quyết định của các chủ đầu tư, với những lợi ích về kinh tế và thẩm mỹ từ việc áp dụng công nghệ mới, góp phần thuyết phục họ sử dụng đèn LED.

R Gomathi Bhavani, M.A Khan (2008), “Sự phổ biến và thâm nhập của các hệ thống điều khiển chiếu sáng trong các tòa nhà ở Dubai: Một điểm mới của các biện pháp trong tương lai” Bài nghiên cứu sự phổ biến và sử dụng các hệ thống điều khiển chiếu sáng thông minh tại các tòa nhà Dubai Nghiên cứu được tiến hành từ tháng 4/2006 đến tháng 10/2007 với cỡ mẫu là 207 dự án mới tại Dubai Dữ liệu được thu thập qua website ghi nhận 94 dự án (45.9%) sử dụng hệ thống điều khiển chiếu sáng thông minh Các nhân tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng của người tiêu dùng cho căn hộ là: Chi phí ban đầu, Hướng dẫn vận hành, Hoạt động của hệ thống, Nhận thức của khách hàng và Đặc điểm kĩ thuật của hệ thống Tuy nhiên nghiên cứu mới chỉ chú ý xác định các yếu tố ảnh hưởng đến tiêu chí lựa chọn sử dụng hệ thống chiếu sáng giữa ba môi trường là: căn hộ tư nhân, tòa nhà thương mại và bệnh viện chứ chưa xác định hay đánh giá mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đó đến ý định sử dụng hệ thống điều khiển chiếu sáng tại Dubai

2.2.2 Nghiên cứu giữa công nghệ thông minh và ý định sử dụng

Nghiên cứu của Moinul Islam (2018) về việc áp dụng công nghệ nhà thông minh sử dụng mô hình UTAUT-2 với mẫu 175 người tại Phần Lan, cho thấy các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng bao gồm: hiệu quả mong đợi, nỗ lực mong đợi, ảnh hưởng xã hội, các điều kiện thuận lợi, thói quen, rủi ro bảo mật, động lực hưởng thụ và giá trị cảm nhận Tuy nhiên, chi phí không được xem là yếu tố quan trọng tại nước phát triển này, và mẫu nghiên cứu chủ yếu ở độ tuổi 25-44 có thể hạn chế khả năng so sánh với các lứa tuổi khác.

2.2.3 Nghiên cứu giữa tiết kiệm điện năng với ý định sử dụng

Nguyễn Trọng Hoài và Đặng Quan Vinh (2014) đã thực hiện nghiên cứu về hành vi tiêu dùng xanh của hộ gia đình trong việc sử dụng năng lượng tái tạo tại khu vực đô thị Việt Nam Nghiên cứu áp dụng cả phương pháp khảo sát định tính và định lượng, trong đó khảo sát định tính được thực hiện qua phỏng vấn chuyên sâu với ba chuyên gia trong lĩnh vực năng lượng tái tạo Sau đó, khảo sát định lượng đã được tiến hành với 179 mẫu đạt yêu cầu Mô hình nghiên cứu đã xác định bảy yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng năng lượng tái tạo, bao gồm: "Lợi ích tương đối", "Tính tương thích", "Tính phức tạp", "Khả năng quan sát", "Tính trải nghiệm", "Hỗ trợ của Chính phủ" và "Chi phí".

Một số nghiên cứu khác được tổng hợp trong bảng 2-2:

Bảng 2-2: Một số nghiên cứu liên quan đến ý định sử dụng công nghệ mới

Tác giả Tên đề tài nghiên cứu Mô hình áp dụng

Các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ mới

Nghiên cứu các yếu tố của công nghệ sản xuất sạch ở một nước đang phát triển: Hiệu quả năng lượng chiếu sáng ở Malaysia

UTAUT “Hiệu quả mong đợi

Nỗ lực mong đợi Ảnh hưởng xã hội Các điều kiện thuận lợi”

Ai sẽ là người dùng nhà thông minh? Một phân tích về việc áp dụng và phổ biến của nhà thông minh

“Thái độ Khả năng tương thích Riêng tư

Hiểu về việc áp dụng các công nghệ hiệu quả năng lượng: Áp

UTAUT “Hiệu quả mong đợi

Nỗ lực nghiên cứu ảnh hưởng xã hội của việc chấp nhận và sử dụng công nghệ chiếu sáng LED được thực hiện thông qua các lý thuyết hành vi, nhằm hiểu rõ hơn về sự chấp nhận của người dùng cuối trong các lĩnh vực thương mại, dân cư và công nghiệp.

Các điều kiện thuận lợi”

Sử dụng năng lượng của người dân theo hướng tiêu dùng xanh:

Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm tại khu vực đô thị Việt Nam

DOI “Lợi ích tương đối

Tính tương thích Tính phức tạp Khả năng quan sát Tính trải nghiệm

Hỗ trợ của Chính phủ Chi phí”

Khám phá lý do đằng sau việc sử dụng năng lượng tiết kiệm và cẩn thận trong khu vực dân cư thông qua lý thuyết hành vi có kế hoạch Nghiên cứu này cung cấp bằng chứng từ Trường Xuân, Trung Quốc, cho thấy mối liên hệ giữa nhận thức, thái độ và hành vi của người dân đối với việc tiết kiệm năng lượng.

Chuẩn mực chủ quan Nhận thức kiểm soát hành vi”

(Nguồn: Tác giả tổng hợp)

Các giả thuyết và mô hình nghiên cứu

Tác giả đã dựa vào các giả thuyết và mô hình nghiên cứu trước đó, đặc biệt là “Thuyết chấp nhận sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng (UTAUT2)”, để làm nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu này.

Dưới đây là các giả thuyết được sử dụng cho mô hình nghiên cứu:

“Hiệu quả mong đợi (Performance Expectancy) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”

“Hiệu quả mong đợi” đề cập đến mức độ mà cá nhân tin rằng việc sử dụng công nghệ hoặc hệ thống mới sẽ giúp họ đạt được mục tiêu cá nhân hoặc tổ chức hiệu quả hơn (Kelly Cowan và Tugrul Daim, 2013) Các khái niệm liên quan trong mô hình chấp nhận công nghệ bao gồm tính hữu dụng nhận thức (TAM) và lợi thế tương đối (The Diffusion of Innovation Theory) Nghiên cứu của Zhou và cộng sự (2010) chỉ ra rằng “hiệu quả mong đợi, ảnh hưởng xã hội và các điều kiện thuận lợi” có tác động đáng kể đến việc chấp nhận công nghệ của người dùng Mansoori và cộng sự (2018) đã xác nhận rằng “Hiệu quả mong đợi” có ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định sử dụng dịch vụ chính phủ điện tử tại Abu Dhabi Tak P và Panwar S (2017) cũng đã phát hiện ra những kết quả tương tự.

“Hiệu quả mong đợi” có “ảnh hưởng tích cực đến ý định hành vi chấp nhận mua sắm dựa trên ứng dụng di động ở Ấn Độ”

Trong nghiên cứu về HTCSTM, các yếu tố như tiết kiệm chi phí năng lượng, thời gian hoàn vốn, độ sáng, màu sắc ánh sáng và tốc độ khởi động đều ảnh hưởng đến hiệu suất sử dụng (theo Kelly Cowan và Tugrul Daim, 2013) Bên cạnh đó, độ sáng và màu sắc của ánh sáng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao khả năng sẵn sàng sử dụng HTCSTM (Hasti và cộng sự, 2015) Dựa trên những nghiên cứu trước đó, giả thuyết được đưa ra cho ứng dụng HTCSTM tại thành phố Hồ Chí Minh.

Giả thuyết H1: Hiệu quả mong đợi (PE) ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng

Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng

“Nỗ lực mong đợi (Effort Expectancy) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”

“Nỗ lực mong đợi” đề cập đến mức độ dễ dàng khi sử dụng công nghệ hoặc hệ thống mới, đặc biệt trong lĩnh vực công nghệ thông tin như ngân hàng di động và ngân hàng trực tuyến Venkatesh và cộng sự (2003) trong mô hình UTAUT đã xác định rằng mức độ này ảnh hưởng mạnh mẽ đến ý định hành vi Nghiên cứu của Faaeq và cộng sự (2013) cho thấy rằng nỗ lực mong đợi có tác động đáng kể đến hành vi người dùng; nếu công nghệ yêu cầu nhiều nỗ lực hơn, nó sẽ trở nên kém hữu ích hơn Tan và Lau (2016) cũng khẳng định sự ảnh hưởng của nỗ lực mong đợi đến ý định áp dụng ngân hàng di động Đối với HTCSTM, sự dễ dàng trong việc vận hành hệ thống được thể hiện rõ trong tài liệu hướng dẫn sử dụng, cho thấy nỗ lực mong đợi ảnh hưởng đến ý định sử dụng của người tiêu dùng (theo Kelly Cowan và Tugrul Daim, 2013).

Vì vậy, giả thuyết H2 được phát biểu như sau:

Giả thuyết H2: Nỗ lực mong đợi (EE) cùng chiều đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng

“Ảnh hưởng xã hội (Social Influence) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”

Ảnh hưởng xã hội là mức độ mà cá nhân cảm nhận rằng những người quan trọng trong cuộc sống của họ tin rằng họ nên sử dụng công nghệ mới (Chiu và Wang, 2008) Theo Ajzen và Fishbein (1975), ảnh hưởng xã hội là “áp lực xã hội nhận thức để thực hiện hoặc không thực hiện hành vi”, thể hiện tác động của những người gần gũi đến quyết định hành động của cá nhân Nó là yếu tố quyết định trực tiếp đến ý định hành vi thông qua ba cấu trúc: chuẩn mực chủ quan (TRA, TPB), biến bên ngoài (TAM) và ảnh hưởng xã hội (UTAUT, UTAUT-2) Những cấu trúc này chỉ ra rằng hành vi cá nhân bị ảnh hưởng bởi niềm tin rằng người khác sẽ đánh giá hành động của họ dựa trên việc sử dụng công nghệ Ở giai đoạn đầu, người dùng tiềm năng thường thiếu thông tin về công nghệ mới và có thể bị ảnh hưởng bởi ý kiến từ gia đình, bạn bè hoặc đồng nghiệp (Venkatesh và cộng sự, 2012) Hu và cộng sự (2003) nhấn mạnh rằng ý kiến từ những người liên quan đến công nghệ mới có thể tác động đến quyết định sử dụng của người dùng Nghiên cứu của Islam Moinul (2018) cũng cho thấy ảnh hưởng xã hội có tác động tích cực đến ý định sử dụng hệ thống nhà thông minh ở Phần Lan.

Giả thuyết H3: Ảnh hưởng xã hội (SI) ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng

“Các điều kiện thuận lợi (Facilitating Conditions) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”

Điều kiện thuận lợi đề cập đến sự sẵn có của các nguồn lực hỗ trợ việc áp dụng công nghệ (Isaac, O và cộng sự, 2019) Nếu người dùng thiếu điều kiện cần thiết cho việc áp dụng HTCSTM, điều này có thể ảnh hưởng tiêu cực đến ý định sử dụng công nghệ Nghiên cứu trước đây đã xác nhận tầm quan trọng của các điều kiện này đối với hành vi và việc áp dụng công nghệ (Keong và cộng sự, 2012; Kijsanayotin, 2009) Để doanh nghiệp mong đợi khách hàng sử dụng công nghệ tiên tiến, người dùng cần được giới thiệu đúng về hệ thống và cung cấp thông tin đầy đủ Một nghiên cứu tương tự cho thấy các điều kiện thuận lợi có tác động tích cực đến hành vi người dùng trong phần mềm quản lý học tập tại Malaysia (Raman và Don).

Do đó, tác giả cho rằng “Các điều kiện thuận lợi” ảnh hưởng đến ý định hành vi chấp nhận và sử dụng HTCSTM Giả thuyết sau được đặt ra:

Giả thuyết H4: Các điều kiện thuận lợi (FC) ảnh hưởng cùng chiều tới ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng

“Động lực hưởng thụ (Hedonic Motivation) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”

Động lực hưởng thụ, được định nghĩa là niềm vui từ việc sử dụng công nghệ, đóng vai trò quan trọng trong việc xác định sự chấp nhận và sử dụng công nghệ (Brown và Venkatesh, 2005) Trong bối cảnh người tiêu dùng, yếu tố này cũng được xác định là một yếu tố quyết định trong việc chấp nhận và sử dụng công nghệ.

Nghiên cứu năm 2010 chỉ ra rằng "động lực hưởng thụ", "ảnh hưởng xã hội" và "các điều kiện thuận lợi" là những yếu tố quan trọng quyết định ý định sử dụng dịch vụ mua sắm di động của người tiêu dùng Mỹ.

Người dùng công nghệ thường mong muốn trải nghiệm sự hưởng thụ khi sử dụng các sản phẩm công nghệ, điều này ảnh hưởng đến quyết định áp dụng công nghệ của họ Nghiên cứu của Kim và Venkatesh (2002) chỉ ra rằng khách hàng không chỉ sử dụng mua sắm trực tuyến vì lý do thực tế mà còn vì động lực hưởng thụ Tác giả nhấn mạnh rằng động lực hưởng thụ có tác động mạnh mẽ đến ý định hành vi của người tiêu dùng trong việc áp dụng công nghệ chiếu sáng thông minh.

Giả thuyết H5: Động lực hưởng thụ (HM) ảnh hưởng cùng chiều tới ý định sử dụng

Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng

“Giá trị cảm nhận (Price Value) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”

Giá trị cảm nhận liên quan đến sự đánh đổi giữa chi phí áp dụng công nghệ và giá trị mà người dùng nhận được Phân tích chi phí và lợi ích có ảnh hưởng trực tiếp đến ý định hành vi của người dùng trong việc áp dụng công nghệ Nghiên cứu của Peek và cộng sự (2014) chỉ ra rằng chi phí cao của công nghệ thông minh tác động đến giai đoạn tiền triển khai Theo Zeithaml (1988), chi phí và chất lượng sản phẩm được xem xét để xác định giá trị cảm nhận Dodds và cộng sự (1991) định nghĩa giá trị cảm nhận là sự đánh đổi giữa lợi ích và chi phí sử dụng ứng dụng Do đó, giá trị cảm nhận của người tiêu dùng có thể ảnh hưởng đến ý định sử dụng công nghệ nhà thông minh (HTCSTM), dẫn đến việc đề xuất giả thuyết này.

Giả thuyết H6: Giá trị cảm nhận (PV) ảnh hưởng cùng chiều tới ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng

“Thói quen sử dụng (Habit) và Ý định sử dụng (Behavioral Intention)”

Người dùng bắt đầu sử dụng công nghệ trong phạm vi hẹp và dần hình thành thói quen sử dụng thường xuyên Chen và cộng sự (2015) khẳng định rằng thói quen ảnh hưởng đến ý định hành vi chấp nhận và áp dụng các blog giảng dạy Limayem và cộng sự (2007) định nghĩa “thói quen sử dụng” là mức độ mà mọi người thực hiện hành vi tự động do học tập, trong khi Kim và Malhotra (2005) cho rằng thói quen mang tính tự động Nghiên cứu của Liao, Palvia và Lin (2006) cho thấy khi người tiêu dùng phát triển thói quen với một trang web, họ có xu hướng tiếp tục truy cập trang đó Venkatesh và cộng sự (2012) đã thêm thói quen vào mô hình UTAUT-2, cho rằng ý định hành vi bị ảnh hưởng bởi hành động vô thức Mặc dù những nghiên cứu này chủ yếu liên quan đến điện thoại thông minh, nhưng cũng có thể áp dụng cho các ứng dụng khác như HTCSTM, tương thích với các thiết bị thông minh như smartphone, laptop và máy tính bảng.

Trong bối cảnh nghiên cứu HTCSTM, giả thuyết sau đây được đề xuất:

Giả thuyết H7: Thói quen sử dụng (HT) ảnh hưởng cùng chiều đến ý định sử dụng

Hệ thống chiếu sáng thông minh của người tiêu dùng

Mô hình nghiên cứu đề xuất:

Bài viết dựa trên các mô hình nghiên cứu trước, đặc biệt là UTAUT-2, làm nền tảng lý thuyết cho nghiên cứu này Việc sử dụng HTCSTM mang tính đổi mới, do đó, các yếu tố tác động đến ý định sử dụng sản phẩm này được kế thừa từ các nghiên cứu trước liên quan đến ứng dụng công nghệ mới.

Moinul Islam (2018) đã nghiên cứu hành vi sử dụng Hệ thống nhà thông minh thông qua thuyết chấp nhận sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng (UTAUT-2), bổ sung thêm các nhân tố như “Thói quen”, “Rủi ro bảo mật”, “Động lực” và “Giá cả” bên cạnh bốn yếu tố chính: “Hiệu quả mong đợi”, “Nỗ lực mong đợi”, “Ảnh hưởng xã hội” và “Các điều kiện thuận lợi” Tương tự, nghiên cứu của Hasti và cộng sự (2016) về hành vi sử dụng đèn LED của người tiêu dùng Malaysia cũng áp dụng mô hình UTAUT với bốn yếu tố cơ bản giống như mô hình UTAUT ban đầu.

Dựa trên các nghiên cứu trước đây, tác giả đã phát triển một mô hình mới như hình 2.9, sử dụng mô hình UTAUT-2 để phân tích bảy yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử dụng Hệ thống chiếu sáng thông minh, bao gồm “Hiệu quả mong đợi” và “Nỗ lực mong đợi”.

“Ảnh hưởng xã hội”; “Các điều kiện thuận lợi”; “Động lực hưởng thụ”; “Giá trị cảm nhận” và “Thói quen sử dụng”

Hình 2.9: Mô hình nghiên cứu đề xuất (Nguồn: Venkatesh và cộng sự, 2012)

Biến phụ thuộc là: “Ý định sử dụng”

Bảy biến độc lập quan trọng bao gồm: “Hiệu quả mong đợi”, “Nỗ lực mong đợi”, “Ảnh hưởng xã hội”, “Các điều kiện thuận lợi”, “Động lực hưởng thụ”, “Giá trị cảm nhận” và “Thói quen sử dụng” Những yếu tố này đóng vai trò then chốt trong việc hình thành hành vi và quyết định của người tiêu dùng.

Kết luận chương 2

Chương 2 đã giới thiệu tổng quan lý thuyết về ý định hành vi của người tiêu dùng và HTCSTM Tác giả lựa chọn mô hình nghiên cứu UTAUT2 – “Thuyết chấp nhận và sử dụng công nghệ hợp nhất mở rộng” làm cơ sở cho đề tài nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến ý định sử HTCSTM của người tiêu dùng tại thành phố Hồ Chí Minh

Dựa trên nghiên cứu các mô hình trước đây, tác giả đã đề xuất bảy nhân tố trong "mô hình UTAUT-2" có tác động đến ý định sử dụng HTCSTM, bao gồm: "Hiệu quả mong đợi", "Nỗ lực mong đợi", "Ảnh hưởng xã hội" và "Các điều kiện thuận lợi".

Các nhân tố như "Động lực hưởng thụ", "Giá trị cảm nhận" và "Thói quen sử dụng" sẽ được sử dụng làm nền tảng để phân tích trong phương pháp nghiên cứu ở chương 3.

“Các điều kiện thuận lợi”

THIẾT KẾ QUI TRÌNH NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 17/07/2021, 10:13

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bùi Lê Tuyên Dương (2017) “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đèn chiếu sáng công nghệ LED tại các công trình xây dựng dân dụng”, Luận văn Thạc sĩ Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Nghiên cứu các yếu tố ảnh hưởng đến việc sử dụng đèn chiếu sáng công nghệ LED tại các công trình xây dựng dân dụng”
2. Charles W. L. Hill (2014), 8 th Global Edition, Giáo trình Kinh doanh quốc tế hiện đại, NXB Kinh tế TP. HCM Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Kinh doanh quốc tế hiện đại
Tác giả: Charles W. L. Hill
Nhà XB: NXB Kinh tế TP. HCM
Năm: 2014
3. Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc (2008). Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1+2), NXB Hồng Đức Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích dữ liệu nghiên cứu với SPSS (tập 1+2)
Tác giả: Hoàng Trọng và Chu Nguyễn Mộng Ngọc
Nhà XB: NXB Hồng Đức
Năm: 2008
4. Nguyễn Đình Thọ (2012), Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh, NXB Tài Chính Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình Phương pháp nghiên cứu khoa học trong kinh doanh
Tác giả: Nguyễn Đình Thọ
Nhà XB: NXB Tài Chính
Năm: 2012
5. Nguyễn Trọng Hoài, Đặng Quan Vinh (2014), “Sử dụng năng lượng của người dân theo hướng tiêu dùng xanh: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm tại khu vực đô thị Việt Nam” Sách chuyên khảo, NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh.Tài liệu nước ngoài Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nguyễn Trọng Hoài, Đặng Quan Vinh (2014), "“Sử dụng năng lượng của người dân theo hướng tiêu dùng xanh: Khung phân tích và bằng chứng thực nghiệm tại khu vực đô thị Việt Nam”
Tác giả: Nguyễn Trọng Hoài, Đặng Quan Vinh
Nhà XB: NXB Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. Tài liệu nước ngoài
Năm: 2014
1. Adnan, N., Nordin, S. M., & Ali, M. (2018). “A solution for the sunset industry: Adoption of Green Fertiliser Technology amongst Malaysian paddy farmers”. Land Use Policy, 79, 575–584 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “A solution for the sunset industry: "Adoption of Green Fertiliser Technology amongst Malaysian paddy farmers”
Tác giả: Adnan, N., Nordin, S. M., & Ali, M
Năm: 2018
2. Ajzen I., Fishbein M (1980), “Understanding attitudes and predicting social behavior, Englewood cliffs”, NJ: Prentice Hall Sách, tạp chí
Tiêu đề: Understanding attitudes and predicting social behavior, Englewood cliffs”
Tác giả: Ajzen I., Fishbein M
Năm: 1980
3. Ajzen Icek (1985) “From intentions to actions: A theory of planned behavior, Springer series in social psychology”, Berlin, 11–39 Sách, tạp chí
Tiêu đề: From intentions to actions: A theory of planned behavior, Springer series in social psychology”
4. Ajzen Icek (1991), “The theory of planned behavior, Organizational behavior and human decision processes”, 50 179–211 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The theory of planned behavior, Organizational behavior and human decision processes”
Tác giả: Ajzen Icek
Năm: 1991
5. Aizstrauta, D., Ginters, E., & Eroles, M.-A. P. (2015). “Applying Theory of Diffusion of Innovations to Evaluate Technology Acceptance and Sustainability”. Procedia Computer Science, 43, 69–77 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Applying Theory of Diffusion of Innovations to Evaluate Technology Acceptance and Sustainability”
Tác giả: Aizstrauta, D., Ginters, E., & Eroles, M.-A. P
Năm: 2015
6. Anil, S., Leow, T.T., Lim, H.M. and Goh, P.G.J. (2003), “Overcoming barriers to the successful adoption of mobile commerce in Singapore”, International Journal of Mobile Communications, Vol. 1 Nos 1/2, pp. 194–231 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Overcoming barriers to the successful adoption of mobile commerce in Singapore”
Tác giả: Anil, S., Leow, T.T., Lim, H.M. and Goh, P.G.J
Năm: 2003
7. Boonsiritomachai, W., & Pitchayadejanant, K. (2017) “Determinants affecting mobile banking adoption by generation Y based on the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology Model modified by the Technology Acceptance Model concept”. Kasetsart Journal of Social Sciences Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Determinants affecting mobile banking adoption by generation Y based on the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology Model modified by the Technology Acceptance Model concept”
8. Boscarino, G., & Moallem, M. (2016). “Daylighting Control and Simulation for LED-Based Energy-Efficient Lighting Systems”. IEEE Transactions on Industrial Informatics, 12(1), 301–309 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Daylighting Control and Simulation for LED-Based Energy-Efficient Lighting Systems”
Tác giả: Boscarino, G., & Moallem, M
Năm: 2016
9. Brown, S. A., and Venkatesh, V. 2005. “Model of Adoption of Technology in the Household: A Baseline Model Test and Extension Incorporating Household Life Cycle” MIS Quarterly (29:4), pp. 399–426 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Model of Adoption of Technology in the Household: A Baseline Model Test and Extension Incorporating Household Life Cycle”
10. Carlsson, C., Carlsson, J., Hyvonen, K., Puhakainen, J., & Walden, P. (2006). “Adoption of Mobile Devices/Service: Searching for Answers with the UTAUT”.Proceedings of the 39th Annual Hawaii International Conference on System Sciences (HICSS’06) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Adoption of Mobile Devices/Service: Searching for Answers with the UTAUT”
Tác giả: Carlsson, C., Carlsson, J., Hyvonen, K., Puhakainen, J., & Walden, P
Năm: 2006
11. Carreiro, H., & Oliveira, T. (2019). “Impact of transformational leadership on the diffusion of innovation in firms: Application to mobile cloud computing. Computers in Industry”, 107, 104–113 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Impact of transformational leadership on the diffusion of innovation in firms: Application to mobile cloud computing. Computers in Industry”
Tác giả: Carreiro, H., & Oliveira, T
Năm: 2019
12. Chen, C.P., Lai, H.M. and Ho, C.Y. (2015). “Why do teachers continue to use teaching blogs? The roles of perceived voluntariness and habit”. Computers and Education. 82, 236–249 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Why do teachers continue to use teaching blogs? The roles of perceived voluntariness and habit”
Tác giả: Chen, C.P., Lai, H.M. and Ho, C.Y
Năm: 2015
13. Chew, I., Karunatilaka, D., Tan, C. P., & Kalavally, V. (2017). “Smart lighting: The way forward? Reviewing the past to shape the future. Energy and Buildings”, 149, 180–191.7 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Smart lighting: The way forward? Reviewing the past to shape the future. Energy and Buildings”
Tác giả: Chew, I., Karunatilaka, D., Tan, C. P., & Kalavally, V
Năm: 2017
14. Chiu, C.-M., & Wang, E. T. G. (2008). “Understanding Web-based learning continuance intention: The role of subjective task value”. Information &Management, 45(3), 194–201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Understanding Web-based learning continuance intention: The role of subjective task value
Tác giả: Chiu, C.-M., & Wang, E. T. G
Năm: 2008
15. Chopdar, P. K., Korfiatis, N., Sivakumar, V. J., & Lytras, M. D. (2018). “Mobile shopping apps adoption and perceived risks: A cross-country perspective utilizing the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology”. Computers in Human Behavior, 86, 109–128 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Mobile shopping apps adoption and perceived risks: A cross-country perspective utilizing the Unified Theory of Acceptance and Use of Technology”
Tác giả: Chopdar, P. K., Korfiatis, N., Sivakumar, V. J., & Lytras, M. D
Năm: 2018

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w