1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn Thạc sĩ Kinh tế: Tác động của các yếu tố quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Khu vực thành phố Hồ Chí Minh

100 6 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 100
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • CHƯƠNG 1. GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI (14)
    • 1.1. Lý do chọn đề tài (14)
    • 1.2. Mục tiêu nghiên cứu (15)
    • 1.3. Câu hỏi nghiên cứu (15)
    • 1.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu (15)
      • 1.4.1. Đối tượng nghiên cứu (15)
      • 1.4.2. Phạm vi nghiên cứu (16)
    • 1.5. Ý nghĩa khoa học (16)
    • 1.6. Phương pháp nghiên cứu (16)
    • 1.7. Kết cấu luận văn (17)
  • CHƯƠNG 2. TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (18)
    • 2.1. Tổng quan về thẻ tín dụng (18)
    • 2.2. Lý thuyết hành động hợp lý (19)
    • 2.3. Lý thuyết hành vi dự định (20)
    • 2.4. Lý thuyết chấp nhận công nghệ (22)
    • 2.5. Các yếu tố tác động đến ý định thanh toán qua thẻ tín dụng của khách hàng . 10 1. Nhận thức tính hữu ích (23)
      • 2.5.2. Nhận thức dễ dàng sử dụng (24)
      • 2.5.3. Nhận thức rủi ro (25)
      • 2.5.4. Chuẩn chủ quan (26)
      • 2.5.5. Chi phí có liên quan việc sử dụng thẻ tín dụng (27)
      • 2.5.6. Vị thế của khách hàng (28)
    • 2.6. Tổng quan các nghiên cứu trước đây (29)
    • 2.7. Đề xuất mô hình nghiên cứu (34)
    • 3.1. Tổng quan Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (36)
      • 3.1.1. Giới thiệu Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (36)
      • 3.1.2. Kết quả kinh doanh (36)
    • 3.2. Tổng quan hoạt động thẻ tín dụng tại Việt Nam (40)
    • 3.3. Tình hình kinh doanh thẻ tín dụng các Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - khu vực thành phố Hồ Chí Minh (43)
    • 3.4. Tóm tắt chương 3 (47)
  • CHƯƠNG 4. KHẢO SÁT VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU (48)
    • 4.1. Quy trình nghiên cứu (48)
    • 4.2. Mô hình nghiên cứu (49)
    • 4.3. Thiết kế thang đo (50)
      • 4.3.1. Thang đo nhận thức hữu ích (50)
      • 4.3.2. Thang đo nhận thức rủi ro (52)
      • 4.3.3. Thang đo nhận thức dễ dàng sử dụng (53)
      • 4.3.4. Thang đo vị thế khách hàng (54)
      • 4.3.5. Thang đo chi phí có liên quan đến việc sử dụng thẻ (55)
      • 4.3.6. Thang đo chuẩn chủ quan (56)
    • 4.4. Phương pháp nghiên cứu (57)
      • 4.4.1. Cronbach Alpha (57)
      • 4.4.2. Khám phá nhân tố EFA (59)
    • 4.5. Mẫu nghiên cứu (60)
    • 4.6. Thống kê mô tả (61)
    • 4.7. Phân tích Cronbach Alpha (64)
    • 4.8. Phân tích EFA (69)
    • 4.9. Kết quả nghiên cứu (71)
      • 4.9.1. Kiểm tra mô hình (71)
      • 4.9.2. Kết quả nghiên cứu (74)
    • 4.10. Tóm tắt chương 4 (77)
  • CHƯƠNG 5. KẾT LUẬN VÀ HÀM Ý CHÍNH SÁCH (78)
  • Minh 34 Bảng 4.1. Hệ số cronbach Alpha và mức chấp nhận (0)

Nội dung

Luận văn tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: Tìm hiểu tác động của các yếu tố đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng của BIDV khi thanh toán các hóa đơn mua sắm, tiêu dùng. Từ đó phân tích tác động của các yếu tố này đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng và gới ý những chính sách giúp hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại BIDV phát triển hơn.

GIỚI THIỆU ĐỀ TÀI

Lý do chọn đề tài

Tại Việt Nam, cho đến hiện nay, việc sử dụng tiền mặt trong các giao dịch thanh toán còn khá phổ biến Mặc dù, với sự phát triển vượt bậc của công nghệ thông tin đã tạo cho các ngân hàng, các tổ chức tin dụng có cơ hội phát triển các sản phẩm dịch vụ ứng dụng công nghệ thông tin Tuy nhiên, tỷ lệ sử dụng dịch vụ trung gian thanh toán qua các ngân hàng vẫn còn rất hạn chế so với số lượng người sở hữu các loại thẻ ngân hàng có chức năng thanh toán

Tâm lý người tiêu dùng Việt Nam hiện nay vẫn ưu tiên sử dụng tiền mặt như một sự lựa chọn hàng đầu trong các giao dịch mua bán Điều này có thể được giải thích dựa vào lý thuyết của Keynes về sự yêu thích tiền mặt Người ta thường có xu hướng nắm giữa tiền mặt do động cơ dự phòng Đồng thời, tiền mặt cũng là lựa chọn ưu tiền hàng đầu trong thanh toán, cho đến khi họ không còn đủ tiền mặt trong tay

Tuy nhiên, theo báo cáo gần đây của Ngân hàng Nhà nước về tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt của Việt Nam, thì có một sự suy giảm nhẹ trong khả năng thanh toán bằng tiền mặt với với tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt đạt 14.10% ở năm 2008, giảm xuống chỉ còn 11.31% ở năm 2018 Con số này phản ánh được thực trạng người dân và các tổ chức kinh tế ở Việt Nam đang lựa chọn phương thức thanh toán qua thẻ (bao gồm các loại thẻ thông thường và thẻ tín dụng)

Mặt khác, đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến ý định lựa chọn phương thức thanh toán của người tiêu dùng Tuy nhiên, các nghiên cứu tại các quốc gia khác nhau lại cho ra những kết quả không giống nhau Và rất khó có thể áp dụng và giải thích hết các trường hợp của từng quốc gia, từng nền kinh tế cụ thể

Do đó, bài nghiên cứu cho rằng cần thiết phải nghiên cứu xem đâu mới thật sự là nguyên dẫn dẫn đến việc chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng để thanh toán các hóa đơn mua sắm và tiêu dùng của người dân ở Việt Nam Đó chính là lý do mà học viên lựa chọn đề tài “Tác động của các yếu tố đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tại NHTMCP Đầu Tư và Phát Triển Việt Nam – Khu vực thành phố Hồ Chí Minh” với mong muốn giúp ban giám đốc của BIDV trên đị bàn thành phố Hồ Chí Minh có thể gia tăng khả năng sử dụng thẻ tín dụng của BIDV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh để thanh toán các hóa đơn mua sắm và tiêu dùng Từ đó có thể thu được một mức thu phí từ dịch vụ cao hơn cũng như thị phần thẻ của BIDV tại thành phố Hồ Chí Minh này sẽ được cao hơn so với các ngân hàng khác.

Mục tiêu nghiên cứu

Luận văn tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu:

Tìm hiểu tác động của các yếu tố đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng của BIDV khi thanh toán các hóa đơn mua sắm, tiêu dùng Từ đó phân tích tác động của các yếu tố này đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng và gới ý những chính sách giúp hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại BIDV phát triển hơn.

Câu hỏi nghiên cứu

Để giải quyết mục tiêu nghiên cứu, luận văn tiến hành đề xuất các câu hỏi nghiên cứu bao gồm :

Câu hỏi đầu tiên: các yếu tố nào sẽ xác định quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng khi thanh toán các hóa đơn mua sắm, tiêu dùng?

Câu hỏi thứ hai: tác động của các yếu tố này đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng của BIDV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh khi thanh toán các hóa đơn mua sắm, tiêu dùng sẽ như thế nào? Cùng chiều (+) hay ngược chiều (-)?

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.4.1 Đối tượng nghiên cứu Đối tượng nghiên cứu chính là các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận thẻ tín dụng của khách hàng tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi về không gian: Bao gồm các khách hàng chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh

- Phạm vi về thời gian: Bài nghiên cứu sử dụng các dữ liệu trong khoảng thời gian từ năm 2013 đến năm 2018 kết hợp với nguồn dữ liệu khảo sát trong giai đoạn từ tháng 01/2018 đến tháng 02/2019.

Ý nghĩa khoa học

Luận văn đã góp phần giới thiệu thang đo lường ý định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng trong bối cảnh nghiên cứu tại Việt Nam Cụ thể là tại các chi nhánh ngân hàng BIDV khu vực thành phố Hồ Chí Minh Việc nghiên cứu, tìm hiểu tác động của các yếu tố đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng luôn là vấn đề được nhiều ngân hàng quan tâm Các kết quả nghiên cứu tìm được có thể làm cơ sở để các chi nhánh ngân hàng BIDV khu vực thành phố Hồ Chí Minh xây dựng các chính sách phát triển hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại chi nhánh.

Phương pháp nghiên cứu

Trước khi đánh giá tác động của các yếu tố đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của BIDV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thanh toán hóa đơn mua sắm, luận văn sẽ sử dụng hệ số Cronbach Alpha và khám phá nhân tố EFA để đánh giá sự phù hợp của các biến quan sát và các thang đo có trong mô hình nghiên cứu của luận văn Theo đó, Cronbach Alpha là phương pháp kiểm định độ tin cậy của các thang đo, phương pháp này giúp các nhà nghiên cứu có thể loại đi những biến quan sát không đạt yêu cầu trong thang đo đang phân tích Bởi vì các biến quan sát không đạt yêu cầu có thể tạo ra các biến tiềm ẩn, các yếu tố giả mạo và ảnh hưởng đến các mối quan hệ của các biến có trong mô hình nghiên cứu Trong khi đó, Phân tích khám khá nhân tố EFA là một kỹ thuật thống kê mạnh mẽ được sử dụng để giảm thiểu và tổng hợp dữ liệu Mục tiêu chính của khám phá nhân tố là xác định (1) số lượng các yếu tố ảnh hưởng đến vấn đề nghiên cứu và (2) mức độ của mối quan hệ giữa các yếu tố và các biến quan sát (DeCoster, 1998)

Sau khi đã đánh giá được sự phù hợp của các biến quan sát và thang đo, luận văn tiến hành ước lượng phương trình nghiên cứu sau nhằm làm rõ tác động của các yếu tố đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của BIDV trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh thanh toán hóa đơn mua sắm Cụ thể như sau:

Sudung = β0 + β1*HuuIch + β2*RuiRo + β3*DeDang + β4*ViThe + β5*ChiPhi + β6*XaHoi +  (1)

Sudung thể hiện quyết định chấp nhận sử dụng của khách hàng

HuuIch thể hiện mức độ của nhận thức tính hữu ích của khách hàng

RuiRo thể hiện mức độ của nhận thức rủi ro của khách hàng

DeDang thể hiện mức độ của nhận thức dễ dàng sử dụng của khách hàng

ViThe thể hiện mức độ vị thế của khách hàng

ChiPhi thể hiện chi phí có liên quan của việc sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng XaHoi thể hiện mức chuẩn chủ quan

 là sai số của mô hình nghiên cứu

Kết cấu luận văn

Cấu trúc của Luận văn sẽ được kết cấu thành năm chương, cụ thể như sau:

Chương 1: Giới thiệu đề tài

Chương 2: Tổng quan về các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng và mô hình nghiên cứu

Chương 3: Thực trạng khách hàng sử dụng dịch vụ thanh toán qua thẻ tín dụng khách hàng tại NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam – Khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Chương 4: Khảo sát và kiểm định mô hình nghiên cứu

Chương 5: Kết luận và hàm ý chính sách

TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Tổng quan về thẻ tín dụng

Tiền tệ trải qua các giai đoạn khác nhau, từ việc tiền được làm bằng vàng, bạc, đồng, sắt và cho đến ngày nay tiền được làm bằng giấy (Babneh, 2008) Vì lý do sợ mất tiền, cho nên các tổ chức như các ngân hàng và tổ chức tài chính đã được hình thành để đáp ứng việc gửi tiền từ các đối tượng có vốn nhàn rỗi nhưng e ngại mất tiền Các ngân hàng và tổ chức tài chính này cố gắng tạo điều kiện thuận lợi cho các giao dịch của người gửi tiền Bên cạnh đó, với sự gia tăng mạnh mẽ của việc giao dịch giữa người mua và người bán, người tiêu dùng cần có một phương tiện nhanh hơn, an toàn hơn để tạo điều kiện thuận lợi cho khả năng mua hàng của người tiêu dùng ở bất cứ đâu và bất cứ lúc nào nhưng vẫn đảm bảo tiền của người tiêu dùng sẽ không bị mất; các tổ chức tài chính và ngân hàng đã phát hành một phương tiện giao dịch đầy đủ các yêu cầu này và mang tên là thẻ tín dụng, loại thẻ này có thể cung cấp cho người sở hữu thẻ có khả năng mua hàng ngay cả khi người tiêu dùng không có tiền vào thời điểm muốn mua hàng

Có nhiều định nghĩa về thẻ tín dụng Một trong những định nghĩa này là của Naim

(1995) khi cho rằng thẻ tín dụng một dạng hợp đồng mà ở đó nhà phát hành thẻ cam kết cho người sở hữu thẻ tín dụng ghi nợ một số tiền nhất định để đáp ứng mua hàng cá nhân từ các cửa hàng được liên kết với tổ chức phát hành thẻ tín dụng và số tiền ghi nợ này sẽ được quyết toán vào cuối mỗi giai đoạn theo như ký kết ban đầu giữa tổ chức phát hành và người sở hữu thẻ Theo Al – Zubaidi (2002), thẻ tín dụng có thể được định nghĩa như là thẻ chi phép người sở hữu có quyền giao dịch với nhiều cửa hàng khác nhau, trong đó chỉ cần các cửa hàng này chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng cho người dùng, đồng thời, người sở hữu thẻ phải hoàn trả số tiền đã mua sắm, giao dịch từ thẻ tín dụng trong vòng 25 ngày kể từ ngày người sở hữu thẻ thực hiện giao dịch Trong đó, khách hàng sẽ không phải trả lãi cho ngân hàng cho dịch vụ này nếu như thanh toán được thực hiện trong kỳ thanh toán này (tối đa 25 ngày kể từ ngày giao dịch), nhưng nếu không làm được điều này, khách hàng sẽ phải gánh chi phí lãi vay 1.5% trên tổng số dư chưa thanh toán Một định nghĩa khác bởi Ababneh (2008) cho rằng thẻ tín dụng là hợp đồng giữa hai bên, một bên là tổ chức tài chính (tổ chức phát hành thẻ) và một bên là khách hàng (chủ thẻ), theo đó, tổ chức phát hành thẻ sẽ cam kết thanh toán các khoản tiền mà khách hàng thực hiện giao dịch ở các tổ chức thương mại và chủ thẻ cũng có nghĩa vụ hoàn trả số tiền nay cho ngân hàng trong giai đoạn nhất định

Cuối cùng, Al – Swah (2006) đã định nghĩa thẻ tín dụng là một công cụ ngân hàng(banking tool) đã sử dụng để đáp ứng các nghĩa vụ do tổ chức tài chính (tổ chức phát hành thẻ) cấp cho một cá nhân hoặc pháp nhân (chủ thẻ) để cho phép các khách hàng có thể rút tiền mặt từ ngân hàng hoặc mua hàng hóa dịch vụ từ các tổ chức thương mại với các cam kết nhất định

Lý thuyết hành động hợp lý

Mô hình TRA đã được phát triển bởi Martin Fishbein và Icek Azjen (1975) đề xuất rằng ý đồ hành vi được xác định bởi thái độ của một cá nhân đối với hành vi và các chỉ tiêu chủ quan Thái độ đối với hành vi có nghĩa là mức độ nhận thức của cá nhân đối với việc thực hiện hành vi, trong khi các chỉ tiêu chủ quan là mức độ áp lực của môi trường và xã hội xung quanh cá nhân đó có ảnh hưởng đến họ để thực hiện hoặc không thực hiện ý định hành vi Do đó, ý định hành vi là một nhân tố dự báo trước cho hành vi thực tế

TRA ban đầu được phát triển trong bối cảnh sinh lý xã hội để hiểu và dự đoán hành vi cá nhân Tuy nhiên, TRA là "trực quan, linh hoạt, và sâu sắc trong khả năng giải thích hành vi" Bagozzi (1982) trích dẫn trong Yousafzai và cộng sự (2010) Theo quan điểm lý thuyết, TRA có một số hạn chế như sự nhầm lẫn của nó trong việc phân biệt giữa thái độ đối với hành vi và tiêu chuẩn chủ quan và không đưa ra lời giải thích nào về niềm tin là những nhân tố tiên đoán đáng kể hành vi cụ thể (Cho và Agrusa, 2006) Vì vậy, những niềm tin ngầm từ các cá nhân phải được cân nhắc bởi các nhà nghiên cứu sử dụng TRA để điều tra hành vi của cá nhân (Davis, 1989) Ngoài ra, TRA là một lý thuyết hữu ích để dự đoán hành vi chứ không phải là kết quả của các hành vi (Yousafzai và các cộng sự, 2010)

Hình 2.1 Mô hình hành động hợp lý TRA

Lý thuyết hành vi dự định

Lý thuyết hành vi dự định (TPB) do Ajzen (1985) đã đề xuất bằng cách mở rộng lý thuyết hành động hợp lý TRA để giải thích cho các điều kiện mà các cá nhân không có quyền kiểm soát hoàn toàn đối với hành vi của họ Lý thuyết này tranh luận rằng việc kiểm soát hành vi cảm nhận (cảm nhận của các cá nhân về khả năng có thể thực hiện hành vi của anh ấy/cô ấy) có thể ảnh hưởng đến cả ý định và hành vi thực hiện (Limayem và các cộng sự, 2000)

Lý thuyết hành vi dự định kết hợp nhận thức kiểm soát hành vi và thái độ cũng như chuẩn chủ quan trong lý thuyết hành động hợp lý đã đưa ra Theo đó lý thuyết hành vi dự định cho rằng việc kiểm soát hành vi cảm nhận của một cá nhân không những là một trong các yếu tố tác động đến xu hướng hành vi thực hiện của một cá nhân cùng với thái độ và chuẩn chủ quan, mà yếu tố này còn có thể tác động đến hành vi thật sự của một cá nhân, do đó cần đưa thêm yếu tố cảm nhận của các cá nhân vào mô hình nghiên cứu quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng Tuy nhiên, lý thuyết hành vi dự định chưa đưa ra được cảm nhận của cá nhân về khía cạnh này để có thể ảnh hưởng đến ý định và hành vi thật sự của các cá nhân

Hình 2.2 Mô hình hành vi dự định TPB

Dựa trên mô hình TRA, mô hình TPB đã bổ sung thêm yếu tố kiểm soát hành vi cảm nhận, giải quyết được nhược điểm trong mô hình TRA Do đó, mô hình TPB được xem là mô hình tối ưu hơn mô hình TRA trong việc dự đoán và giải thích hành vi của người tiêu dùng trong cùng một nội dung, hoàn cảnh nghiên cứu

Tuy nhiên, mô hình TPB cũng còn tồn tại một số hạn chế Hạn chế đầu tiên là về yếu tố quyết định ý định không giới hạn thái độ, chuẩn chủ quan, kiểm soát hành vi cảm nhận (Ajzen 1991) Có thể có các yếu tố khác tác động đến hành vi Hạn chế thứ hai đó là việc tồn tại khoảng cách đáng kể về thời gian giữa các đánh giá Trong khoảng thời gian này, các ý định của một cá nhân có thể thay đổi Hạn chế thứ ba, TPB là mô hình dự đoán hành động của một cá nhân dựa trên các tiêu chí nhất định, tuy nhiên các cá nhân có thể hành xử không như dự đoán bởi các tiêu chí đó.

Lý thuyết chấp nhận công nghệ

Năm 1985, Fred Davis đã đề xuất mô hình chấp nhận công nghệ (Technology acceptance model) trong luận án tiến sỹ tại trường Quản lý Sloan MIT (Davis, 1985) Dựa trên nghiên cứu trước đây được tiến hành bởi Fishbein và Ajzen (1975), người đã thiết lập ra lý thuyết hành động hợp lý (TRA) và các nghiên cứu có liên quan khác, Davis (1985) đã đưa ra mô hình chấp nhận công nghệ như sau nhằm giải thích hành vi chấp nhận sử dụng một công nghệ mới

Trong mô hình này, Davis (1985) đã cho rằng hành vi chấp nhận sử dụng một công nghệ mới của một cá thể/tổ chức có thể được giải thích bởi ba yếu tố: nhận thức dễ dàng sử dụng (perceived easy of use), nhận thức hữu ích (perceived usefullness), và thái độ sử dụng (attitude toward using)

Theo đó, tác giả giả định rằng thái độ sử dụng một hệ thống là một yếu tố chính trong việc xác định được rằng người dùng sẽ thật sự sử dụng hay từ bỏ hệ thống/công nghệ mới Thái độ của người sử dụng có thể bị tác động bởi hai mục đích chính: cảm giác hữu ích và cảm giác dễ dàng, bao gồm nhận thức dễ dàng sử dụng có tác động trực tiếp đến cảm giác hữu ích Cuối cùng, cả hai yếu tố này được giả định rằng có tác động trực tiếp đến hệ thống/công nghệ mới

Hình 2.3 Mô hình chấp nhận công nghệ

Nguồn: Davis và các cộng sự (1989)

Trong giai đoạn sau này, Davis (1985) đã điều chỉnh mô hình của tác giả bao gồm việc sử dụng thêm các biến số khác và thay đổi mối quan hệ mà tác giả đã xây dựng ban đầu Nhiều nhà nghiên cứu đã đề nghị chấp nhận và đưa thêm các biến số này vào mô hình chấp nhận công nghệ Theo thời gian, mô hình chấp nhận công nghệ đã phát triển thành mô hình dẫn đầu trong việc giải thích và dự báo được khả năng chấp nhận sử dụng công nghệ/hệ thống Do đó, mô hình chấp nhận công nghệ trở nên nổi tiến và được nhắc đến nhiều trong hầu hết các nghiên cứu có liên quan đến việc chấp nhận sử dụng công nghệ (Lee và các cộng sự, 2003)

Lý thuyết chấp nhận công nghệ là một lý thuyết được sử dụng rộng rãi nhằm dự báo được hành vi sử dụng công nghệ thông tin của các cá nhân/tổ chức Mô hình chấp nhận công nghệ cho rằng thái độ sẽ quyết định ý định thực hiện, và từ đó sẽ có thể dự báo được hành vi của người sử dụng

Theo mô hình chấp nhận công nghệ, hành vi sử dụng công nghệ mới của người dùng được xác định bởi nhận thức hữu ích và nhận thức dễ dàng sử dụng Do đó, luận văn sử dụng thêm hai yếu tố nhận thức hữu ích và nhận thức dễ dàng sử dụng khi xem xét quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng cá nhân của các chi nhánh của Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Các yếu tố tác động đến ý định thanh toán qua thẻ tín dụng của khách hàng 10 1 Nhận thức tính hữu ích

2.5.1 Nhận thức tính hữu ích

Tính tiện lợi có thể được xem như là nhân tố quan trọng nhất trong việc ưa thích sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng tiêu dùng Thay vì trước đây việc đi chợ truyền thống, khách hàng phải mang theo số lượng tiền mặt nhất định, đặc biệt là đối với các hộ gia đình đi chợ một lần vào cuối tuần, thì việc này mang lại cho họ những rủi ro có thể xảy ra như: trộm cướp, nhầm lẫn tiền… Chính những điều này gây cho người tiêu dùng cảm giác không thoái mái và có phần lo sợ khi sử dụng tiền mặt trong thanh toán tại nơi đông người Tuy nhiên, với sự xuất hiện của thẻ tín dụng cũng như các trung tâm mua sắm hiện đại thì người tiêu dùng có thể thoải mái và an tâm với việc mua sắm mà không phải lo sợ các rủi ro trước kia Ngày nay, với việc nhu cầu ngày càng gia tăng về những tính năng mà một chiếc thẻ tín dụng có thể mang lại từ phía khách hàng, tính tiện lợi của thẻ tín dụng không chỉ giới hạn trong việc thanh toán, gọn nhẹ mà còn mở rộng ra tới việc quản lý chi tiêu, thiết lập những giới hạn chi tiêu cho khách hàng nhằm đảm bảo, nhắc nhở khách hàng về các khoản chi tiêu quá mức và không cần thiết Cụ thể là:

- Chủ thẻ có thể kiểm soát được việc chi tiêu hàng tháng thông qua bản sao kê thanh toán, và đồng thời chủ thẻ cũng có thể sử dụng được nguồn tín dụng do ngân hàng phát hành cung cấp với một hạn mức tín dụng tùy theo ngân hàng cấp cho mỗi khách hàng Đồng thời, việc có nhiều ưu đãi nên khách hàng có thể giảm được các chi phí chuyển đổi ngoại tệ, thanh toán nhanh chóng, an toàn khi đi du lịch nước ngoài

- Chủ thẻ được cấp một hạn mức tín dụng để “chi tiêu trước, trả tiền sau” Khi đến hạn thanh toán, chủ thẻ có thể chỉ cần thanh toán cho ngân hàng một phần số dư tối thiểu, sau khi hết thời gian quy định thanh toán mà khách hàng chưa thanh toán hết nợ cho ngân hàng thì số tiền còn lại mới bị tính lãi Tức là, chủ thẻ có thể sẽ không phải trả một khoản lãi nào nếu thanh toán toàn bộ số dư trên sao kê trong thời hạn từ 15 – 45 ngày theo quy định của ngân hàng

Khá nhiều nghiên cứu trước đây cho rằng tính tiện lợi là nhân tố xác định quan trọng trong hành vi sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng Meidan và Davos (1994) cho thấy rằng tính tiện lợi là nhân tố quan trọng nhất trong việc xác định hành vi sử dụng thẻ tín dụng tại Hy Lạp, trong khi đó, đối với thị trường Singapore, Maysami và Williams (2002) cũng cho thấy rằng tính tiện lợi là nhân tố quan trọng trong các đặc tính của thẻ tín dụng có ảnh hưởng lớn đến việc sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng Một điểm đặc biệt của tính tiện lợi từ thẻ tín dụng là từ các chuyến đi du lịch hay công tác ở nước ngoài của khách hàng Tính tiện lợi của thẻ tín dụng quốc tế có thể giúp khách hàng thuận tiện và dễ dàng chi tiêu tại các quốc gia khác nhau trên toàn thế giới Nghiên cứu của Worthington và cộng sự (2007) cho thấy rằng thẻ tín dụng được ưa chuộng hơn khi khách hàng đi du lịch hoặc tham gia vào các hoạt động giải trí

2.5.2 Nhận thức dễ dàng sử dụng

Ajzen (1991, 2002) đã cho rằng nhận thức kiểm soát hành vi như là một nhận thức dễ dàng sử dụng hoặc khó khăn để sử dụng của một cá nhân nào đó trong việc thực hiện một hành vi cụ thể Theo đó, giả định rằng nhận thức kiểm soát hành vi được quyết định bởi tổng số niềm tin kiểm soát có thể thực hiện được Do đó, kiểm soát hành vi nhận thức có thể thay thế cho sự dễ dàng sử dụng trong các nghiên cứu về việc chấp nhận công nghệ (Ajzen, 2002), trong đó nhận thức dễ dàng sử dụng là một tiền đề không chỉ của xu hướng hành vi mà còn thể hiện nhận thức sự hữu ích (Davis và các cộng sự, 1989; Lu và các cộng sự, 2003; Chan và Lu, 2004; Amin, 2007; Tu và các cộng sự, 2011; Pham và các cộng sự, 2013) Các nghiên cứu này đồng ý rằng khi các khách hàng tiếp cận và sử dụng các công nghệ dễ dàng có thể thay đổi nhận thức của họ về hiệu quả của công nghệ này mang đến cho bản thân của người dùng, và cũng khuyến khích người dùng chấp nhận và sử dụng các công nghệ này

Bằng chứng thực nghiệm đã minh chứng cho thấy tác động của việc kiểm soát hành vi nhận thức đối với việc sử dụng thẻ tín dụng Barker và Sekerkaya (1992) cho rằng việc thanh toán dễ dàng hơn là một trong các nguyên nhân chính để sử dụng thẻ tín dụng Các khách hàng sẽ lựa chọn thẻ tín dụng nhờ vào thủ tục chấp nhận dễ dàng hơn của thẻ tín dụng ở các cửa hàng bán lẻ (Alhassan và Yakubu, 2007; Erdem, 2008; Sudhagar, 2012) Arbote và Busacca (2009) lưu ý rằng sự sẵn có của các dịch vụ 24/7 là một yếu tố quan trọng trong việc kinh doanh thẻ tín dụng Sự chấp nhận của xã hội đối với việc thanh toán bằng thẻ tín dụng đóng vai trò quan trọng đối với quyết định sử dụng thẻ tín dụng của khách hàng thay vì dùng tiền mặt để mua sắm (Kaynak và Harcar,

2001) Lydia và các cộng sự (2008) cũng đề cập rằng việc thiểu hiểu biết hoặc thông tin không đầy đủ sẽ làm giảm việc chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng

Rủi ro giao dịch (rủi ro liên quan đến các giao dịch trực tuyến và trực tiếp bằng thẻ tín dụng) như Bars và Test (2011), Tu và các cộng sự (2014) đã cho rằng là yếu tố ảnh hưởng đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng Cụ thể, nhận thức rủi ro được xem như là bất kỳ một hành động nào của khách hàng cũng đều dẫn đến rủi ro cho khách hàng Có nhiều khái niệm cho thuật ngữ nhận thức rủi ro và các khái niệm này chủ yếu có liên quan đến rủi ro tài chính, tâm lý, hiệu quả, vật chất và xã hội

Chẳng hạn như Forsythe và Shi (2003) cho rằng nhận thức rủi ro là rủi ro chủ quan được xác định bởi sự kỳ vọng của người mua hàng trên Internet Pavlou (2003) cho rằng nhận thức rủi ro được xem như là một nổi lo lắng chủ quan của người dùng đối với sự mất mát của họ do kết quả của việc thực hiện một hành động nào đó Nhận thức rủi ro được xem như là một cảm giác của tinh thần phản ánh sự không chắc chắn bắt nguồn từ việc tham gia vào một giao dịch trực tuyến hoặc thanh toán thẻ tín dụng trực tiếp Kau và các cộng sự (2003), Forshyte và Shi (2003), Kim và các cộng sự (2008) cho rằng nhận thức rủi ro là yếu tố cản trở chính yếu cho các giao dịch trực tuyến cũng như việc thanh toán thẻ tín dụng trực tiếp thành công Hơn thế nữa, Bhatnagar và các cộng sự

(2000) cũng cho rằng nhận thức rủi ro đóng vai trò then chốt trong việc làm giảm xu hướng sử dụng giao dịch trực tuyến cũng như việc thanh toán thẻ tín dụng trực tiếp của mọi người Qua đó các nghiên cứu đều cho rằng nhận thức rủi ro càng cao thì sẽ càng làm giảm khả năng sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng

Ajzen (1991) xem chuẩn chủ quan (subjective norm) như là một nhận thức áp lực của xã hội trong việc thực hiện hoặc không thực hiện hành vi của một cá nhân nào đó, điều này có nghĩa là chuẩn chủ quan sẽ có tác động trực tiếp đến ý định thực hiện hành vi của một cá nhân (Ajzen, 1991; Taylor và Todd, 1995) Mặc dù Davis và các cộng sự

(1989) đã loại bỏ yếu tố chuẩn chủ quan ra khỏi mô hình chấp nhận công nghệ vì các tác giả cho rằng yếu tố này không thể hiện đóng góp đáng kể vào mô hình của các tác giả Venkatesh và Davis (2000) cho rằng chuẩn chủ quan có ảnh hưởng đáng kể đến ý định thực hiện hành vi, theo đó tác động này sẽ bao gồm cả tác động trực tiếp và gián tiếp thông qua tác động của chuẩn chủ quan đến nhận thức hữu ích Một khi cấp trên hoặc đồng nghiệp của khách hàng gợi ý rằng một hệ thống nào đó có thể hữu ích, thì khách hàng có thể cho rằng nó thật sự hữu ích và có ý tưởng sử dụng nó (Taylor và Todd, 1995; Chan và Lu, 2004)

Hơn thế nữa, bằng chứng thực nghiệm về mối quan hệ giữa chuẩn chủ quan và việc sử dụng thẻ tín dụng được tìm thấy trong nhiều nghiên cứu (Hayhoe và các cộng sự, 1999; Hilgert và Hogarth, 2003; Norvilitis và các cộng sự, 2006; Ismail và các cộng sự, 2011) Theo Hayhoe và các cộng sự (1999), người tiêu dùng không thể cưỡng lại việc quan sát và đánh giá lợi ích của thẻ tín dụng và sẽ cảm thấy không thoải mái khi người tiêu dùng không có thẻ tín dụng nhưng gia đình của họ sử dụng và nói về thẻ tín dụng mọi lúc mọi nơi Do đó, những người không sở hữu bất kỳ thẻ tín dụng nào sẽ nhanh chóng tìm kiếm một thẻ tín dụng để có thể hòa hợp với “cộng đồng người sử dụng thẻ tín dụng” (Hayhoe và các cộng sự, 1999) Hilgert và Hogarth (2003), Norvilitis và các cộng sự (2006) đã xác định rằng cha mẹ, trường học, đồng nghiệp, giới truyền thông đều là các thành phần trong xã hội có tác động đến việc học tập và quá trình gia nhập xã hội của một người từ khi sinh ra đến khi trưởng thành Ismail và các cộng sự (2011) cho rằng gia đình sẽ có tác động đáng kể đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của một khách hàng

2.5.5 Chi phí có liên quan việc sử dụng thẻ tín dụng

Chi phí được xem như là một rào cản khách hàng trong việc chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng Chi phí có liên quan đến việc sử dụng thẻ cũng quan trọng tương tự như thu nhập của khách hàng Một nghiên cứu được thực hiện bởi White (1975) cho rằng người tiêu dùng hợp lý chỉ chấp nhận những phương tiện thanh toán giúp giảm chi phí giao dịch Theo đó, trong nghiên cứu, chi phí được phân loại thành hai loại có liên quan đến việc sử dụng thẻ tín dụng bao gồm: (1) chi phí tiền tệ (chẳng hạn như lãi suất, phí thường niên, hạn mức tín dụng, loại giao dịch), (2) chi phí phi tiền tệ (như khả năng chấp nhận thẻ tín dụng tương đối thấp, áp dụng thời gian phê duyệt tương đối dài, thời gian bắt buộc bắt khách hàng phải thanh toán tương đối sớm, pháp lý phức tạp và khó khăn trong việc thanh toán các hóa đơn)

Tác động của lãi suất đến việc chấp nhận và sử dụng thẻ tín dụng được nghiên cứu bởi Gan và các cộng sự (2008), qua đây các tác giả kết luận rằng lãi suất là yếu tố quan trọng trong việc chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng và tác động này là tác động ngược chiều Nói cách khác, khi càng áp dụng mức lãi suất càng cao thì các khách hàng càng không muốn sử dụng thẻ tín dụng Birto và Hartley (1995) đã cho rằng việc sử dụng thẻ tín dụng sẽ làm cho người dùng sẽ phải vay mượn ngân hàng, sẽ phải trả lãi suất cao hơn so với vay thông thường nhưng thẻ tín dụng lại là công cụ hấp dẫn trong trường hợp chi phí giao dịch và các chi phí có liên quan thấp hơn các phương thức khác Lunt (1992) cho rằng tiêu chí chấp nhận thẻ tín dụng phụ thuộc vào hạn mức tín dụng cao, chất lượng dịch vụ khách hàng cao, phí và lãi suất thấp

Tổng quan các nghiên cứu trước đây

Các nghiên cứu hiện tại cố gắng diễn giải và xem xét các loại biến thái độ có ảnh hưởng như thế nào lên hành vi mang nợ của các cá nhân Mặc dù, nợ thẻ tín dụng đang được xem xét mở rộng trong các nghiên cứu gần đây nhưng sự tập trung chính chỉ đơn thuần dựa vào số nợ Rất ít nghiên cứu quan tâm về nguồn gốc của các khoản nợ thẻ tín dụng Bài nghiên cứu của Wang và cộng sự (2011) cố gắng chứng minh làm thế nào mà các biến số thái độ khác nhau có ảnh hưởng lên việc sử dụng thẻ tín dụng và việc sử dụng trong các khoản nhỏ nhặt, đây được xem là hai nguồn gốc chính gây nên các khoản nợ thẻ tín dụng Có một điều được chấp nhận rộng rãi rằng các biến thái độ là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc sử dụng sai trái thẻ tín dụng Nhưng không có nghiên cứu nào so sanh các ảnh hưởng khác nhau của mỗi nhân tố trong cùng một mô hình Các nghiên cứu hiện tại cố gắng sử dụng phương pháp thống kê để phát hiện các ảnh hưởng khác biệt của mỗi nhân tố thái độ Dựa theo các hàm hồi quy, bài nghiên cứu của các tác giả phát hiện ra rằng các biến thái độ có khả năng giải thích tuyệt vời trong việc xem xét hành vi sử dụng thẻ tín dụng xoay vòng và lặp lại cũng như việc sử dụng thẻ tín dụng trong các khoản chi tiêu nhỏ nhặt Cụ thể hơn, bài nghiên cứu phát hiện rằng việc sử dụng thẻ tín dụng một cách xoay vòng, lặp lại và sử dụng cho các khoản chi tiêu nhỏ nhặt có mối quan hệ gần gũi với các thái độ về thẻ tín dụng, tiền bạc và các khoản nợ Thái độ về rủi ro dự đoán một cách hiệu quả việc sử dụng thẻ tín dụng cho các khoản chi nhỏ nhặt; tuy nhiên, nó lại không có tương quan đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng lặp lại Các phát hiện trong bài nghiên cứu đã bật lên vai trò của các biến thái độ trong hành vi về nợ của người tiêu dùng Hơn thế nữa, bái nghiên cứu cũng nhận dạng vai trò đặc trưng của các biến thái độ khác nhau, những biến có ý nghĩa rất lớn trong thực tế

Với mục đích lấp đầy khoảng cách trong lý thuyết hành vi tiêu dùng như hiểu biết về hình ảnh, chủ nghĩa duy vật và hành vi chi tiêu của người tiêu dùng lên xu hướng sử dụng thẻ tín dụng của các sinh viên cao đẳng, Nga và các cộng sự (2011) đã thực hiện bài nghiên cứu tại thị trường Malaysia nhằm tìm hiểu về các vấn đề trên Các phát hiện từ bài nghiên cứu của các tác giả cho thấy rằng chủ nghĩa duy vật là nhân tố dàn xếp cục bộ trong mối quan hệ giữa sự thấu hiểu về mặt hình ảnh và sự chi tiêu quá khích của người tiêu dùng Nghiên cứu cũng cho thấy sự chi tiêu quá khích không phải là một nhân tố dàn xếp trong mối quan hệ giữa chủ nghĩa duy vật và xu hướng sử dụng thẻ tín dụng Tuy nhiên, việc chi tiêu quá khích đang có những ảnh hưởng to lớn

Ahmed và các cộng sự (2010) đã thực hiện bài nghiên cứu xem xét về hành vi sử dụng thẻ tín dụng tại Malaysia với mục đích là tìm hiểu thái độ của người tiêu dùng và hành vi chi tiêu thông qua việc sử dụng thẻ tín dụng của họ Bài nghiên cứu này được dựa trên một cuộc khảo sát bằng bảng câu hỏi được thực hiện tại Malaysia Dựa vào việc xem xét một cách rộng rãi các nghiên cứu trước đây, mô hình trong bài nghiên cứu này được phát triển nhằm nhận dạng các nhân tố về mặt tâm lý có ảnh hưởng đến thái độ của người tiêu dùng hướng về việc sử dụng thẻ tín dụng Đầu tiên, bài nghiên cứu này phát hiện ra rằng, chỉ có thang đo đại diện cho phong cách sống là cho thấy có ảnh hưởng lên thái độ của người tiêu dùng trong khi những nhân tố khác lại không cho thấy tác động đáng kể nào Thứ hai, một phát hiện khá quan trọng của bài nghiên cứu này là sự tự quý trọng bản thân lại không cho thấy bất kỳ ảnh hưởng nào trong việc hình thành nên thái độ của người tiêu dùng Cuối cùng, bài nghiên cứu này phát hiện ra rằng hành vi không có một sự liên kết nào có ý nghĩa thống kê với thái độ Không có ảnh hưởng có ý nghĩa thống kê nào của thái độ lên mức nợ của thẻ tín dụng Các phát hiện trong bài nghiên cứu này góp phần hỗ trợ cho các kỳ vọng về mặt lý thuyết cũng như các nghiên cứu đã được thực hiện trước đây Về mặt hàm ý thực tiễn, các phát hiện trong bài nghiên cứu của các tác giả có những đóng góp rất quan trọng đối với các ngân hàng và các định chế tài chính phát hành thẻ tín dụng, bởi vì chúng giúp các nhà quản lý hiểu tốt hơn về chủ thẻ tại Malaysia cũng như hành vi và thái độ của họ về việc sử dụng thẻ tín dụng

Fogel và Schneider (2010) đã thực hiện bài nghiên cứu về việc sử dụng thẻ tín dụng của các sinh viên cao đẳng Các sinh viên cao đẳng thường không xem xét các rủi ro tiềm ẩn của việc gánh chịu các khoản nợ từ thẻ tín dụng do đó thường bị áp lực bởi các khoản nợ này Vì thế, các tác giả muốn xem xét thu nhập khả dụng và trạng thái việc làm của nhóm sinh viên này có ảnh hưởng đến hành vi sử dụng thẻ tín dụng của họ ra sao Các kết quả nghiên cứu cho thấy rằng mức thu nhập khả dụng của các sinh viên càng cao thì hành vi tiêu dùng thông qua việc sử dụng thẻ tín dụng của họ càng thiếu trách nhiệm và dễ rơi vào các khoản nợ mất kiểm soát Trong khi đó, các công việc bán thời gian có mối liên kết khá chặt chẽ với hành vi tiêu dùng của sinh viên

Với mục đích phân tích hành vi của các chủ thẻ tại Singapore thông qua một mẫu rộng các nhóm khác nhau về mặt nhân khẩu, tiểu sử sử dụng thẻ tín dụng và sự hiểu biết của họ về thẻ tín dụng, Gan và các cộng sự (2008) đã thực hiện bài nghiên cứu về việc sử dụng thẻ tín dụng của các chủ thẻ tại Singapore Kết quả bài nghiên cứu cho thấy rằng, số lượng thẻ tín dụng bị ảnh hưởng bởi thu nhập và giới tính cũng như sự thấu hiểu của chủ thẻ về việc “thẻ tín dụng có thể dẫn đến hành vi chi tiêu quá mức”, “tiết kiệm là nguồn lực để thanh toán”, “các mức lãi suất không hợp lý”, “thẻ tín dụng là cách thể hiện bản thân” Số lượng thẻ tín dụng cũng bị ảnh hưởng bởi các biến có liên quan đến thẻ tín dụng như: sai sót thường xuyên trong thanh toán, tần suất sử dụng, chi tiêu cho giải trí, và mua xăng dầu Bài nghiên cứu này cung cấp sự thấu hiểu sâu sắc về hành vi của các chủ thẻ tín dụng tại Singapore, do đó nó rất hữu ích trong việc thiết kế các chiến lược marketing đối với các nhà phát hành thẻ

Norum (2008) cho rằng các sinh viên cao đẳng đại diện cho một thị trường có lợi đối với các công ty bán một phân khúc rộng lớn các hàng hóa và dịch vụ bao gồm cả tín dụng Một lĩnh vực đáng quan tâm có liên quan đến nợ tín dụng là mối liên kết của nó với hành vi tiêu dùng quá mức Bài nghiên cứu của tác giả đã phân tích hành vi muc sắm quá mức trong khuôn khổ của một nên fkinh tế bằng việc sử dụng một mẫu các sinh viên cao đẳng Dữ liệu được thu thập từ 7342 sinh viên đang học chủ yếu tại đại học Midwestern Phân tích hồi quy cho thấy rằng thu nhập, tỷ lệ thời gian ưa thích, thái độ về tiền bạc, việc sử dụng thẻ tín dụng và giới tính có liên quan chặt chẽ tới hành vi mua sắm quá mức Bài nghiên cứu cung cấp các thông tin bổ ích cho sự phát triển cho chính sách của các trường đại học có liên quan đến giáo dục tài chính và tư vấn cũng như xem xét lại các chương trình giảng dạy

Woo (2008) muốn tìm hiểu thái độ về tiền bạc và sự sử dụng thẻ tín dụng giữa những người mua sắm quá mức và không quá mức của tầng lớp trẻ tại Úc, do đó, tác giả đã thực hiện bài nghiên cứu tài Úc nhằm tìm hiểu xu hướng chi tiêu quá mức của tầng lớp giới trẻ tại quốc gia này Dữ liệu bài nghiên cứu này được tác giả thu thập bằng cách sử dụng phương pháp tường chặn trong các khu phức hợp mua sắm tại Perth, Western Australia Một bảng câu hỏi đã được phân phối đến các đối tượng phù hợp và nhận được khoảng 18% sự phản hồi từ các đối tượng này Kết quả nghiên cứu của tác giả phát hiện rằng những người mua sắm quá mức dường như có sự thấu hiểu về tiền bạc như là một nguồn lực của sức mạnh và uy tín Họ cũng là những người thường xuyên sử dụng thẻ tín dụng và cũng thường là người thường xuyên mặc cả Không có sự khác biệt giữa những người mua sắm quá mức và không quá mức tại các khuôn khổ thời gian khác nhau

Abdul-Muhmin và Umar (2007) đã thực hiện bài nghiên cứu để xem xét mối quan hệ giữa việc sở hữu một chiếc thẻ tín dụng và hành vi sử dụng thẻ tín dụng tại các tiểu vương quốc Ả Rập Tại các tiểu vương quốc Ả Rập, bởi vì sự ngăn cấm các lợi ích của đạo Hồi, có một cuộc tranh luận kéo dài về sự chấp nhận cho hành động sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng Tuy nhiên, những thống kê ngành phù hợp đã cho thấy rằng việc sỡ hữu và sử dụng thẻ tín dụng đang ngày càng gia tăng Trong bài nghiên cứu, các tác giả đã xem xét thực nghiệm về bản chất của việc sở hữu và sử dụng thẻ tín dụng tại các tiểu vương quốc Ả Rập cũng như xem xét mở rộng bản chất đó, và làm như thế nào mà các đặc tính đó bị ảnh hưởng bởi nhân khẩu của người tiêu dùng và thái độ của họ đối với nợ Bằng cách sử dụng dữ liệu từ các cuộc khảo sát đã được cấu trúc, các tác giả đã phát hiện rằng sự thâm nhập của thẻ tín dụng vào các quốc gia này là tương đối thấp, những người phụ nữ Ả Rập thường sở hữu thẻ tín dụng hơn là nam giới, việc sử dụng thẻ tín dụng có xu hướng được lựa chọn, thái độ về nợ là nhân tố xác định quan trọng của việc sở hữu thẻ tín dụng nhưng không phải là hành vi sử dụng thẻ, và sự định giá các đặc tín của thẻ là khá công bằng giữa các chủ thẻ

Bernthal và các cộng sự (2005) cho rằng thẻ tín dụng là một công nghệ thiết yếu đang ngày càng tăng lên, nhưng nó cũng mang theo những khả năng nghịch lý đối với khách hàng giữa quỹ đạo phong cách sống trong thị trường tự do và sự giới hạn Các tác giả đã phân tích các tài khoản được cung cấp bởi người tiêu dùng, các nhà tư vấn tín dụng và tham gia vào các hội thảo tư vấn tín dụng để phát triển các lý thuyết mang tính khác biệt về các điều kiện của phong cách sống thông qua thực tế về thẻ tín dụng Các kỹ năng và khẩu vị được diễn tả bởi thực tế thẻ tín dụng giúp phân biệt giữa phong cách sống của những người với nguồn vốn tri thức về văn hóa cao hơn so với những người có nguồn vốn văn hóa thấp hơn Sự khác biệt trong việc thực hành điều tiết phong cách sống được thừa nhận để bắt đầu một cuộc tranh luận về văn hóa có liên quan đến quyền được phép làm bất kỳ điều gì của người tiêu dùng

Lee và Kwon (2002) đã chứng minh việc sử dụng thẻ tín dụng của người tiêu dùng thì hướng cụ thể tới chức năng chính của thẻ như: một phương tiện thanh toán thay thế hay là một kênh tài trợ trung gian Bằng việc sử dụng dữ liệu khảo sát về tài chính của khách hàng năm 1998, các nhà nghiên cứu đã phát hiện ra rằng sự sẵn sàng sử dụng thẻ tín dụng thông qua các thẻ ngân hàng có mối tương quan âm với việc sử dụng thẻ cửa hàng như một dạng tài trợ trung gian dự trữ của khách hàng, điều này cho thấy rằng vai trò của việc nắm giữ thẻ cửa hàng chỉ được xem như một dòng tín dụng bổ sung Mối quan hệ tiêu cực này cũng được phát hiện là có tồn tại giữa việc sử dụng thẻ ngân hàng của khách hàng và việc sử dụng thẻ cửa hàng của họ cho mục đích giao dịch, ám chỉ rằng chức năng của thẻ cửa hàng như là một phương tiện trung gian thanh toán thay thế Việc sử dụng thẻ cửa hàng của khách hàng biến động tùy theo chức năng và có liên quan đến một vài biến số bao gồm: sự sử dụng thẻ ngân hàng, lịch sử tín dụng, thái độ về tín dụng, thu nhập, giáo dục và đạo đức

Mccarty và Shrum (2000) cho rằng khi các nhà nghiên cứu khảo sát phấn khởi trong việc đo lường các giá trị cá nhân của người phản hồi, họ thường sử dụng phương pháp tỷ lệ hơn là phương pháp xếp hạng bởi vì nó dễ hơn và nhanh hơn và các dữ liệu lợi suất dễ phục vụ trong phân tích thống kê tham số Tuy nhiên, bởi vì các giá trị cá nhân vốn đã có cấu trúc mang tính tích cực, những người phản hồi thường biểu hiện ít sự khác biệt giữa các giá trị và đánh giá tỷ lệ của họ hướng nhiều hơn về các mặt tiêu cực của thang đo Sự thiếu hụt về mặt khác biệt hóa có ảnh hưởng tiềm ẩn lên các đặc tính thống kê của giá trị và khả năng phát hiện các mối quan hệ giữa các biến khác nhau Hai kiểm nghiệm được thực hiện thông qua khảo sát bằng email đối với một mẫu tổng thể chung để kiểm định phương pháp tỷ lệ thay thế được thiết kế để gia tăng sự khác biệt và giảm khả năng của người phản hồi đưa ra các ý kiến tích cực tối đa trong thang đo giá trị con người Các kết quả cho thấy rằng một thủ tục trong đó những người phản hồi đầu tiên lựa chọn mức độ quan trọng cao nhất và thấp nhất trong thang đo, sau đó xếp hạng chúng, cung cấp nhiều sự khác biệt hơn và ít giá trị cực đại hơn so với thủ thuật thông thường Các khác biệt gia tăng đã ảnh hưởng đến tính phù hợp của cấu trúc và dẫn đến các kết quả có mối tương quan bền vững cao hơn giữa các xếp hạng tỷ lệ và các biến tiêu chuẩn khác

Các nghiên cứu hiện tại đã đề xuất một mô hình mang tính khái niệm về việc làm thế nào sự lựa chọn sản phẩm của người tiêu dùng bị ảnh hưởng bởi giá trị mang tính con người Mô hình đề nghị rằng các giá trị có thể ảnh hưởng đến việc lựa chọn sản phẩm một cách trực tiếp hoặc gián tiếp phụ thuộc vào ý nghĩa của sản phẩm và loại đánh giá được sử dụng để đánh giá giá trị của sản phẩm đó Cụ thể hơn, các giá trị sẽ có ảnh hưởng trực tiếp lên sự lựa chọn sản phẩm khi người tiêu dùng chú ý về ý nghĩa biểu tượng của sản phẩm và tạo ra đánh giá có ảnh hưởng lên chúng, trong khi đó lại có ảnh hưởng gián tiếp khi người tiêu dùng chú ý về ý nghĩa hữu dụng của sản phẩm và có những đánh giá từng phần về sản phẩm Để kiểm định các giả thuyết này, Allen và Sik

(1999) đã phát triển các thang đo để đo lượng sự ưa thích cho hai dạng ý nghĩa và đánh giá như trên, và sau đó kiểm định mối liên kết giữa các thang đo này và ảnh hưởng trực tiếp, gián tiếp của giá trị con người lên việc sở hữu sản phẩm Những kết quả dựa vào việc sở hữu những loại xe hơi nhỏ hơn hoặc lớn hơn và của các loại kinh mát đều xác nhận các giả thuyết của bài nghiên cứu.

Đề xuất mô hình nghiên cứu

Qua việc tổng quan các lý thuyết có liên quan và các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng thì luận văn đề xuất mô hình nghiên cứu như sau nhằm giải quyết mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu đã đề ra

Hình 2.4 Mô hình nghiên cứu được đề xuất

Chương 02 đầu tiên tổng quan về thẻ tín dụng để người đọc có thể thấy được ưu điểm và nhược điểm của việc sử dụng thẻ tín dụng so với các loại thẻ khác Đồng thời trong chương này luận văn cũng sơ lược về ba lý thuyết giải thích quyết định chấp nhận thẻ của cá nhân bằng lý thuyết hành động hợp lý, lý thuyết hành vi dự định và lý thuyết chấp nhận công nghệ Bên cạnh đó luận văn cũng tiến hành trình bày các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng được đề cập ở các nghiên cứu trước đây và tổng quan các nghiên cứu trước đây cũng như đề xuất mô hình nghiên cứu mà luận văn áp dụng để giải thích các yếu tố tác động đến quyết định chấp nhận sử dụng thẻ tín dụng của các khách hàng của các Chi nhánh BIDV tại địa bàn thành phố Hồ Chí Minh

CHƯƠNG 3 THỰC TRẠNG KINH DOANH THẺ TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

Tổng quan Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

3.1.1 Giới thiệu Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Tên công ty niêm yết: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam

Trụ sở chính: 35 Hàng Vôi, Quận Hoàn Kiếm, Thành phố Hà Nội

Vốn điều lệ (tính đến cuối năm 2018): 34.187.153.340,000 VNĐ

Lĩnh vực hoạt động kinh doanh: Ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán và đầu tư tài chính

Số lượng cán bộ nhân viên: 25.000

Số lượng Chi nhánh: 191 trong đó khu vực thành phố Hồ Chí Minh hiện có 36 chi nhánh

Số lượng điểm mạng lưới: 855

Số lượng ATM và máy POS: 57.825

Số các quốc gia hiện diện thương mại: 06 quốc gia

Hiện BIDV có 191 chi nhánh, trong đó khu vực thành phố Hồ Chí Minh có 36 chi nhánh, và đây cũng khu vực phát triển trọng điểm của BIDV chỉ đứng sau khu vực Hà Nội Trong phần này luận văn tiến hành đánh giá các kết quả kinh doanh của BIDV thông qua các tiêu chí: thu nhập lãi thuần, lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, cho vay và cho thuê tài chính khách hàng, tiền gửi của khách hàng; và các tiêu chí này được thể hiện trong bảng 3.1 của luận văn Đầu tiên, luận văn trình bày tình cho vay của BIDV từ năm 2015 đến năm 2018

Diễn biến này được thể hiện trong bảng 3.1 Qua đây có thể thấy rằng cho vay của BIDV có xu hướng tăng liên tục qua các năm, từ mức 713.633 tỷ VNĐ ở năm 2016 tăng lên đến 976.334 tỷ VNĐ ở năm 2018 với tốc độ tăng trưởng tín dụng của BIDV trong vòng

04 năm nay lên đến 65,22% Điều này cho thấy rằng tương tự như các ngân hàng thương mại khác, BIDV cũng cố gắng nhiều trong công tác mở rộng cho vay nhằm thu được một thu nhập từ lãi cao hơn và lợi nhuận sau thuế cao hơn

Bảng 3.1 Các tiêu chí phản ánh tình hình hoạt động kinh doanh của BIDV qua các năm (2015 – 2018) ĐVT: tỷ VNĐ

Lãi/lỗ thuần từ hoạt động dịch vụ 2.513 2.966 3.551 Chi phí dự phòng rủi ro tín dụng 9.200 14.847 18.894 Cho vay và cho thuê tài chính khách hàng 713.633 855.536 976.334

Tiền gửi của khách hàng 726.022 859.985 989.671

Nguồn: Báo cáo tài chính BIDV qua các năm Đối với tình hình huy động tiền gửi của BIDV từ năm 2015 đến năm 2018 Diễn biến huy động tiền gửi được thể hiện trong bảng 3.1 Qua đây có thể thấy rằng huy động tiền gửi của BIDV có xu hướng tăng liên tục qua các năm, từ mức 564.583 tỷ VNĐ ở năm 2015 tăng lên đến 989.671 tỷ VNĐ ở năm 2018 với tốc độ tăng của huy động tiền gửi của BIDV trong vòng 04 năm nay lên đến 75,29% Điều này cho thấy rằng tương tự như các ngân hàng thương mại khác, BIDV cũng cố gắng nhiều trong công tác mở rộng huy động tiền gửi nhằm bổ sung đủ vốn tài trợ cho các hoạt động kinh doanh của BIDV cũng như đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn được đảm bảo Đồng thời với tốc độ gia tăng của huy động tiền gửi cao hơn so với tăng trưởng tín dụng thì có thể minh chứng cho việc mặc dù tăng tiền gửi để đủ vốn cho vay nhưng BIDV đã tính toán và đưa phần đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn vào khi huy động tiền gửi khách hàng

Tiếp theo luận văn trình bày tình thu nhập lãi thuần của BIDV từ năm 2015 đến năm 2018 Diễn biến này được thể hiện trong bảng 3.1 Qua đây có thể thấy rằng thu nhập lãi thuần của BIDV có xu hướng tăng liên tục qua các năm, từ mức 19.315 tỷ VNĐ ở năm 2015 tăng lên đến 34.956 tỷ VNĐ ở năm 2018 với tốc độ tăng của thu nhập lãi thuần của BIDV trong vòng 04 năm nay lên đến 80,98% Điều này cho thấy rằng tương tự như các ngân hàng thương mại khác, BIDV đã có một số thành công nhất định trong việc gia tăng thu nhập lãi thuần của ngân hàng bằng cách phối hợp tốt chính sách huy động và cho vay của ngân hàng Mặc dù trong giai đoạn này, mặt bằng lãi suất của Việt Nam có xu hướng đi xuống nhưng mức thu nhập lãi thuần của BIDV trong giai đoạn này lại khá ấn tượng

Tiếp theo luận văn trình bày tình thu từ dịch vụ của BIDV từ năm 2015 đến năm

2018 Diễn biến này được thể hiện trong bảng 3.1 Qua đây có thể thấy rằng thu từ dịch vụ của BIDV có xu hướng tăng liên tục qua các năm, từ mức 2.337 tỷ VNĐ ở năm 2015 tăng lên đến 3.551 tỷ VNĐ ở năm 2018 với tốc độ tăng của thu từ dịch vụ của BIDV trong vòng 04 năm nay lên đến 51,95% Điều này cho thấy rằng tương tự như các ngân hàng thương mại khác, các hoạt động kinh doanh phi truyền thống, cụ thể là thu phí dịch vụ (trong đó có hoạt động của thẻ), đang được đẩy mạnh liên tục qua các năm Mặc dù so với thu nhập lãi thuần thì mức tăng của thu phí dịch vụ chưa thật sự đáng kể Tuy nhiên, đây cũng là một điểm mà các nhà quản lý của BIDV cần lưu ý trong khi các ngân hàng thương mại khác xem nguồn thu phí từ dich vụ như là một tấm chắn cho ngân hàng trước các cú sốc của lãi suất

Cuối cùng, luận văn thể hiện tình hình trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của BIDV từ năm 2015 đến năm 2018 Diễn biến này được thể hiện trong bảng 3.1 Qua đây có thể thấy rằng trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của BIDV có xu hướng tăng liên tục qua các năm, từ mức 5.676 tỷ VNĐ ở năm 2015 tăng lên đến 18.894 tỷ VNĐ ở năm 2018 với tốc độ tăng của trích lập chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của BIDV trong vòng 04 năm nay lên đến 232.88% Điều này cho thấy rằng mặc dù thu nhập lãi thuần tăng nhưng mức trích lập của BIDV cũng tăng cao Nói cách khác, chất lượng tài sản của BIDV đang có sự suy giảm đáng kể trong thời gian này Đây cũng như là một minh chứng cho việc cần thiết phải đẩy mạnh thu phí từ dịch vụ để hạn chế việc gia tăng cho vay không cần thiết với mong muốn tăng thu từ lãi Một lần nữa, vấn đề nghiên cứu các yếu tố tác động đến quyết định sử dụng thẻ tín dụng của BIDV từ phía khách hàng lại cần thiết được nghiên cứu hơn Đối với hoạt động thẻ, thị trường thẻ Việt Nam năm 2018 ghi nhận số lượng thẻ lũy kế đạt 86 triệu thẻ Riêng tại BIDV, đến năm 2018, số lượng thẻ lũy kế đạt hơn 7 triệu thẻ, lượng thẻ này mang đến cho BIDV nguồn thu nhập thuần từ thẻ đạt 1,663 tỷ đồng

Về cấu thành thu nhập, thì trong 3 năm trở lại đây, nguồn thu nhập chủ yếu đến từ thẻ ghi nợ nội địa, chiếm trung bình vào 79%, đứng thứ hai là thẻ tín dụng quốc tế, chiếm 11% và còn lại là đóng góp của thẻ ghi nợ quốc tế, dịch vụ POS và ATM Đơn vị tính:%

Hình 3.1 Biểu diễn cơ cấu nhập từ hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV năm 2018

Nguồn: Báo cáo hoạt động kinh doanh thẻ BIDV 2018

Với 11% đóng góp này, hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng tại hệ thống BIDV có các kết quả đạt được như sau:

Thứ nhất, về số lượng thẻ lũy kế tính đến thời điểm cuối năm 2018 đã đạt khoảng

130 nghìn thẻ, đem đến nguồn dư nợ tín dụng cuối kỳ là 1,288 tỷ đồng trong số 308,337 tỷ dư nợ bán lẻ (chiểm khoảng 0,4% tổng dư nợ bán lẻ)

Xét về biên độ lợi nhuận, thẻ tín dụng là sản phẩm mang đến biên độ lợi nhuận cao

Cơ cấu thu nhập hoạt động kinh doanh thẻ

GNNĐ GNQT TDQT POS ATM hơn rất nhiều so với hoạt động tín dụng truyền thống

NIM tín dụng bình quân thẻ tín dụng năm 2018 đạt ở mức 5,08% trong khi đó NIM tín dụng bán lẻ bình quân toàn hệ thống BIDV đang ở mức 3,14%

Riêng ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh, xét về kết quả kinh doanh thẻ theo khu vực thì thành phố hồ chí minh là khu vực có mức đóng góp cao, hoạt động sôi nổi, đứng thứ 2 trong hệ thống chỉ sau khu vực Hà Nội

Năm 2018, số lượng thẻ tín dụng lũy kế khu vực hồ chí minh đạt 23 nghìn thẻ, chiếm 17,6% trong số 130 nghìn thẻ của hệ thống,

Thu lãi ròng thẻ tín dụng năm 2018 đạt 12.5 tỷ đồng và dư nợ thẻ cuối kỳ đạt 277.19 tỷ đồng.

Tổng quan hoạt động thẻ tín dụng tại Việt Nam

Trong phần này, luận văn sẽ lần lượt trình bày diễn biến tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt của Việt Nam, số lượng thẻ được phát hành ở Việt Nam, giá trị giao dịch của Việt Nam qua các phương thức thanh toán lần lượt ở bảng 3.1 và hình 3.1 và 3.2

Dựa vào số liệu có trong bảng 3.1, có thể thấy rằng nhìn chung tình hình thanh toán bằng tiền mặt ở Việt Nam đang có sự suy giảm nhẹ trong giai đoạn từ 2008 đến năm 2018 Cụ thể, với tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt đạt 14,10% ở năm 2008, giảm xuống chỉ còn 11,31% ở năm 2018 Con số này phản ánh được thực trạng người dân và các tổ chức kinh tế ở Việt Nam đang lựa chọn phương thức thanh toán qua thẻ (bao gồm các loại thẻ thông thường và thẻ tín dụng)

Bảng 3.2 Diễn biến tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt của Việt Nam (2016 – 2018) Đơn vị tính: %

Năm Thanh toán dùng tiền mặt

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước Đồng thời, dựa vào hình 3.1, có thể thấy rằng số lượng thẻ được phát bởi các ngân hàng ở Việt Nam gia tăng liên tục từ năm 2008 đến năm 2018 Cụ thể, số lượng thẻ được phát hành ở năm 2008 chỉ đạt 11 triệu thẻ, nhưng đã tăng lên đến hơn 141 triệu thẻ vào cuối năm 2018 Qua đây có thể thấy rằng thị trường thẻ của Việt Nam đang dần nhận được nhiều sự quan tâm bởi người dân, minh chứng là số lượng phát hành ngày càng tăng cao trong giai đoạn này Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là có thể số lượng thẻ phát hành nhiều nhưng cũng có tồn tại một lượng không nhỏ các “tài khoản ma”, nói cách khác các thẻ liên kết với tài khoản này không được sử dụng Do đó, luận văn tiếp tục phân tích giá trị giao dịch của Việt Nam qua các phương thức thanh toán để từ đó có thể định hình rõ ràng thị trường thẻ của Việt Nam đang thay đổi như thế nào Diễn biến này được thể hiện trong hình 3.2

Hình 3.2 Diễn biến số lượng thẻ phát hành bởi các Ngân hàng ở Việt Nam

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước

Dựa vào hình 3.3 có thể thấy rằng, mặc dù giá trị giao dịch qua thẻ ngân hàng và và máy POS/EFTPOS/EDC đều có xu hướng gia tăng liên tục từ năm 2013 đến năm

2018, nhưng tốc độ tăng của hai loại hình này nhìn chung có sự khác biệt Cụ thể, dựa vào bảng số liệu 3.3, có thể thấy rằng, giá trị giao dịch qua thẻ ngân hàng đạt 32.217 tỷ VNĐ ở năm 2013 tăng đến 191.147 tỷ VNĐ ở năm 2018 với tốc độ tăng lên đến hơn

493% Trong khi đó, giá trị giao dịch thông qua máy POS/EFTPOS/EDC đạt 35.977 tỷ VNĐ ở năm 2013 và tăng lên đến 157.183 tỷ VNĐ với tốc độ tăng lên đến hơn 387% Qua đây có thể thấy rằng giá trị giao dịch qua thẻ ngân hàng đang dần nhận được nhiều sự quan tâm của người tiêu dùng với sự gia tăng liên tục của giá trị giao dịch qua thẻ ngân hàng trong giai đoạn này

Hình 3.3 Diễn biến giá trị giao dịch của Việt Nam qua các phương tiện thanh toán

Nguồn: Ngân hàng Nhà Nước

Bảng 3.3 Giá trị giao dịch của Việt Nam qua phương tiện thanh toán Đơn vị: tỷ VNĐ

Thẻ ngân hàng POS/EFTPOS/EDC

Nguồn:Ngân hàng Nhà Nước

Thẻ ngân hàng POS/EFTPOS/EDC

Tình hình kinh doanh thẻ tín dụng các Chi nhánh Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam - khu vực thành phố Hồ Chí Minh

và Phát triển Việt Nam - khu vực thành phố Hồ Chí Minh

Trong giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2018, hoạt động kinh doanh thẻ tại BIDV không ngừng được cải thiện, về số liệu thống kê đều ghi nhận tăng bao gồm các chỉ tiêu như thu dịch vụ ròng, thu nhập thuần thẻ, huy động vốn cuối kỳ và huy động vốn bình quan Kết quả kinh doanh được thống kê cụ thể tại Bảng 3.4

Bảng 3.4 Kết quả kinh doanh thẻ của hệ thống BIDV giai đoạn 2016 -

Thu dịch vụ ròng (tỷ đồng) 299 348 398

Thu nhập thuần thẻ (tỷ đồng) 910 1,292 1,663

Huy động vốn cuối kỳ 16,843 21,559 28,880

Huy động vốn bình quân 14,271 18,252 28,269

Tường tự cấu thành loại thẻ, hiện tại chiếm tỷ trọng lớn nhất trong hoạt động kinh doanh thẻ vẫn chủ yếu là thẻ GNNĐ, do vậy về cấu thành thu nhập từ hoạt động kinh doanh thẻ của có phần không được đồng đều Thu nhập kinh doanh thẻ tại BIDV vẫn chủ yếu đến từ thẻ GNNĐ, chiếm hơn 75% trong những năm trở lại đây Trong khi đó, thẻ tín dụng chỉ chiếm khoảng từ 11% – 13% trong tổng thu nhập từ hoạt động kinh doanh thẻ

Bảng 3.5 Cơ cấu thu nhập kinh doanh thẻ BIDV giai đoạn 2016 2018 Đơn vị: tỷ VNĐ

Với mức đóng góp vào thu nhập trung bình là 11%, hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng trên toàn hệ thống BIDV được ghi nhận cụ thể như sau:

- Về số lượng thẻ lũy kế đến thời điểm 31/12/2018 đạt 130 nghìn thẻ, mang đến nguồn dư nợ thẻ tín dụng cuối kỳ đạt 1.288 tỷ đồng, chiếm 19% tổng dư nợ bán lẻ của BIDV năm 2018

- Xét về hiệu quả kinh doanh, NIM của thẻ tín dụng luôn đạt ở mức cao là vào khoảng trên 5% trong những năm trở lại đây, so với mức NIM tín dụng bình quân bán lẻ của hệ thống là 3.14%

Bảng 3.6 Kết quả kinh doanh thẻ tín dụng trên toàn hệ thống BIDV qua các năm Đơn vị: tỷ VNĐ, %

Số lượng thẻ lũy kế (nghìn thẻ) 103 118 130

Dư nợ thẻ tín dụng cuối kỳ (tỷ đồng) 886 1,138 1.288

Doanh số giao dịch (tỷ đồng) 5.373 8.164 11,161

Thu ròng từ dịch vụ (tỷ đồng) 80 113 121

Thu nhập thuần (tỷ đồng) 132 230 188

Thu lãi ròng (tỷ đồng) 46.53 55,25 55,81

Tỷ trọng thu lãi ròng/ thu nhập thuần thẻ tín dụng 35% 24% 30%

Lãi suất thẻ tín dụng bình quân thực thu 10,65% 11,10% 10,22%

Chi phí vốn bình quân 4,60% 5,04% 5,14%

Riêng khu vực thành phố Hồ Chí Minh, kết quả hoạt động kinh doanh thẻ của 36 chi nhánh trong khu vực này cũng ghi nhận được những đóng góp đáng kể vào kết quả kinh doanh của hệ thống Tương tự như cơ cấu chung của toàn hệ thống, số lượng thẻ tín dụng của các chi nhánh khu vực thành phố Hồ Chí Minh cũng chiếm tỷ trọng thấp, năm 2018 ghi nhận đạt 23 nghìn thẻ trong khi đó, số lượng GNNĐ là 826 nghìn thẻ Chi tiết hoạt động kinh doanh thẻ tín dụng khu vực thành phố Hồ Chí Minh được ghi nhận tại Bảng 3.7

Bảng 3.7 Kết quả kinh doanh thẻ tín dụng của BIDV khu vực thành phố Hồ Chí Minh qua các năm Đơn vị: tỷ VNĐ, %

Thu nhập thuần thẻ (tỷ đồng) 189 295 370

Thu lãi ròng thẻ tín dụng (tỷ đồng) 10.92 11.06 15.2

Dư nợ thẻ tín dụng cuối kỳ (tỷ đồng) 173.53 236.20 277.19

Bảng 3.8 thể hiện tình hình cho vay và huy động của các Chi nhánh BIDV trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh từ năm 2016 – 2018 Có thể thấy rằng tiền vay của các Chi nhánh này có sự gia tăng liên tục trong giai đoạn 2016 – 2018, với dư nợ đạt 55.926 tỷ VNĐ tại năm 2016 và tăng lên đến 94.820 tỷ VNĐ vào cuối năm 2018 với mức tăng lên đến 38.894 tỷ VNĐ Đồng thời, tỷ trong dư nợ cho vay của các Chi nhánh BIDV tại khu vực thành phố Hồ Chí Minh so với tổng dư nợ vay của toàn hệ thống BIDV cũng có sự gia tăng tương ứng từ 38,76% ở năm 2016 lên đến mức 40,37% trong năm 2018 Điều này cho thấy rằng các chi nhánh BIDV trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh đang có tầm quan trọng đáng kể đối với hoạt động cho vay của toàn hệ thống BIDV

Bảng 3.8 Tình hình cho vay và huy động của các Chi nhánh BIDV khu vực Thành phố Hồ Chí Minh so với hệ thống BIDV Đơn vị: tỷ VNĐ, %

Tiền vay Tỷ trọng Tiền gửi Tỷ trọng

Nguồn: Xuất từ hệ thống quản lý dữ liệu BIDV

Tương tự như tiền vay, tiền gửi của các Chi nhánh này có sự gia tăng liên tục trong giai đoạn 2016 – 2018, với tiền gửi đạt 102.791 tỷ VNĐ tại năm 2016 và tăng lên đến 149,605 vào cuối năm 2018 với mức tăng lên đến 46.813 tỷ VNĐ Đồng thời, tỷ trong tiền gửi của các Chi nhánh BIDV thuộc khu vực thành phố Hồ Chí Minh so với tổng tiền gửi của toàn hệ thống BIDV cũng có sự gia tăng tương ứng từ 41,05% ở năm 2016 lên đến mức 43,60% trong năm 2018 Điều này cho thấy rằng các chi nhánh BIDV trong khu vực thành phố Hồ Chí Minh có tầm quan trọng đáng kể đối với hoạt động huy động của toàn hệ thống BIDV

Tiếp theo, luận văn đánh giá tình hình thu từ dịch vụ của các Chi nhánh BIDV khu vực thành phố Hồ Chí Minh trong giai đoạn 2016 – 2018 Số liệu này được thể hiện trong bảng 3.5, dựa vào bảng 3.5 có thể thấy rằng mức thu từ dịch vụ của các Chi nhánh BIDV trong khu vực này đang có khuynh hướng gia tăng liên tục, khi tại năm 2016 mức thu từ dịch vụ đạt 407.051 triệu VNĐ và tăng lên đến mức 602.925 triệu VNĐ ở năm

2018 Tương ứng với diễn biến này, tỷ trọng thu từ dịch vụ của các Chi nhánh BIDV trong khu vực so với tổng thu từ dịch vụ trên toàn hệ thống cũng tăng liên tục, khi chỉ chiếm 39,25% tổng thu từ dịch vụ của toàn hệ thống ở năm 2016 và tăng lên 43,52% vào năm 2018 Qua đây có thể thấy rằng không những có đóng góp đáng kể vào hoạt động cho vay và huy động, các Chi nhánh BIDV trong khu vực Thành phố Hồ Chí Minh còn chiếm vai trò quan trọng đối với nguồn thu từ dịch vụ

Bảng 3.9 Thu từ dịch vụ của các Chi nhánh BIDV khu vực Thành phố

Hồ Chí Minh Đơn vị tính: tỷ VNĐ

Thu từ dịch vụ Tỷ trọng

Nguồn: Xuất từ hệ thống quản lý dữ liệu BIDV Cuối cùng, luận văn sẽ phân tích tình hình dư nợ thẻ tín dụng cũng như tình hình phát hành thẻ tín dụng mới của các Chi nhánh BIDV khu vực Thành phố Hồ Chí Minh trong các năm 2016, 2017 và 2018 Số liệu được trình bày trong bảng 3.6 Qua bảng này có thể thấy rằng số lượng thẻ tín dụng mở mới của các Chi nhánh ở khu vực này so với tổng lượng thẻ tín dụng được mở mới trên toàn hệ thống có xu hướng tăng trong giai đoạn 2016 – 2018, từ mức 26% tại năm 2016 tăng lên 32,73% ở năm 2018 Bên cạnh đó, dư nợ thẻ tín dụng của các chi nhánh BIDV này cũng tăng liên tục từ năm 2016 lên đến 2018 trong tổng dư nợ thẻ tín dụng của toàn hệ thống BIDV Từ các số liệu này có thể thấy rằng hoạt động thẻ tín dụng của các Chi nhánh BIDV khu vực thành phố Hồ Chí Minh chiếm một tỷ trọng đáng kể trong hoạt động thẻ tín dụng của toàn hệ thống BIDV

Bảng 3.10 Tình hình dư nợ thẻ của các Chi nhánh BIDV khu vực Thành phố Hồ Chí Minh Đơn vị tính: %

Số lượng thẻ mở mới Dư nợ thẻ

Nguồn: Xuất từ hệ thống quản lý dữ liệu BIDV

Tóm tắt chương 3

Chương 03 trình bày sơ lược về Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam và khái quát tình hình hoạt động của BIDV trong những năm gần đây (2015 – 2018) thông qua các chỉ tiêu như thu nhập lãi thuần, lãi/lỗ thuần từ hoạt động dich vụ, chi phí dự phòng rủi ro tín dụng, cho vay và cho thuê tài chính khách hàng và tiền gửi khách hàng Tiếp đó, luận văn thể hiện tình hình hoạt động thẻ của ngành Ngân hàng Việt Nam trong những năm vừa qua qua các chỉ tiêu như tỷ lệ thanh toán bằng tiền mặt, số lượng thẻ được phát hành, giá trị giao dịch qua các phương tiện Cuối cùng, luận văn trình bày tình hình hoạt động của các Chi nhánh của BIDV tại khu vực Thành phố Hồ Chí Minh để có thể thấy được tầm quan trọng của khu vực Thành phố Hồ Chí Minh đối với hoạt động kinh doanh của BIDV.

KHẢO SÁT VÀ KIỂM ĐỊNH MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU

Ngày đăng: 17/07/2021, 10:10

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm