1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Kỹ thuật: Nghiên cứu xây dựng các tiêu chí để thực hiện sản xuất sạch hơn trong sản xuất ván ghép thanh tại công ty chế biến gỗ ALPHA thuộc tỉnh Bình Dương

86 9 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 86
Dung lượng 1,41 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của luận văn nhằm đưa doanh nghiệp tiếp cận với sản xuất sạch hơn để nâng cao hiệu quả quản lý môi trường. Nâng cao nhận thức về sản xuất sạch hơn cho ban lãnh đạo doanh nghiệp. Mời các bạn cùng tham khảo!

Trang 1

HOÀNG VĨNH QUÝ

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐỂ THỰC HIỆN SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG SẢN XUẤT VÁN GHÉP THANH TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN GỖ ALPHA

THUỘC TỈNH BÌNH DƯƠNG

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

Hà nội, 2012

Trang 2

HOÀNG VĨNH QUÝ

NGHIÊN CỨU XÂY DỰNG CÁC TIÊU CHÍ ĐỂ THỰC HIỆN SẢN XUẤT SẠCH HƠN TRONG SẢN XUẤT VÁN GHÉP THANH TẠI CÔNG TY CHẾ BIẾN GỖ ALPHA

THUỘC TỈNH BÌNH DƯƠNG

CHUYÊN NGÀNH: KỸ THUẬT MÁY, THIẾT BỊ VÀ CÔNG NGHỆ

GỖ GIẤY

MÃ SỐ: 60.52.24

LUẬN VĂN THẠC SỸ KỸ THUẬT

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC PGS.TS TRẦN VĂN CHỨ

Hà nội, 2012

Trang 3

Ngày nay với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hoạt động sản xuất ngày càng được nâng cao và các doanh nghiệp ngày càng mở rộng quy rộng nhằm tăng sản lượng, đạt được hiệu quả kinh tế cao và thu nhiều lợi nhuận nhất Nhưng trong quá trình chạy theo lợi nhuận các doanh nghiệp lại bỏ quên một vấn đề quan trọng đó là ô nhiễm môi trường và sự tiêu hao, thất thoát một lượng nguyên - nhiên liệu trong quá trình sản xuất

Vì vậy sản xuất sạch hơn (SXSH) là một cơ chế hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất hướng tới mục tiêu kinh doanh bền vững, trong đó chú trọng tới giảm thiểu sử dụng các hóa chất độc hại ảnh hưởng tới môi trường và tăng lợi nhuận thông qua giảm lãng phí trong sản xuất, làm tiền đề thâm nhập vào thị trường quốc tế

Sản xuất sạch hơn là quy trình mang tính bao quát mọi khâu của doanh nghiệp, đòi hỏi phải áp dụng liên tục các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nguyên – nhiên liệu và giảm giá thành, tăng sức cạnh tranh cho sản phẩm của doanh nghiệp

Trong sản xuất chế biến gỗ hiện nay đã và đang tiềm ẩn những nguy cơ gây hại tới môi trường sống của con người Nghiên cứu công nghệ xanh, sản xuất sạch đang dần được khuyến cáo sử dụng rộng rãi vì lợi ích cộng đồng Giải pháp SXSH không những giúp doanh nghiệp giảm chất thải độc hại, tiết

Trang 4

kiệm kinh phí mà còn là một trong những biện pháp làm tăng cường chất lượng cuộc sống Do đó, việc nghiên cứu xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong sản xuất ván ghép thanh tại một công ty chế biến gỗ là một việc

có ý nghĩa cả về thực tiễn cũng như xã hội và còn đem lại lợi ích lớn lao cho

cả cộng đồng Được sự đồng ý của Trường Đại học Lâm nghiệp và Khoa Đào

tạo Sau đại học, tôi tiến hành thực hiện luận văn: “Nghiên cứu xây dựng các

tiêu chí để thực hiện sản xuất sạch hơn trong sản xuất ván ghép thanh tại công ty chế biến gỗ ALPHA thuộc tỉnh Bình Dương ”

Trang 5

Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Hiện nay, sự phân bố cũng như điều kiện về công nghệ và trình độ sản xuất của ngành công nghiệp nước ta nói chung và ngành chế biến gỗ nói riêng vẫn còn là ngành công nghiệp thải ra nhiều chất thải, để kiểm soát hiệu quả trong quá trình sản xuất nhằm đem lại lợi nhuận cao nhất, đồng thời giảm được chất thải phát sinh ra môi trường bên ngoài nhằm bảo vệ môi trường Bên cạnh đó sự thất thoát về nguyên - vật liệu trong ngành chế biến gỗ còn nhiều vấn đề đáng quan tâm cần phải giải quyết

Gần đây một tư duy mới đang phát triển đó là phòng ngừa và giảm thiểu chất thải đầu nguồn và cải thiện hiệu quả sản xuất, giảm tiêu hao nguyên, nhiên - vật liệu, cách tiếp cận này mang tính chủ động và tính tích cực hơn,

“ Sản xuất sạch hơn” là phương pháp để thể hiện sự tối ưu cho việc giải quyết vấn đề trên

Trong ngành sản xuất đồ gỗ, việc thực hiện sản xuất sạch hơn đã giúp các doanh nghiệp không những giảm được chất thải, mà còn tiết kiệm kinh phí thông qua việc giảm mức tiêu thụ nguyên liệu, nhiên liệu, năng lượng, hoá chất SXSH là công cụ quản lý môi trường hữu hiệu phù hợp với các doanh nghiệp Việt Nam, vì thế cần phải đẩy mạnh áp dụng ở các doanh nghiệp Trong những thập niên qua, các nước công nghiệp hóa trên thế giới đã ứng phó với ô nhiễm và suy thoái môi trường do các khu công nghiệp gây ra Giai đoạn hiện nay biện pháp kiểm soát và xử lý ô nhiễm là gánh nặng đối với các doanh nghiệp, làm tăng giá thành sản phẩm vì phải đầu tư xây dựng hệ thống xử lý chất thải Mặt khác các doanh nghiệp còn phải gánh chịu các hậu quả nặng nề về mặt kinh tế như phải đền bù hủy hoại gây ra đối với môi

Trang 6

trường và sức khỏe cộng đồng, làm giảm khả năng cạnh tranh trên thị trường…

Trong ngành chế biến gỗ trên thế giới, việc nhận thức phương pháp sản xuất sạch hơn và áp dụng các kỹ thuật SXSH còn nhiều hạn chế, các ứng dụng chưa được phổ biến rộng rãi Việc thực hiện SXSH trên thế giới là nhằm tiết kiệm nguyên - vật liệu, tăng sức khỏe cho con người và tác động xấu đến môi trường, tăng cường hiệu quả sản xuất thông qua cải tiến kỹ thuật

Các kỹ thuật sản xuất sạch hơn cần phải tập trung giải quyết các vấn đề sau:

- Lãng phí nguyên liệu gỗ

- Ô nhiễm không khí do bụi gỗ, keo

- Lãng phí nước và ô nhiễm do nước thải

- Tiếng ồn và các chất thải nguy hại khác…

Sản xuất sạch hơn đã được triển khai ở Việt Nam từ những năm đầu của thập kỷ 90, tuy nhiên đến đầu năm 2010 sản xuất sạch hơn mới bắt đầu triển khai trong ngành chế biến gỗ tại một số tỉnh phía nam Trong ngành chế biến

gỗ Việt Nam hiện nay việc nhận thức được về phương pháp sản xuất sạch hơn

và áp dụng các biện pháp sản xuất sạch hơn còn hạn chế, chưa được phổ biến rộng rãi, do đó việc xây dựng các tiêu chí để thực hiện sản xuất sạch hơn trong dây chuyền sản xuất đồ gỗ cần phải nghiên cứu để áp dụng có hiệu quả sản xuất sạch hơn trong ngành chế biến sản xuất gỗ ở Việt Nam

1.2 LỊCH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Từ những năm 1985 - 1990, việc áp dụng SXSH vào các quá trình sản xuất đã được áp dụng mạnh mẽ ở các nước phát triển như: Đan Mạch, Mỹ, Canada….Tháng 9/1990, UNEP chính thức phát động chương trình sản xuất sạch hơn tại hội nghị Canterbury Liên hiệp Anh Từ năm 1993, SXSH đã áp

Trang 7

dụng các nước Đông Âu như: Ba Lan, Tiệp Khắc cũ, các quốc gia thuộc Châu

Á như; Trung Quốc, Ấn Độ mang lại nhiều hiệu quả về kinh tế và môi trường Hơn 1000 dự án trình diễn về SXSH đã được tiến hành tập trung vào một số ngành công nghiệp chính như: Dự án PRISMA ở Hà Lan, LANDSKRONA ở Thụy Điển, SPURT ở Đan mạch, DESIRE ở Ấn Độ……(trích tác giả Phùng Hoàng Vân, 2003)

Hiện nay trên thế giới có 25 trung tâm sạch quốc gia đặt tại các khu vực trên thế giới như: Châu Á - Thái Bình Dương, Bắc Mỹ, Nam Trung Mỹ, Châu Phi Tại Châu Á - Thái Bình Dương có 4 nước có trung tâm sản xuất sạch quốc gia đó là Trung Quốc, Ấn Độ, Srikanca và Việt Nam Ngoài việc thành lập các trung tâm sạch quốc gia, nhiều tạp chí, báo ra đời nhằm cung cấp thông tin hỗ trợ SXSH Một số tham gia vào việc hỗ trợ để thực hiện sản xuất sạch hơn, Các quốc gia có nhiều chương trình hỗ trợ nhất đó là: Mỹ, Đức, Na

Uy, Thụy Sỹ, Đan Mạch

Division of Technology, Industry and Economics Economics and Trade Branch, United Nations Environment Programme/NUEP (2002), đã xây dựng Tài liệu đào tạo về Hướng dẫn đánh giá tác động môi trường như vai trò, tầm quan trọng, phân tích đánh giá tác động môi trường

JAMES B WILSON (2005) đã trình bày kết quả nghiên cứu về đổi mới vật liệu xây dựng trên nền vật liệu gỗ và sợi gỗ, nhấn mạnh yếu tố tác động của môi trường trong quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm

Stan Lebow, Paul Cooper, Patricia K Lebow (2004) trong công trình nghiên cứu “Variability in Evaluating Environmental Impacts of Treated Wood” đã trình bày quan điểm và phương pháp mới trong đánh giá tác động môi trường đối với quá trình xử lý gỗ bằng hóa chất bảo quản

Trang 8

Trong ngành chế biến đồ gỗ và nội thất thế giới, việc nhận thức về phương pháp luận SXSH và áp dụng các kỹ thuật SXSH còn nhiều hạn chế, các ứng dụng chưa được phổ biến rộng rãi Do đó, tiềm năng SXSH cũng như đổi mới sản phẩm bền vững trong ngành còn rất lớn, đặc biệt đối với các nước đang phát triển

Việc thực hiện SXSH trên thế giới là nhằm tiết kiệm nguyên – vật liệu, giảm rủi ro cho con người và tác động xấu đối với môi trường, tăng cường hiệu quả sản xuất thông qua cải tiến các kỹ thuật đã có và áp dụng các công nghệ tiên tiến hiện đại Ngoài ra các kỹ thuật SXSH mang lại những cơ hội giảm chi phí sản xuất và nâng cao chất lượng sản phẩm Cụ thể trong ngành chế biến gỗ nói chung và chế biến đồ gỗ nói riêng, các vấn đề chính mà kỹ thuật SXSH tập trung giải quyết bao gồm:

- Lãng phí nguyên liệu gỗ,

- Ô nhiễm không khí do bụi gỗ, các loại keo, chất phủ bề mặt,

- Nước thải và lãng phí nước thải,

- Lãng phí năng lượng điện,

- Chất thải nguy hại

1.2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Trong giai đoạn từ năm 2000 đến 2010, công nghiệp chế biến gỗ Việt Nam đã đạt được tốc độ tăng trưởng đáng kể cả về quy mô phát triển, chất lượng sản phẩm và đặc biệt là giá trị kim ngạch xuất khẩu Với hơn 1200 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế biến gỗ năm 2000, đến năm 2009

cả nước đã có trên 2500 doanh nghiệp, trong đó nhiều doanh nghiệp đã phát triển thành các tập đoàn lớn Chất lượng sản phẩm gỗ được nâng cao, minh chứng là giá trị kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam liên tục tăng trong 10 năm qua: giá trị kim ngạch xuất khẩu năm 2000 đạt 219 triệu USD; năm 2009 đạt 2.620 triệu USD; tính bình quân giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ

Trang 9

mộc tăng bình quân 500 triệu USD/năm Sản phẩm gỗ của Việt Nam đã có mặt trên 120 quốc gia và vùng lãnh thổ; trong đó các thị trường xuất khẩu chủ yếu là Hoa Kỳ (chiếm 38% - 41% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu), các nước thuộc khối EU (chiếm 28 - 44% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu) và Nhật Bản (chiếm 12 - 15% tổng giá trị kim ngạch xuất khẩu)

Tuy nhiên, cùng với sự tăng trưởng và thuận lợi của ngành, hiện nay công nghiệp chế biến gỗ của nước ta cũng đang gặp rất nhiều khó khăn và bộc

lộ những điểm yếu kém từ khi chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung mệnh lệnh sang cơ chế thị trường Những năm gần đây, ngành công nghiệp chế biến

gỗ phát triển có bước phát triển vượt bậc song chưa vững chắc, thiếu quy hoạch và tầm nhìn chiến lược, tính cạnh tranh chưa cao, sự liên kết và phân công sản xuất chưa tốt (chưa có sự chuyên môn hoá, chưa có phân công sản xuất theo vùng, tiểu vùng…), chưa xây dựng được thương hiệu trên thị trường thế giới, thiếu vốn đầu tư cho phát triển và hiện đại hoá công nghệ

Mặc dù giá trị kim ngạch xuất khẩu đồ mộc của Việt Nam có bước tăng trưởng nhưng đánh giá tổng thể, giá trị kinh tế mang lại cho đất nước còn hạn chế do lượng vật tư nguyên liệu nhập khẩu chiếm tỉ trọng quá lớn, trong đó chỉ tính riêng nguyên liệu gỗ nhập khẩu hàng năm tương đương 40% - 45% giá trị kim ngạch xuất khẩu Trong khi đó tiềm năng nguyên liệu gỗ rừng trồng của Việt Nam rất lớn lại sử dụng chủ yếu cho băm dăm xuất khẩu, một hình thức sơ chế không mang lại hiệu quả kinh tế cao và không thể nâng cao giá thu mua nguyên liệu, cơ hội nâng cao thu nhập cho người trồng rừng

Ngày 08/12/2003 sở Khoa học và Công nghệ Bình Định kết hợp với Viện khoa học và Công nghệ môi trường (Đại học Bách khoa Hà Nội) tổ chức hội nghị “Nâng cao hiệu quả quản lý môi trường thông qua áp dụng sản xuất sạch hơn” do PGS.TS Trần Văn Nhân chủ nhiệm đề tài

Trang 10

Chiến lược sản xuất sạch hơn trong công nghiệp đến năm 2020 được Thủ tướng Chính phủ ký ban hành Quyết định số 1419/QĐ-TTG phê duyệt vào ngày 07/09/2009 Theo đó, Sản xuất sạch hơn được áp dụng rộng rãi tại các cơ sở sản xuất công nghiệp:

- Năm 2011, xí nghiệp Chế biến lâm sản Hòa Nhơn (Công ty Cổ phần Lâm đặc sản xuất khẩu Quảng Nam) đã tiến hành thành lập Đội Sản xuất sạch hơn (SXSH) nhằm triển khai đánh giá nhanh hiện trạng môi trường và đề ra các các giải pháp cho những năm tiếp theo

- Năm 2011, công ty TNHH gỗ - giấy Tân Bình (thuộc tỉnh Bình Định) tiến hành áp dụng SXSH, nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên thiên nhiên, nguyên - nhiên - vật liệu, giảm thiểu phát thải và hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, sức khỏe con người

và bảo đảm phát triển bền vững

Nguồn nhân lực cho công nghiệp chế biến gỗ còn yếu, hiện chưa có chính sách thu hút lao động đúng mức để ổn định sản xuất Đội ngũ chuyên gia và công nhân kỹ thuật chưa đáp ứng được đòi hỏi ngày càng cao của ngành

Mặc dù chúng ta sản xuất đồ gỗ xuất khẩu chiếm tỷ trọng lớn song hiểu biết và ý thức về thương hiệu, các tiêu chuẩn đối với sản phẩm gỗ chưa cao, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ Các doanh nghiệp thiếu những kiến thức về luật thương mại, đặc biệt là luật thương mại quốc tế Năng lực cạnh tranh thị trường kém, thiếu thông tin dẫn đến dễ bị thua thiệt khi xảy ra tranh chấp quốc tế, bị chèn ép trong các khâu mua, bán…

Trong cuộc cạnh tranh mạnh mẽ của ngành chế biến gỗ Việt Nam trên thị trường chế biến gỗ thế giới hiện nay, sau hội nhập WTO ngành chế biến

Trang 11

gỗ Việt Nam đã bộc lộ nhiều yếu kém và hạn chế về mẫu mã, chất lượng, thương hiệu, pháp luật thương mại quốc tế, tiêu chuẩn, chứng chỉ quốc tế, thương mại điện tử Đó là chưa kể đến những cạnh tranh (kể cả cạnh tranh không lành mạnh) trong nội bộ các doanh nghiệp trong nước, cũng là một trong số các nguyên nhân làm cho các doanh nghiệp Việt Nam chỉ gia công sản phẩm gỗ xuất khẩu mà không mang thương hiệu của mình trên thị trường quốc tế

Một vấn đề khác phát sinh đối với mặt hàng đồ gỗ khi chúng ta hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đó là các chứng chỉ về nguyên liệu Mỹ có đạo luật LACEY, hay luật lâm nghiệp và quản trị rừng (FLEGT) đang được triển khai ở tất cả các quốc gia, đây là rào cản rất lớn Nhu cầu về đồ gỗ có chứng chỉ đang gia tăng, nhưng Việt Nam vẫn chưa có hệ thống chứng chỉ thích hợp Các khách hàng chủ yếu là EU ngày càng đòi hỏi các sản phẩm được làm từ nguồn gỗ nguyên liệu có chứng chỉ của một tổ chức như hội đồng các nhà quản lý rừng FSC Đến cuối tháng 5 năm 2011 ở nước ta mới chỉ có 5 Lâm Trường được cấp chứng chỉ rừng với tổng diện tích là 10.500 ha

Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu rất lớn về gỗ để sản xuất đồ gỗ xuất khẩu, các nước sản xuất phải nhập khẩu gỗ có chứng chỉ FSC, giá thành sản phẩm đội lên cao nên khó khăn cạnh tranh và giá trị gia tăng của ngành gỗ bị giảm quá nhiều so với những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, đồ gỗ bị giảm sụt quá nhiều so với những quốc gia có hệ thống chứng chỉ, cho dù đồ gỗ Việt Nam đang được ưa chuộng tại nhiều nước Hiện nay, Việt Nam có khoảng 200 doanh nghiệp có chứng chỉ FSC và COC, đây là 2 loại chứng chỉ thiết yếu cho việc xuất khẩu đồ gỗ ra quốc tế

Trong khi đó, hầu hết các doanh nghiệp chế biến gỗ của ta chỉ làm gia công, không có thị trường tiêu thụ chủ động mà phụ thuộc nhiều vào khách hàng nước ngoài Trong số 3.000 cơ sở hoạt động trong ngành gỗ thì có tới

Trang 12

hơn 50% là cơ sở chế biến quy mô nhỏ, trang thiết bị vừa cũ kỹ, vừa lạc hậu

Số lượng và chất lượng của đội ngũ công nhân trong ngành chưa đáp ứng yêu cầu, thiếu kỹ năng, nguồn gỗ nguyên liệu thì bị động Hiện Việt Nam phải nhập khẩu đến 70 - 80% nguyên liệu, sự phát triển các nhà máy băm dăm mảnh gỗ xuất khẩu đã vượt quá khả năng cung cấp nguyên liệu gỗ rừng trồng trong nước Những hạn chế trên đã trì kéo mức tăng trưởng của ngành chế biến gỗ nước ta

1.2.3 Tình hình phát triển ngành chế biến gỗ ở tỉnh Bình Dương

Ngành chế biến gỗ, sản xuất đồ gỗ xuất khẩu từ lâu nay đã là một trong những thế mạnh của tỉnh Bình Dương Ngành này cũng là một trong những ngành có tỷ trọng xuất khẩu tương đối lớn trong cơ cấu ngành nghề của tỉnh, chiếm khoảng 14,6% Tuy nhiên thời gian gần đây ngành chế biến, sản xuất

đồ gỗ ở Bình Dương đang đứng trước những khó khăn, thách thức về nguồn nguyên liệu và nhân công lao động

Được biết nguồn nguyên liệu chính của ngành chế biến gỗ tại tỉnh Bình Dương được cung cấp được bởi nhiều nguồn, song chủ yếu vẫn nhập khẩu gỗ

từ nước ngoài và một số địa phương trong nước như: Lâm Đồng, Bình Phước, Đắc Lắc… Nguồn gỗ nhập từ nước ngoài chủ yếu là những loại chất lượng cao, giá cao, còn nguồn gỗ trong nước chủ yếu là gỗ cao su, tràm, điều…

Thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của tỉnh Bình Dương khá ổn định, hàng hóa từ gỗ của tỉnh đến được 65 quốc gia và vùng lãnh thổ Từ năm 2006 đến nay sản lượng và giá đều tăng, chỉ tính riêng 9 tháng đầu năm 2010 kim ngạch xuất khẩu mặt hàng này đã đạt 932 triệu USD, tăng 9,9% so với cùng

kỳ năm ngoái, riêng tháng 9 năm 2010 đạt hơn 113 triệu USD Những thị trường lớn vẫn là những quốc gia, vùng lãnh thổ Châu Á chiếm 53%, Bắc mỹ 22% và phần còn lại là Châu Âu

Trang 13

Mặc dù tiềm năng xuất khẩu đồ gỗ của tỉnh là như vậy nhưng ngành chế biến gỗ ở Bình Dương đang đứng trước nhiều thách thức rất lớn, đó là nguồn nguyên liệu và nhân công lao động ngành gỗ Để khắc phục tình trạng thiếu nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp chế biến gỗ trên địa bàn tỉnh đã phải khai thác tối đa tiềm năng từ nguồn nguyên liệu trong nước, đồng thời những doanh nghiệp nhỏ không đủ khả năng nhập khẩu gỗ từ nước ngoài cũng phải chủ động tìm nguồn hàng trong nước

Tuy nhiên, do đặc thù địa hình và thời tiết của Việt Nam ảnh hưởng rất lớn đến việc cung cấp nguyên liệu gỗ cho các doanh nghiệp, vào mùa mưa gần như không thể khai thác gỗ từ rừng tự nhiên Đồng thời, hiện nay rừng trong nước cũng không còn khả năng cung cấp được nhiều nữa bởi chúng đang phải bảo tồn và khôi phục những diện tích đã bị mất Với nguồn gỗ rừng trồng như: cao su, điều, tràm,… với công nghệ ngày càng tiên tiến, sản lượng các loại gỗ này được trồng khá nhiều trong những năm trước đây, cùng với việc khai thác và dễ chế biến nên các doanh nghiệp đã tạo ra thành công nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng bán ra thị trường Với diện tích cao su, điều, tràm tương đối lớn ở Bình Dương và các tỉnh trong khu vực có thể coi là nguồn cung ứng nguyên liệu khả quan cho ngành chế biến gỗ ở Bình Dương

Để giải quyết nguồn nguyên liệu, nhiều doanh nghiệp lớn ở Bình Dương đã có chiến lược dài hạn như thuê đất trồng rừng nguyên liệu phục vụ cho sản xuất sau này, tuy nhiên chí phí ban đầu của trồng rừng là rất lớn nên nằm ngoài khả năng của các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nên rất cần sự quan tâm hổ trợ từ phía Nhà nước

Một khó khăn nữa trong ngành chế biến gỗ ở Bình Dương là hiện nay lao động trong ngành này đang thiếu hụt rất nhiều, hầu như các lao động không được đào tạo qua ngành chế biến gỗ, hầu hết lao động là những người

tự đi học nghề và xin đi làm việc tại các doanh nghiệp Những khó khăn cho

Trang 14

những doanh nghiệp là công nhân không được đào tạo cơ bản qua trường lớp nên ý thức lao động, cũng như kỹ luật trong công việc còn hạn chế, nhiều lao động tự bỏ việc hoặc không tâm huyết với nghề nên gây không ít những khó khăn cho chủ doanh nghiệp, nhất là khi doanh nghiệp ký hợp đồng chế biến sản xuất hàng xuất khẩu

Qua đó có thể thấy rằng các doanh nghiệp chế biến gỗ ở Bình Dương đều thiếu nguồn lao động, vì thế tỉnh Bình Dương cần có cơ chế, chính sách đào tạo nghề cho ngành chế biến gỗ cho người lao động Hiện nay, trong các trường dạy nghề của tỉnh hầu như không có ngành đào tạo nghề cho công nhân ngành chế biến gỗ, chính vì thế các doanh nghiệp, cơ sở chế biến gỗ không biết tuyển công nhân có tay nghề ở đâu Đây là một vấn đề cần phải giải quyết kịp thời, bởi vì Việt Nam đã gia nhập tổ chức Thương mại thế giới thì các doanh nghiệp xuất khẩu nói chung và xuất khẩu đồ gỗ nói riêng phải hiểu biết luật pháp để tránh mọi rắc rối không cần thiết cho hoạt động sản xuất, nhất là khi xuất khẩu vào thị trường khó tính như Mỹ, EU,…

1.3 TỔNG QUAN VỀ NGÀNH CHẾ BIẾN GỖ XUẤT KHẨU VIỆT NAM

1.3.1 Quá trình hình thành và phát triển của ngành chế biến gỗ xuất

khẩu Việt Nam

Lâu nay, khi nhắc đến các mặt hàng xuất khẩu (XK) chủ lực trong nông nghiệp người ta thường nói đến XK gạo, cà phê, điều, thủy sản…ít khi nhắc đến XK đồ gỗ Thế nhưng, từ năm 2010 đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam đã phục hồi và tăng trưởng sau thời kỳ suy thoái tài chính - kinh tế toàn cầu Có thể thấy, năm 2010 là một năm thành công đối với ngành xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam: Mặc dầu nền kinh tế thế giới vẫn tiềm ẩn nhiều rủi ro và sản xuất đồ gỗ - nội thất thế giới ước tính tăng trưởng 5%, nhưng xuất khẩu gỗ

Trang 15

Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng cao, kim ngạch xuất khẩu đạt gần 3,5 tỉ USD, tăng 35% so với cùng kỳ 2009

Hiện nay cả nước có trên 3.000 cơ sở chế biến đồ gỗ, trong đó khoảng 50% là cơ sở chế biến gỗ quy mô nhỏ với những sản phẩm tiêu thụ nội địa hoặc gia công; trong đó, có 970 doanh nghiệp chuyên chế biến đồ gỗ xuất khẩu, hơn 400 doanh nghiệp FDI Thị trường xuất khẩu sản phẩm gỗ của Việt Nam không ngừng được mở rộng, nếu như năm 2000 chỉ có mặt tại 50 quốc gia thì đến nay sản phẩm gỗ Việt Nam đã có mặt trên thị trường của 120 quốc gia, vùng lãnh thổ, trong đó thị trường Mỹ chiếm 38% tổng giá trị xuất khẩu; các nước thuộc khối EU chiếm 44%; Nhật Bản chiếm 12% Theo dự báo của Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (Vifores), năm 2011 nhu cầu của thị trường đối với sản phẩm gỗ của Việt Nam là rất lớn Vì vậy, kim ngạch xuất khẩu gỗ của nước ta có thể đạt trên 4 tỷ USD, tăng khoảng 30% so với năm 2010 và đang đặt ra kỳ vọng tăng đến con số 8 - 9 tỷ USD vào năm 2015

1.3.2 Sản phẩm và thị trường tiêu thụ đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam

Các sản phẩm gỗ xuất khẩu Việt Nam bao gồm các mặt hàng: Nội thất phòng khách, ghế, nội thất văn phòng, ván sàn… Được xuất khẩu sang các thị trường Mỹ, Canada, Nhật Bản,… Sản phẩm và thị trường tiêu thụ đồ gỗ xuất khẩu của Việt Nam được thể hiện qua bảng 1.1

Bảng 1.1: Sản phẩm và thị trường tiêu thụ đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam

Stt Tên sản phẩm Thị trường

tiêu thụ

Doanh thu

Tăng % Năm 2008 Năm 2009

1 - Nội thất phòng

khách

Mỹ 1.063.990 1.100.184 103,40

Trang 16

Nguồn: Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2009)

 Thiết bị máy móc sử dụng trong ngành sản xuất đồ gỗ xuất khẩu

Để phục vụ cho hoạt động sản xuất, các nhà máy sản xuất đồ gỗ Việt Nam sử dụng các thiết bị, máy móc hiện đại được nhập từ các nước Nhật, Đài Loan và các nước Châu Âu Thiết bị máy móc sử dụng trong ngành chế biến

đồ gỗ được thể hiện trong bảng 1.2

Bảng 1.2: Máy móc, thiết bị sử dụng trong ngành sản xuất đồ gỗ

1 Máy cắt trượt Cắt ngắn các thanh phôi theo quy cách chi tiết

2 Máy bào 2 mặt Bào 2 mặt của thanh phôi nhằm giảm độ mấp

mô trên bề mặt

3 Máy bào 4 mặt Bào sạch 4 mặt cùng 1 lúc trên thanh gỗ

4 Máy ripsaw Rong cạch các chi tiết thật phẳng trước khi đưa

Trang 17

vào máy cảo ghép ngang

5 Máy đánh mộng

finger Đánh đầu các thanh gỗ hình răng lược

6 Máy ghép finger Nối đầu các thanh gỗ hình răng lược lại với

nhau

7 Máy cảo ghép ngang Ghép các thanh gỗ lại với nhau theo chiều

ngang

8 Máy cưa lọng Lọng những chi tiết cong

9 Máy cắt phay 2 đầu Cắt các chi tiết theo tiêu chuẩn yêu cầu

10 Máy phay tupi 1 trục Đánh những chi tiết cong hoặc cạnh của sản

phẩm

11 Máy phay tupi 2 trục Đánh răng chi tiết gỗ

12 Máy router Chạy rãnh chi tiết gỗ

13 Nhám thùng 1.3 m Chà nhẵn mịn chi tiết gỗ

14 Mộng âm 18 đầu Đục mộng âm sâu theo kích thước định vị

15 Đánh mộng âm Làm mọng âm các chi tiết gỗ

16 Đánh mộng âm

dương 1 đầu Đánh mộng Oval chi tiết gỗ

17 Máy rong Rong chi tiết chuẩn để làm chi tiết gỗ

18 Bào 4 mặt và 6 trục Bào sạch 4 cạnh cho 1 chi tiết cùng một lúc sau

khi gia công qua bào

19 Nhám băng Dùng chà nhẵn các chi tiết gỗ

20 Nhám thùng 0.9m Chà nhẵn mịn chi tiết gỗ

21 Bào 2 mặt 0.6m Bào sạch 2 cạnh của chi tiết gỗ trước và sau khi

Trang 18

đầu Khoan những chi tiết có độ nghiêng

27 Máy khoan dàn đa

đầu Khoan những chi tiết có nhiều vị trí lỗ khoan

1.4 THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN TRONG XUẤT KHẨU ĐỒ GỖ

Năng lực chế biến gỗ của việt Nam tăng thêm không chỉ số lượng nhà máy, quy mô sản xuất mà còn đầu tư thiết bị hiện đại để nâng cao chất lượng sản phẩm, trình độ quản lý, tay nghề của công nhân Theo thống kê đến tháng

Trang 19

10/2008, cả nước có trên 2000 doanh nghiệp chế biến gỗ, trong đó có 300 doanh nghiệp chế biến và xuất khẩu gỗ trực tiếp, sử dụng 170.000 lao động trực tiếp và có năng lực sản xuất tăng gấp 4 lần so với năm 2003, thời điểm

mà công nghiệp gỗ Việt Nam bắt đầu bứt phá tạo ấn tượng mạnh mẽ với các nhà nhập khẩu nước ngoài

Trình độ sản xuất của các doanh nghiệp Việt Nam trong thời gian qua

đã có nhiều tiến bộ vượt bậc, đủ khả năng đáp ứng nhu cầu tương đối khắt khe về kiểu dáng, mẫu mã, nguồn gốc gỗ không tác hại đến môi trường thị trường các nước Tại thành phố Hồ Chí Minh (Tp.HCM) và các tỉnh lân cận, nơi quy tụ tới gần 50% doanh nghiệp xuất khẩu gỗ các nước và có kim ngạch xuất khẩu gỗ chiếm 70% cả nước, trước đây các doanh nghiệp hay sơn đồ gỗ bằng tay nên chất lượng không đạt, dễ trầy xước thì nay hầu hết các nhà máy chế biến gỗ ở Bình Dương, Tp.HCM, Đồng Nai đã đầu tư các dây chuyền phun sơn hiện đại của Đức, Italia theo đúng các tiêu chuẩn của Mỹ, EU

Song song với đầu tư máy móc, tăng năng lực sản xuất, các doanh nghiệp gỗ trong nước còn đẩy mạnh đầu tư sản xuất các sản phẩm tinh xảo, có giá trị tăng cao như sản xuất đồ gỗ trong nhà, các bộ sản phẩm nội thất phòng ngủ, phòng khách, đầu tư nhiều cho các bộ phận thiết kế mẫu mã

Ngoài nhập khẩu gỗ nguyên liệu của nước ngoài, doanh nghiệp tham gia đầu tư trồng rừng quy mô lớn ở trong nước, đầu tư các nhà máy sản xuất

gỗ nguyên liệu như: ván ép, ván MDF nhằm tiến tới chủ động nguyên liệu ổn định cho xuất khẩu lâu dài Đồ gỗ xuất khẩu Việt Nam vào EU nói chung hiện đang hưởng thuế GSP với mức thuế suất chủ yếu là 0% (một số mã hàng chịu thuế 2,1%) đã giúp Việt Nam có một lợi thế nhất định khi chen chân vào thị trường các nước so với Trung Quốc, Indonesia, Braxin, Malaysia,….do các nước này không được hưởng GSP

Trang 20

1.4.2 Khó khăn

Bên cạnh những thế mạnh và thuận lợi đã nêu trên, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam sang thị trường các nước tồn tại nhiều điểm yếu, trong giai đoạn 2009 - 2010 dự kiến sẽ có những khó khăn và thách thức sau:

Hầu hết các doanh nghiệp (DN) trong ngành chế biến gỗ đang gặp rất nhiều khó khăn và trong tình trạng sản xuất thua lỗ Thế nhưng, dù lỗ DN vẫn phải sản xuất Bởi đơn giản, nếu không sản xuất DN vẫn phải trả các chi phí khấu hao máy móc, tiền thuê nhà xưởng, phí duy trì hoạt động cho bộ phận hành chính Thêm đó, DN phải sản xuất để giữ chân công nhân và nhất là để giữ thị trường, giữ khách hàng truyền thống

Tám tháng đầu năm 2011, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm gỗ đạt khoảng 2,4 tỷ USD Dù tăng 13% so cùng kỳ, nhưng khó đạt được chỉ tiêu trong năm 2011 là 4 tỷ USD Theo các DN, từ đầu năm đến nay các thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ (chiếm 44% kim ngạch xuất khẩu của ngành trong năm 2010), EU (chiếm 29%) Nhật do trì trệ của nền kinh tế nên sức mua đều giảm

Với thị trường nội địa, DN cũng khó khăn trong sản xuất các đơn hàng nhỏ lẻ Hầu hết DN chỉ giỏi sản xuất, không giỏi về thị trường, về xúc tiến thương mại (XTTM) nên dẫn tới hạn chế trong việc nắm bắt thị hiếu, xu hướng tiêu dùng, nhất là không thể xây dựng được mạng lưới phân phối Cũng có vài DN lớn đang tiến hành hoạt động XTTM trong nước khá thành công như Trường Thành, Hoàng Anh Gia Lai… song chưa phủ rộng được mạng lưới và cũng chỉ mới ở những bước khởi đầu

Bên cạnh đó, thời gian qua tỷ giá và các chi phí đầu vào biến động cũng ảnh hưởng tới năng lực sản xuất cũng như khả năng cạnh tranh của DN Ông Đặng Quốc Hùng, Phó Chủ tịch Hiệp hội Mỹ nghệ - chế biến gỗ

Trang 21

TP.HCM (Hawa) cho biết, hiện nếu xuất khẩu được 1 USD, DN sẽ lỗ 1 ngàn đồng từ chệnh lệch tỷ giá, trong khi các chi phí điện, nước, giá công nhân, giá nguyên liệu… đều tăng Riêng giá nguyên liệu từ đầu năm đã tăng 10 - 30%

và ngành phải nhập tới 80% nguyên liệu để sản xuất…

Nhìn chung các DN hiện chưa dám ký tiếp hợp đồng mới bởi nếu ký

mà đưa ra giá thành cao để hòa vốn hay giảm lỗ thì sợ khách hàng sẽ chuyển sang các nhà cung cấp khác Bởi đơn giản, khách hàng cũng là người kinh doanh, thu mua giá cao họ sẽ không bán được hàng và để giữ thị trường, lợi nhuận, họ sẽ chuyển sang nhà các cung cấp khác hiện có rất nhiều trong khu vực…

Nhằm ứng phó với những khó khăn trên, theo Hawa DN nên liên kết lại

để thực hiện nhanh những đơn hàng lớn, giá trị cao, nhằm tránh biến động giá

cả, hoặc khi nhận được đơn hàng nên chia ra từng giai đoạn giá cả trong thực hiện hợp đồng, tránh đồng ý giá cố định ở khoảng thời gian dài Đối với các thị trường lớn như Mỹ, EU, Nhật nên tăng các sản phẩm có giá thành trung bình và thấp, các sản phẩm nội thất ngoài trời…

Trong XTTM, các DN không có điều kiện tham gia vào Hội chợ Triển lãm XTTM cấp quốc tế chuyên ngành tổ chức trong nước như Expo Vietnam

2011, thì nên tham dự vào kênh hội chợ trực tuyến (online expo) Đây đang được xem là kênh tìm kiếm khách hàng phổ biến của các nhà thu mua đồ gỗ, hàng thủ công mỹ nghệ quốc tế

Ở thị trường trong nước, DN nên liên kết lại để xây dựng chuỗi phân phối, hoặc hình thành các công ty thương mại lớn có năng lực nắm bắt được thị hiếu, thị trường, sức tiêu thụ rồi đặt hàng lại các DN sản xuất với số lượng lớn Đây được xem là hướng phát triển ổn định cho ngành chế biến gỗ và hàng thủ công mỹ nghệ ở cả thị trường trong nước lẫn xuất khẩu

Trang 22

Cũng với đó DN phải tập trung chú trọng tăng năng suất, giảm tối đa chi phí, tham dự các khóa tập huấn phương thức sản xuất tiết kiệm nguyên nhiên liệu do Hawa kết hợp với chuyên gia trong nước và quốc tế tổ chức

Sản phẩm gỗ Việt Nam còn mắc một số nhược điểm như; quy mô sản xuất nhỏ, thiếu đầu tư cho sản xuất mẫu mã đến chất lượng, công tác xúc tiến thương mại, nghiên cứu thị trường còn thấp, kém hiệu quả, nguồn cung nguyên liệu và phân phối còn chưa đồng bộ …

Các doanh nghiệp xuất khẩu đồ gỗ vẫn đang phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu Mặc dù xuất khẩu các sản phẩm gỗ Việt Nam

có thể mang lại hơn 2 tỷ USD trong năm 2008, nhưng chi phí cho nhập khẩu

đã chiếm 1/3 Hiện 80% nguyên liệu cho sản xuất, chế biến gỗ dựa vào nguồn nhập khẩu Thị trường cung ứng gỗ nguyên liệu lớn nhất cho Việt Nam vẫn là Malaysia, Lào, Trung Quốc, Mỹ, Thái Lan,… Nhưng nguồn gỗ nhập khẩu cũng đang gặp nhiều khó khăn khi các doanh nghiệp Việt Nam nhỏ bé, thiếu vốn, chỉ các công ty lớn liên doanh hoặc 100% vốn đầu tư nước ngoài, mới có

đủ tiền lớn để mua gỗ Các nước Malaysia, Indonesia cần xuất khẩu gỗ tròn từ lâu, và mới đây mới tuyên bố cấm xuất khẩu gỗ xẻ Lào cũng chỉ cho xuất khẩu gỗ một ít nguyên liệu

Tình hình kinh tế toàn cầu suy thoái trong đó kinh tế các nước cũng chịu ảnh hưởng nhất định đã làm giảm nhu cầu tiêu thụ sản phẩm gỗ khiến lượng đặt hàng của khách hàng nước ngoài hiện không còn giữ mức tăng 20% mỗi năm như trước và chỉ có khoảng 10%

Những yêu cầu sử dụng nguồn gỗ và nguyên vật liệu phục vụ cho chế biến cũng đang đặt ra không ít thách thức cho doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm của Việt Nam bởi những quy định và xu hướng tiêu dùng mới của các thị trường quốc tế Tới đây người tiêu dùng ngày càng có ý thức bảo vệ môi

Trang 23

trường rất cao Họ đòi hỏi những sản phẩm gỗ sử dụng phải đến từ những nguồn hợp pháp

Hiện nay xuất hiện ngày càng nhiều hành vi bảo hộ thương mại tinh vi, tại các nước có sản phẩm xuất khẩu sang EU nói chung và thị trường các nước nói riêng có sự kiểm soát chất lượng, nguồn gỗ với các luật lệ mới được ban hành như: “Hiệp định tăng cường thực thi luật Lâm nghiệp, quản trị rừng

và buôn bán gỗ” Theo hiệp định này tất cả các chuyến hàng xuất khẩu vào thị trường này sẽ được các cơ quan có thẩm quyền cấp phép ngay sau khi kiểm tra tính hợp pháp của các lô hàng thông qua các bằng chứng gốc Sức cạnh tranh mua nguyên liệu của Việt Nam yếu hơn Trung Quốc, Malaysia,…

1.5 CÔNG TÁC BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG XUẤT KHẨU ĐỒ

GỖ

Công tác Bảo vệ môi trường trong ngành chế biến gỗ thực hiện khá chặt chẽ, các công ty doanh nghiệp hoạt động trong ngành chế biến gỗ đều nhận được sự hợp tác, hỗ trợ từ Cục Chế biến Nông lâm sản Các doanh nghiệp hoạt động trong ngành này thường xuyên nhận được sự giúp đỡ về định hướng phát triển kinh tế, công tác bảo vệ môi trường và sự giám sát từ Cục Chế biến Nông lâm sản Ngoài ra còn nhận được sự hỗ trợ, phối hợp của Sở Tài nguyên và Môi trường nhằm nâng cao hiệu quả công tác bảo vệ môi trường

Trong ngành chế biến gỗ có nhiều tác nhân gây ô nhiễm môi trường như nước thải, chất thải rắn, đặc biệt là bụi và khí thải Hiện nay, các công ty đã

áp dụng nhiều phương pháp để xử lý chúng

Đối với bụi và khí thải, tùy theo đặc tính của chúng lựa chọn các phương pháp xử lý khác nhau:

Trang 24

 Tháp hấp thị khí thải: Nguyên tắc cơ bản của việc hấp thụ khí là tạo ra một sự tiếp xúc giữa khí và lỏng

 Buồng lắng bụi: Là khoang kín trong đó lưu tốc dòng khí mang hạt bụi giảm tới một giá trị nào đó, đủ để cho các hạt bụi lắng tách ra khỏi dòng khí ngừng trọng lực

 Cyclon: Là thiết bị dùng phổ biến trong xử lý bụi công nghiệp

 Hệ thống lọc túi vải: Hệ thống này bao gồm những túi vải hoặc túi sợi đan lại, dòng khí có lẫn bụi được hút vào ống nhờ một lực hút

 Phương pháp lọc bụi ướt: Nguyên tắc là người ta cho dòng khí có chứa bụi tiếp xúc trực tiếp vào dung môi

 Ngoài ra còn có phương pháp lọc bụi bằng tĩnh điện: Đối với nước thải, sinh ra chủ yếu là nước thải sinh hoạt và một lượng nước thải sản xuất thì có các phương pháp xử lý sau:

 Phương pháp cơ học: Dùng để tách các chất không hòa tan và một phần chất ở dạng keo ra khỏi nước thải Những công trình xử lý cơ học bao gồm: song chắn rác, bể lắng cát, bể vớt dầu mỡ, bể lắng, bể tự hoại, bể lọc…Quá trình xử lý hóa lý: phương pháp xử lý hóa lý là đưa vào nước thải phản ứng nào đó để gây ra tác động với các tạp chất bẩn, biến đổi hóa học, tạo thành chất khác dưới dạng cặn hoặc chất hòa tan nhưng không độc hại, không gây ô nhiễm môi trường

 Phương pháp xử lý sinh học: Quá trình xử lý thực hiện trong điều kiện

tự nhiên Hồ sinh học, cánh đồng tưới, hồ chứa….Quá trình xử lý diễn ra trong điều kiện nhân tạo: bể lọc sinh học, bể làm thoáng sinh học…

 Trong ngành chế biến gỗ, hầu hết các chất thải rắn được đem đi chôn lấp Tỷ lệ thu hồi chất có khả năng tái chế và tái sử dụng như nilon, giấy vụn,

Trang 25

thùng sơn, giẻ lau, nhựa, thủy tinh…Tỷ lệ thu hồi chất từ nguồn phát sinh đến chôn lấp tương đối cao, tuy nhiên hoạt động thu gom hoàn toàn tự phát và không có tổ chức, quản lý Ngoài ra các chất nguy hại sinh ra trong quá trình sản xuất được xử lý theo phương pháp sau: xử lý cơ học, xử lý hóa học, xử lý nhiệt…

1.6 KHÁI NIỆM SẢN XUẤT SẠCH HƠN (SXSH)

1.6.1 Khái niệm sản xuất sạch hơn

Sản xuất sạch hơn là quy trình mang tính bao quát mọi khâu của các nhà máy sản xuất, đòi hỏi phải áp dụng liên tục các giải pháp nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường, tiết kiệm nguyên - vật liệu và giảm giá thành sản phẩm, tăng sự cạnh tranh của các doanh nghiệp

Sản xuất sạch hơn là quá trình áp dụng liên tục một chiến lược phòng ngừa môi trường tổng hợp trong các quá trình sản xuất, các sản phẩm và các dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất kinh tế, giảm các rủi ro đối với con người và môi trường

Các giải pháp về SXSH:

- Tránh các rò rỉ, rơi vải trong quá trình vận chuyển và sản xuất

- Đảm bảo các điều kiện sản xuất tối ưu từ quan điểm chất lượng sản phẩm, sản lượng, tiêu thụ tài nguyên và lượng chất thải tạo ra

Trang 26

- Tránh sử dụng các nguyên vật liệu độc hại bằng cách dùng nguyên liệu thay thế khác

- Cải tiến thiết bị để cải thiện quá trình sản xuất

- Lắp đặt thiết bị sản xuất có hiệu quả

- Thiết kế lại sản phẩm để có thể giảm thiểu lượng tài nguyên tiêu thụ UNEP định nghĩa SXSH là “việc áp dụng liên tục chiến lược phòng ngừa tổng hợp về môi trường vào các quá trình sản xuất, sản phẩm và dịch vụ nhằm nâng cao hiệu suất sinh thái và giảm thiểu rủi ro cho con người và môi trường”

- Đối với quá trình sản xuất: SXSH bao gồm bảo toàn nguyên liệu và năng lượng, loại trừ các nguyên liệu độc hại và giảm lượng độc hại cho tất cả các chất thải tại nguồn thải

- Đối với sản phẩm: SXSH bao gồm việc giảm các ảnh hưởng tiêu cực trong suốt chu kỳ sống của sản phẩm, từ khâu thiết kế đến thải bỏ

- Đối với dịch vụ: SXSH đưa các yếu tố về môi trường vào thiết kế và phát triển dịch vụ

Nguồn: vncpc.vn

1.6.3 Đánh giá sản xuất sạch hơn là gì?

Đánh giá SXSH là các hoạt động được tiến hành nhằm xác định các khả năng có thể mang lại hiệu quả cho cơ sở sản xuất, được thực hiện bởi bản thân doanh nghiệp hoặc do cơ quan tư vấn hỗ trợ

Đánh giá SXSH là một tiếp cận có hệ thống để kiểm tra quá trình sản xuất hiện tại và xác định các cơ hội cải thiện quá trình đó hoặc sản phẩm

Quá trình đánh giá SXSH được chia thành 6 bước:

1 Khởi động

2 Phân tích các công đoạn sản xuất

3 Phát triển các cơ hội SXSH

Trang 28

Thực hiện SXSH là một hành trình chứ không phải là một điểm đến, khi những đánh giá SXSH này kết thúc, đánh giá khác tiếp theo được bắt đầu

để cải thiện hiện trạng tốt hơn nữa hoặc tiếp tục với những cơ hội khác được lựa chọn Nói tóm lại SXSH không quy định giới hạn, vì vậy SXSH yêu cầu

sự cải tiến liên tục từ phía người áp dụng, đây cũng là yêu cầu của SXSH

(Nguồn: sxsh.vn)

1.6.4 Những vấn đề môi trường trong chế biến đồ gỗ

Hiện nay ở Việt Nam với số lượng hơn 3.000 doanh nghiệp chế biến gỗ, với hơn 9 triệu m3 gỗ nguyên liệu trong nước và từ 3,5 – 4 triệu m3 gỗ nguyên liệu được nhập khẩu hàng năm cung cấp cho công nghiệp chế biến gỗ đã tác động lớn đến môi trường Tuy nhiên, cho đến nay chưa có một nghiên cứu tổng thể nào đánh giá tác động đến môi trường của ngành chế biến gỗ Vì thế, chưa có số liệu kiểm toán môi trường nào được công bố cho bất kỳ một dạng sản phẩm nào trong ngành sản xuất đồ gỗ Ví dụ như: số liệu kiểm toán môi trường cho 1 m3 nguyên liệu gỗ cho sản xuất đồ gỗ (các chủng loại khác nhau) hoặc cho 1m3 sản phẩm ván dăm, ván dán,… thì cần bao nhiêu năng lượng (điện, dầu), nước, nguyên nhiên liệu khác, để từ đó tính ra được lượng khí (CO2, SOx, NOx,…), chất thải rắn, nước thải ra môi trường trên một đơn

vị nguyên liệu đầu vào hay một đơn vị sản phẩm đầu ra

Trong ngành chế biến gỗ, ngoài gỗ là nguyên liệu chính còn có nhiều loại nguyên liệu khác được sử dụng như: nước, keo, các chất sử dụng cho trang sức bề mặt như: sơn, vecn, hóa chất tẩy rửa,… và một số vật tư khác đã tạo ra nguồn ô nhiễm lớn tác động đến sức khỏe con người và môi trường sinh thái Ngoài ra, các máy móc dùng để gia công có chủng loại rất phong phú, quy cách không đồng nhất, đa phần máy móc ở mức lạc hậu so với thế giới đã góp phần không nhỏ tới ô nhiễm môi trường Các loại ô nhiễm chính do

Trang 29

ngành chế biến gỗ tác động đến môi trường đó là: bụi ô nhiễm, ô nhiễm tiếng

ồn, nước ô nhiễm, các chất gây ô nhiễm cho không khí,…

Hiện nay, vấn đề về ô nhiễm môi trường của ngành chế biến gỗ đang rất được coi trọng, nhiều quốc gia trên thế giới đã sử dụng một số biện pháp

và chính sách thiết thực kiểm soát vài giảm thiểu ô nhiễm môi trường đó là:

- Chế định ra pháp luật, tiêu chuẩn và quy định liên quan đến môi trường

- Lập ra quy hoạch về bảo vệ môi trường trong ngành chế biến gỗ, kiên trì nguyên tắc “phát triển bền vững”, lợi dụng và khai thác nguồn tài nguyên

gỗ một cách hợp lý

- Về mặt vĩ mô, tiến hành tối ưu hóa kết cấu công nghiệp, đối với những xưởng sản xuất có lượng ô nhiễm lớn, nguyên liệu tiêu hao nhiều thì nên đóng cửa, dừng hoạt động hoặc chuyển hóa hoạt động, coi trọng việc phát triển các

xí nghiệp có trình độ kỹ thuật cao, ô nhiễm môi trường ít

- Cải tiến kỹ thuật đối với các xí nghiệp hiện nay, giảm thấp và khống chế nguồn ô nhiễm thải ra môi trường

- Phát triển sản xuất sạch hơn

- Tăng cường quản lý, thực hiện rộng rãi về chế độ “lượng ô nhiễm cho phép” từ các nhà máy chế biến gỗ và các làng nghề

- Giải quyết ô nhiễm ngay ở bên trong xí nghiệp, tăng cường xử lý ở công đoạn cuối của dây chuyền sản xuất

- Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với vấn đề ô nhiễm môi trường trong ngành chế biến gỗ

Để thực hiện sản xuất sạch hơn trong công nghiệp chế biến gỗ, việc nghiên cứu thực trạng nhận thức của những người đang trực tiếp sản xuất trong ngành công nghiệp này là rất quan trọng

Trang 30

1.7 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Tìm hiểu các nguồn gây ô nhiễm của nhà máy ảnh hưởng đến quá trình

sản xuất ván ghép thanh tại công ty chế biến gỗ ALPHA

- Đưa ra một số tiêu chí giảm thiểu bụi, keo, nước thải và tiếng ồn trong quá trình sản xuất ván ghép thanh

- Đề xuất phương án thực hiện sản xuất sạch hơn trong sản xuất ván ghép thanh

1.8 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Khảo sát dây chuyền sản xuất ván ghép thanh tại cty chế biến gỗ ALPHA

- Đưa ra những giải pháp giảm thiểu ô nhiễm do bụi, keo, nước thải và tiếng ồn ảnh hưởng đến môi trường

1.9 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1.9.1 Đối tượng nghiên cứu

Thực hiện sản xuất sạch hơn trong sản xuất ván ghép thanh tại công ty chế biến gỗ ALPHA

Trang 31

- Đề xuất các giải pháp về kỹ thuật công nghệ và máy móc thiết bị nhằm giảm thiểu ô nhiễm

1.10 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

1.10.1 Phương pháp nghiên cứu lý thuyết

Thu thập thông tin từ các tài liệu, các công trình nghiên cứu có liên quan đến chế biến gỗ: Phân tích, đánh giá và đưa ra lý thuyết chung về xây dựng các tiêu chí để thực hiện SXSH trong sản xuất ván ghép thanh tại nhà máy chế biến gỗ ALPHA

1.10.2 Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm

- Phương pháp nghiên cứu thông qua khảo sát thực tế và đưa ra kết quả trong quá trình thực hiện SXSH tại nhà máy chế biến gỗ ALPHA

- Phương pháp cơ bản của sản xuất sạch là cải tiến kỹ thuật, tăng cường việc quản lý chặt chẽ doanh nghiệp, tận dụng nguồn tài nguyên và năng lượng, cải tiến hệ thống sản phẩm, sáng tạo và ý tưởng về thiết kế

- Phương pháp thực tế của sản xuất sạch là tính toán và kiểm tra được lượng ô nhiễm thải ra môi trường, tức là thông qua tính toán và kiểm tra sẽ phát hiện được những vị trí tạo ra ô nhiễm, nguyên nhân của nó, đồng thời tiến hành tìm giải pháp loại bỏ hoặc làm giảm lượng ô nhiễm tạo ra nhằm bảo

vệ môi trường và con người, nâng cao lợi ích kinh tế cho các doanh nghiệp

+ Lượng chất phát thải ô nhiễm ra môi trường trong quá trình nhà máy hoạt động sản xuất ván ghép thanh là bụi, để kiểm tra lượng bụi phát ra môi trường nhiều hay ít, tính độc hại của bụi thì nhà máy sử dụng máy Kanomax MP5 đo hàm lượng bụi

Trang 32

Hình 1.2: Máy Kanomax MP5 đo hàm lượng bụi + Lượng ô nhiễm trong môi trường nước được thiết bị so màu phân tích

chất lượng nước, kiểm tra một số chỉ tiêu chất lượng nước như: DO, nồng độ (0C), độ hấp thụ (A)

Máy ProfiLine 197i với bộ khuếch đại tín hiệu tích hợp sẵn cho kết quả đo độ pH chính xác ở độ sâu đến 100 m

Trang 33

Hình 1.3: Thiết bị đo chỉ tiêu ô nhiễm nước và máy ProfiLine 197i đo pH

+ Tiếng ồn gây ra ô nhiễm môi trường có thể sử dụng máy NL-27 để

kiểm tra mức tiếng ồn trong nhà máy

Hình 1.4: Máy NL-27 đo mức tiếng ồn

Trang 34

Chương 2

CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 QUY TRÌNH CÔNG NGHỆ SẢN XUẤT VÁN GHÉP

Những năm gần đây ở nước ta do sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế,

sự gia tăng không ngừng về dân số, mức độ đô thị hóa ngày càng cao làm tăng nhanh nhu cầu về đồ gỗ Ngành chế biến gỗ đang đứng trước thực trạng

bị thiếu nguyên liệu tầm trọng, vì vậy việc chuyển đổi cây gỗ mọc nhanh rừng trồng làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất cộng với việc sử dụng gỗ hợp lý

và có hiệu quả là một trong những vấn đề được quan tâm hiện nay trong chế biến gỗ Các hướng nghiên cứu phục vụ mục đích này là tìm kiếm nguồn nguyên liệu, tìm kiếm loại sản phẩm mới cũng như nâng cao, đổi mới công nghệ, thiết bị để cho ra sản phẩm mới phù hợp với yêu cầu sử dụng

Ván ghép thanh là một loại hình sản phẩm ván nhân tạo, nó xuất hiện từ rất sớm nhưng nó chỉ được phát triển mạnh sau năm 1970, khu vực có khối lượng lớn nhất là Châu Âu, tiếp theo là Châu Mỹ, ở Châu Á thì Nhật Bản là nước sản xuất ván ghép thanh nhiều nhất, sau đó đến Hàn Quốc, Indonesia

Ở Việt Nam ngành sản xuất ván nhân tạo nói chung và ván ghép thanh nói riêng tuy đã được quan tâm, nhưng sản xuất vẩn còn ở quy mô nhỏ Để đáp ứng được dây chuyền sản xuất, tùy vào loại chi tiết của sản phẩm mà nhà máy cần phải sử dụng ván ghép thanh để phục vụ cho cả dây chuyền sản xuất Nguyên liệu để sản xuất ván ghép thanh chủ yếu là tận dụng gỗ có đường kính nhỏ và một số loại gỗ tận dụng khác Nhưng yêu cầu nguyên liệu để sản xuất ván ghép thanh không được mục nát, mối mọt, khuyết tật, mắt chết… phải phân loại gỗ Để đảm bảo yêu cầu nguyên liệu ta cần quan tâm đến các chỉ tiêu về chất lượng như sau:

- Các thanh ghép thành phần phải cùng một loại cây hoặc các cây có tính chất gần giống nhau, không cho phép ghép lẫn gỗ mềm với gỗ cứng;

Trang 35

- Các thanh ghép thành phần cần phải được sấy đến độ ẩm 6 – 12%;

- Vết nứt trên thanh ghép thành phần nhỏ hơn 200 mm, không cho phép mục, mối mọt;

- Nếu thanh ghép có đường kính mắt lớn 10 mm phải được cắt bỏ;

- Hai thanh ghép liền kề nhau không được trùng mạch ghép, khoảng cách các mạch ghép theo chiều dài lớn hơn 50 mm;

- Khe hở giữa các thanh ghép thành phần trên mặt chính nhỏ hơn 1 mm, mặt cạch nhỏ hơn 3 mm

Ván ghép thanh được chia ra thành một số dạng chủ yếu sau:

- Ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt (Laminated board)

- Ván ghép thanh khung gỗ (Veneer spaced lumber)

- Ván ghép thanh lõi đặc có phủ bề mặt (Core plywood/ Block board/ Lamin board);

Ván ghép thanh là loại ván được hình thành từ việc dán ghép từ các thanh gỗ có kích thước nhỏ lại với nhau nhờ chất kết dính trong điều kiện nhất định, tạo thành những tấm ván có kích thước lớn hơn, khả năng sử dụng cao hơn

Ván ghép thanh được sản xuất theo nhiều phương pháp khác nhau dẫn đến chất lượng sản phẩm, ảnh hưởng đến sự co rút, sự liên kết giữa các thanh ghép, khả năng ổn định của ván dẫn đến hiện tượng cong vênh của ván ghép hay hiện tượng bong mối ghép do nội lực co rút sinh ra

Trang 36

Quy trình sản xuất ván ghép thanh lõi đặc không phủ mặt gồm các bước sau:

Hình 2.1: Sơ đồ quy trình công nghệ sản xuất ván ghép thanh

Để đảm bảo chất lượng sản phẩm, quy trình công nghệ sản xuất có một

số yêu cầu sau:

- Các thanh thành phần phải gia công đúng quy cách;

- Đảm bảo độ kín khít khi xếp các thanh ghép lên máy cảo;

- Xếp các thanh ghép liền nhau theo phương pháp đối xứng vòng năm;

- Hai thanh ghép liền nhau không được trùng mạch ghép;

- Chiều dài thanh ghép không hạn chế tùy thuộc vào khả năng tận dụng của gỗ, thông thường chiều dài 170 – 1200 mm;

P = 10 – 15 kgf/cm2

Nguyên liệu gỗ

Tráng keo Bào 2 mặt Ghép dọc

Rong cạnh

Tráng keo Xếp thanh Ghép ngang Xử lý sản phẩm

Trang 37

2.2 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ DÒNG VẬT LIỆU VÀ DÒNG CHẤT THẢI

Trên cơ sở nguyên lý chung của quy trình sản xuất ván ghép thanh phục

vụ cho sản xuất hàng nội thất xuất khẩu của nhà máy chế biến gỗ ALPHA: từ nguyên liệu đầu vào gỗ đã qua tẩm sấy, độ ẩm đạt tiêu chuẩn và sản phẩm đầu

ra là đồ gỗ đã được đóng gói

Từ thực tế sản xuất trên, chúng tôi đề xuất sơ đồ chung về dòng vật liệu

và dòng chất thải trong quá trình sản xuất ván ghép thanh phục vụ cho đồ gỗ nội thất dưới đây

Máy cắt

Máy bào

Máy ripsaw

Máy cảo ghép ngang

Máy cắt, ghép finger

Gia công, Định hình

Nguyên liệu gỗ đã qua tẩm sấy

Dăm bào, Gỗ mẫu,

Gỗ hỏng, VTP

Điện, VTP

Gỗ vụn, Mạt cưa, VTP thải (dây curoa, lưỡi cưa) Dăm bào, VTP thải (dầu nhớt)

Gỗ vụn, Mạt cưa, VTP (dầu nhớt) Keo rơi vãi, VTP

Keo rơi vãi, VTP

Trang 38

Hình 2.2: Sơ đồ dòng vật liệu và các dòng chất thải

Tùy vào sản phẩm mà các chi tiết sẽ qua nhiều công đoạn gia công khác nhau, dây chuyền sản xuất ghế xoay trong quán Bar được thể hiện qua

sơ đồ dòng vật liệu và dòng chất thải như sau:

Lắp ráp, Hoàn thiện

Trang sức

Đóng gói

Nhập kho Bao bì, Vật tư

Sơn, Vecni rơi vãi, Nước thải, VTP

Gỗ hỏng, VTP (keo rơi vãi)

Trang 40

Quy trình sản xuất ghế xoay gồm các bước sau:

Hình 2.4: Sơ đồ quy trình sản xuất ghế xoay

Các tiêu chí về tính chất, dấu hiệu đặc trưng để nhận biết các chất thải

ra, nguồn phát thải trong quá trình sản xuất đồ gỗ xuất khẩu để đề xuất các giải pháp SXSH Trên cơ sở quan điểm về sản xuất sạch hơn thì các quan điểm và cách tiếp cận để xây dựng tiêu chí, sơ đồ dòng vật liệu và dòng các chất thải trong quá trình sản xuất đồ gỗ xuất khẩu

Chà nhám

Định hình

Lắp ráp cụm

Xử lý trám trét

Sơn

Top

Lắp ráp hoàn thiện

Sơn lót

Ngày đăng: 17/07/2021, 09:34

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
8. Đinh Văn Sâm, Trần Văn Nhân (1998), Báo cáo tại Hội nghị môi trường toàn quốc: Thực tế triển khai “Sản xuất sạch hơn” trong quản lý môi trường công nghiệp ở Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực tế triển khai “Sản xuất sạch hơn
Tác giả: Đinh Văn Sâm, Trần Văn Nhân
Năm: 1998
10. Trần Văn Thắng (2011), Báo cáo kết quả nghiên cứu đề tài: “Nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất hàng hóa đồ gỗ xuất khẩu ở Việt Nam” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả đầu tư sản xuất hàng hóa đồ gỗ xuất khẩu ở Việt Nam
Tác giả: Trần Văn Thắng
Năm: 2011
1. Báo cáo chuẩn bị dự án đổi mới sản phẩm bền vững SPIN, VNCPC (2010) Khác
2. Báo cáo kết quả quan trắc chất lượng môi trường Tp. Hồ Chí Minh, (2011) Khác
3. Báo cáo sản xuất sạch hơn trong ngành chế biến gỗ, VNCPC (2011) Khác
4. Dự báo hiệp hội gỗ và lâm sản Việt Nam, (2011) Khác
5. Hợp phần sản xuất sạch hơn trong công nghiệp CPI, (2011), Thực hiện sản xuất sạch hơn tại xí nghiệp chế biến lâm sản Hòa Nhơn Khác
6. Hội thảo sản xuất sạch hơn trong công nghiệp tại tỉnh Quãng Ngãi CPI (2004) Khác
7. Trần Văn Nhân (2004), Nâng cao hiệu quả quản lý môi trường công nghiệp thông qua áp dụng sản xuất sạch hơn Khác
9. Lê Văn Tản (2011), Xây dựng các tiêu chí để thực hiện sản xuất sạch hơn trong công nghiệp chế biến gỗ ở Việt Nam Khác

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w