HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM NGUYỄN TRUNG KIÊN ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ NK4300 TRỒNG TẠI HUYỆN HOÀNH BỒ - TỈNH QUẢNG NINH Người hư
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
NGUYỄN TRUNG KIÊN
ẢNH HƯỞNG CỦA MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM ĐẾN SINH TRƯỞNG VÀ NĂNG SUẤT
CỦA GIỐNG NGÔ NK4300 TRỒNG TẠI HUYỆN HOÀNH BỒ - TỈNH QUẢNG NINH
Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Nguyễn Thế Hùng
NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2016
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng để bảo
vệ lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cám
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Kiên
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được
sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các thầy cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình
Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết
ơn sâu sắc tới thầy PGS TS Nguyễn Thế Hùng đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Ban Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, Bộ môn Cây lương thực, Khoa Nông Học - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp
đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, cán bộ công chức, viên chức Chi cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Quảng Ninh, Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quảng Ninh, Lãnh đạo UBND huyện Hoành Bồ, lãnh đạo UBND xã Sơn Dương đã giúp đỡ và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn./
Hà Nội, ngày tháng năm 2016
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Kiên
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Mục lục iii
Danh mục từ viết tắt v
Danh mục bảng vi
Danh mục hình vii
Trích yếu luận văn .viii
Thesis abstract ix
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu của đề tài 2
Phần 2 Tổng quan tài liệu 3
2.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới và ở việt nam 3
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới 3
2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Việt Nam 5
2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở tỉnh Quảng Ninh 7
2.2 Tình hình nghiên cứu về ngô lai trên thế giới và việt nam 11
2.2.1 Tình hình nghiên cứu về ngô lai trên thế giới 11
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngô lai ở Việt Nam 12
2.3 Tình hình nghiên cứu về mật độ và lượng đạm trồng thích hợp cho cây ngô trong và ngoài nước 14
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về mật độ và lượng đạm trồng thích hợp cho cây ngô ở nước ngoài 14
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về mật độ và lượng đạm trồng thích hợp cho cây ngô trong nước 15
2.3.3 Tình hình nghiên cứu về mật độ và chế độ dinh dưỡng của cây ngô ở tỉnh Quảng Ninh 19
Phần 3 Nội dung và phương pháp nghiên cứu 20
3.1 Nội dung 20
3.2 Vật liệu, địa điểm và thời gian nghiên cứu 20
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu 20
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu 20
3.2.3 Thời gian nghiên cứu 20
3.3 Phương pháp thí nghiệm 21
Trang 53.3.2 Quy trình kỹ thuật canh tác 22
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi 22
Phần 4 Kết quả và thảo luận 26
4.1 Đặc điểm khí khậu và thời tiết vụ xuân năm 2015 tại quảng ninh 26
4.2 Ảnh hưởng của các mật độ và mức đạm khác nhau đến sinh trưởng, khả năng chống chịu sâu bệnh và năng suất của giống ngô nk4300 29
4.2.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng giống ngô NK4300 29
4.2.2 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến các chỉ tiêu về chống chịu và sâu bệnh hại của giống ngô NK4300 47
4.2.3 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến các yếu tố cấu thành năng suất và năng suất của giống ngô NK4300 50
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 59
5.1 Kết luận 59
5.2 Đề nghị 60
Tài liệu tham khảo 61
Trang 6DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Chữ viết tắt Nghĩa tiễng Việt
CIMMYT : The International Maize and Wheat Improvement Center
Cs : cộng sự
FAO : Food and Agriculture Organization
LAI : Leaf Area Index
NSTT : Năng Suất Thực Thu
NN – PTNT : Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn
IPRI : International program Research Institute
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020 3
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ năm 2009 – 2013 4
Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới 5
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013 6
Bảng 2.5 Nhu cầu sử dụng ngô của một số cơ sở chăn nuôi trên địa bàn tỉnh năm 2013 9
Bảng 2.6 Mật độ và khoảng cách trồng ngô tại một số vùng sản xuất ngô của Việt Nam 16
Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh 26
Bảng 4.2 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống ngô NK4300 trên mật độ và lượng đạm trồng trên đất bãi và đất dốc 30
Bảng 4.3 Động thái tăng trưởng chiều cao của giống ngô NK4300 trên mật độ và lượng đạm trồng trên đất bãi và đất dốc 32
Bảng 4.4 Số lá trên cây của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 35
Bảng 4.5 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến chiều cao đóng bắp của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 38
Bảng 4.6 Ảnh hưởng của từng yếu tố mật độ và lượng đạm đến chiều cao đóng bắp của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 39
Bảng 4.7 Chỉ số Lai và ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến chỉ số Lai của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi 41
Bảng 4.8 Chỉ số Lai và ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến chỉ số Lai của giống ngô NK4300 trồng trên đất dốc 43
Bảng 4.9 Trạng thái cây và bắp của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 45
Bảng 4.10 Khả năng chống đổ và mức độ nhiễm sâu bệnh của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 48
Bảng 4.11 Các yếu tố cấu thành bắp của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 51
Bảng 4.12 Năng suất thực thu của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 51
Bảng 4.13 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến các chỉ tiêu cấu thành bắp, năng suất và NSTT của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 52
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 4.1 Nhiệt độ 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh 27
Hình 4.2 Độ ẩm trung bình của 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh 27
Hình 4.3 Tổng lượng mưa của 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh 28
Hình 4.4 Tổng giờ nắng của 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh 29
Hình 4.5 Động thái tăng số lá trên cây của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi 36
Hình 4.6 Động thái tăng số lá trên cây của giống ngô NK4300 trồng trên đất dốc 37
Hình 4.7 Chiều cao cây và chiều cao đóng bắp của giống ngô NK4300 trồng trên đất bãi và đất dốc 38
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Nguyễn Trung Kiên
Tên luận văn: Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô NK4300 trồng tại huyện Hoành Bồ - Tỉnh Quảng Ninh
Phương pháp nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: giống ngô NK4300
Thí nghiệm có 8 công thức gồm hai nhân tố: 4 mật độ (5,9 vạn cây/ha; 6,6 vạn cây/ha; 7,5 vạn cây/ha; 8,7 vạn cây/ha) và 2 mức đạm (120kgN/ha và 150kgN/ha) được sắp xếp theo kiểu khối ngẫu nhiên hoàn chỉnh RCB với 3 lần nhắc lại Diện tích của thí nghiệm là 288m2 bố trí trồng trên đất bãi và đất dốc
Kết quả chính và kết luận
Trên cả đất bãi và đất dốc, chiều cao cây đạt cao nhất khi trồng với mật độ 8,7 vạn cây/ha và bón đạm ở mức 150 kg N/ha và thấp nhất là của công thức trồng với mật
độ 5,9 vạn cây/ha và bón đạm ở mức 120 kg N/ha
Đối với cả hai loại đất khi trồng với mật độ 6,6 vạn cây/ha và liều lượng đạm là
150 kg N/ha thì chỉ số LAI đạt cao nhất và khi trồng với mật độ 5,9 vạn cây/ha và liều lượng đạm là 120 kg N/ha thì chỉ số LAI là thấp nhất
Mức độ nhiễm sâu bệnh của thí nghiệm: trên cả hai loại đất ở mật độ dày 7,5 và 8,7 vạn cây/ha và liều lượng đạm là 150 kg N/ha mức độ nhiễm sâu bệnh cao hơn khi trồng ở mật độ thưa 5,9 và 6,6 vạn cây/ha và liều lượng đạm là 120 kg N/ha
Yếu tố cấu thành năng suất với mật độ thưa (5,9 vạn cây/ha) và liều lượng đạm cao (150 kg N/ha) thì bắp to, dài và khối lượng nghìn hạt cao hơn so với khi trồng ở mật
độ dày (8,7 vạn cây/ha) và liều lượng đạm ở mức thấp (120 kg/ha) Trên đất bãi, NSTT đạt cao nhất ở mật độ trồng 6,6 vạn cây/ha và liều lượng đạm 120kg N/ha (dao động từ 58,1 – 66,2tạ/ha), còn trên đất dốc NSTT đạt cao nhất ở mật độ trồng 6,6 vạn cây/ha với liều lượng đạm là 150 kg N/ha (dao động từ 54,5 – 65,8 tạ/ha) Khi trồng giống ngô trên đất bãi bắp to, dài, hạt to hơn khi trồng trên đất dốc
Trang 10THESIS ABSTRACT
The Experiment determines the influence of density and nitrogen on the growth and yield of corn variety NK4300 growing on alluvial land and slope land for spring season in Son Duong commune, Hoanh Bo district, Quang Ninh province
The experiment consists of 2 factors: 4 densities (59 thousand plants/ hectare ;
66 thousand plants/hectare; 75 thousand plants/hectare: 8,7 thousand plants/hectare) and
2 levels of nitrogen (120 kg Nitrogen/hectare and 150 kg Nitrogen/hectare) The experiment was set up by Randomized Complete Design – RCB with 3 repeats The experimental area is 288m2 arranged and planted on alluvial land and slope land
On alluvial land and slope land , height of plant reaches at the top at the density of 87 thousand plants /hectare and the nitrogen level for 150 kg Nitrogen/hectare , and the lowest number belongs to the density of 59 thousand/hectare and nitrogen level for 120 kg Nitrogen/hectare
For both soils, when planted at a density of 6.6 thousand plants/hectare and 150 kg/hectare reached the highest LAI and density while planting at a density of 59 thousand plants/hectare and 120 kg the Nitrogen/hectare is the lowest
The level of pest infestation of the experiment: on the ground in both 75 and 87 thousand plants/hectare and 150 kg Nitrogen/hectare the number of plants affected by insects are higher compared with the density of 59 and 66 thousand plants/hectare and
120 kg Nitrogen/hectare
Yield components with low density (59 thousand plants/hectare ) and high nitrogen level (150 kg N/ha) lead to the loud corn , long and thousand grain weight of seeds is higher than when growning in higher density (87 thousand plants/hectare) and protein with a low nitrogen (120 kg/hectare) On the alluvial land, NSTT highest in density 66 thousand plants/hectare and 120kg nitrogen/hectare (ranging from 58.1 to 66.2 kg/ha), also closed higher on slopes NSTT at least 66 thousand plants density/hectare , nitrogen of 150 kg N/ha (ranging from 545 to 658 kg/hectare ) Planting corn on alluvial land can certainly lead to long and big corn, larger seeds compared with planting on slope land
Trang 11PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 ĐẶT VẤN ĐỀ
Cây ngô (Zea mays L) là một trong ba cây lương thực quan trọng trong
nền kinh tế toàn thế giới Ở các nước thuộc Trung Mỹ, Nam Á và Châu Phi, người ta sử dụng ngô làm lượng thực chính Không chỉ cung cấp lượng thực cho con người, ngô còn là nguồn thức ăn cung cấp cho chăn nuôi, là nguyên liệu cho ngành công nghiệp chế biến trên toàn thế giới Hiện nay 66% sản lượng ngô của thế giới được dùng làm thức ăn cho chăn nuôi, trong đó các nước phát triển là 76% và các nước đang phát triển là 57% Tuy chỉ có 21% sản lượng ngô được dùng làm lượng thực cho con người nhưng nhiều nước vẫn coi ngô là cây lương thực chính, như: Mêxicô, Ấn Độ, Philipin Ở Ấn Độ có tới 90% sản lượng ngô, ở Philipin có 66% sản lượng ngô được dùng làm lương thực cho con người (Dương Văn Sơn và cs, 1997) Chính nhờ những vai trò quan trọng của cây ngô trong nền kinh tế thế giới nên trong hơn 40 năm gần đây, ngành sản xuất ngô thế giới tăng liên tục và giữ vị trí hàng đầu về năng suất và sản lượng trong những cây lương thực chủ yếu Năm 1961 diện tích trồng ngô chỉ đạt khoảng 105,48 triệu
ha với tổng sản lượng là 205,00 triệu tấn, nhưng đến năm 2007 diện tích trồng ngô đã đạt 157,87 triệu ha với sản lượng 784,81 triệu tấn (theo thống kê của FAO, 2008)
Ở Việt Nam, ngô là cây lương thực có vị trí quan trọng được trồng ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Theo thống kê 2007, diện tích trồng ngô cả nước là 1.072,6 nghìn ha, năng suất đạt 39,6 tạ/ha và sản lượng đạt 4.250,9 nghìn tấn Năm 2010, diện tích ngô cả nước 1126,9 nghìn ha, năng suất 40,9 tạ/ha, sản lượng trên 4,6 triệu tấn
Ngày nay, ở Việt Nam, việc sử dụng các giống ngô lai để tăng năng suất
đã trở nên phổ biến và được trồng rộng rãi ở khắp mọi nơi Trong đó, giống ngô lai NK4300 là giống có nguồn gốc từ Thái Lan với thời gian sinh trưởng trung bình, khả năng chống đổ, chống úng và hạn tốt và tiềm năng năng suất cao (80 –
100 tạ/ha) đang được trồng ở nhiều địa phương
Bên cạnh việc sử dụng các giống ngô lai để tăng năng suất ngô, các biện pháp canh tác, kỹ thuật cũng được chú trọng, cải tiến Trong đó, một hướng đi mới hiện nay là tăng mật độ gieo trồng bằng cách thu hẹp khoảng cách giữa các
Trang 12hàng và khoảng cách giữa các cá thể, và nghiên cứu để chọn liều lượng đạm phù hợp cho từng giống ngô, từng mật độ và từng vùng trồng
Huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh là một huyện miền núi với nhiều loại địa hình khác nhau, ngô được trồng trên đất dốc vùng núi, trung du và đồng bằng ven biển Để từng bước ứng dụng kỹ thuật mới để tăng năng suất và nâng cao hiệu quả kinh tế sản xuất ngô tại địa phương, chúng tôi tiến hành đề tài nghiên
cứu: “Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến sinh trưởng và năng suất của giống ngô NK4300 trồng tại huyện Hoành Bồ - Tỉnh Quảng Ninh”
1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI
- Xác định ảnh hưởng của mật độ trồng và lượng phân đạm đến sinh trưởng, phát triển, khả năng chống chịu và năng suất của giống ngô NK4300 trồng tại Huyện Hoành Bổ, tỉnh Quảng Ninh
- Lựa chọn mật độ trồng và lượng phân đạm thích hợp bổ sung vào quy trình thâm canh giống ngô NK4300 tại Quảng Ninh
Trang 13PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NGÔ TRÊN THẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM
2.1.1 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô trên thế giới
Cây ngô là một trong những cây lương thực chính trên thế giới, được sử dụng trong nhiều mục đích như lương thực cho con người, thức ăn cho gia súc, gia cầm, nguyên liệu cho ngành chế biến thực phẩm, …
Trong những năm gần đây nhu cầu tiêu thụ ngô cho các lĩnh vực tiếp tục tăng Theo dự báo của Viện nghiên cứu chương trình lương thực thế giới (2003), vào năm 2020 tổng nhu cầu ngô thế giới là 852 triệu tấn, trong đó 15% dùng làm lương thực, 69% dùng làm thức ăn chăn nuôi, 16% dùng làm nguyên liệu cho công nghiệp Ở các nước phát triển chỉ dùng 5% ngô làm lương thực nhưng ở các nước đang phát triển sử dụng 22% ngô làm lương thực Đến năm 2020, nhu cầu ngô thế giới tăng 45% so với nhu cầu năm 1997, chủ yếu tăng cao ở các nước đang phát triển (72%), riêng Đông Nam Á nhu cầu tăng 70% so với năm 1997, sở dĩ nhu cầu ngô tăng mạnh là do dân số thế giới tăng, thu nhập bình quân đầu người tăng nên nhu cầu thịt, trứng, sữa tăng mạnh dẫn đến đòi hỏi lượng ngô dùng cho chăn nuôi tăng Tại các nước phát triển ở Châu Âu và Bắc Mĩ gần 90% ngô được dùng trong chăn nuôi Trên thế giới 70% sản lượng ngô dùng làm thức ăn gia súc
Bảng 2.1 Dự báo nhu cầu ngô thế giới đến năm 2020
(triệu tấn)
2020 (triệu tấn) % thay đổi
Trang 14Trước nhu cầu tiêu thụ của thị trường và do có nền di truyền rộng và thích ứng với nhiều vùng sinh thái khác nhau nên cây ngô được trồng hầu hết ở các nước trên thế giới Và từ những năm cuối của thế kỉ 20, với sự ứng dụng rộng rãi ưu thế lai trong chọn tạo giống cùng với việc cải tiến, thay đổi các biện pháp thâm canh, nghề trồng ngô đã có những bước tiến vượt bậc, phần nào đáp ứng được nhu cầu
về cây ngô Qua bảng 2.2 cho thấy: hiện nay, sản xuất ngô trên thế giới tăng lên không ngừng cả về diện tích và năng suất, dẫn đến sản lượng tăng Trong vòng 5 năm gần đây (2009 – 2013), diện tích tăng từ 158,74 triệu ha lên 185,12 triệu ha; năng suất năm 2009 là 5,17 tấn/ha nhưng đến năm 2013 là 5,50 tấn/ha, tăng 0,33 tấn/ha Do đó, sản lượng cũng tăng nhanh từ 820,20 triệu tấn lên 1018,11 trong vòng 5 năm (FAOSTAT, 2015)
Bảng 2.2 Tình hình sản xuất ngô trên thế giới từ năm 2009 – 2013
(Triệu ha)
Năng suất ( Tấn/ha)
Sản lượng (Triệu tấn)
Ấn Độ Mặc dù, năng suất của Ấn Độ thấp hơn của Mexico nhưng do diện tích của Ấn Độ lớn hơn nên sản lượng của Ấn Độ cao hơn Mexico Năng suất của Đức và Italia tuy cao hơn một số nước nhưng do diện tích trồng ít hơn hẳn nên sản lượng vẫn thấp hơn các nước ở tốp trên Tuy Israel là nước có diện tích ít nhất trong số các nước trên nhưng năng suất lại cao nhất thế giới, cao gấp hơn 2 lần năng suất của nước Mỹ Số liệu chi tiết được thể hiện qua bảng 2.3
Trang 15Bảng 2.3 Tình hình sản xuất ngô của một số nước trên thế giới
2.1.2 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở Việt Nam
Ở nước ta, nhu cầu sử dụng ngô rất lớn Cây ngô là cây lương thực chính thứ hai sau lúa nước Ở một số vùng thì ngô lại là cây lương thực chính như nhân dân các dân tộc vùng Tây Bắc và Đông Bắc sử dụng 50% – 60% ngô trong các bữa ăn hàng ngày, có một số nơi người dân ăn ngô từ 5 – 6 tháng liền (Ngô Hữu Tình, 2003) Ngoài vai trò làm lương thực cho người (17%), thì lượng lớn ngô được làm thức ăn cho chăn nuôi (gần 70%) và một lượng nhỏ làm nguyên liệu cho các ngành công nghiệp thực phẩm, dược phẩm và công nghiệp nhẹ khác (khoảng 10%) (Ngô Hữu Tình, 2009)
Cùng với sự tiến bộ của toàn thế giới, việc phát triển sản xuất ngô của Việt Nam trong vài thập niên cuối của thế kỉ 20 cũng thu được những kết quả quan trọng Nhờ có những chính sách khuyến khích của Đảng và Nhà nước trong việc áp dụng thành công những tiến bộ khoa học kĩ thuật về giống, kĩ thuật canh tác vào sản xuất nên cây ngô đã có những bước tiến mạnh về diện tích, năng suất
và sản lượng Năng suất ngô Việt Nam đến cuối những năm 1970 chỉ đạt 10 tạ/ha
do trồng các giống ngô địa phương với kỹ thuật canh tác lạc hậu Từ giữa những năm 1980, nhờ hợp tác với CIMMYT, nhiều giống ngô cải tiến đã được trồng ở nước ta, góp phần đưa năng suất lên gần 15 tạ/ha vào đầu những năm 1990 Tuy nhiên, ngành sản xuất ngô nước ta thực sự có những bước tiến nhảy vọt là từ đầu những năm 1990 đến nay, gắn liền với việc mở rộng giống lai và cải thiện các
Trang 16biện pháp kỹ thuật canh tác Năm 1991, diện tích trồng giống lai chưa đến 1% trên hơn 400 nghìn ha trồng ngô, năm 2007 giống lai đã chiếm khoảng 95% trong
số hơn 1 triệu ha Năm 1994, sản lượng ngô Việt Nam vượt ngưỡng 1 triệu tấn, năm 2000 vượt ngưỡng 2 triệu tấn
Sản xuất ngô ở nước ta có được sự phát triển như ngày hôm nay cũng đã phải trải qua nhiều bước tiến Sản xuất có thể được chia thành 3 giai đoạn chính Giai đoạn 1: trước năm 1975, do điều kiện kinh tế khó khăn, tình hình đất nước chưa thống nhất nên cây ngô chưa được chú trọng, khi đó, diện tích đạt 229 nghìn ha, năng suất đạt 1,14 triệu tấn/ha, với sản lượng bình quân 260,1 nghìn tấn/ năm Giai đoạn 2: từ năm 1975- 1994, diện tích trồng ngô tăng chậm, từ 229,2 ha (1975) lên 534,6 nghìn ha (1994) Đầu những năm 1990, ngành sản xuất ngô Việt Nam thực sự có những bước tiến nhảy vọt, gắn liền với việc sử dụng giống ngô lai vào sản xuất, đây là bước chuyển tiếp quan trong chương trình phát triển ngô lai ở Việt Nam - từ giống ngô thụ phấn tự do sang giống ngô quy ước Diện tích trồng ngô tăng nhanh cùng với đó là sự tăng mạnh về năng suất và chất lượng Năm 2008 và 2009, năng suất và sản lượng ngô cao nhất từ trước đến nay, năng suất đạt từ 4,01- 4,03 nghìn tấn/ha, sản lượng 4381,8 – 4573,1 nghìn tấn trên diện tích 1086,8 – 1140,2 nghìn ha Như vậy, diện tích tăng trên 2,5 lần, sản lượng tăng trên 6,5 lần so với năm 1990 khi chưa sử dụng ngô lai trong sản xuất Trong những năm gần đây, diện tích, năng suất và sản lượng của cây ngô tăng lên không ngừng (bảng 2.4) Đến năm 2013, diện tích trồng là 1170,3 nghìn ha, năng suất đạt 44,4 tạ/ha và sản lượng lên tới 5,2 triệu tấn ( nguồn FAOSTAT, 2015)
Bảng 2.4 Tình hình sản xuất ngô ở Việt Nam giai đoạn 2008 – 2013
Trang 17Mặc dù diện tích và sản lượng ngô hiện nay của nước ta đang có xu hướng tăng nhưng sản xuất ngô trong nước vẫn chưa đáp ứng đủ nhu cầu, hàng năm nước ta phải nhập khẩu lượng lớn ngô nguyên liệu cho chế biến thức ăn chăn nuôi Nhà nước đã có nhiều cơ chế chính sách hỗ trợ giống đã khuyến khích các doanh nghiệp trong và ngoài nước sản xuất, cung cấp giống, giới thiệu các giống mới có năng suất, chất lượng tốt vào sản xuất, nhiều tiến bộ khoa học kỹ thuật về sản xuất ngô đã được chuyển giao đến người nông dân
Ở Việt Nam, cây ngô được trồng khắp đất nước với nhiều vụ khác nhau
Do mỗi vùng niềm có điều kiện đất đai và khí hậu khác nhau nên sản xuất ngô được chia thành 6 vùng trồng ngô chính: 1 Vùng đồng bằng bắc bộ; 2 Vùng Việt bắc và Đông bắc bộ; 3 Vùng Tây bắc bắc bộ; 4 Vùng Nam Trung bộ; 5 Vùng Tây nguyên; 6 Vùng đồng bằng sông Cửu Long
Mỗi vùng có điều kiện tự nhiên, đặc điểm đất đai khác nhau nên việc sản xuất ngô cũng có sự khác nhau, có vùng thuận lợi và có vùng khó khăn, nhất là các vùng miền núi, đất đai không bằng phẳng, đi lại không thuận tiện nên việc cơ giới hóa gặp khó khăn Nhưng với sự phát triển sản xuất ngô ở nước ta hiện nay,
sự quan tâm, đầu tư của nhà nước, nền sản xuất ngô của nước ta sẽ tiếp tục phát triển, hướng tới sản xuất đồng đều ở các vùng miền, nhất là các vùng khó khăn
Để cây ngô Việt Nam phát triển một cách bền vững, đáp ứng trên 80% nguyên liệu chế biến thức ăn chăn nuôi và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho người sản xuất, việc đánh giá đúng thực trạng sản xuất ngô, đưa ra các giải pháp
cụ thể nhằm mở rộng diện tích trồng ngô và đưa các giống ngô lai có năng suất, chất lượng tốt vào sản xuất là điều hết sức cần thiết trong giai đoạn hiện nay
2.1.3 Tình hình sản xuất và tiêu thụ ngô ở tỉnh Quảng Ninh
Cũng như các tỉnh thành trên Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng, ngô cũng là cây lương thực quan trọng thứ 2 sau lúa Ngô chủ yếu được trồng trên vùng đất trồng cây hàng năm bao gồm: Trồng trên đất 2 vụ lúa + 1 vụ ngô, 1 vụ lúa + 1 vụ ngô, đất trồng màu, đất chuyên trồng ngô, Diện tích gieo trồng của tỉnh hàng năm ở mức ổn định là khoảng 6 nghìn ha, cao nhất vào năm
2008 lên tới 6,8 nghìn ha Hiện nay, với việc cải tiến các biện pháp canh tác, đưa các giống mới cho năng suất cao như NK4300, NK6654, NK66, vào gieo trồng nên năng suất ngô của tỉnh không ngừng tăng Năm 2006 năng suất ngô đạt
Trang 1830,0 tạ/ha đến năm 2012 đạt 40 tạ/ha và sơ bộ đến năm 2013 đạt 56 tạ/ha Do đó, sản lượng ngô cũng tăng, sản lượng trung bình hàng năm đạt trên 22 nghìn tấn/năm, cao nhất là 24,0 nghìn tấn vào năm 2010 (Số liệu thống kê, 2013) Tiềm năng tiêu thụ ngô của tỉnh Quảng Ninh là rất lớn Qua bảng 2.5 cho thấy chỉ với 10 đơn vị chăn nuôi tập trung trên đã tiêu thụ hết khoảng 64% tổng lượng ngô sản xuất hàng năm của toàn tỉnh Trong khi đó, hiện tại ngô được sử dụng trong thức ăn chăn nuôi trên địa bàn tỉnh vẫn chủ yếu được mua từ các đại
lý phân phối, nhập nội và công ty chế biến thức ăn chăn nuôi, thông qua các đại
lý hoặc các tư thương ngoài tỉnh thu mua gom lại, sấy khô rồi cung cấp cho các
cơ sở chế biến thức ăn chăn nuôi, như: Công ty CP Group, Proconco và AFC Hải Dương, thu mua chế biến (lượng ngô được thu gom chủ yếu ở các Sơn La, Hòa Bình, Lai Châu)
Riêng Công ty Thiên Thuận Tường hàng năm phải nhập hàng ngàn tấn ngô
từ các tỉnh Sơn La, Lai Châu, thậm chí cả nước ngoài Trong khi đó điều kiện phát triển cây ngô ở Quảng Ninh lại rất thuận tiện Đất đai khí hậu phù hợp với nhiều giống ngô cao sản hiện có tại Việt Nam, năng suất luôn ổn định từ 5-7 tấn/ha, thời vụ gieo trồng thì đa dạng có thể làm được 3 vụ/năm Bà con nông dân miền núi có truyền thống trồng ngô từ lâu đời hiểu rõ cách chăm sóc, bón phân và phòng trừ sâu bệnh hại, giá ngô hiện tại trên thị trường Quảng Ninh luôn
ổn định giao động ở mức trên dưới 5.000 đ/kg, thế nhưng diện tích ngô của Quảng Ninh vẫn còn rất thấp so với tiềm năng
Trang 19Bảng 2.5 Nhu cầu sử dụng ngô của một số cơ sở chăn nuôi
trên địa bàn tỉnh năm 2013
3 Công ty CP Đầu tư và Phát triển nông
nghiệp Đông Triều
7 Trại trứng gà Tân An (Quảng Yên) Gà siêu trứng 1.850,55
8 Trại gà thịt Hà An (Quảng Yên) Gà thịt 1.105,92
9 Công ty CP giống vật nuôi và cây trồng
Trang 20Huyện Hoành Bồ của tỉnh Quảng Ninh có địa hình đa dạng với các địa
hình như miền núi, trung du và đồng bằng ven biển, tạo ra một sự kết hợp giữa phát triển kinh tế miền núi, kinh tế trung du và kinh tế ven biển Huyện Hoành Bồ có các địa hình chính như sau:
+ Địa hình núi thấp có độ cao từ 500m đến 1.090m ở các xã Đồng Sơn, Kỳ Thượng chiếm khoảng 12% diện tích tự nhiên Vùng núi có độ dốc >350, độ chia cắt từ 3,5 - 4,5 km/km2 nên quá trình xói mòn diễn ra mạnh
+ Địa hình đồi chiếm khoảng 70% diện tích tự nhiên có độ cao từ 500m, đồi sắp xếp dạng bát úp và cấu tạo bởi đá lục nguyên, phân bố theo hướng Đông tây, độ dốc từ 12 – 350, một số khối đá vôi có cấu tạo dốc đứng, phân bổ rải rác trong khu vực đồi Địa hình đồi có một độ chia cắt trung bình từ 3,2 - 4,5km/km2 Quá trình phong hoá và xói mòn đều diễn ra mạnh ở địa hình đồi nên lớp phủ thổ nhưỡng thường có tầng dày mỏng đến trung bình
20m-+ Địa hình thung lũng chiếm 8% diện tích, thường hẹp, dốc với cấu tạo chữ
+ Nhiệt độ không khí trung bình từ 22 - 290C, cao nhất 380C, thấp nhất
50C Nhìn chung, nhiệt độ phân bố đồng đều giữa các tháng, mùa hè nhiệt độ biến đổi từ 26 - 280C, mùa đông 15 - 210C Lượng nhiệt trên cũng đủ cung cấp cho cây trồng lương thực, màu và cây công nghiệp
+ Lượng mưa trung bình năm khá lớn 2.016 mm, năm mưa cao nhất 2.818 mm, thấp nhất 870 mm Mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, chiếm tới 89% tổng lượng mưa năm Mùa khô từ tháng từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau, tháng ít mưa nhất là tháng 12 + Độ ẩm không khí trung bình năm là 82%, thấp nhất 18% Độ ẩm trong năm chênh lệch không lớn thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp, song cũng ảnh hưởng không tốt cho việc chế biến và bảo quản thức ăn, gia súc, giống cây trồng
Trang 21Hiệu quả trồng các giống ngô năng suất cao NK4300, NK6654, NK66, tại các địa phương cho thấy hiệu quả kinh tế cao hơn hẳn so với việc trồng lúa, nhất là đối với vùng núi khi hầu hết diện tích gieo trồng nguồn nước phải phụ thuộc vào nước mưa Hiệu quả trồng ngô cao sản có thể cho lãi khoảng 490.000 đồng/sào (≈14 triệu/ha), trong khi gieo trồng lúa tại những vùng này hầu như không có lãi hoặc lấy công chăm sóc làm lãi, việc duy trì cấy lúa chủ yếu nhằm đảm bảo an ninh lương thực tại các địa phương
2.2 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ NGÔ LAI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM 2.2.1 Tình hình nghiên cứu về ngô lai trên thế giới
Các nhà di truyền, cải lương giống ngô Mỹ đã sớm thành công trong việc chọn lọc và lai tạo giống cây trồng này Vào cuối thế kỉ 19, Mỹ đã có 770 giống ngô chọn lọc cải lương Theo E Rinke (1979), việc sử dụng giống ngô lai ở Mỹ bắt đầu từ năm 1930, giống lai ba và lai kép được sử dụng cho đến năm 1957, sau
đó giống lai đơn cải tiến và lai đơn đã được tạo ra và sử dụng, chiếm 80 – 85% tổng số giống lai (trích dẫn theo Trần Hồng Uy, 1985) Hiện nay, Mỹ là nước có diện tích trồng ngô lớn nhất thế giới và 100% diện tích trồng bằng ngô lai, trong
đó hơn 90% là giống lai đơn Năng suất ngô tăng từ 1,5 tấn/ha năm 1930 đến 7
tấn/ha vào những năm 90 (S.K Vasal et al., 1990) Theo tính toán của Duvick
(1990), mức tăng năng suất ngô của Mỹ trong giai đoạn 1930 – 1986 là 103 kg/ha/ năm, trong đó đóng góp do cải tiến di truyền là 63 kg/ha/ năm Năm 1997 – 1999, năng suất ngô trung bình của Mỹ là 8,3 tấn/ha trên diện tích là 29,1 triệu
ha (CIMMYT, 1999/2000), đứng vào hàng ngũ các nước có năng suất ngô cao nhất thế giới
Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở châu Âu bắt đầu muộn hơn ở Mỹ 20 năm và đã đạt được thành công rực rỡ Tỷ lệ sử dụng ngô lai ở châu Âu rất lớn và
nó đã góp phần tạo nên năng suất cao ở nhiều nước (S K Vasal et al 1999)
Theo Tomov, N (1979), công tác tạo dòng thuần và giống lai ở Bungaria được bắt đầu từ năm 1951 Năm 1956 – 1958 những giống lai kép đầu tiên là VIR –
42, Wiscosin – 641 và Ohio – 92 đã được thử nghiệm và khu vực hóa Giống lai đơn đầu tiên được đưa vào sản xuất năm 1956 là SK – 4, và sau đó một số lượng lớn giống lai giữa các dòng thuần được tạo ra và đưa ra thử nghiệm Theo CIMMYT 1999/2000, năm 1997 – 1999, một số nước có năng suất ngô bình quân cao là Italia 9,6 tấn/ha, Bỉ 9,5 tấn/ha, Tây Ban Nha 9,3 tấn/ha, Hylap 9,2 tấn/ha, Pháp 8,8 tấn/ha
Trang 22Việc nghiên cứu tạo giống ngô lai ở một số nước đang phát triển bắt đầu
từ những năm đầu thập kỉ 60 như Achentina, Braxin, Colombia, Chile, Mehico,
Ấn Độ, Paskistan, Hy lạp, Kenya, Tanzania và một số nước ở Trung Mỹ Trong thời kì 1966 – 1990 có xấp xỉ 852 giống ngô được tạo ra, trong đó 59% là giống thụ phấn tự do, 27% là giống lai quy ước, 10% là giống ngô lai không quy ước và
4% là các giống khác (S K Vasal et al., 1999) Từ con số trên cho thấy số giống
lai ít hơn giống thụ phấn tự do Nhìn chung, ở các nước đang phát triển, tác dụng của giống lai chậm và không rõ lắm (trừ một số nước như Achentina, Braxin, Chile, Thổ Nhĩ Kì, Zimbabwe, Kenya, Hy lạp, Mehico và Ấn Độ)
Ngô lai đang tiến triển tốt đẹp ở Trung Quốc Có thể nói Trung Quốc là một cường quốc ngô lai châu Á, với diện tích 25 triệu ha, năng suất 4,9 tấn/ha Sản lượng ngô hàng năm trên 120 triệu tấn đứng thứ hai trên thế giới sau Mỹ Giống ngô lai được đưa vào Trung Quốc từ những năm 60, giống lai đơn đưa vào
từ những năm cuối của thập kỉ này (S K Vasal et al., 1999) Năm 1992, có 27
giống ngô lai được gieo trồng trên diện tích 100.000 ha (CIMMYT, 1993) Đến năm 1999, giống lai đơn chiếm trên 90% diện tích ngô Năng suất ngô bình quân của Trung Quốc đã tăng từ 1.5 tấn/ha những năm 50 đến 4,9 tấn/ha năm 1999 (CIMMYT, 1999/2000)
Theo báo cáo của P Trakoontiwaakom (1998) (FAO, UNDP, VIE/80/004, 1988), trong sản xuất ngô của Thái Lan từ những năm 1991 đến nay có 70% là giống lai đơn, giống lai đơn cải tiến và lai ba Năm 1999, năng suất ngô bình quân
là 3,6 tấn/ha Trong một vài năm tới Thái Lan sẽ trồng giống lai đơn ở diện rộng
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngô lai ở Việt Nam
Ngay từ những năm 1972 – 1973, các nhà nghiên cứu ngô Việt Nam đã bắt đầu chuẩn bị cho chương trình tạo giống ngô lai và được tập trung cao độ từ năm 1990 đến nay Năm 1992 – 1994, Viện Nghiên cứu Ngô đã lai tạo ra 5 giống ngô lai không quy ước là LS – 3, LS – 5, LS- 6, LS – 7, LS – 8 Bộ giống ngô lai này gồm giống chín sớm, chín trung bình và chín muộn, có năng suất từ 3 – 7 tấn/ha đã được mở rộng nhanh chóng trên phạm vi toàn quốc, mỗi năm diện tích gieo trồng trên 80.000 ha, tăng năng suất 1 tấn/ha so với giống thụ phấn tự do (Trần Hồng Uy,1997)
Từ những năm đầu thập kỉ 90, công tác tạo dòng thuần và giống lai được chú trọng Tuy nhiên trong tập đoàn dòng, phần lớn dòng thuần được tạo ra từ
Trang 23giống địa phương, giống thụ phấn tự do và quần thể, tuy có độ đồng đều cao những sức sống yếu, năng suất thấp, một số giống lai được tạo ra nhưng khó có thể sản xuất hạt giống lai thương mại Những năm gần đây, việc sử dụng nguồn nguyên liệu là giống lai, dạng F2 và Backcross để rút dòng đã đạt hiệu quả cao hơn, tạo ra nhiều dòng ưu tú cho công tác tạo giống lai Hàng loạt giống lai quy ước đã được tạo ra và đưa vào sản xuất như LVN10, LVN5, LVN, LVN12, LVN4 (giống lai đơn cải tiến) LVN 20,LVN 17, LVN23 (ngô rau) Những giống lai này có tiềm năng năng suất từ 5 – 12 tấn/ha, không thua kém các giống ngô lai của các công ty nước ngoài và của Tung Quốc Đặc biệt, giống lai LVN 10 đã được trồng hàng trăm nghìn ha mỗi năm trên khắp cả nước Năm 1999, bốn giống ngô lai chín sớm và chín trung bình là LVN24, LVN25, LVN32, LVN33 được cho phép khu vực hóa rộng (trong đó LVN33 là giống lai ba cải tiến) Như vậy chương trình tạo giống ngô lai của Việt Nam đã từng bước từ giống lai không quy ước đến lai kép, lai ba, lai đơn cải tiến và lai đơn Những thành tích
đó đã đưa chương trình ngô lai của Việt Nam đứng trong hàng ngũ các nước tiên tiến ở châu Á Tỷ lệ diện tích trồng giống lai ở Việt Nam tăng từ 0,1% (1990) lên gần 82% (2008), đưa năng suất bình quân từ 1,5 tấn/ha (1990) lên 3,98 tấn/ha (năm 2008), tổng sản lượng ngô từ 700.000 tấn (năm 1990) lên 4.530.900 tấn (năm 2008) (FAO 2008)
Đến giai đoạn 2000 – 2005, những giống ngô lai Việt Nam sẽ chiếm trên 50% thị phần ngô lai trên toàn quốc (khoảng gần 200.000 ha) làm tăng năng suất ngô rõ rệt Mỗi năm, Việt Nam có khả năng sản xuất 4000 – 5000 tấn hạt giống lai chất lượng cao đáp ứng đủ cho nhu cầu trong nước (Trần Hồng Uy, 1999)
Để đưa ngành sản xuất ngô của Việt Nam theo kịp các nước tiên tiến và đạt năng suất trung bình của thế giới cần phải đẩy mạnh công tác tạo giống ngô lai, không ngừng mở rộng diện tích trồng giống ngô lai và tăng cường đầu tư thâm canh Đến năm 2020, phấn đấu đưa diện tích trồng ngô lên 1,3 – 1,4 triệu
ha, đạt năng suất bình quân 60 – 65 tạ/ha để đáp ứng nhu cầu 7 – 8 triệu tấn ngô vào năm 2020
Ở Việt Nam, cuộc cách mạng về ngô lai đã được Nhà nước, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Khoa học Công nghệ và các tỉnh trong cả nước quan tâm Chính vì vậy trong vòng 10 năm (1990 – 2000) tỉ lệ ngô lai tăng
từ 0% lên tới 65%, và đến năm 2007, tỉ lệ này đã tăng lên 95% trong số hơn 1
Trang 24triệu ha trồng ngô – một tốc độ phát triển rất nhanh trong lịch sử trồng ngô lai trên Thế giới và của châu Á
Hiện nay, các tiến bộ về giống ngô lai mới được người dân tiếp nhận và áp dụng vào sản xuất rất nhanh, giai đoạn 2006 – 2010 đã có rất nhiều giống ngô lai mới có năng suất, chất lượng cao được đưa vào sản xuất Bộ giống ngô lai trong sản xuất rất đa dạng về chủng loại, nguồn gốc, có cả giống nhập ngoại như: NK66, NK 4300, DK 9901, DK8868, … và giống nhập nội như LVN 99, LVN4, LVN145, …
2.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VỀ MẬT ĐỘ VÀ LƯỢNG ĐẠM TRỒNG THÍCH HỢP CHO CÂY NGÔ TRONG VÀ NGOÀI NƯỚC
2.3.1 Tình hình nghiên cứu về mật độ và lượng đạm trồng thích hợp cho cây ngô ở nước ngoài
Các nhà nghiên cứu ngô trên thế giới đã chỉ ra rằng: trong các biện pháp thâm canh nhằm tăng năng suất ngô thì phân bón đóng một vai trò vô cùng quan trọng, nó tạo ra 30,7% năng suất của ngô, còn lại là các yếu tố khác như: mật độ, đất trồng, sâu bệnh,
Nhiều nhà nghiên cứu như Samira và cs (1998) và Torbert và cs (2001) tìm thấy rằng nguyên tố N có tác dụng làm tăng năng suất của cây ngô Lượng đạm bón cho cây khác nhau sẽ tạo ra năng suất khác nhau
Tuy nhiên, nếu bón dư đạm sẽ ảnh hưởng đến sinh trưởng, năng suất của cây ngô Khi dư đạm, lượng carbohydrate có được do quang hợp sẽ được sử dụng
để tổng hợp nguyên sinh chất hơn là thành lập vách tế bào Dư đạm lúc cây ngô ở giai đoạn 3 và 4 của quá trình hình thành cờ cũng làm kiềm hãm quá trình này
Mật độ là một trong những phần canh tác quan trọng để xác định năng suất hạt (Sangoi, 2000) Việc tạo giống chịu mật độ cao là một trong những mục tiêu quan trong của các nhà chọn tạo giống ngô Bằng nhiều phương pháp người
ta đã không ngừng cải thiện được mật độ trồng ngô trên thế giới Theo Banzinger
và cs (2000) và nhiều tác giả khác, các giống ngô lai mới tạo ra hiện nay có khả năng chịu được mật độ cao gấp 2 – 3 lần so với các giống lai tạo ra cách đây 50 năm và có tiềm năng năng suất cao hơn hẳn
Muhammad và cs (2010), khi nghiên cứu ảnh hưởng của mật độ và mức bón đạm đến sinh trưởng và năng suất của cây ngô với các mức thí nghiệm: mật
độ có 3 công thức là 4, 6 và 8 cây/ m2, lượng đạm có 4 công thức là 0, 100, 130
Trang 25và 160 kg N/ha Kết quả cho thấy: ở mật độ 8 cây/ m2 với mức bón đạm 160 kg N/ha cho năng suất ngô cao nhất
Saeid và cs (2010), khi nghiên cứu về mật độ và lượng đạm đối với cây ngô với các mức thí nghiệm: mật độ có 3 công thức là 7, 9 và 11 cây/ m2 và lượng đạm có 3 công thức là 0, 75, 150 kg N/ha Kết quả cho thấy: khi tăng mật
độ và lượng bón đạm năng suất ngô cũng tăng lên
Tuy nhiên, ngô là cây bị ảnh hưởng bởi biến động về mật độ hơn các cây khác trong cùng họ (Almeida và Sangoi, 1996) Ở mật độ thấp, nhiều giống ngô lai hiện đại không đâm chồi hiệu quả và khá thường xuyên cho ra một bắp trên
một cây (Gardner et al., 1985) Mặt khác, việc gieo trồng ngô với mật độ cao làm
tăng cường cạnh tranh giữa các cây về ánh sáng, nước và chất dinh dưỡng Điều này có thể gây ảnh hưởng đến năng suất cuối cùng bởi vì nó kích thích sự phát triển ngọn, gây ra khô khan, và cuối cùng là giảm số lượng bắp trên cây (Sangoi
và Salvador, 1998)
2.3.2 Tình hình nghiên cứu về mật độ và lượng đạm trồng thích hợp cho cây ngô trong nước
2.3.2.1 Tình hình nghiên cứu về mật độ trồng ngô
Ngô là cây ưa sáng nên thời gian chiếu sáng và cường độ ánh sáng của khu vực trồng có ảnh hưởng rất lớn đến việc xác định mật độ và khoảng cách gieo trồng Những nơi thời gian chiếu sáng ít hoặc cường độ ánh sáng yếu thì phải trồng thưa để đảm bảo cho sự sinh trưởng, phát triển của cây và ngược lại ở những nơi cường độ chiếu sáng mạnh, thời gian chiếu sáng nhiều thì có thể tăng mật độ trồng để tăng năng suất
Việc xác định mật độ trồng ngô cũng phụ thuộc nhiều vào thời gian sinh trưởng, đặc điểm hình thái như chiều cao cây, bộ lá (dài ngày, cao cây, lá rậm, … thì trồng thưa; ngắn ngày, thấp cây, lá thoáng hoặc đứng thì trồng dày), theo mùa vụ… (trích theo Phan Xuân Hào, 2009) Bên cạnh đó, theo các kĩ thuật trồng ngô lai hiện nay, mỗi vùng ở nước ta lại có các điều kiện tự nhiên, đất đai khác nhau nên mật độ gieo trồng ngô ở mỗi vùng là khác nhau
Trang 26Bảng 2.6 Mật độ và khoảng cách trồng ngô tại một số
vùng sản xuất ngô của Việt Nam
Nhóm giống Đông bắc, Tây Bắc,
ĐBSH, Bắc Trung bộ Tây Nguyên
Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, ĐBSCL
Khoảng cách (m)
Mật độ (vạn cây/ha)
Khoảng cách (m)
Mật độ (vạn cây/ha)
Khoảng cách (m)
Mật độ (vạn cây/ha) Chín sớm
70 x 22
70 x 25
70 x 28
6,5 5,7 5,1
70 x 22
70 x 25
70 x28
7,0 5,7 5,1 Nguồn: Trích theo Phạm Xuân Hào (2009)
Đối với các giống có thời gian sinh trưởng ngắn có mật độ và khoảng cách trồng dày hơn các giống có thời gian sinh trưởng dài Khu vực Nam Trung bộ, Đông Nam bộ, ĐBSCL và Tây Nguyên do có đặc điểm khí hậu khác với khu vực Đông bắc, Tây Bắc, ĐBSH, Bắc Trung bộ nên có mật độ và khoảng cách trồng khác nhau
Mật độ gieo trồng cũng ảnh hưởng rất lớn đến sự phát triển và năng suất của cây ngô Do đó, các nghiên cứu về mật độ và khoảng cách gieo trồng ngô ở nước ta đã được nghiên cứu từ cách đây khá lâu Những năm 1984 – 1986 Trung tâm Ngô sông Bôi đã trồng giống ngô MSB49 ở các mật độ 9,52 vạn cây/ha; 7,14 vạn cây/ha và 5,7 vạn cây, với 3 mức bón phân khác nhau Kết quả cho thấy: ở mật độ 9,52 vạn cây/ha với mức bón 120 N + 80 P2O5 + 40 K2O cho năng suất cao nhất (55,30 tạ/ha) và ở mật độ 5,7 vạn cây/ha cho năng suất thấp nhất (Phan Xuân Hào, 2007)
Từ năm 2006, Bộ NN – PTNT đã ban hành Hướng dẫn quy trình thâm canh ngô lai, trong đó khuyến cáo, với các giống dài ngày nên trồng với mật độ
từ 5,5 – 5,7 vạn cây/ha, các giống ngắn và trung ngày trồng 6,0 – 7,0 vạn cây/ha với khoảng cách giữa các hàng là 60 – 70 cm Hiện nay, hầu hết các địa phương đều khuyến cáo mật độ gieo trồng từ 5,3 – 5,7 vạn cây/ha, tương ứng với khoảng cách gieo trồng: hàng – hàng là 70cm – 70cm; cây – cây là 22cm – 25cm Trong thời gian gần đây các cơ quan nghiên cứu về cây ngô khuyến cáo: mật độ 6 – 7 vạn cây/ha (vụ Đông là 7 vạn cây/ha; vụ Xuân là 6 vạn cây/ha), hàng – hàng là
50 – 55; cây – cây là 25 – 28 cm các giống tham gia thí nghiệm cho năng suất và hiệu quả kinh tế cao nhất
Trang 27Và theo kết quả của Viện nghiên cứu Ngô từ 2006 – 2008 đã xác định mật
độ phù hợp cho các giống ngô lai là từ 6,7 – 7,5 vạn cây/ha và khoảng cách hàng
là 50 -60 cm Trong đề tài “Nghiên cứu các giải pháp nhằm tăng năng suất và hiệu quả sản suất sản xuất ngô”, vụ xuân 2006, vụ xuân và vụ thu 2007 tại Viện Nghiên cứu Ngô với 7 giống ngô LVN cho thấy 6 giống đạt năng suất cao nhất khi gieo với mật độ mật độ 8 vạn (50 x 25 cm), riêng giống LVN10 đạt năng suất cao nhất khi gieo với mật độ 7 vạn cây/ha (Phan Xuân Hào và cs., 2007)
Thí nghiệm với giống TSB-2 tại Cao Bằng – Bắc Thái trong 2 vụ xuân
1992, 1993 cho thấy mật độ 6,5 và 7 vạn cây/ha cho năng suất cao nhất (Đỗ Tuấn Khiêm, 1995) Tuy nhiên, để phát huy tiềm năng năng suất của giống, cây ngô cần được cung cấp đầy đủ phân bón, nhất là phân đạm (N), khi tăng mật độ gieo trồng Nghiên cứu về mật độ và khoảng cách gieo trồng ngô ở Trảng Bom, Đồng Nai năm 2008 với 3 giống ngô lai LVN61, VN8960 và C919 đã chỉ ra rằng cả 3 giống ngô này cho năng suất cao nhất ở mật độ 7.1 vạn cây/ha với khoảng cách 50cm x 28cm (Mai Xuân Triệu và cs., 2010)
Ở Bắc Giang đã nghiên cứu về mật độ trồng cho giống ngô lai trung ngày C.P.333 qua 2 vụ đông 2010 và 2011 trên cùng một nền phân bón (10 tấn phân chuồng + 135 N + 90 P2O5 + 100 K2O / 1ha) với khoảng cách hàng 50cm, mật độ thích hợp nhất là 7 vạn cây/ha (Đinh Văn Phóng và cs., 2013)
2.3.2.2 Tình hình nghiên cứu về lượng đạm trồng thích hợp cho cây ngô
Phân bón đối với cây ngô rất quan trọng, nó quyết định rất nhiều đến năng suất của cây Đặc biệt là phân đạm Do vậy, ngay từ khi phát triển nghề sản xuất ngô, vấn đề phân bón đã rất được chú trọng và có nhiều nghiên cứu để tìm ra loại phân, liều lượng bón, thời điểm bón thích hợp, … cho sự sinh trưởng phát triển
và tăng năng suất của cây ngô
Lượng phân bón cho cây phụ thuộc rất nhiều yếu tố như chất đất, mùa vụ, giống, Tuy nhiên, Bộ NN và PTNT đã đưa ra khuyến cáo mức bón phân phổ biến hiện đang được áp dụng rộng rãi cho sản xuất là: 100-150 kg urê; 100-200
kg lân super; 50-60 kg Kaliclorua; phân chuồng (tuỳ theo hộ, vùng, …); phân bón được chia làm 3 lần: 1 bón lót, 2 bón thúc
Ngô là một loại cây trồng tạo ra năng suất và chất lượng vật chất lớn trong một vụ trồng Vì vậy, trong suốt quá trình sống, cây ngô hút từ đất một lượng dinh dưỡng rất lớn Để tạo ra 10 tấn ngô trên một ha, cây ngô lấy đi của đất một lượng dinh dưỡng rất lớn: 197 N + 80 P2O5 + 208 K2O (Ngô Hữu Tình, 1997)
Trang 28Trong phạm vi nghiên cứu thuộc chương trình phát triển lương thực, Tạ Văn Sơn (1995) đã nghiên cứu nhu cầu dinh dưỡng cây ngô ở vùng đồng bằng sông Hồng, kết quả thu được như sau:
+ Để tạo ra một tấn hạt, ngô lấy đi của đất lượng đạm, lân, kali là: N= 22,3
kg urê, 360 kg supe lân, 192 kg clorua kali)
Qua các tỉ lệ phân bón trên, chúng ta thấy đạm là phân bón cần thiết và cần nhiều nhất đối với cây ngô Đạm được tích luỹ trong hạt lên tới 66%
Đối với các giống ngô khác nhau thì hiệu suất bón đạm khác nhau Kết quả nghiên cứu bón đạm cho ngô của Đào Thế Tuấn (1978) cho thấy ở Đồng bằng sông Hồng với mức bón đạm 90 kg/ha, hiệu suất bón đạm đối với ngô địa phương là 13 kg ngô hạt/kg N và ngô lai là 18 kg ngô hạt/kg N Bón đến mức
180 kg/ha đã đạt 9 – 14 kg ngô hạt/kg N (dẫn theo Trần Văn Minh, 2004)
Do điều kiện khí hậu ở miền Bắc nước ta có 4 mùa với các thời tiết khác nhau nên lượng đạm bón theo các mùa vụ cũng khác nhau để đảm bảo cho sự sinh trưởng phát triển tốt nhất của cây Trần Hữu Miện (1987) đã chỉ ra rằng để tạo ra 1 tấn ngô hạt trong vụ ngô Đông của miền Bắc cần 25 – 28 kg N, vụ Xuân cần 28 – 32 kg N, vụ Hè thu cần 32 – 35 kg N, vụ Thu đông cần 30 – 32 kg N Lượng bón đạm khác nhau cũng ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và năng suất của cây ngô và lượng đạm cũng thay đổi đối với từng giống khác nhau Thí nghiệm bón N cho giống ngô lai DK – 888 trên đất vùng Tây sông Hậu cho thấy rằng với 2 mức bón 160 kg N/ha và 320 kg N/ha cho năng suất ngang nhau Bón
480 kg N/ha năng suất giảm so với 320 kg N/ha (Nguyễn Công Thành và Dương Văn Chín, 1995)
2.3.2.3 Tình hình nghiên cứu mật độ trồng và lượng đạm bón thích hợp cho cây ngô
Theo Hà Thị Thanh Bình và cs (2011), khi nghiên cứu kết hợp mật độ và lượng đạm bón đến sinh trưởng và năng suất ngô trên đất dốc ở Hà Giang cho thấy: Thí nghiệm 2 yếu tố với 3 mức mật độ: 69,4; 79,3; 92,0 nghìn cây/ha kết hợp với 4 mức đạm bón 90 kg N/ha; 120 kg N/ha; 150 kg N/ha và 180 kg N/ha
Trang 29trên nền 90 P2O5 + 90 K2O Năng suất cao nhất đạt được ở mật độ trồng 92 nghìn cây/ha kết hợp với lượng đạm bón 150 kg N/ha Tăng lượng đạm bón lên 180 kg N/ha năng suất sai khác không có ý nghĩa thống kê
Ở nước ta, lượng bón đạm cho cây ngô đã được nghiên cứu rất nhiều và thường được nghiên cứu kết hợp với các yếu tố dinh dưỡng khác, nhưng không
có nhiều nghiên cứu kết hợp hai yếu tố là lượng bón đạm và mật độ trồng Nên cần có thêm nhiều nghiên cứu về mật độ và lượng đạm đối với cây ngô để tăng năng suất cây trồng, nhằm đáp ứng tốt nhu cầu tiêu thụ của thị trường và mang lại giá trị kinh tế cao cho người sản suất
2.3.3 Tình hình nghiên cứu về mật độ và chế độ dinh dưỡng của cây ngô ở tỉnh Quảng Ninh
Về mật độ khoảng cách: hiện nay, mật độ trồng ngô trên địa bàn tỉnh Quảng
Ninh được xác định căn cứ vào nhiều yếu tố như: đặc tính giống, đặc điểm thổ nhưỡng, khí hậu, thời gian chiếu sáng, cũng như cường độ chiếu sáng Đối với đất tốt hoặc cường độ chiếu sáng yếu thì cần trồng ngô với mật độ thưa Tùy thuộc vào thời gian sinh trưởng và đặc tính của giống ngô mà gieo trồng với mật độ, khoảng cách phù hợp Đối với các giống ngắn ngày (dưới 100 ngày, gồm các giống: MX2, LVN2, LVN24, Bioseed 9681, ) mật độ là 6 - 8 vạn cây/ha, khoảng cách là 60 cm
x 25 cm x 1 cây Đối với giống trung bình (từ 105 – 115 ngày, gồm các giống: Bioseed 9698, C919, NK4300, NK6654, ) mật độ 5 – 7 vạn cây/ha, khoảng cách 70cm x 25cm x 1 cây Đối với giống dài ngày (trên 120 ngày, gồm các giống: LVN10, LVN98, NK54, NK7328, DK888, ) mật độ 4 – 5 vạn cây/ha, khoảng cách
70 – 80cm x 25cm x 1 cây
Về chế độ phân bón: lượng phân bón cho 1ha: phân chuồng từ 10 – 15 tấn,
đạm Ure từ 300 – 400 kg, lân Supe từ 300 – 450 kg, kali clorua từ 120 – 150 kg Cách bón: bón lót: 100% phân chuồng + 100% lân Supe + 1/3 đạm Ure (bón vào rãnh hoặc vào hốc lấp 1 lớp đất mỏng rồi mới gieo hạt) Bón thúc chia thành 2 đợt, đợt 1 bón khi cây ngô có 3 – 4 lá thật, lượng bón gồm 1/3 đạm Ure + 1/ 2 Kali clorua; đợt 2 bón khi cây ngô 7 – 9 lá thật, lượng bón gồm 1/3 đạm Ure + 1/ 2 Kali clorua Lượng đạm bón cho cây được điều chỉnh tùy thuộc vào chất đất, đặc tính giống, điều kiện khí hậu
Nhìn chung, nhu cầu tiêu thụ và sản xuất ngô trên thế giới và Việt Nam có xu hướng tăng nên việc tăng năng suất ngô là một vấn đề cấp thiết Bên cạnh việc sử dụng các giống ngô lai có năng suất cao thì việc tăng mật độ trồng và liều lượng đạm cũng làm tăng năng suất của cây ngô
Trang 30PHẦN 3 NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2 VẬT LIỆU, ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.2.1 Vật liệu nghiên cứu
Giống ngô: Giống NK 4300 là giống có thời gian sinh trưởng trung bình, sinh trưởng khỏe, chiều cao cây trung bình từ 190 – 210 cm, cao đóng bắp từ 75 – 80 cm, độ đồng đều cao Khả năng chống đổ, chống úng và hạn tốt Bắp to, hình trụ, lá bi bao kín bắp, hạt màu vàng cam đậm
Phân bón: Phân chuồng hoai mục, phân vi sinh, Đạm Ure, Supe lân Lâm Thao, Kaliclorua
3.2.2 Địa điểm nghiên cứu
Thí nghiệm được bố trí trên khu đất dốc và đất bãi của người dân tại xã Sơn Dương, huyện Hoành Bồ – tỉnh Quảng Ninh
Đặc điểm của đất dốc: hàm lượng cấp hạt sét trong hành phần cơ giới cao dao động từ 12 – 62%, cấp hạt đá thô trong khoảng 4 – 60% Dung trọng đất hầu hết khá cao, dao động từ 1,08g/ cm3 chứng tỏ đất trồng khá chặt, gây khó khăn cho tính thấm nước của đất, dễ dàng bị rửa trôi và xói mòn đất Độ dốc của đất thí nghiệm là 250
Đặc điểm của đất bãi: là đất thịt nhẹ, giàu dinh dưỡng, giữ nước tốt, địa hình tương đối bằng phẳng
3.2.3 Thời gian nghiên cứu
Thời gian nghiên cứu: thời gian triển khai trồng đồng loạt vào ngày 20/03/2015 Thời gian nghiên cứu tính từ lúc gieo đến khi thu hoạch hết toàn bộ các ô thí nghiệm (từ 6 – 10/ 7/ 2015)
Trang 313.3 PHƯƠNG PHÁP THÍ NGHIỆM
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm
* Thí nghiệm gồm 2 nhân tố:
+ Nhân tố 1: lượng đạm (N), có 2 mức :
- N1: Lượng đạm bón cho cây 120N kg/ha (260kg Urê 46%N)
- N2: Lượng đạm bón cho cây 150N kg/ha (326kg Urê 46%N)
Trang 323.3.2 Quy trình kỹ thuật canh tác
* Làm đất: vệ sinh đồng ruộng, đất được cày bừa kỹ, san phẳng, chia băng, rạch hàng, nếu đất tơi xốp không cần cày đất, chỉ cần phun thuốc trừ cỏ kết hợp với lên luống cao và chia ô đúng thiết kế của thí nghiệm
* Thí nghiệm được tiến hành trên đất bãi và đất đồi dốc
* Trồng và chăm sóc :
- Trồng ngô theo các mật độ thí nghiệm
- Tiến hành chăm sóc ngô theo cách thông thường của người dân
- Dặm cây: dùng hạt dự trữ trồng vào vị trí các cây bị chết
- Phun thuốc trừ cỏ cho ngô, lúc ngô có cỏ dại (7 – 9 lá và trỗ cờ trước 15 ngày) chỉ cần phun thuốc khi cỏ dại nhiều, cạnh tranh với ngô
- Vun xới cố định hàng 1 lần lúc ngô cao có 9-10 lá
- Phòng trừ sâu bệnh hại: thường xuyên theo dõi để phòng trừ sâu bệnh hại, đặc biệt chú ý sâu xám hại ngô
- Phân bón: chia làm 3 đợt
+ Bón lót: toàn bộ phân vi sinh và phân lân trước khi gieo
+ Bón thúc lần 1: khi cây được 7 – 9 lá thật, vun cao chống đổ
Đối với công thức 120 kg N/ ha: bón 173kg Urê + 60kg K2O
Đối với công thức 150 kg N/ ha: bón 217kg Urê + 60kg K2O
+ Bón thúc lần 2: trước khi cây trỗ cờ 10 – 15 ngày, vun cao lần cuối Đối với công thức 120 kg N/ ha: bón 87 kg Urê + 30kg K2O
Đối với công thức 150 kg N/ ha: bón 109kg Urê + 30kg K2O
- Thu hoạch: Tiến hành thu riêng từng ô thí nghiệm
3.3.3 Các chỉ tiêu theo dõi và phương pháp theo dõi
Tiến hành theo QCVN 01-56 : 2011/BNNPTNT Mỗi ô thí nghiệm, chọn
10 cây ở hai hàng giữa, đánh dấu để theo dõi các chỉ tiêu
3.3.3.1 Các chỉ tiêu về sinh trưởng, phát triển của cây
* Thời gian sinh trưởng và thời gian các giai đoạn sinh trưởng (ngày)
Thời gian sinh trưởng được tính từ khi gieo đến khi thu hoạch (thu hoạch khi chân hạt có chấm đen hoặc 75% số cây có lá bi khô)
Trang 33 Thời gian 1 giai đoạn sinh trưởng được tính từ khi 75% số cây của ô thí nghiệm kết thúc giai đoạn sinh trưởng trước đó cho đến khi 75% số cây của ô thí nghiệm chuyển sang giai đoạn sinh trưởng tiếp theo Theo dõi toàn bộ số cây của
ô thí nghiệm
* Chiều cao cây (cm/ tuần): Cây theo dõi được xác định khi ngô có 3 – 4 lá thật Mỗi lần nhắc theo dõi 10 cây, lấy cố định 10 cây ở 2 hàng giữa của mỗi ô thí nghiệm
Phương pháp: Đo từ điểm sát mặt đất đến hết ngọn cây, đo đến đốt phân nhánh cờ đầu tiên (đối với giai đoạn trỗ cờ) trên các cây theo dõi Mỗi lần nhắc theo dõi 10 cây, theo dõi cho đến khi cây ngừng sinh trưởng sinh dưỡng, 7 ngày theo dõi một lần
* Chiều cao đóng bắp(cm): Đo từ điểm sát mặt đất đến đốt đóng bắp trên cùng Đo trên các cây đo chiều cao, đo trước khi thu hoạch
* Động thái ra lá và số lá: Đếm tổng số lá trên các cây đo chiều cao từ khi nảy mầm cho đến khi cây ngừng sinh trưởng sinh dưỡng (sau khi cây trổ cờ, tung phấn) trên các cây được chọn, 7 ngày theo dõi 1 lần
* Chỉ số diện tích lá (LAI):
Diện tích lá (LA): S (m2 lá/cây) = D x R x K
Trong đó: D: Chiều dài lá (cm), R: Chiều rộng lá (cm), K = 0,75
Chỉ số diện tích lá (LAI): Diện tích lá của cây (LA) x Số cây/m2
Phương pháp: Đo tổng diện tích lá của các cây được chọn vào thời điểm kết thúc 1 giai đoạn sinh trưởng,đo 3 giai đoạn: 7- 9 lá, xoắn nõn, chín
* Trạng thái cây (điểm): Số liệu về đặc tính này được lấy vào giai đoạn lá bị trở vàng, khi mà các cây còn xanh và bắp đã phát triển đầy đủ Ở mỗi ô đánh giá các đặc tính như: chiều cao cây, chiều đóng bắp, độ đồng đều của các cây, thiệt hại do sâu bệnh
và đổ ngã, theo thang điểm từ 1-5: 1- Tốt; 2- Khá; 3- Trung bình; 4- Kém; 5- Rất kém
* Trạng thái bắp (điểm): Sau khi thu hoạch, để xác định chỉ tiêu này phải căn cứ vào các đặc tính thiệt hại do sâu bệnh, kích thước bắp, độ dày hạt và độ đồng đều của các bắp theo thang điểm 1-5 (điểm 1 rất tốt, điểm 5 là xấu)
* Độ bao bắp: Trước khi thu hoạch 1-3 tuần, khi bắp đã phát triển hoàn toàn, lá bi đã khô, đánh giá độ bao bắp theo thang điểm 1-5
+ Điểm 1: Rất tốt - Bẹ che kín đầu bắp và kéo dài khỏi bắp
Trang 34+ Điểm 2: Tốt, lá bi che kín đầu bắp
+ Điểm 3: Hở đầu bắp,lá bi không che kín đầu bắp
+ Điểm 4: Hở hạt, lá bi không che kín để hở đầu bắp nhiều
+ Điểm 5: Hoàn toàn không chấp nhận được, bao đầu bắp rất tồi, hở đầu bắp rất nhiều
3.3.3.2 Các yếu tố cấu thành năng suất
* Chiều dài bắp(cm): Đo từ đáy bắp đến mút bắp của 30 cây mẫu lúc thu hoạch Chỉ đo bắp thứ nhất của 30 cây mẫu
* Đường kính bắp (cm): Đo ở giữa bắp của 30 cây mẫu Chỉ đo bắp thứ nhất của cây mẫu Đo phần giữa bắp
* Chiều dài đuôi chuột (cm): Đo phần không có hạt hoặc hạt lép ở đầu bắp của 30 cây mẫu
* Số hàng hạt trên bắp: Đếm số hàng hạt ở giữa bắp Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu Hàng hạt được tính khi có số hạt >5 hạt
* Số hạt trên hàng: Đếm số hạt của hàng có chiều dài trung bình của bắp của
30 cây mẫu Chỉ đếm bắp thứ nhất của cây mẫu
* Khối lượng 1000 hạt(g): Phơi hạt của 30 cây mẫu của mỗi công thức, lấy ngẫu nhiên 1000 hạt, chia 2 mẫu mỗi mẫu 500 hạt Lần lượt cân hai mẫu, nếu khối lượng 2 lần cân chênh lệch nhau không quá 2 g thì chấp nhận được
* Năng suất thực thu (tấn /ha):
P1 x (100 - A0 ) P 2
NSTT = x x10 (tấn / ha)
Sôx (100- 14) P 3
Trong đó: P1: Khối lượng bắp tươi/ô (g)
A0: ẩm độ bắp tươi khi thu hoạch (%)
Sô: Diện tích ô thí nghiệm (m2) P2: khối lượng hạt của 5 bắp ở độ ẩm A0P3: khối lượng bắp của 5 bắp ở độ ẩm A0
3.3.3.3 Khả năng chống đổ và chống chịu sâu bệnh
* Khả năng chống đổ: Theo dõi tất cả các lần nhắc lại sau đợt gió to và trước thu hoạch
Trang 35- Đổ rễ (%): Tính % số cây bị nghiêng 1 góc bằng hoặc lớn hơn 300 so với thu hoạch
- Đổ gẫy thân (%): Tính % số cây bị gẫy ở đoạn thân phía dưới bắp trước khi thu hoạch
* Mức độ nhiễm một số loại sâu bệnh chính
- Sâu đục thân, đục bắp: Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại, đánh giá cho điểm theo thang điểm sau:
+ Đi
ểm 1: < 5% số cây,bắp bị sâu
+ Điểm 2: 5-< 15% số cây,bắp bị sâu
+ Điểm 3: 15- < 25% số cây,bắp bị sâu
+ Điểm 4: 25- < 35% số cây,bắp bị sâu
+ Điểm 5: 35 - < 50% số cây,bắp bị sâu
- Bệnh đốm lá lớn, bệnh đốm lá nhỏ, bệnh vàng lá, bệnh phấn đen: Tính tỷ lệ diện tích lá bị bệnh Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô trên 3 lần lặp lại
và cho điểm theo thang: 0- Không bị bệnh; 1- Rất nhẹ (1-10%); 2- Nhiễm nhẹ (11-25%); 3- Nhiễm vừa (26- 50%); 4- Nhiễm nặng (51-75%); 5- Nhiễm rất nặng
>75%)
- Bệnh khô vằn: Tỷ lệ cây bị bệnh (%) = (Số cây bị bệnh/tổng số cây điều tra)
x 100 Đánh giá toàn bộ số cây ở 2 hàng giữa của ô ở 3 lần lặp lại
3.3.3.4 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được xử lý bằng excel và phân tích phương sai ANOVA trong phần mềm IRRISTAT 5.0
Trang 36PHẦN 4 KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN
4.1 ĐẶC ĐIỂM KHÍ KHẬU VÀ THỜI TIẾT VỤ XUÂN NĂM 2015 TẠI QUẢNG NINH
Ngô là cây trồng có nguồn gốc nhiệt đới nên nhu cầu về nhiệt độ cao, tổng nhiệt độ của cây ngô cao hơn nhiều so với các cây trồng khác Theo Velecan (1956), để hoàn thành chu kỳ sống từ gieo đến chín, cây ngô cần tổng nhiệt độ từ
1700 – 37000C, tuỳ thuộc vào giống (dẫn theo Phạm Hồng Quảng, 2005) Theo các nhà nghiên cứu của Trung tâm cải lương giống ngô và lúa mì Quốc tế (CIMMYT), ngô phát triển tốt trong khoảng nhiệt độ 24 – 300C, nếu nhiệt độ trên
380C sẽ ảnh hưởng xấu tới quá trình sinh trưởng phát triển của ngô, trường hợp nhiệt độ tăng lên đạt 450C, hạt phấn và râu ngô có thể bị chết Nhiệt độ thấp ảnh hưởng tới quá trình sinh trưởng phát triển của ngô, đặc biệt là thời kỳ nảy mầm
và ra hoa Do đó, nhiệt độ có ảnh hưởng rất lớn đến sự sinh trưởng, phát triển và đặc biệt là năng suất của cây ngô
Trong quá trình tiến hành đề tài, tôi đã thu thập số liệu khí hậu, thời tiết có ảnh hưởng chặt chẽ đến sinh trưởng, phát triển của cây ngô Kết quả theo dõi khí hậu, thời tiết 6 tháng đầu năm ở tỉnh Quảng Ninh được thể hiện qua bảng 4.1
Bảng 4.1 Diễn biến thời tiết 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh
Nguồn: Đài khí tượng thủy văn tỉnh Quảng Ninh (2015)
+ Qua bảng 4.1 và hình 4.1 cho thấy ở vụ xuân năm 2015 nhiệt độ tháng 1- tháng 6 có sự biến động lớn, nguyên nhân do điều kiện thời tiết khí hậu nước
ta phân theo vùng rõ rệt Từ tháng 1 đến tháng 4 nền nhiệt độ thấp do ảnh hưởng của không khí lạnh nên cây ngô phát triển kém Đến tháng 5 và 6 nhiệt độ tăng (nhiệt độ trung bình tháng 5 và 6 là 26.5 và 28.50C) cao hơn nhiệt độ tối ưu của
Trang 37cây ngô Tóm lại, nhiệt độ vụ xuân 2015 biến động mạnh nên ảnh hưởng không tốt đến sự sinh trưởng, phát triển và năng suất của cây ngô
Hình 4.1 Nhiệt độ 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh (0C)
+ Độ ẩm không khí cũng là yếu tố ảnh hưởng đến sự sinh trưởng và phát triển của cây ngô Nguyễn Văn Viết và Ngô Sỹ Giai (2001) đã xác định mức độ thuận lợi của độ ẩm không khí 70 - 85% và độ ẩm đất 70 - 80% đối với cây ngô giúp cho sự sinh trưởng phát triển và đạt năng suất Khi ngô trỗ cờ tung phấn nếu gặp điều kiện ẩm độ thấp hạt phấn ngô giảm sức sống làm giảm khả năng thụ phấn thụ tinh (dẫn theo Phạm Hồng Quảng, 2005)
Bảng số liệu 4.1 và hình 4.2 cho thấy: Ẩm độ không khí ở vụ xuân tương đối cao dao động 83 – 88% Nhìn chung độ ẩm không khí thuận lợi cho sự sinh trưởng phát triển của ngô
Hình 4.2 Độ ẩm trung bình của 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh (%)
Trang 38Nước là một nhân tố đặc biệt quan trọng đối với cây ngô Một cây ngô
phát triển, bốc hơi và thoát hơi nước trong một ngày nóng từ 2 - 4 lít nước Trong quá trình sinh trưởng và phát triển cây ngô đã hút và thoát hàng ngày 18 tấn nước/ha hay khoảng 1.800 tấn nước/ha cả giai đoạn, tương đương lượng mưa khoảng 175 mm Lượng nước nó tiêu tốn còn phụ thuộc vào sản lượng nó sinh ra
để đạt 3.800 kg/ha cần một lượng nước mưa 287,5 mm, để đạt 6.300 kg/ha cần lượng mưa 486 - 616 mm (Phạm Hồng Quảng, 2005)
Hình 4.3 Tổng lượng mưa của 6 tháng đầu năm 2015
ở tỉnh Quảng Ninh (mm)
Qua bảng 4.1 và hình 4.3 cho thấy tổng lượng mưa 6 tháng đầu năm ở Quảng Ninh biến động mạnh, từ tháng 1 đến tháng 4, tổng lượng mưa thấp, đến tháng 5 và 6 tăng rất mạnh Thí nghiệm của tôi tiến hành vào tháng 3, giai đoạn đầu tổng lượng mưa ít nên cũng ảnh hưởng, làm cây chậm phát triển
Hoạt động quang hợp quyết định 90 – 95% năng suất của cây trồng Đặc biệt đối với ngô là cây quang hợp theo chu trình C4 ưa thích áng sáng mạnh và cường độ cao Cây ngô quang hợp theo chu trình cây C4 nên tế bào diệp lục của
lá ngô có ái lực rất lớn đối với CO2 (trong tế bào thịt lá có một lượng lớn men Photpho enopiruvat cacboxylaza có tác dụng xúc tiến quá trình cố định CO2 ngay
cả khi hàm lượng CO2 xuống rất thấp – khi khí khổng đóng kín) (Phạm Hồng Quảng, 2005)
Tổng số giờ nắng trong vụ xuân 2015 ở Quảng Ninh được thể hiện qua hình 4.4
Trang 39Hình 4.4 Tổng giờ nắng của 6 tháng đầu năm 2015 ở tỉnh Quảng Ninh (giờ)
Qua bảng 4.1 hình 4.4 cho thấy: tổng số giờ nắng của tháng 2 và 3 thấp hơn các tháng khác rất nhiều Thí nghiệm được bắt đầu từ tháng 3, tháng có tổng
số giờ nắng thấp (40 giờ) nên cũng ảnh hưởng đến quá trình phát triển của cây
Từ tháng 4 trở đi số giờ nắng tăng, trung bình 153.3 giờ/ tháng thích hợp cho cây phát triển
Tóm lại, đối với điều kiện thời tiết của vụ xuân 2015 ở Quảng Ninh có biến động mạnh giữa các tháng Ở giai đoạn đầu, điều kiện chưa thuận lợi cho cây phát triển; đến các giai đoạn sau, điều kiện thời thiết thuận lợi cho phát triển
4.2 ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC MẬT ĐỘ VÀ MỨC ĐẠM KHÁC NHAU ĐẾN SINH TRƯỞNG, KHẢ NĂNG CHỐNG CHỊU SÂU BỆNH VÀ NĂNG SUẤT CỦA GIỐNG NGÔ NK4300
4.2.1 Ảnh hưởng của mật độ và lượng đạm đến các chỉ tiêu sinh trưởng giống ngô NK4300
4.2.1.1 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống ngô NK4300
Sinh trưởng phát triển là những chức năng của tiềm năng sinh trưởng của cây phản ứng với điều kiện mà nó được nuôi dưỡng Sinh trưởng không phải là chức sinh lý đơn thuần và riêng biệt, mà nó là kết quả hoạt động tổng hợp của nhiều chức năng sinh lý của cây
Trang 40Quá trình theo dõi thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng và phát triển của các công thức mang một ý nghĩa lớn đối với khoa học và sản xuất ngô, giúp cho bố trí thời vụ và cơ cấu luân canh cây trồng hợp lý Đồng thời nó còn có ý nghĩa giải quyết vấn đề lựa chọn và phân vùng sản xuất các giống ngô phù hợp với điều kiện sinh thái
Thời gian sinh trưởng và phát triển của cây được tính từ khi gieo đến khi chín sinh lý Thời gian chín sinh lí được xác định khi xuất hiện chấm đen ở chân hạt, khi cây ngô chín sinh lí vật chất khô trong hạt đạt trọng lượng tối đa.Thân lá
và lá bi chuyển sang màu vàng, khô dần đi, lúc này độ ẩm hạt giảm xuống chỉ còn 30 - 35%
Thời gian sinh trưởng và thời gian qua các giai đoạn sinh trưởng của giống ngô thí nghiệm trên hai loại đất được trình bày ở bảng 4.2
Bảng 4.2 Các giai đoạn sinh trưởng, phát triển của giống ngô NK4300 trên
mật độ và lượng đạm trồng trên đất bãi và đất dốc Công