1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh viêm ruột truyền nhiễm do parvovirus ở chó nuôi trên địa bàn thành phố thái bình và phòng thí nghiệm điều trị

69 23 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 1,62 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng của chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus .... Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu máu của chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Par

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

HÀ THỊ ANH

NGHIÊN CỨU MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM BỆNH LÝ BỆNH

VIÊM RUỘT TRUYỀN NHIỄM DO PARVOVIRUS Ở

CHÓ NUÔI TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH

VÀ THÍ NGHIỆM ĐIỀU TRỊ

Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Như Quán

NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2019

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Tôi cam đoan rằng, mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn

và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Hà Thị Anh

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong suốt thời gian học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn, tôi đã nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình của các Thầy Cô giáo, sự giúp đỡ, động viên của bạn bè, đồng nghiệp và gia đình

Nhân dịp hoàn thành luận văn, cho phép tôi được bày tỏ lòng kính trọng và biết

ơn sâu sắc tới TS.Vũ Như Quán đã tận tình hướng dẫn, dành nhiều công sức, thời gian

và tạo điều kiện cho tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành tới Giám đốc, Ban Quản lý đào tạo, bộ môn Ngoại – Sản, khoa Thú y - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn gia đình, người thân, bạn bè, đồng nghiệp đã tạo mọi điều kiện thuận lợi và giúp đỡ tôi về mọi mặt, động viên khuyến khích tôi hoàn thành luận văn

Hà Nội, ngày tháng năm 2019

Tác giả luận văn

Hà Thị Anh

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục sơ đồ, hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu của đề tài 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Những hiểu biết về bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus 3

2.1.1 Lịch sử bệnh 3

2.1.2 Phân loại và đặc tính sinh học 3

2.1.3 Dịch tễ học 5

2.1.4 Cơ chế gây bệnh 6

2.1.5 Triệu chứng 7

2.1.6 Bệnh tích 8

2.1.7 Chẩn đoán 9

2.1.8 Điều trị 11

2.1.9 Phòng bệnh 12

2.2 Một số đặc điểm sinh lý của chó 13

2.2.1 Thân nhiệt (°C) 13

2.2.2 Tần số hô hấp (số lần thở/phút) 15

2.2.3 Tần số mạch đập (lần/ phút) 16

2.3 Máu và vai trò của máu trong cơ thể 16

2.3.1 Thành phần dịch thể 17

2.3.2 Thành phần hữu hình 18

Trang 5

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 22

3.1 Địa điểm nghiên cứu 22

3.2 Thời gian nghiên cứu 22

3.3 Đối tượng/vật liệu nghiên cứu 22

3.4 Nội dung nghiên cứu 22

3.5 Phương pháp nghiên cứu 22

3.5.1 Xác định chó mắc bệnh 22

3.5.2 Phương pháp chẩn đoán bệnh bằng test nhanh CPV (Canine Parvovirus One – step Test Kit) 25

3.5.3 Khảo sát tỷ lệ chó nhiễm Parvovirus 28

3.5.4 Theo dõi các triệu chứng lâm sàng ở chó mắc bệnh Parvovirus 28

3.5.5 Nghiên cứu một số chỉ tiêu sinh lý của chó mắc bệnh Parvovirus 28

3.5.6 Phương pháp mổ khám quan sát đại thể 28

3.5.7 Sơ đồ bố trí thí nghiệm điều trị bệnh viêm ruột tiêu chảy do Parvovirus 30

3.5.8 Phương pháp xử lý số liệu 31

Phần 4 Kết quả và thảo luận 32

4.1 Tình hình mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do parvovirus ở một số phòng khám trên địa bàn thành phố Thái Bình 32

4.1.1 Tình hình dịch bệnh các ca chó đến khám và chữa bệnh tại phòng khám 32

4.1.2 Tình hình chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo giống 33

4.1.3 Tình hình chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo lứa tuổi 35

4.1.4 Tình hình chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo mùa vụ 37

4.1.5 Sự ảnh hưởng của việc tiêm vaccine đến tỷ lệ mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus ở chó 38

4.2 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu lâm sàng của chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus 40

4.3 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu máu của chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus 42

4.3.1 Một số chỉ tiêu về hồng cầu của máu chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus 42

Trang 6

4.3.2 Số lượng bạch cầu và công thức bạch cầu 45

4.4 Bệnh tích đại thể của chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovurus 48

4.5 Kết quả thử nghiệm điều trị 51

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 54

5.1 Kết luận 54

5.2 Kiến nghị 54

Tài liệu tham khảo 55

Trang 7

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

chó do Parvovirus

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 2.1 Chỉ tiêu sinh lý trên chó 21

Bảng 4.2 Phân loại chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo

Trang 9

DANH MỤC SƠ ĐỒ, HÌNH

Sơ đồ 2.1 Sinh bệnh học của bênh do Parvovirus trên chó 6

Hình 3.1 Chó lừ đừ, mệt mỏi 23

Hình 3.2 Chó có biểu hiện mất nước, đi phân máu 23

Hình 3.3 Chó bị mắc bệnh do Parvovirus đi phân máu kèm nôn nhiều 24

Hình 3.4 Hình ảnh chó bị mắc bệnh trước khi chết 24

Hình 3.5 Kết quả test dương tính ( trên ) và âm tính ( dưới ) 26

Hình 3.6 Các bước tiến hành và kết quả xét nghiệm bằng test CPV 27

Hình 4.1 Phân loại chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo giống 34

Hình 4.2 Phân loại chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo lứa tuổi 35

Hình 4.3 Phân loại chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus theo mùa vụ 38

Hình 4.4 Phân loại chó mắc bệnh Parvovirus theo tiêu chí được tiêm phòng hay chưa 39

Hình 4.5 Một số chỉ tiêu lâm sàng của chó mắc bệnh do Parvovirus 40

Hình 4.6 Một số chỉ tiêu về hồng cầu của máu chó mắc bệnh do Parvovirus 43

Hình 4.7 Số lượng bạch cầu của chó mắc Parvovirus 46

Hình 4.8 Công thức bạch cầu của chó mắc bệnh do Parvovirus 47

Hình 4.9 Kết quả điều trị theo 2 phác đồ 52

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Hà Thị Anh

Tên luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh viêm ruột truyền nhiễm do

Parvovirus ở chó nuôi trên địa bàn thành phố Thái Bình và thí nghiệm điều trị.”

Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam

Mục tiêu nghiên cứu:

Nắm được tình hình chó mắc bệnh nói chung và bệnh viêm ruột truyền nhiễm do

Parvovirus nói riêng khi đến khám và điều trị tại phòng khám

Xác định được sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng và sinh lý máu trong bệnh

viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus ở chó

Xây dựng được phác đồ điều trị bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus ở chó

đạt hiệu quả cao

Phương pháp nghiên cứu:

1 Phương pháp thu thập số liệu

Điều tra, tập hợp bệnh án đã được khám và điều trị tại phòng khám thú y Thái Bình và phòng khám Funny Pet

2 Phương pháp xử lý số liệu

- Các số liệu điều tra, thu thập được xử lý trên phần mềm Microsoft Excel 2010

- Sử dụng phần Minitab 16

3 Phương pháp xét nghiệm

- Lấy máu từ tĩnh mạch chân

- Lượng máu cần cho mỗi mẫu là 2 ml

- Sau khi lấy máu gửi đi xét nghiệm công thức máu

Kết quả chính và kết luận

Từ kết quả nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý bệnh viêm ruột truyền nhiễm do

Parvovirus và kết quả theo dõi chỉ tiêu máu bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus

tại phòng khám thú y Thái Bình chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:

1 Tình hình mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus ở một số phòng khám trên địa bàn tỉnh Thái Bình

- Tỷ lệ chó ngoại mắc bệnh cao hơn chó nội

Trang 11

- Chó từ 6 – 12 tháng có tỷ lệ mắc cao

- Tỷ lệ chó mắc bệnh giảm dần từ mùa xuân đến mùa đông

- Chó đã tiêm vacxin có tỷ lệ mắc bệnh thấp hơn và tỷ lệ chữa khỏi cao hơn

2 Một số chỉ tiêu lâm sàng chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus Chó mắc bệnh viêm ruột truyền nhiễm do parvovirus thì cả 3 chỉ số lâm sàng:

thân nhiệt, tần số hô hấp, tần số tim mạch cao hơn chó khỏe

3 Kết quả theo dõi một số chỉ tiêu máu của chó mắc bệnh Parvovirus

- Số lượng hồng cầu, thể tích khối hồng cầu, thể tích trung bình của hồng cầu, hàm lượng huyết sắc tố, số lượng bạch cầu, bạch cầu đa nhân trung tính ở chó mắc bệnh giảm

- Bạch cầu đơn nhân ở chó mắc bệnh tăng

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate:: Ha Thi Anh

Thesis title: “Research on some pathological characteristics of Parvovirus infectious

inflammatory bowel disease in dogs raised in Thai Binh city and treated experiments.”

Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA) Research Objectives

Understand the situation of dogs suffering in general and infectious enteritis

caused by Parvovirus in particular when visiting and treating in clinics

Identify changes in clinical and physiological blood parameters in Parvovirus

infectious enteritis in dogs

Develop a treatment regimen for Parvovirus infectious inflammatory bowel

2 Method of data calculation

- Survey data and data collected were processed on Microsoft Excel 2010 software

- Using the Minitab part 16

3 Method of testing

- Taking blood from a leg vein

- The amount of blood needed for each sample is 2 ml

- After taking blood, send it for testing for blood count

Main findings and conclusions:

From the results of research on some pathological characteristics of Parvovirus infectious inflammatory bowel disease and results of monitoring blood parameters of

Parvovirus infectious inflammatory bowel disease at Thai Binh Veterinary Clinic, we

have drawn some conclusions as follows:

1 The situation of Parvovirus contagious inflammatory bowel disease in some clinics in Thai Binh province

Trang 13

- The rate of infected dogs is higher than that of domestic dogs

- Dogs from 6 to 12 months have a high incidence

- The percentage of dogs infected gradually decreases from spring to winter

- Vaccinated dogs have a lower incidence and a higher cure rate

2 Some clinical indicators of dogs suffering from infectious enteritis caused

by Parvovirus

Dogs with parvovirus infectious enteritis have all three clinical indicators: body

temperature, respiratory rate, and cardiovascular frequency higher than healthy dogs

3 Results of monitoring some blood parameters of dogs with Parvovirus disease

- The number of erythrocytes, the volume of erythrocytes, the average volume of red blood cells, the hemoglobin content, the number of white blood cells, neutrophils in dogs are reduced

- Mononucleosis in infected dogs

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Trong thời gian gần đây, số lượng thú cảnh đang tăng lên khá nhanh ở

cả thành thị và nông thôn Đặc biệt là các bạn trẻ hiện nay đang có xu hướng muốn có cho mình một người bạn là thú cưng Việc nhận nuôi một chú chó hoặc mèo mang lại nhiều lợi ích cho không chỉ người nuôi mà còn nhiều lợi ích cho cộng đồng

Hàng ngày, những chú chó trợ giúp con người trong rất nhiều công việc khác nhau: từ những công việc bình thường như giữ nhà, bảo vệ, chăn gia súc cho đến những công việc ngoài chiến trường thì chó được sử dụng để canh gác, trinh sát và theo dõi, chó cảnh sát để đuổi bắt hay truy tìm, chó thăm dò và cứu

hộ làm nhiệm vụ tìm kiếm cứu hộ Những công việc phức tạp, khó khăn nguy hiểm trong các lĩnh vực như nghiên cứu vũ trụ, y học, địa chất, thể thao,… cũng không thiếu sự tham gia của những chú chó

Chính vì chăn nuôi với mục đích đa dạng như vậy mà gần đây có rất nhiều giống chó ngoại được nhập vào nước ta làm phong phú thêm về số lượng và chủng loại các giống chó Cùng với sự phát triển đó thì tình hình dịch bệnh trên đàn chó ngày càng gia tăng

Qua quá trình theo dõi tại phòng khám thú y Thái Bình chúng tôi nhận thấy rằng bệnh ở đường tiêu hoá là một trong những bệnh gây nhiều thiệt hại nặng nề cho mọi lứa tuổi của chó và tỷ lệ chết rất cao, trong đó có bệnh viêm ruột

truyền nhiễm do Parvovirus gây ra Đây là một bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm,

bệnh gây chết với tỷ lệ cao ở chó con Bệnh thường lây lan nhanh, tỷ lệ chết cao nếu không được can thiệp kịp thời Bệnh có thể lây trực tiếp từ chó ốm sang chó khỏe hoặc gián tiếp truyền qua phân có virus phát tán trong môi trường thông qua các nhân tố trung gian truyền bệnh như dụng cụ chăn nuôi, chim chóc, loài gặm nhấm, côn trùng, ruồi nhặng

Bệnh Parvovirus được phát hiện vào cuối những năm 1970 và được công

bố dịch lần đầu tiên vào năm 1978, sau một, hai năm nó đã trở thành đại dịch của chó trên toàn thế giới Trước những diễn biến của bệnh, nhiều nhà khoa học đã tiến hành nghiên cứu về căn bệnh trên Kết quả phân lập từ năm 1979 đến năm

1984, các nhà khoa học đã xác định được hai chủng virus CPV2a và CPV2b gây

Trang 15

bệnh ở đa số chó, ngoài ra ở Ý, Tây Ban Nha và Việt Nam người ta còn phát hiện

chủng virus thứ ba CPV2c cũng gây bệnh Parvovirus cho chó

Hiện nay, ở nước ta đã có một số công trình nghiên cứu về bệnh do

Parvovirus gây ra trên chó Tuy nhiên, đề tài nghiên cứu về sự biến đổi một số chỉ tiêu sinh lý máu của chó mắc bệnh Parvovirus để đưa ra những kết luận phục

vụ quá trình chẩn đoán, phòng và điều trị bệnh hiệu quả lại chưa có nhiều Xuất

phát từ tình hình trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số

đặc điểm bệnh lý bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus ở chó nuôi trên địa bàn thành phố Thái Bình và thí nghiệm điều trị”

1.2 MỤC TIÊU CỦA ĐỀ TÀI

Nắm được tình hình chó mắc bệnh nói chung và bệnh viêm ruột truyền

nhiễm do Parvovirus nói riêng khi đến khám và điều trị tại phòng khám

Xác định được sự thay đổi một số chỉ tiêu lâm sàng và sinh lý máu trong

bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus ở chó

Xây dựng được phác đồ điều trị bệnh viêm ruột truyền nhiễm do

Parvovirus ở chó đạt hiệu quả cao

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tiến hành nghiên cứu tình hình chó mắc bệnh viêm ruột truyền

nhiễm do Parvovirus trên địa bàn thành phố Thái Bình và mốt số chỉ tiêu lâm

sàng, sinh lý máu của bệnh

Trang 16

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 NHỮNG HIỂU BIẾT VỀ BỆNH VIÊM RUỘT TRUYỀN NHIỄM DO

ở các nước trên thế giới

Bệnh xuất hiện vào năm 1977 ở Texas và đến mùa hè năm 1978 đã xảy ra nhiều vùng khác nhau ở Hoa Kỳ và Canda Đầu năm 1979 bệnh đã xuất hiện ở

Úc, Bỉ, Hà Lan, Anh, Pháp, sau đó lan dần trên phạm vi toàn thế giới Bệnh thường xảy ra ở dạng dịch địa phương hoặc ở nhiều ổ dịch xảy ra cùng một lúc (Trần Thanh Phong và Nguyễn Thị Thơ, 1996) Bệnh đã được ghi nhận lần đầu tiên ở nước ta vào năm 1990 trên chó nghiệp vụ

Qua phân lập từ năm 1979 đến 1984, các nhà khoa học đã xác định phần lớn chó nhiễm hai chủng virus CPV2a và CPV2b, nhưng ở Ý, Tây Ban Nha và Việt Nam người ta còn phát hiện chủng virus thứ ba là CPV2c cũng gây ra bệnh Parvo cho chó

Giống Parvovirus chỉ gây bệnh trên họ nhà chó: chó nhà, chó sói, chó có

lông bờm ở cổ, cáo ăn cua, gấu mèo Mỹ, mà không lây bệnh cho người Chó ở mọi lứa tuổi đều nhạy cảm với bệnh

Thông thường, hầu hết chó trưởng thành đều có kháng thể nên ít mẫn cảm hơn chó nhỏ, đặc biệt là chó con ở độ tuổi 6 đến 20 tuần tuổi, tỉ lệ mắc và chết ở chó con rất cao một phần là do kháng thể tự nhiên của mẹ không còn tác dụng bảo hộ và cho con không được tiêm phòng đúng thời điểm Bệnh có khả năng lây lan nhanh, tỉ lệ mắc lên tới 50%, tỉ lệ chết ở chó con cao từ 50 đến 100%

2.1.2 Phân loại và đặc tính sinh học

a Phân loại

Theo (Trần Thanh Phong và Nguyễn Thị Thơ, 1996), nguyên nhân gây

bệnh viêm ruột truyền nhiễm do Parvovirus ở chó là do một loại virus thuộc:

Họ: Parvoviridae

Trang 17

* Sức đề kháng với môi trường bên ngoài: Parvovirus đề kháng mạnh với

môi trường bên ngoài Trong phân thì virus có thể tồn tại hơn 6 tháng ở nhiệt độ phòng Nó đề kháng với tác động của esther, chloroforme, acid và nhiệt độ (560C trong vòng 30 phút)

* Đặc tính nuôi cấy: Virus chỉ nhân lên trong nhân tế bào và gây bệnh tích

tế bào (Cyto Pathogen Effect- CPE) trên tế bào tim chó con còn bú hay trên tế bào ruột, tế bào lymphocyte của chó trong thời kỳ cai sữa những tế bào trong thời

kỳ gián phân thích hợp nhất

* Sức đề kháng của virus: Parvovirus đề kháng mạnh với môi trường bên

ngoài Virus có thể tồn tại trong phân hơn 6 tháng ở điều kiện nhiệt độ phòng Virus đề kháng tốt với ete, chloroforme, axit và nhiệt độ (560C trong 30 phút)

* Đặc tính kháng nguyên: Sự nhân lên của Parvovirus ở chó làm xuất hiện

kháng thể gây ức chế phản ứng ngưng kết hồng cầu và phản ứng trung hòa huyết thanh Kháng thể ức chế phản ứng ngưng kết hồng cầu xuất hiện vào ngày thứ hai hoặc ngày thứ ba khi nhiễm Phản ứng này được sử dụng trong chẩn đoán huyết thanh học Phản ứng trung hòa huyết thanh rất khó thực hiện trong phòng

thí nghiệm (Nguyễn Như Pho, 2003)

* Khả năng miễn dịch: Sau khi nhiễm bệnh, chó có miễn dịch kéo dài

trong 3 năm, hiệu giá kháng thể trung hòa hay ngăn trở ngưng kết hồng cầu trên những chó này sẽ lên rất cao Những chó con sinh ra trong khoảng thời gian này cảm nhiễm lúc 9 - 12 tuần Sau 2 - 3 năm thì hiệu giá kháng thể sẽ giảm thấp, chó

con sinh ra có thể cảm nhiễm Parvovirus sớm hơn vào lúc 5 - 6 tuần tuổi

Miễn dịch mẹ truyền qua sữa đầu giúp thú phòng bệnh Những kháng thể này sẽ được loại thải hết trong khoảng 6 - 10 tuần tuổi, lúc này chó con sẽ trở nên thụ cảm nhất Sự giảm dần kháng thể mẹ truyền cũng liên quan trực tiếp tới tốc

độ tăng trưởng của chó con, những chó con "đẹp nhất ", tăng trưởng tốt nhất thường nhiễm bệnh đầu tiên (Nguyễn Như Pho, 2003)

Trang 18

Ở chó con còn bú có một thời kỳ nhạy cảm với sự xâm nhiễm virus nhưng lượng kháng thể còn sót lại đủ để trung hòa virus vacxin đưa vào Ở “thời kỳ khủng hoảng này”, chó con không thể được tiêm chủng hiệu quả trong khi nó thụ cảm hoàn toàn với sự xâm nhiễm tự nhiên

Một số kháng nguyên tương đồng giữa những dòng Parvovirus khác nhau

ở thú thịt: Virus Panleucopenie (FPV), virus gây viêm ruột ở chồn (MEV) Sự

tương đồng này có thể được phát hiện bởi phản ứng trung hòa và phản ứng HI Mặc dù có sự tương đồng kháng nguyên nhưng nó có những giới hạn riêng biệt trong tự nhiên, FPV chỉ gây nhiễm cho mèo, MEV chỉ gây nhiễm cho chồn và CPV chỉ gây nhiễm cho chó

c Đường xâm nhập và cách lây lan

Parvovirus là bệnh truyền nhiễm nguy hiểm của loài chó, lây lan nhanh và

làm chết nhiều chó, đặc biệt là chó non Bệnh không lây truyền qua loài Bệnh lây trực tiếp từ chó ốm sang chó khỏe hoặc qua phân thải có virus phát tán trong môi trường qua các nhân tố trung gian truyền lây: Dụng cụ chăn nuôi, chim chóc, gậm nhấm, côn trùng ruồi nhặng mang mầm bệnh từ phân gây nhiễm cho chó khỏe từ ổ dịch tới các nơi khác Thậm chí các phương tiện giao thông: Vết lốp

xe, giày dép có dính phân chó bệnh hoặc bàn tay tiếp xúc của con người từ chó

ốm cho chó khỏe cũng có thể làm lây lan bệnh Bệnh đặc biệt nghiêm trọng đối

Trang 19

với những con chó không được bảo vệ bởi các kháng thể từ mẹ hoặc tiêm phòng

d Vật cảm thụ

Parvovirus chỉ gây nhiễm cho: chó nhà, chó sói, sói có lông bờm cổ Chó ở

mọi lứa tuổi đều mắc, chủ yếu là chó non từ 1 - 5 tháng tuổi mẫn cảm nhất Ở chó trưởng thành, bệnh ít gây tác hại, nhưng nó là nguồn dịch nguy hiểm trong tự nhiên

Sơ đồ 2.1 Sinh bệnh học của bênh do Parvovirus trên chó

Nguồn: Nguyễn Như Pho (2003)

Qua đường miệng Virus vào máu

Ruột Tủy xương

Hạch bạch huyết và

lách

Viêm ruột _tiêu chảy Giảm thiểu tế bào lympo

Trang 20

Ở những chó con không có kháng thể mẹ truyền, virus thường gây bệnh tích trên cơ tim và gây ra bệnh dạng tim mạch

Chỉ cần đưa một lượng nhỏ Parvovirus bằng 100 liều gây nhiễm mô nuôi

cấy DICT (Dose Infectieuse Culture de Tissu) đủ gây nhiễm cho chó Điều này cho thấy tác hại về mặt dịch tễ học do có lượng quá lớn virus trong phân (1 tỷ DICT/ g phân) chó mắc bệnh ( Nguyễn Như Pho, 2003)

2.1.5 Triệu chứng

Thời gian nung bệnh khoảng 5-7 ngày Bệnh thường biểu hiện ở 3 dạng chủ yếu như sau:

a Dạng điển hình (viêm dạ dày ruột xuất huyết)

Đây là dạng phổ biến nhất, thường mắc ở chó 6 - 12 tuần tuổi

Virus gây thiệt hại nghiêm trọng đến đường ruột, chúng phân chia trong các

tế bào biểu mô ruột, gây hoại tử, viêm loét bong tróc các tế nào niêm mạc, vì thế gây hiện tượng tiêu chảy - xuất huyết Niêm mạc thường theo phân ra ngoài, hợp lại với các chất khác tạo nên một mùi hôi tanh khó chịu Từ đó tạo điều kiện thuận lợi cho các nhiễm trùng thứ cấp khi các vi khuẩn đường ruột như

Salmonella, E coli, coronavirus, C perfringens, Campylobacter và các ký sinh

trùng khác có thể xâm nhập vào mạch máu nhiều hơn qua những vùng niêm mạc

bị bong tróc, từ đó tạo nên quá trình nhiễm trùng thứ cấp

Thể này thường có thời gian nung bệnh từ 3 - 4 ngày Tình trạng bỏ ăn, mệt

lả, nôn mửa, 24 giờ sau bắt đầu tiêu chảy có máu Ngày thứ tư và thứ năm của tiến trình bệnh thì phân có màu xám đỏ (Nguyễn Như Pho, 2003)

Huyết học : Chó bị bệnh thường bị mất nước trầm trọng, tăng thân nhiệt (50%), giảm thiểu lượng bạch cầu (60 – 70% tổng số các trường hợp), chủ yếu giảm bạch cầu trung tính và tế bào lympho đôi khi còn ít hơn 400 – 500 bạch cầu/ mm3 trong những trường hợp nghiêm trọng (Tô Dung và Xuân Dao, 2006) Thể quá cấp tính: Con vật chết sau 3 ngày do trụy tim mạch

Thể cấp tính: Chết sau 5 – 6 ngày do hạ huyết áp và do tác động bội nhiễm của vi khuẩn

Tỷ lệ tử vong cao trên chó từ 6 – 10 tuần tuổi, chó đã qua 5 ngày mắc bệnh thì thường có kết quả điều trị khả quan

Trang 21

b Dạng viêm cơ tim

Dạng này hay gặp ở chó con 4 – 8 tuần tuổi

Thể này ít phổ biến hơn thể đường ruột

Bệnh thường rất nặng, chó bị suy tim cấp do virus tấn công gây hoại tử cơ tim Con vật thường chưa biểu hiện triệu chứng gì đã lăn ra chết đột ngột do suy

hô hấp trong thời gian ngắn vì phổi bị phù Do những biến đổi về bệnh tích ở van tim và cơ tim, từ đó xuất hiện những tạp âm ở tim hay những biến đổi về điện tim

đồ (Nguyễn Như Pho, 2003)

Những trường hợp khác có thể thấy chó biểu hiện thiếu máu nặng, niêm mạc nhợt nhạt, nhão Lớp mỡ vàng và cơ tim có xuất huyết, chó chết nhanh từ 1 – 2 ngày (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2006)

Chó con tồn tại được sẽ có sẹo trong cơ tim Thể bệnh này có thể hoặc không đi kèm với các dấu hiệu và triệu chứng của thể đường ruột Tuy nhiên thể này bây giờ đã hiếm trên thế giới

Dạ dày: Niêm mạc xuất huyết một phần hay toàn bộ

Gan: Có thể sưng, túi mật căng

Hạch bạch huyết: Phù thũng, xuất huyết

Thể tim: Phù thũng phổi, viêm cơ tim

b Bệnh tích vi thể

Ruột: Hoại tử biểu mô tuyến Lieberkuhn, toàn bộ nhung mao ruột bị bào mòn

Cơ quan lympho: Hoại tử và tiêu hủy những tế bào lympho trong mảnh

payer, trong trung tâm mầm, trong hạch bạch huyết màng treo ruột và những hạt bạch huyết ở lách (Nguyễn Như Pho, 2003)

Trang 22

Dạng tim: viêm cơ tim khởi phát, phân tán nặng nề

2.1.7 Chẩn đoán

a Chẩn đoán lâm sàng

Chẩn đoán bệnh trước tiên phải khám lâm sàng, dựa vào các triệu chứng và yếu tố dịch tễ của bệnh: Mức độ gây nhiễm lớn; triệu chứng lâm sàng phần lớn chó nhiễm bệnh có biểu hiện viêm ruột xuất huyết; sốt kéo dài từ khi phát bệnh đến khi chó bị tiêu chảy nặng; nôn mửa, ủ rũ, bỏ ăn; đi tiêu chảy, phân thối những ngày sau đó phân có màu hồng hoặc có lẫn máu tươi, có lần cả niêm mạc ruột và chất keo nhầy, mùi tanh rất đặc trưng Sau đó chó hôn mê, mất nước và sút cân nhanh

Chết do tiêu chảy mất nước, mất cân bằng điện giải, sốc do nội độc tố hoặc nhiễm trùng thứ phát

Tỷ lệ tử vong cao (trên 50%)

Chất chứa virus: Phân, nước tiểu, nước bọt nhưng quan trọng nhất là phân

* Cần chẩn đoán phân biệt với các bệnh gây viêm ruột khác trên chó

- Viêm ruột do Coronavirus: Bệnh lây lan rất rộng nhưng không nguy

hiểm nhiều cho chó bệnh, tiêu chảy từ 6 – 14 ngày, con vật mất nước, tỷ lệ tử vong thấp

- Viêm ruột do Rotavirus: Bệnh gây tiêu chảy nhưng cách sinh bệnh chưa

được biết một cách rõ ràng

- Viêm ruột trong bệnh Care: Chó bệnh có triệu chứng hô hấp và thần kinh đặc trưng, thường sốt cao trong nhiều ngày (40 – 410C), viêm phổi, viêm ruột (hiếm khi

có máu tươi), có thể gặp nhiều những nốt sài, mụn mủ ở vùng da ít lông

- Viêm dạ dày ruột trong bệnh do Leprospira gây ra: Tiến trình bệnh xảy ra

nhanh với đặc điểm gây suy thận và nhiễm trùng huyết

Ngoài ra còn gặp các trường hợp viêm ruột tiêu chảy do ký sinh trùng (cầu trùng trên chó, giun lươn, giun đũa, giun móc, )

b Chẩn đoán trong phòng thí nghiệm

- Tìm virus trong phân: Có thể thực hiên nuôi cấy trên môi trường tế bào

nhưng thời gian lâu dài và tốn kém Cần lưu ý rằng sự tiêm chủng vaxcin virus nhược độc dẫn đến bài virus trong 4 – 10 ngày, tuy yếu nhưng sự bài thải này

có thể dẫn đến kết quả dương tính giả (Nguyễn Như Pho, 2003); (Phạm Sỹ Lăng và cs., 1998)

Trang 23

- Chẩn đoán huyết thanh học: Dùng phản ứng ngăn trở ngưng kết hồng cầu

_ Haemagglutination Inhibition test HI (dễ thực hiện, cho kết quả tương đối chính xác) Kháng thể xuất hiện trong máu khi bắt đầu tiêu chảy nhưng với hiệu giá thấp Trên thực tế người ta thường dùng test ELISA để chẩn đoán (Nguyễn Như Pho, 2003) Phương pháp ELISA có thể thực hiện ở ngày đầu tiên của bệnh cho đến 3 hoặc 4 ngày sau đó Các phương pháp ELISA có thể là âm tính giả nếu chạy quá sớm trong quá trình bệnh Trên thực tế người ta thường dùng test

ELISA để chẩn đoán (Vương Đức Chất và Lê Thị Tài, 2004)

- Chẩn đoán bằng test CPV Ag (One - step Canine Parvovirus Antigen Test): Dùng test thử CPV (Canine Parvovirus One – step Test Kit) Phương

pháp này được tiến hành sau khi chẩn đoán lâm sàng kết luận chó nghi mắc

bệnh Parvovirus

Cách tiến hành:

Lấy mẫu bệnh phẩm cần xét nghiệm là phân hoặc dịch ở miệng của chó

nghi bệnh Parvovirus bằng cách ngoáy bông tăm trực tiếp ở trực tràng Bệnh

phẩm sau khi được thu thập cần làm xét nghiệm ngay Trong trường hợp cần thiết có thể bảo quản ở 2 - 80 C trong vòng 24 giờ Tuy nhiên, trước khi tiến hành xét nghiệm, cần nâng nhiệt độ của mẫu bệnh phẩm lên nhiệt độ phòng (22-250 C) Đưa bông tăm chứa bệnh phẩm vào lọ chứa 1ml dung dịch chất pha loãng, khuấy động tròn que trong chất pha loãng Nhỏ 3-4 giọt dung dịch chứa mẫu vào vùng S của thiết bị xét nghiệm sau đó đọc kết quả xét nghiệm trong vòng 5-10 phút Nếu xuất hiện cả hai vạch ở điểm C và T thì kết quả dương tính Ngược lại, nếu chỉ xuất hiện một vạch tại điểm C thì phản ứng âm tính Trong trường hợp không xuất hiện vạch nào thì sẽ phải làm lại xét nghiệm vì vạch C là vạch đối chứng giúp cho việc đánh giá qui trình tiến hành Vạch này luôn luôn xuất hiện khi qui trình và các thuốc thử trong kít chẩn đoán đạt yêu cầu kỹ thuật Nếu vạch

C không xuất hiện chính tỏ có sai sót trong quá trình tiến hành xét nghiệm hoặc thuốc thử không đạt yêu cầu

Hiện nay trên thị trường đã ra mắt những test đôi, test ba tức là cùng 1 test

ta có thể kiểm tra được 2 hay 3 bệnh cùng một lúc: CPV+ CDP, CPV+ CCV+ giardia Ag,

c Phương pháp mổ khám

Khi virus vào trong cơ thể sẽ theo đường máu tới các cơ quan bộ phận và gây

Trang 24

tổn thương các cơ quan đó Dựa trên cơ sở đó những ca bệnh chết không xác định được nguyên nhân có thể mổ khám quan sát bệnh tích đại thể chẩn đoán bệnh Tiến hành:

Những con chết nghi do mắc bệnh Parvovirus sẽ được mổ khám để quan

sát bệnh tích đại thể Các bệnh tích đặc trưng của bệnh bao gồm: Lách biến dạng, hạch màng treo ruột xuất huyết, ruột xung huyết hay xuất huyết thành ruột non mỏng do có sự bào mòn của nhung mao ruột, niêm mạc ruột bong tróc Gan có thể sưng, túi mật căng Trong trường hợp mổ khám quan sát thấy các bệnh tích

đặc trưng như trên có thể chẩn nghi con vật nhiễm Parvovirus Để chẩn đoán

được chính xác chúng ta cần tiến hành phương pháp hóa mô miễn dịch

Phương pháp hóa mô miễn dịch:

Đây là phương pháp miễn dịch huỳnh quang mới, trong đó kháng nguyên (KN) tế bào phần mô được đánh dấu bằng kỹ thuật hóa học Hóa mô miễn dịch dựa trên sự liên kết của kháng nguyên với kháng thể (KT) đặc trưng trong phần mô Phương pháp này giúp cho việc chẩn đoán bệnh một cách chính xác

Nguyên lý:

Phương pháp hóa mô miễn dịch sử dụng phản ứng kháng nguyên - kháng thể đặc hiệu áp dụng cho các mảnh cắt đã chuyển đúc paraffin Các mảnh cắt (của các mẫu bệnh phẩm) sau khi đã khử sạch Paraffin được phủ kín kháng thể lên bề mặt Nếu trong mô bệnh phẩm có kháng nguyên tương ứng với kháng thể, phức hợp kháng nguyên - kháng thể sẽ hình thành Phức hợp này được nhận biết nhờ hệ thống khuếch đại tín hiệu bao gồm kháng thể bắc cầu (kháng kháng thể)

và hoạt chất nhuộm màu DAB (3,39 diaminobenzidine tetraclorua)

Phương pháp mổ khám và hóa mô miễn dịch sử dụng trong trường hợp con bệnh chết Phương pháp chẩn đoán lâm sàng, xét nghiệm máu, phương pháp chẩn đoán huyết thanh học sử dụng trong trường hợp con vật còn sống Mỗi phương pháp đều có ưu nhược điểm riêng Tuy nhiên việc chẩn đoán lâm sàng, và sử dụng test CPV là không thể thiếu để chẩn đoán bệnh sớm nhằm nâng cao hiệu quả điều trị

2.1.8 Điều trị

Trên thế giới hiện nay chưa có thuốc đặc trị để loại bỏ virus nên việc điều trị chỉ mang tính giảm triệu chứng, hỗ trợ đề kháng cho con vật bệnh và phòng trị nhiễm trùng thứ cấp Mục đích cuối cùng của điều trị bệnh này là giúp con vật

Trang 25

sống một thời gian đủ để cơ thể của nó tạo ra một phản ứng miễn dịch Tỷ lệ sống còn phụ thuộc vào sự chuẩn đoán đúng và nhanh chóng được điều trị

Nguyên tắc của việc điều trị là chống nôn, chống mất nước,trợ sức trợ lực ngăn ngừa sự bội nhiễm của vi khuẩn

Sử dụng kết hợp các biện pháp sau:

Truyền dịch nhằm bù đắp lại lượng nước mất do nôn mửa, tiêu chảy và tùy theo biểu hiện lâm sàng (nếp gấp ở da, hốc mắt trũng sâu) và sinh học (hematocrite, protein, .) Việc bù đắp lượng nước phải có tính hệ thống và thường truyền qua đường tĩnh mạch hoặc đường dưới da Dung dịch này gồm nước sinh lý mặn để điều chỉnh lượng nước mất ngoại tế bào và nước sinh lý ngọt, acid amin thiết yếu để cung cấp năng lượng và protein Việc bù đắp nước phải đầy đủ, ít nhất 40 – 60 ml nước/ kg thể trọng Các nhà khoa học khuyến cáo dùng dung dịch Ringer hay dung dịch gồm nước sinh lý mặn (1/3) và nước sinh lý ngọt (2/3) có thêm vào 20meq KCL/lít dung dịch (Lê Thanh Hải, 1990); (Tô Dung và Xuân Dao, 2006)

Chống nôn: Sử dụng thuốc có tác dụng cầm nôn như primpera,atropin Chống vi khuẩn bội nhiễm: Sử dụng Ampicilline hoặc Gentamycine hoặc phối hợp Sulfamide và Trimethoprime

Phương pháp trợ sức: Dùng vitamin B, vitamin C, vitaminK

Bảo vệ niêm mạc dạ dày– ruột: Dùng Phosphalugel và Actapulgite (Nguyễn

Như Pho, 2003)

Ngoài ra cần kết hợp với chống shock do mất máu và chăm sóc đúng cách thì sẽ đưa lại tiên lượng tốt hơn Nhưng nếu chăm sóc không hợp lý, chó sẽ chết rất nhanh (môi trường dưỡng bệnh không tốt, không thắp đèn giữ ấm, tắm khi con vật đang ốm, cho ăn uống không theo chỉ định)

Sự thành công trong điều trị bệnh này phần lớn là do sức sống– sức chống chọi với bệnh tật của con vật

Trang 26

Chó phải thường xuyên tắm rửa sạch sẽ Những người tiếp xúc với chó bệnh có thể trở thành vật mang trùng nguy hiểm

b Phòng bệnh bằng vacxin

Bệnh do Parvovirus là một bệnh truyền nhiễm rất nguy hiểm với chó, tỷ lệ

mắc và tỷ lệ chết rất cao Vì vậy phòng bệnh cho chó bằng vaccine là biện pháp tốt nhất Chúng ta nên phòng bệnh cho chó con bắt đầu từ 6-8 tuần tuổi

Khó khăn lớn nhất trong việc phòng bằng vaccine là sự tồn tại của hàm lượng kháng thể thụ động từ mẹ truyền sang, ngay tại thời điểm mất kháng thể này thì việc tiêm phòng sẽ trở lên rất có ý nghĩa Những chó con có đủ lượng kháng thể từ mẹ sẽ không đáp ứng đối với vaccine Vì vậy, không nên phòng bệnh cho chó con đang trong thời kỳ bú mẹ

Tiêm nhắc lại mũi thứ 2 cách mũi thứ nhất 3 tuần Nhắc lại mũi thứ 3 cách mũi thứ hai 4 tuần Các năm sau đó tiêm nhắc lại, mỗi năm tiêm 1 lần (Trần Thanh Phong và Nguyễn Thị Thơ, 1996); (Nguyễn Như Pho, 2003)

Chú ý: Những con chó còn có đủ lượng kháng thể sẽ không có đáp ứng đối

Khi quá trình sinh nhiệt bằng quá trình thải nhiệt thì thân nhiệt sẽ không thay đổi, khi sinh nhiệt lớn hơn thải nhiệt thì thân nhiệt tăng, ngược lại sinh nhiệt nhỏ hơn thải nhiệt thì thân nhiệt giảm Hai quá trình này hoạt động song song và đối lập nhau Cơ chế điều hòa thân nhiệt thông qua các phản ứng hóa học vật lý

và sự điều tiết của thần kinh và thể dịch

Sự điều tiết hóa học là điều tiết cường độ trao đối chất Mùa đông trao đổi chất tăng để sinh nhiệt Mùa hè, trao đổi chất giảm để thải nhiệt Bởi vậy thân nhiệt được điều tiết ổn định

Sự điều tiết vật lý được biểu hiện bởi sự co giãn bề mặt da Khi nhiệt độ môi trường tăng da giãn làm tăng quá trình bốc hơi nước dẫn đến sự tỏa nhiệt tăng Khi nhiệt độ môi trường giảm thì da co lại, mạch máu ngoài da co lại dẫn

Trang 27

đến giảm lượng máu đến da làm giảm tỏa nhiệt Ở gia súc điều tiết thân nhiệt có thể còn bằng nhiều cách khác như: Mùa hè một số loài gia súc phải thay lông để tăng tỏa nhiệt, mùa đông lông gia súc mọc dầy, rậm, dài hơn nhằm giữ nhiệt Ngoài ra tăng tần số hô hấp sự bốc hơi nước của các tuyến mồ hôi cũng đóng vài trò quan trọng trong điều tiết thân nhiệt

Ở chó, mùa hè khi nhiệt độ môi trường tăng cao chó thường lè lưỡi ra để thở và liếm lông để giúp cho sự tỏa nhiệt bởi chó không có tuyến mồ hôi (Đỗ Hiệp, 1994) Khi nhiệt độ môi trường giảm thì điều tiết vật lý trước: Chó tìm nơi

ấm để nằm, nằm cuộn tròn hay tăng vận động để tăng cường thải nhiệt để giữ ấm cho cơ thể, sau mới đến điều tiết hóa học thông qua các quá trình chuyển hóa vật chất Ngoài ra tuyến giáp, vỏ thượng thận cũng tham gia vào sự điều tiết thân nhiệt thông qua cơ chế điều tiết thần kinh thể dịch: Khi nhiệt độ môi trường thay đổi sẽ tác động đến trung khu điều tiết ở vùng dưới đồi, rồi truyền lên vỏ não Từ

vỏ não các hưng phấn truyền theo thần kinh vận động đến cơ làm tăng hay giảm cường độ trao đổi chất Mặt khác, từ vùng dưới đồi hưng phấn tác động lên thần kinh trung ương và từ đó chi phối tuyến mồ hôi, sự co giãn da, ức chế hay kích thích tuyến giáp, tuyến trên thượng thận tiết hormone tham gia điều tiết thân nhiệt thông qua sự tăng hay giảm trao đổi chất

Trạng thái sinh lý bình thường thân nhiệt của chó là 37,5 °C – 39 °C Trong trạng thái bệnh lý thân nhiệt có sự thay đổi tùy vào tính chất và mức độ bệnh Ngoài ra thân nhiệt của chó còn thay đổi phụ thuộc vào tính biệt, tuổi, sự vận động (Trần Minh Châu và cs.,1988) Chó cái thường có thân nhiệt cao hơn chó đực Chó con có thân nhiệt cao hơn chó trưởng thành Khi vận động thân nhiệt của chó cao hơn bình thường Giống chó cao sản có thân nhiệt cao hơn chó thấp sản Trong thời kì mang thai hoặc sau khi ăn thân nhiệt của chó cũng tăng hơn bình thường

Khi bị rối loạn cơ thể điều tiết nhiệt dẫn tới sự biến đổi bất biến, hậu quả là bị mất cân bằng giữa hai quá trình sinh nhiệt và thải nhiệt dẫn tới hai trạng thái khác nhau là giảm thân nhiệt hoặc tăng thân nhiệt (Tạ Thị Vinh, 1991)

Sự giảm thân nhiệt thường do mất máu, bị nhiễm lạnh, do một số hóa chất tác dụng, do giảm quá trình sinh nhiệt, sốc hoặc sau cơn kịch phát của bệnh nhiễm khuẩn làm hạ huyết áp, trụy tim mạch, gặp trong các bệnh thần kinh bị ức chế nặng như thủy thũng não

Trang 28

Sự tăng nhiệt độ thường gặp khi nhiệt độ môi trường quá cao, gặp trong các trường hợp như bệnh cảm nắng, cảm nóng, các bệnh truyền nhiễm do vi khuẩn, virus, bệnh ký sinh trùng, gây trạng thái sốt cao

Ý nghĩa: Sự thay đổi thân nhiệt có thể biết con vật có sốt hay không Nếu thân nhiệt tăng 1-2°C là sốt nhẹ Nếu thân nhiệt tăng 2-3°C là hiện tượng sốt cao Qua đó có thể sơ chẩn được nguyên nhân, tính chất và mức độ tiên lượng, đánh giá được hiệu quả điều trị tốt hay xấu (Hồ Văn Nam và cs., 1997)

Ở trạng thái sinh lý bình thường, chó con có tần số hô hấp từ 18 - 20 lần/phút Chó trưởng thành: giống chó to có tần số hô hấp từ 10 - 20 lần/phút, giống chó nhỏ có tần số hô hấp 20 - 30 lần/phút (Hồ Văn Nam và cs., 1997)

Tần số hô hấp phụ thuộc vào những yếu tố sau

- Nhiệt độ bên ngoài môi trường: khi thời tiết quá nóng nên chó phải thở nhanh để tỏa nhiệt, ở chó nhịp thở có thể lên tới 100 - 160 lần/phút

- Thời gian trong ngày: ban đêm và sáng sớm chó thở chậm hơn, buổi trưa

và buổi chiều chó thở nhanh hơn

- Tuổi: con vật càng lớn tuổi thì tần số hô hấp càng thấp

- Những con mang thai, sự sợ hãi cũng làm cho tần số hô hấp tăng lên Quá trình hô hấp tác động trực tiếp đến đời sống của con vật, mà tần số

hô hấp là một đặc điểm biểu thị cho hoạt động bình thường hay không bình thường của quá trình hô hấp Do đó, khi tần số hô hấp thay đổi đột ngột, quá tăng hay quá giảm so với trạng thái sinh lý thì chắc chắn con vật đang rơi vào tình trạng bệnh lý, trừ một số trường hợp như: khi gia súc hoạt động mạnh, gia súc sống trong bầu không khí nóng bức, ngột ngạt, gia súc đang mang thai, … Tần số hô hấp thường tăng ở những gia súc mắc bệnh về đường hô hấp, làm mất đàn hồi của phổi, bệnh truyền nhiễm cấp, bệnh ký sinh trùng đường máu, … Tần số hô hấp giảm khi gia súc mắc các chứng bệnh như hẹp khí quản, bệnh gây

Trang 29

ức chế thần kinh (u não, viêm não, chảy máu não, tràn dịch não), khi con vật bị lạnh, bị rối loạn trao đổi chất, …

2.2.3 Tần số mạch đập (lần/ phút)

Tần số tim mạch là số lần co bóp của tim trong một phút (lần/phút) Khi tim đập thì mõm tim hoặc thân tim chạm vào thành ngực, vì vậy mà ta có thể dùng tay hoặc dùng tai nghe áp vào thành ngực vùng tim để nghe được tiếng tim Khi tim có bóp sẽ đẩy một lượng máu vào động mạch làm mạch quản mở rộng, thành mạch quản căng phồng Sau đó nhờ vào tính đàn hồi, mạch quản tự co bóp lại cho đến thời kỳ co tiếp theo tạo nên hiện tượng động mạch đập Dựa vào tính chất này ta có thể tính được nhịp độ mạch sẽ tương đương với nhịp tim đập Mỗi loài gia súc khác nhau thì tần số tim mạch cũng khác nhau Sự khác nhau này cũng biểu hiện ơ từng lứa tuổi trong một loài động vật, tính biệt, thời điểm Nhịp

độ mạch đập tương ứng với nhịp tim Tuy vậy tần số tim mạch của động vật chỉ dao động trong một phạm vi nhất định (Cù Xuân Dần và cs., 1996); (Trần Thanh Phong và Nguyễn Thị Thơ, 1996)

Ở trạng thái sinh lý bình thường: Chó non 200 – 220 lần/phút, chó trưởng thành 70 – 120 lần/phút, chó già 70 – 80 lần/phút (Nguyễn Phước Trung, 2002) Nhịp tim thể hiện tần số trao đổi chất, trạng thái sinh lý, bệnh lý của tim cũng như của cơ thể Tần số tim phụ thuộc vào tầm vóc của con vật, độ gầy béo, lứa tuổi, giống loài Ở trạng thái sinh lý bình thường, có hai cơ chế điều hòa tim mạch bằng thần kinh và thể dịch Con vật non có tần số tim đập lớn hơn con già, con vật lúc hoạt động nhiều thì tần số tim mạch đập tăng lên Khi cơ thể bị một

số bệnh về máu (thiếu máu, mất máu, viêm cơ tim, viêm bao tim) cũng làm tăng tần số tim mạch (Nguyễn Tài Lương, 1982)

Ý nghĩa chẩn đoán: Qua việc bắt mạch có thể khám tim và tình trạng toàn

thân của cơ thể Tần số mạch tăng do các bệnh truyền nhiễm cấp tính, viêm cấp tính, các trường hợp thiếu máu, hạ huyết áp và các bệnh làm tăng áp lực xoang bụng (Nguyễn Tài Lương, 1982)

Tần số mạch giảm trong các trường hợp bệnh làm tăng áp lực sọ não, tăng hưng phấn thần kinh mê tẩu, hoặc trong tường hợp gia súc bị viêm thận cấp, huyết áp tăng hay do trúng độc

2.3 MÁU VÀ VAI TRÒ CỦA MÁU TRONG CƠ THỂ

Máu phản ánh tình trạng sức khỏe của cơ thể, là một chất dịch nằm trong

Trang 30

tim và hệ thống mạch máu (gọi là huyết dịch) Máu là nguồn gốc của hầu hết các dịch thể trong cơ thể như dịch nội bào, dịch gian bào, dịch bạch huyết và dịch não tủy

Số lượng máu thay đổi tùy theo loài động vật Tổng lượng máu trong cơ thể gồm 54% máu lưu thông trong hệ thống tuần hoàn, 46% máu ở dạng dự trữ, trong đó ở gan chiếm 20%, lách chiếm 16%, mao mạch dưới da chiếm 10% Hai loại máu này thường xuyên chuyển hóa lẫn nhau

Máu là một trong những cơ quan chuyên hóa cao của cơ thể Mọi động vật sống trong môi trường phải thường xuyên trao đổi chất với bên ngoài Với động vật đơn bào thì đơn giản vì chúng trực tiếp trao đổi chất qua màng, các quá trình hô hấp, tiêu hóa, bài tiết… đều theo một thể thức đơn giản Động vật

đa bào, quá trình trao đổi chất diễn ra phức tạp, phương thức trao đổi chất trực tiếp với môi trường không thể tiến hành được mà cần có sự trao đổi chất qua một chất trung gian có liên hệ với tế bào và môi trường ngoài Chất đó là nội

mô gồm máu và bạch huyết Sự trao đổi giữa môi trường và tế bào trải qua nhiều giai đoạn, giữa môi trường và máu, giữa máu và bạch huyết, giữa bạch huyết và tế bào, bạch huyết với dịch kẽ tế bào tạo thành nội mô và thể dịch tới các cơ quan tế bào trong cơ thể Trong tế bào máu lưu thông nhờ bộ máy tuần hoàn gồm 2 vòng Máu thực hiện nhiều chức năng quan trọng và cũng rất phức tạp: đảm nhận chức năng hô hấp, dinh dưỡng, đào thải, điều hòa hoạt động của các cơ quan trong cơ thể, bảo về cơ thể

Máu gồm 2 thành phần chính: Thành phần dịch thể (huyết tương) và thành phần hữu hình (huyết cầu)

2.3.1 Thành phần dịch thể

Huyết tương chiếm 60% thể tích của máu, có màu vàng nhạt do chứa sắc tố Trong huyết tương, thành phần chủ yếu là protein gồm: Albumin, globulin, fibrinogen, đường ( chủ yếu là đường glucoza với hàm lượng 60 – 120%), ngoài

ra còn có các hạt mỡ, hormone, vitamin, enzyme và muối khoáng Protein của huyết tương có 3 loại chính, bao gồm: Albumin tham gia cấu tạo nên mô bào, cơ quan trong cơ thể; vì thế, hàm lượng albumin trong máu biểu thị khả năng sinh trưởng của gia súc Nó là tiểu phần chính để tạo nên áp suất thẩm thấu thể keo; globulin gồm có: α β γ globulin (kháng thể); fibrinogen là chất sinh sợi huyết, tham gia vào quá tình đông máu (Phạm Minh Đức, 1995)

Trang 31

2.3.2 Thành phần hữu hình

Huyết cầu chiếm 40% gồm hồng cầu, bạch cầu, tiểu cầu đều do tủy xương tạo

ra Các tế bào tăng lên hoàn toàn bằng cách phân bào sau đó là sự trưởng thành của mỗi dòng tế bào (Phạm Minh Đức, 1995) Tế bào gốc bao gồm tế bào liên võng (gồm liên võng thực bào, liên võng kiểu monocyte) và kiểu lymphocyte

a Hồng cầu

Năm 1673, Leewenhook, người phát minh ra kính hiển vi đã phát hiện ra một khối hình cầu nhỏ trong máu người Năm 1873, William Henson thừa nhận những phần tử có màu đỏ là hồng cầu và chúng có vai trò lớn trong cơ thể

Hồng cầu của gia súc có hình đĩa lõm 2 mặt, không có nhân để tăng diện tích tiếp xúc với chất khí

Số lượng hồng cầu thay đổi theo giống, tuổi, giới tính, chế độ dinh dưỡng, trạng thái sinh lý và bệnh lý của cơ thể

Số lượng hồng cầu phản ánh chất lượng con giống Số lượng hồng cầu càng nhiều thì sức sống của con vật càng tốt Khi hồng cầu bị giảm đột ngột là biểu hiện của một số bệnh như lê dạng trùng, tiên mao trùng ở gia súc do hồng cầu bị phá hủy hàng loạt

Hồng cầu sống không lâu, hồng cầu của loài nhai lại và lợn chỉ sống từ 1- 2 tháng, còn của các động vật khác là 4 tháng Hồng cầu già sẽ vỡ ra và được tế bào lưới, nội mô ở gan, lách, tủy xương tiến hành thực bào

Nhiều hồng cầu non được sinh ra không ngừng nên số lượng hồng cầu trong máu nói chung là ít thay đổi

b Bạch cầu

Bạch cầu là loại tế bào máu có nhân, tương bào, có khả năng di động theo kiểu amip, không có sắc tố với số lượng ít ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sinh lý của cơ thể Bạch cầu được tạo ra trong hệ thống nội mô và bị phá hủy ở gan và lách Chức năng của bạch cầu là bảo vệ cơ thể chống nhiễm trùng và ngộ độc trong hệ thống phòng vệ chung của cơ thể, chức năng này được thực hiện thông qua hiện tượng thực bào và miễn dịch dịch thể

Bạch cầu được chia làm 2 loại: bạch cầu có hạt và bạch cầu không hạt

Bạch cầu có hạt

Trong bào tương có nhiều hạt, căn cứ vào đặc điểm bắt màu của các hạt trong bào tương chia làm 3 loại

Trang 32

Bạch cầu ái toan là loại bạch cầu trong bào tương có hạt to trong bắt màu

đỏ, nhân cũng được chia làm ba loại ấu, gậy, đốt, nhưng thường chia nhiều múi nối với nhau

Bạch cầu ái kiềm là loại bạch cầu trong bào tương có hạt bắt màu xanh,

nhân có dạng chữ “S” hoặc hình lá

Bạch cầu trung tính là loại bạch cầu mà trong bào tương có các hạt nhỏ,

mịn, bắt màu hồng nhạt hoặc tím hoa cà Nhân có hai dạng, khi còn non nhân có hình ấu và hình gậy, khi trưởng thành nhân chia làm 3 – 5 đốt Bạch cầu trung tính di động kiểu amip và có thể trườn trên các sợi tơ loại như tơ huyết Chức năng chính của bạch cầu đa nhân trung tính là thực bào

Bạch cầu không hạt gồm hai loại

Lâm ba cầu (lymphocyte): Có vòng sáng xung quanh nhân, nhân hình gần

tròn, hoặc hình bầu dục chiếm hầu hết tế bào Ở gia súc lâm ba cầu tăng mạnh trong các bệnh sốt truyền nhiễm (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)

Bạch cầu đơn nhân lớn là loại bạch cầu to nhất, nhân hình móng ngựa

chiếm gần hết bào tương Bào tương không hạt nhuộm màu xám tro Chúng có khả năng thực bào và ẩm bào các dị vật và các vi sinh vật, do đó đóng vai trò quan trọng trong cơ thể tạo sức kháng ban đầu cũng như trong cơ chế đáp ứng miễn dịch của cơ thể

Chức năng sinh lý của bạch cầu đó là: thực bào, miễn dịch dịch thể và miễn

dịch tế bào

Thực bào là khả năng ăn những chất lạ hoặc vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể

tạo cho cơ thể sức đề kháng tự nhiên dẫn đến hình thành miễn dịch bẩm sinh (Nguyễn Xuân Tịnh và cs., 1996)

Bạch cầu trung tính, bạch cầu đơn nhân lớn: là hai loại bạch cầu có khả

năng thực bào rất mạnh, đặc biệt là bạch cầu trung tính, nhưng toàn diện nhất lại

là bạch cầu đơn nhân lớn Bạch cầu trung tính và bạch cầu đơn nhân lớn giảm nhanh khi chó bị viêm ruột ỉa chảy nhất là trong trường hợp chó mắc hội chứng viêm ruột ỉa chảy cấp tính

Bạch cầu ái toan có vai trò trung hòa chất histamine và vận chuyển

serotonin, có hoạt động thực bào nhưng không quan trọng, vai trò sinh lý của bạch cầu ái toan không rõ ràng Chúng tham gia vào những phản ứng bảo vệ cơ thể trong tình huống dị ứng miễn dịch Bạch cầu ái toan giảm khi chó bị viêm ruột, tăng trong các bệnh dị ứng, hen suyễn, thời kỳ phục hồi của bệnh

Trang 33

Bạch cầu ái kiềm: Trong bạch cầu ái kiềm có một số men, histamine bất

hoạt, chúng chỉ hoạt động được khi được giải phóng ra ngoài Chúng có khả năng gắn kết các IgE trên màng tế bào có phản ứng kháng nguyên

Tế bào lympho thực hiện phản ứng miễn dịch dịch thể nhờ 2 dạng tế bào lympho B và lympho T của cơ thể

Sự biến đổi số lượng bạch cầu và ý nghĩa trong chẩn đoán

Số lượng bạch cầu thường ít ổn định và phụ thuộc vào trạng thái sinh lí của

cơ thể Trong trường hợp sinh lí, số lượng bạch cầu thường tăng sau khi ăn, khi đang vận động, khi con vật có thai… và giảm khi tuổi tăng lên

Hiện tượng tăng bạch cầu

Tăng bạch cầu trung tính gặp trong các tình trạng nhiễm khuẩn, có các viêm

mủ, khi tiêm vaccine,

Tăng bạch cầu ái toan gặp trong trường hợp dị ứng, nhiễm kí sinh trùng đường tiêu hóa, bệnh ngoài da, tăng sinh tủy xương sau nhiễm xạ

Tăng bạch cầu ái kiềm gặp trong các bệnh bạch cầu ác tính dòng bạch cầu

có hạt, dị sản tủy xương

Tăng bạch cầu lymphocyte trong nhiễm virus, nhiễm khuẩn mạn tính, viêm gan

Tăng monocyte khi cơ thể nhiễm khuẩn mạn tính, lao

Hiện tượng giảm số lượng bạch cầu

Thường gặp trong các trường hợp ngộ độc asen, sulfamit, trong các bệnh dịch tả lợn, phó thương hàn, viêm phổi,

Giảm bạch cầu trung tính gặp trong nhiễm trùng huyết, xảy thai, truyền nhiễm, nhiễm xạ, trúng độc bezen, thủy ngân,

Theo Nguyễn Xuân Tịnh và cs (1996) số lượng bạch cầu của chó là 9,4 nghìn/ mm3 máu

Theo Vũ Như Quán và cs., 2010 tỷ lệ (%) các loại bạch cầu của chó khỏe là:

Trang 34

Đơn nhân lớn 4,82

c Tiểu cầu

Hay còn gọi là huyết tiểu bản thường có nhiều trong máu Tiểu cầu không có nhân, có hạt ái kiềm gọi là hạt nhiễm sắc, tập trung thành từng đám xung quanh bào tương ái kiềm gọi là khu sáng Tuy không có nhân nhưng tiểu cầu vẫn mang nhiều hạt và chuyển hóa mạnh mẽ, đóng vai trò rất quan trọng trong đông, cầm máu Chức năng chính của tiểu cầu là giải phóng chất Throboplastin, góp phần làm đông máu Ngoài ra còn có tính chất đặc biệt là ngưng kết thành từng cục mỗi khi gặp diện tích thô ráp và vật lạ Vì thế, tiểu cầu đóng góp vào việc bảo vệ

cơ thể và làm cho vết thương có thể khép lại mau chóng do ngưng kết quanh miệng vết thương

Tiểu cầu sống được 3 - 5 ngày, bình thường bị phân hủy trong các tế bào liên võng nội mạc của gan, nhất là lách Số lượng tiểu cầu tăng lúc ăn nhiều thịt, lúc chảy máu, những cơn dị ứng, khi bị cắt lách, chấn thương, dập nát, nhiễm khuẩn, Tiểu cầu giảm trong bệnh thiếu máu ác tính, bệnh ban xuất huyết, sốc phản vệ, trong các giai đoạn cấp tính của các bệnh nhiễm trùng và lúc bị chiếu chất phóng xạ

Bảng 2.1 Chỉ tiêu sinh lý trên chó

Ngày đăng: 17/07/2021, 07:12

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w