1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh nấm phổi (aspergillosis) ở đàn ngan vịt nuôi tại phú xuyên hà nội

65 8 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 4,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN Tên tác giả: Trần Thị Thanh Tâm Tên luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh nấm phổi Aspergillosisở đàn ngan - vịt nuôi tại Phú Xuyên - Hà Nội”.. Nhằm đ

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi với sự giúp đỡ của tập thể trong và ngoài cơ quan

Các kết quả nêu trong luận văn là trung thực và tôi xin chịu trách nhiệm về những

số liệu trong bản luận văn này

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh Tâm

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Có được công trình nghiên cứu này, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn và kính trọng sâu sắc tới các thầy cô giáo trong bộ môn Bệnh lý, Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam đã giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong quá trình học tập và thực hiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS TS Nguyễn Hữu Nam đã đầu tư nhiều công sức

và thời gian chỉ bảo tận tình giúp tôi thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới các nhà khoa học, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp đã giúp đỡ, tạo điều kiện cho tôi nâng cao kiến thức, hoàn thành bản luận văn này

Tôi xin cảm ơn gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã động viên, giúp đỡ và tạo điều kiện thuận lợi cho tôi hoàn thành luận văn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Trần Thị Thanh Tâm

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt v

Danh mục bảng biểu vi

Danh mục hình ảnh vii

Trích yếu luận văn viii

Thesis abstract ix

Phần 1 Đặt vấn đề 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục đích của đề tài 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm phổi gia cầm ở trong nước và thế giới 3

2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm phổi gia cầm trên thế giới 3

2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm phổi ở trong nước 4

2.2 Đặc điểm sinh lý của ngan, vịt 4

2.2.1 Ngan Pháp 4

2.2.2 Vịt Super Meat 5

2.3 Hiểu biết về căn bệnh 9

2.3.1 Một số đặc điểm của nấm Aspergillosis 9

2.3.2 Một số nguyên nhân gây bệnh nấm phổi 18

2.3.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh nấm phổi 19

2.3.4 Dịch tễ bệnh 19

2.3.5 Triệu chứng của ngan, vịt mắc nấm phổi 19

2.3.6 Bệnh tích của ngan, vịt mắc nấm phổi 20

2.3.7 Chẩn đoán của ngan, vịt mắc nấm phổi 21

2.3.8 Phòng và kiểm soát bệnh nấm phổi 23

Trang 5

2.3.9 Điều trị bệnh nấm phổi 24

Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu 25

3.1 Đối tượng, địa điểm, nguyên liệu nghiên cứu 25

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 25

3.1.2 Địa điểm nghiên cứu 25

3.1.3 Nguyên liệu nghiên cứu 25

3.2 Nội dung nghiên cứu 25

3.3 Phương pháp nghiên cứu 26

3.3.1 Phương pháp xác định triệu chứng lâm sàng và bệnh tích 26

3.3.2 Phương pháp xác định các chỉ tiêu theo dõi 26

3.3.3 Phương pháp điều tra lấy mẫu 26

3.3.4 Phương pháp làm tiêu bản vi thể 26

3.3.5 Phương pháp xử lý số liệu 31

Phần 4 Kết quả và thảo luận 32

4.1 Điều tra tình hình bệnh nấm phổi trên đàn ngan, vịt nuôi tại phú xuyên - hà nội 32

4.2 Kết quả nghiên cứu triệu chứng lâm sàng của ngan, vịt mắc bệnh nấm phổi 35

4.3 Kết quả nghiên cứu bệnh tích của ngan, vịt bệnh 40

4.3.1 Kết quả nghiên cứu bệnh tích đại thể của ngan – vịt mắc bệnh 40

4.3.2 Kết quả nghiên cứu bệnh tích vi thể của ngan – vịt mắc bệnh 46

Phần 5 Kết luận và đề nghị 52

5.1 Kết luận 52

5.2 Đề nghị 52

Tài liệu tham khảo 54

Trang 7

DANH MỤC BẢNG BIỂU

Bảng 4.1 Tỷ lệ mắc, tỷ lệ chết của ngan, vịt mắc bệnh nấm phổi tại 1 số xã

thuộc huyện Phú Xuyên – Hà Nội 33

Bảng 4.2 Triệu chứng lâm sàng của ngan, vịt bệnh trong đợt kiểm tra lần thứ nhất 36

Bảng 4.3 Triệu chứng lâm sàng của ngan, vịt quan sát được trong đợt kiểm tra lần thứ hai 37

Bảng 4.4 Kết quả mổ khám bệnh tích ở ngan, vịt bị bệnh nấm phổi 41

Bảng 4.5 Vị trí xuất hiện ở hạt nấm ở ngan, vịt bệnh 43

Bảng 4.6 Kích thước của các hạt nấm ở ngan, vịt bị bệnh 44

Bảng 4.7 Kết quả biến đổi bệnh lý vi thể ở ngan, vịt mắc bệnh nấm phổi 47

Trang 8

DANH MỤC HÌNH ẢNH

Hình 2.1 Ngan Pháp giống 9

Hình 2.2 Ngan Pháp trưởng thành 9

Hình 2.3 Vịt Super Meat 9

Hinh 2.4 Nấm Aspergillosis 10

Hình 4.1 Vịt bại liệt 47

Hình 4.2 Vịt thở khó, ngoẹo đầu 47

Hình 4.3 Ngan ủ rũ, kém ăn 47

Hình 4.4 Xác gầy 47

Hình 4.5 Xác khô, gầy, lông xơ xác 47

Hình 4.6 Mí mắt phù, chảy nước mắt 47

Hình 4.7 Hạt nấm mặt sau phổi 53

Hình 4.8 Hạt nấm ở thành túi khí 53

Hình 4.9 Hạt nấm ở màng treo ruột, màng gan 53

Hình 4.10 Hạt nấm thành ruột 53

Hình 4.11 Hạt nấm ở phổi và thành túi khí 53

Hình 4.12 Hạt nấm ở não 53

Hình 4.13 Hạt nấm mọc trong phổi 49

Hình 4.14 Giới hạn hạt nấm với vùng xung quanh 49

Hình 4.15 Hạt nấm con đang hình thành trong phổi 49

Hình 4.16 Xuất hiện tế bào bán liên và tế bào khổng lồ xung quanh hạt nấm 49

Hình 4.17 Sung huyết mạch quản phổi Phế quản giãn rộng, chứa đầy dịch nhầy 49

Hình 4.18 Xuất huyết phổi 49

Hình 4.19 Sung huyết khí quản, tế bào biểu mô tổn thương 50

Hình 4.20 Khí quản xuất huyết 50

HÌnh 4.21 Sung huyết gan 50

Hình 4.22 Gan thoái hóa mỡ 50

Hình 4.23 Sung huyết ruột 50

Hình 4.24 Xuất huyết ở kẽ thận 50

Trang 9

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Trần Thị Thanh Tâm

Tên luận văn: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh nấm phổi (Aspergillosis)ở đàn ngan - vịt nuôi tại Phú Xuyên - Hà Nội”

- Nghiên cứu đặc điểm bệnh lý của ngan – vịt mắc nấm phổi

Phương pháp nghiên cứu:

- Xác định tỷ lệ mắc, chết do bệnh nấm phổi ở đàn ngan – vịt bằng phương pháp điều tra, phỏng vấn trực tiếp người chăn nuôi kết hợp với việc theo dõi, thăm khám trực tiếp

- Xác định triệu chứng lâm sàng bằng phương pháp quan sát trực tiếp đàn ngan – vịt theo dõi

- Xác định bệnh tích đại thể bằng phương pháp mổ khám, quan sát những biến đổi

ở các cơ quan con vật mắc bệnh

- Xác định bệnh tích vi thể bằng phương pháp thu thập mẫu bệnh phẩm ở cơ quan

có tổn thương bệnh lý hình thái rõ làm tiêu bản vi thể, quan sát các biến đổi cấu trúc của mẫu bệnh phẩm đó dưới kính hiển vi quang học có độ phóng đại khác nhau

3 Bệnh tích đại thể đặc trưng: hạt nấm mọc nhiều ở các cơ quan: túi khí, phổi, màng ngực, khí quản, bao tim, gan, màng treo ruột nhưng nhiều nhất ở phổi (100%)

4 Bệnh tích vi thể điển hình: tế bào nhu mô phổi bị thoái hóa, hoại tử Vùng xung quanh hạt nấm xuất hiện nhiều tế bào viêm

Trang 10

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Tran Thi Thanh Tam

Thesis title: “A study of pathological characteristics of pulmonary fungal disease (Aspergillosis) in breeding ducks in the flock of geese-Phu Xuyen, Ha Noi”

Major: Veterinary Medicine Code: 60 64 01 01 Educational organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

- To identify clinical symptoms by direct observation of ducks

- To determinate general lesions by surgical methods, observation of changes in the organs of infected animals

- To determinate microscopic lesions by the method of collecting specimens in the organs with morphologically pathological lesions as microscopic specimens, observing the structural changes of the specimens under the optical microscope which have different magnification

- To determine the criteria of the red blood cell and white blood system by blood test of unhealthy ducks compared to the healthy one

- To process data processing methods

Materials and Methods

1 Ducks and lung disease in many ages, many died from 5-7 days, especially

in the fifth day

2 The disease has clinical symptoms: somnolence, fatigue, quit eating, thirst, rapid breathing, difficulty breathing, stretching neck to breathe, white feces (100%) In addition, the infected animals have different symptoms such as tears, nose, head turn, dull neck Animals die in the position gradually losing 75.00%

3 Major general morbidities: fungal seeds grow in organs: air sacs, lungs, thoracic membrane, airway, heart, liver, mesentery but most in the lung (100%)

4 Typical microscopic lesions: pulmonary parenchyma cells degenerate, necrosis The surrounding fungal seeds appear more inflammatory

Trang 11

PHẦN 1 ĐẶT VẤN ĐỀ

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Việt Nam là một nước có truyền thống lâu đời về ngành nông nghiệp, trong đó ngành chăn nuôi giữ vai trò hết sức quan trọng, nó góp phần vào việc phát triển kinh tế nông nghiệp và nâng cao chất lượng cho cuộc sống của nhân dân.Trong đó chăn nuôi các loài gia cầm và thủy cầm hiện nay đang mang lại giá trị kinh tế to lớn Nắm bắt được những lợi thế về điều kiện khí hậu nhiệt đới nóng

ẩm, cùng đa dạng trong phương thức nuôi thả ở nước ta người chăn nuôi đã liên tục bổ sung những giống gà, ngan, vịt có chất lượng cao để chăn thả trên diện rộng Đặc biệt trong những năm gần đây các nổi lên giống ngan Pháp cho chất lượng thịt, trứng rất cao Ngan Pháp là giống ngan có nguồn gốc từ Pháp và có rất nhiều dòng khác nhau, chúng cho sản lượng trứng cao và ổn định Các dòng phổ biến như: R31, R41, R51, R61, R71 và giống siêu nặng Tuy nhiên việc nuôi dưỡng cũng như chăm sóc còn gặp rất nhiều khó khăn, đặc biệt là vấn đề dịch bệnh Với ngan Pháp, những bệnh gặp phải khi ngan còn ở giai đoạn non cần phải đặc biệt quan tâm, nó quyết định đến sinh trưởng và phát triển giai đoạn sau của cả đàn Trong đó, bệnh nấm phổi do nấm Aspergillus gây ra thường xuyên xuất hiện và để lại hậu quả nghiêm trọng cho đàn

Cho đến nay, vịt là loài thủy cầm được người dân chăn nuôi nhiều nhất Trên thế giới hàng năm có khoảng 550 đến 600 triệu vịt, trong đó ở châu Á chiếm tới

80 – 86% tổng đàn vịt Những nước nuôi nhiều vịt phải kể đến là Trung Quốc, Thái Lan, Banglades và Việt Nam Nước ta hàng năm đàn vịt sản xuất ra khoảng

30000 đến 40000 tấn thịt hơi; 0,8 đến 1tỷ quả trứng và khoảng 1000 đến 1500 tấn lông (Trịnh Quang Khuê, 2007) Đến năm 2003 số vịt tăng bình quân 7%, đạt gần 70 nghìn tấn thịt vịt; 1,5 tỷ quả trứng vịt và 3500 tấn lông (TS Lâm Minh Thuận và ThS Chế Minh Tùng, 2004)

Theo số liệu thống kê của FAO (2003): Tổng số vịt của Việt Nam là 57 triệu con, đứng thứ 2 thế giới, sau Trung Quốc; sản lượng thịt vịt ở Việt Nam là 67,8 nghìn tấn, đứng thứ 5 thế giới Hình thức chăn nuôi vịt chủ yếu của người dân là chăn thả, tận dụng thóc lúa theo mùa vụ Hàng năm, Việt Nam sản xuất trên 32 triệu tấn lương thực, chủ yếu là thóc Nếu tính 5% lượng thóc rơi rụng thì

đó không phải là một lượng thức ăn mất mát không nhỏ Nuôi vịt theo kiểu chăn thả tận dụng không chỉ giúp người chăn nuôi có thể tiết kiệm rất lớn chi phí về

Trang 12

thức ăn mà còn là biện pháp cơ bản giúp giải quyết vấn đề lãng phí lương thực nêu trên Tuy nhên, phương thức chăn nuôi này lại trở thành một yếu tố đáng quan tâm hơn bao giờ hết

Do nấm Aspergillus fumigatus, Aflavus, A.niger Bệnh lây nhiễm đối với tất

cả loài gia cầm đặc biệt là vịt, ngỗng ở 1 – 3 tuần tuổi

Nhằm đóng góp thêm cơ sở khoa học đánh giá về tình hình dịch bệnh, sự thiệt hại của bệnh trong chăn nuôi và góp phần bổ sung hoàn thiện các biện pháp phòng chống bệnh dịch cho đàn ngan, vịt đạt hiệu quả cao, chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu một số đặc điểm bệnh lý của bệnh nấm phổi (Aspergillosis) ở đàn ngan - vịt nuôi tại Phú Xuyên - Hà Nội”

1.4 Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN

- Bổ sung thêm những thông tin về triệu chứng lâm sàng, bệnh tích đại thể - vi thể về bệnh nấm phổi ở đàn ngan - vịt nuôi tại 6 xã thuộc huyện Phú Xuyên – Hà Nội

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở khoa học đánh giá về tình hình dịch bệnh, sự thiệt hại của bệnh trong chăn nuôi và góp phần bổ sung hoàn thiện các biện pháp phòng chống bệnh dịch cho đàn ngan, vịt đạt hiệu quả cao

Trang 13

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU BỆNH NẤM PHỔI GIA CẦM Ở TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI

2.1.1 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm phổi gia cầm trên thế giới

Aspergillosis được xem như một trong những bệnh nguy hiểm của các loài gia cầm mà tác nhân gây bệnh là các loài nấm thuộc giống Aspergillus, ký sinh

và gây bệnh ở phổi của gia cầm

Lịch sử nghiên cứu bệnh:

Sự ký sinh nấm ở động vật, trong đó có cả gia cầm đã được xác định bởi các thí nghiệm từ thế kỷ 18 Vào những năm 1749, nấm đã được phát hiện lần đầu trong trứng khi ấp

Danh từ “bệnh nấm” lần đầu tiên xuất hiện vào năm 1854 Năm 1858, Frezenius đã phân lập được nấm từ phổi và chẩn đoán là Aspergillus fumigatus Từ đó bệnh do nấm Aspergillus gây nên được gọi là Aspergillosis (Nguyễn Thát, 1997)

Những năm tiếp theo việc nghiên cứu bệnh này đã bắt đầu sâu hơn và có

số lớn công trình về việc xác định đặc tính, hình dạng, nuôi cấy của nấm, sự phân

bố của nó trong tự nhiên, các độc tố do nó sản sinh ra cũng như các công trình nghiên cứu về tính chất hóa học và sinh vật học của chúng Lần đầu tiên vào những năm 1906, Boden và Gotie đã xác định nội độc tố của nấm này

Các nghiên cứu này đều đã khẳng định: bệnh nấm phổi là một bệnh thường gặp phổ biến ở gia cầm và các loài chim hoang dã, tuy không làm chết hàng loạt như các bệnh truyền nhiễm nhưng gia cầm bị bệnh này thường gầy, yếu; giảm sức sản xuất thịt, trứng, buộc phải loại thải, gây thiệt hại nhiều về kinh

tế cho ngành chăn nuôi gia cầm Các loài chim hoang dã bị bệnh nấm phổi chính

là nguồn tàng trữ mầm bệnh cho các loài gia cầm trong tự nhiên

Một số kết quả điều tra ở các nước Châu Âu và Bắc Mỹ đã cho thấy: bệnh nấm phổi ở các loài gia cầm khá phổ biến căn cứ vào bệnh tích quan sát được ở phổi, túi khí và các khí quan các của gia cầm cũng như nuôi cấy, phân lập Aspergillus spp, từ bệnh phẩm đường hô hấp của chim bệnh, nuôi cấy trong môi trường nhân tạo (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2005)

Trang 14

2.1.2 Tình hình nghiên cứu bệnh nấm phổi ở trong nước

Qua tình hình dịch bệnh và thực tế mổ khám đã có một số tác giả mô tả đặc điểm dịch tễ, triệu chứng và bệnh tích của bệnh, từ đó đưa ra cách phòng chống

Năm 1972, bệnh nấm phổi đã được phát hiện xã Liên Chiều (huyện Bình Lục, tỉnh Hà Nam) Ở đây, đã có 53 trong số 147 vịt trong một đàn vịt đẻ phát bệnh với các triệu chứng: gầy rạc, chết dần, vịt có tiếng kêu khàn như vịt đực, cánh xã, thở khó Mổ khám vịt chết đã phát hiện các ổ nấm do Aspergillus fumigatus trong phổi, túi khí, buồng trứng.Sau đó, bệnh nấm phổi Aspergillosis cũng thấy ở vịt, ngỗng ở huyện Phú Xuyên (Hà Tây), ở gà, ngan Pháp Năm

1997, tại cơ sở khuyến nông tỉnh Nam Định, bệnh Aspergillosis đã gây chết 300/370 ngan Pháp con (Phạm Minh Đạo, 1999)

Tác giả Lê Hồng Mận, Xuân Giao thì mô tả bệnh nấm phổi trên gà với triệu chứng trên đường hô hấp và gây chết ở gà với tỷ lệ 5 – 50 % (Lê Hồng Mận

và Xuân Giao, 2002)

Bên cạnh đó cũng có một số tác giả đề cập đến bệnh này như Tô Long Thành, Cù Hữu Phú (Phạm Sỹ Lăng và cs., 2005) ;Trần Văn Bình (Trần Văn Bình, 2005)

Trên tạp chí Khoa học kỹ thuật thú y - Tập XVIII - Số 2 – 2011

Bệnh nấm phổi trên vịt - Nguyễn Thị Ánh Tuyết (2011) (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2011)

2.2 ĐẶC ĐIỂM SINH LÝ CỦA NGAN, VỊT

R41: Màu đen, khối lượng cơ thể cao nhất Ở 88 ngày tuổi con trống đạt

Trang 15

4,8 - 4,9 kg; con mái ở 70 ngày đạt 2,5 – 2,6kg Tỷ lệ thịt xẻ con trống 68%, con mái 66%; tiêu tốn thức ăn 2,75 – 2,85kg/kg tăng trọng

R51: Ngan 1 ngày tuổi có lông màu vàng rơm, chân, mỏ có màu hồng hoặc trắng, trên đầu có đốm đen hoặc nâu Đến tuổi trưởng thành, ngan có màu lông trắng Mọc lông đầy đủ lúc 11 – 12 tuần tuổi, 4 – 5tháng tuổi thay lông Khối lượng mới nở 55 g/con; 12 tháng tuổi đạt 3,5 kg; 24 tháng tuổi nặng 4,0 kg/con Tuổi đẻ 5% lúc 200 – 205 ngày Khối lượng trứng 75g/quả Năng suất trứng 110 quả/mái Tỷ lệ ngan nở loại 1/tổng số trứng ấp là 80%

R61: Loại này có lông màu xanh xám, là loại hình đặc thù nuôi với thức

ăn đặc biệt để lấy gan Khối lượng gan chiếm tới 10% khối lượng cơ thể 88 ngày tuổi con trống đạt 4,8 – 4,9 kg, con mái ở 70 ngày đạt 2,5 – 2,6 kg Tỷ lệ thịt xẻ con trống 68%, con mái 66%; tiêu tốn thức ăn 2,60 – 2,75kg/kg tăng trọng

R71: Ngan 1 ngày tuỏi có màu lông vàng rơm, có hoặc không có đốm đen trên đầu Chân, mỏ màu hồng Khi trưởng thành ngan có màu lông trắng Khối lượng ngan mới nở 53 g/con, lúc 12 tuần tuổi nặng 3,6 kg, 24 tuần tuổi nặng 4,2 kg/con Tuổi đẻ 5% lúc 203 ngày Năng suất trứng/mái/2 chu kỳ 185 – 195 quả Khối lượng trứng 80 g/quả Tỷ lệ phôi 93%, tỷ lệ nở loại 1/tổng số trứng ấp

là 81%

Ngan Pháp siêu nặng có lông màu trắng tuyền Mào và tích tai màu đỏ Khối lượng ngan lúc 1 tuần tuổi 150g/con, lúc 6 tuần tuổi 1,8 kg và lúc 12 tuần tuổi con trống nặng 4,4 kg, con mái nặng 2,7 kg/con Sau 165 – 185 ngày ngan bắt đầu đẻ Năng suất trứng 95 – 100 quả trong 28 tuần Khối lượng trứng 80g/quả

2.2.2 Vịt Super Meat

Vịt siêu thịt (hay còn gọi là vịt Super Meat hay vịt Super M, vịt CV)

là giống vịt công nghiệp chuyên thịt do do hãng Cherry Valley của nước Anh tạo ra từ năm 1976 và được mang về Việt Nam vào cuối những năm 1990 Đây là giống vịt có năng suất thuộc loại cao Hiện nay, nhà nước Việt Nam đã công nhận giống vịt siêu thịt này là một giống vật nuôi được phép sản xuất, kinh doanh, lưu hành trên lãnh thổ Việt Nam, áp dụng đối với một số dòng vịt này như Vịt CV (Super M, vịt CV super M2 và M2, Super-M3, giống vịt chuyên thịt M14

Trang 16

Được nhập từ Anh vào Việt Nam năm 1989 Vịt siêu thịt lần đầu tiên được nhập vào Việt Nam từ Anh Quốc qua dự án VIE/86 – 007 do Liên Hiệp Quốc tài trợ Đợt nhập đầu tiên vịt bố mẹ thuần chủng vào tháng 11 năm 1989, sau đó nhập tiếp hai đợt giống ông bà thuần chủng vào tháng 9 năm 1990 và tháng 8 năm 1991 Kết quả chăn nuôi từ năm 1990 đến nay, cho thấy giống vịt này thích nghi, phát triển tốt ở Việt Nam và có ưu thế hơn hẳn về sản lượng thịt so với các giống vịt địa phương

Những năm đầu của thập kỷ 90, nhờ tiến bộ của thế giới, các giống vịt cao sản được nhập vào Việt Nam Sau thời gian nhân nuôi, chọn tạo cho thấy khả năng thích nghi, phát triển của chúng rất tốt trong điều kiện sinh thái Việt Nam, đặc biệt là các giống vịt thuộc dòng Super Vịt siêu thịt, tuy là giống vịt cao sản nhưng kỹ thuật chăm sóc nuôi dưỡng không thật sự phức tạp Lúc đầu cho chúng

ăn từ 5 – 6 bữa/ngày, từ ngày thứ 11 cho ăn thưa hơn, khoảng 3 – 4 bữa/ngày Bắt đầu từ lúc 7 – 8ngày tuổi, cho vịt làm quen với nước để tập bơi Giai đoạn chạy đồng là khi vịt sau 20 ngày tuổi, cho vịt ra khỏi chuồng để đi kiếm thức ăn trên đồng

Đây là một giống vịt dễ nuôi, ăn tạp, khả năng tận dụng thức ăn cao, lớn rất nhanh, chất lượng thịt ngon, nuôi khoảng 45 – 50 ngày tuổi có thể đạt trọng lượng 3 – 3,5kg/con, khả năng chống chịu bệnh khá tốt, tỷ lệ sống cao và có giá trị kinh tế, vịt có ngoại hình đẹp, chân vàng, lông trắng phù hợp với thị hiếu người tiêu dùng

Là giống vịt chuyên thịt có năng suất cao, ngoại hình của vịt đặc trưng cho giống cao sản hướng thịt Vịt có màu sắc lông trắng, mỏ và chân có màu vàng nhạt hay vàng chanh, thân dài, ngực nở, ngực sâu, rộng, chân cao, đùi phát triển, đầu và cổ to, dài, mỏ dài và rộng Từ đỉnh đầu xuống mỏ gần như là một đường thẳng Dáng đứng gần song song với mặt đất Vịt con lông bông và mịn, mắt sáng, to, lanh lợi, chân bóng mượt, nhanh nhẹn khỏe mạnh Không chọn con bị dị tật, quá bé hoặc quá to so với trung bình của con giống như hở rốn, yếu, khèo chân, nặng bụng bết lông

Vịt trống 4,1 kg, vịt mái 3,45 kg Con đực trưởng thành nặng 4,7 kg/1con Con mái nặng 3,7 kg/1con, dòng cao sản nuôi 42 ngày tuổi đạt 2,8 kg/con và 60 ngày tuổi đạt 3 kg/con Chi phí thức ăn 2,2 – 2,6kg cho lkg tăng trọng Vịt nuôi chạy đồng đạt 2,8 – 3,0kg thức ăn lúc 70 – 75 ngày nuôi Chi phí thức ăn thêm

Trang 17

cho lkg tăng trọng l,2 - l,5 kg Vịt trống và mái có đặc điểm sinh trưởng khác nhau, nên nhu cầu về dinh dưỡng cũng khác nhau Mức ăn hàng ngày của vịt trống cao hơn vịt mái từ 5 - 10% Vịt bố mẹ có tuổi đẻ ở tuần thứ 25, năng suất trứng 180 – 220 quả/mái/67 tuần tuổi Nuôi thương phẩm 8 tuần tuổi đạt 3 – 3,4kg/con, tiêu tốn thức ăn 2,6 – 2,8kg tăng trọng Khối lượng giết thịt lúc 56 ngày tuổi trong điều kiện nuôi thâm canh đạt 3,4 kg/con, nuôi chạy đồng lúc 70 ngày tuổi đạt 3,3 kg/con Tỷ lệ thịt xẻ 73 %, tỷ lệ nạc 27,3 %, tiêu tốn thức ăn cho 1 kg thịt hơi 2,7 kg

Vịt ham kiếm mồi, tìm mồi kỹ và chạy đồng rất tốt Vịt thích nghi ở nhiều vùng sinh thái khác nhau Có thể nuôi nhốt, chăn thả dưới nước hoặc nuôi trên cạn Vịt thương phẩm nuôi nhốt 56 ngày tuổi, hoặc nuôi nhốt kết hợp chăn thả 70 ngày tuổi trọng lượng đạt 2,8 – 3,4kg/con Vịt nuôi lấy thịt ở phương thức thâm canh (nuôi nhốt tại chỗ và cho ăn thức ăn hỗn hợp) đạt trọng lượng 3,5 – 3,7kg lúc 56 ngày tuổi với tỷ lệ nuôi sống 93 – 98%, chi phí 2,3 kg thức ăn cho 1 kg tăng trọng Tuổi vào đẻ 168 ngày, sản lương trứng 190 quả/mái/42 tuần đẻ Khối lượng trứng bình quân 86 – 88 gam Tỷ lệ có phôi trên 90 %, tỷ lệ nở trên phôi 85% Tiêu thụ thức ăn trong giai đoạn đẻ 230 gam/con/ngày Vịt thương phẩm tỷ

lệ nuôi sống từ 1 ngày đến tuổi giết thịt đạt 97%

Ở phương thức nuôi chạy đồng theo phương thức nuôi cổ truyền của nông dân, vịt siêu thịt đạt trọng lượng 3 – 3,3kg lúc 70 ngày tuổi với tỷ lệ sống 90 –

92 % Vịt siêu thịt nuôi giống có ưu thế hơn hẳn so với vịt địa phương với năng suất 190 - 210 trứng/mái/năm, tỉ lệ nuôi sống đạt > 96 %, trọng lượng xuất chuồng bình quân đạt 3,1 kg/con Tiêu tốn thức ăn 2,7/kg/ 1 kg tăng trọng Nuôi vịt siêu thịt chúng lớn rất nhanh, chỉ cần nuôi trên hai tháng, vịt

đã đạt trên 3 kg/con, nuôi giống vịt siêu thịt nhanh được bán, hiệu quả kinh tế cao Khi từ 2 tuần tuổi trở đi, vịt có sức đề kháng tốt, sinh trưởng tốt, độ đồng đều cao

Vịt nuôi lấy thịt ở phương thức thâm canh (nuôi nhốt tại chổ và thức ăn hỗn hợp) Vịt siêu thịt 6 tháng tuổi bắt đầu rớt hột, khối lượng trứng lớn:80 – 85g/hột, tỷ lệ trứng có phôi là 90 – 95% và tỷ lệ ấp nở trứng có phôi là 78 – 85% Sau 10 tháng đẻ bầy vịt vẫn giữ tỷ lệ đẻ là 60-70% thì đó là bầy vịt đẻ tốt Đối với vịt siêu thịt bố mẹ chỉ nên khai thác khả năng đẻ trứng của vịt trong 10 tháng đẻ kể từ khi đàn vịt đẻ được 5% là tốt nhất Nếu để vịt đẻ tiếp

Trang 18

thì hiệu quả kinh tế thấp vì tỷ lệ đẻ lúc này thường sụt xuống còn 50 – 55% và tiếp tục giảm

Các dòng vịt Super như Super M hay Super Heavy (siêu nặng) có ưu điểm tốc độ sinh trưởng nhanh, thời gian nuôi ngắn nhưng có khả năng cho sản lượng thịt cao Các giống vịt dòng Super cho năng suất cao hơn giống vịt truyền thống Vịt CV Super M2 cải tiến (Viện chăn nuôi, 2006) là kết quả của quá trình cải thiện về mặt di truyền của trại vịt giống Vigova từ đàn nguyên liệu nhập của Anh Quốc, nhằm nâng cao năng suất và chất lượng thịt, giảm tiêu tốn thức ăn Việt Nam đã nhập một loạt giống vịt ông bà CV Super M gồm 2 dòng, qua 9 thế hệ chọn lọc nâng cao khả năng SX của vịt dòng ông (CB1), dòng bà (CB2) bằng phương pháp chọn lọc, tạo dòng đơn giản theo nhóm quần thể nhỏ và áp lực chọn lọc cao có luân chuyển trống mái để tránh cận huyết

Trong khoảng 40 năm qua Việt Nam đã nhập nhiều giống vịt có năng suất thịt cao trên thế giới Các giống vịt này hiện còn tồn tại rất ít, trong các năm

1989, 1990, 1991, 1999 và năm 2001 nhập thêm các giống vịt CVSuper M, M2, M2, CV Super M3, là những giống vịt có năng suất thịt cao hiện đang phát triển khá mạnh Việt Nam và Vit CV Super M, M2, M2 cải tiến Vịt Super cho năng suất cao, chất lượng thịt tốt, tỉ lệ đẻ trứng và tỉ lệ phôi cao Qua các thế hệ vịt CB1 có tỷ lệ nuôi sống cao ở các giai đoạn con, dò, hậu bị: 97 -100%; tương ứng vịt CB2: 96 – 99 % Khối lượng cơ thể 8 tuần tuổi vịt CB1 con trống đạt 2,3 – 2,7kg/con, vịt CB2 con trống có khối lượng trung bình: 2,0 – 2,2kg/con

Năng suất trứng/mái/64 tuần tuổi: Vịt CB1 là 164 – 170 quả; vịt CB2 đạt

181 quả (thế hệ 9) tăng 12,03 quả so với thế hệ 1 (169,21 quả) Vịt CB1 ở thế hệ

9 có tỷ lệ phôi: 89,9%, tỷ lệ nở loại I/trứng có phôi: 79,22%, tương ứng vịt CB2: 91,79%; 82,31% Vịt thương phẩm (trống CB1 x mái CB2) nuôi thịt đến 8 tuần tuổi có tỷ lệ nuôi sống 98% Khối lượng cơ thể đạt 3,3 kg Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng thấp 2,62 kg Trên cơ sở nền tảng từ các dòng vịt CV Super M,

đã lai tạo ra các các dòng vịt Super M3 và SM3 Super Heavy nhập nội kết hợp những đặc điểm tốt của các dòng vịt trên, tạo ra được tổ hợp lai có ưu thế về sức sống, chất lượng thịt, thích nghi với từng vùng sinh thái

Trang 19

Hình ảnh Ngan Pháp, Vịt Super Meat

Hình 2.1 Ngan Pháp giống Hình 2.2 Ngan Pháp trưởng thành

Hình 2.3 Vịt Super Meat 2.3 HIỂU BIẾT VỀ CĂN BỆNH

2.3.1 Một số đặc điểm của nấm Aspergillosis

*) Đặc tính hình thái

Trong canh nấm, khuẩn lạc có trạng thái mịn như lụa và trạng thái bông,

bề mặt lúc đầu trắng rồi dần dần trở nên lục sẫm khi đính bào tử thành thục, hoặc

có dạng khói, màu sẫm hoặc đen nhạt Mặt sau của canh khuẩn có thể không màu, hoặc màu vàng lục, hoặc đỏ nâu

Dưới kính hiển vi, cuống đính bào tử nhẵn, tiểu bào là cuống đính bào tử phình to, có đường kính ± 20µ; tiểu bình song song với trục to của cuống đính

Trang 20

bào tử co kích thước ±2,1 × 4 - 6,6µ choán mất 1/3 hoặc 2/3 tiểu bào, bào tử tròn hoặc hình trứng to ± 2,1µ

Hinh 2.4 Nấm Aspergillosis

*) Đặc tính sinh học

A.fumugatus phân bố rộng rãi và sống hoại sinh trên các cơ chất thực vật Hiếu khí, rất ưa oxy, ưa nhiệt, phát triển ở nhiệt độ từ 25 – 50oC, nhiệt độ thích hợp cho nấm mọc là 38OC trong 48 giờ

Hai tính chất này làm cho nó phát triển dễ dàng ở ngan, vịt và trong bộ máy hô hấp, tính chất thứ 2 cho phép nuôi cấy chọn lọc ở nhiệt độ 40oC để loại trừ nấm tạp nhiễm

*) Tính gây bệnh

Ngan, vịt đều có thể cảm nhiễm nấm A fumigatus, nhưng ngan, vịt càng nhỏ càng dễ mắc và tỷ lệ chết cao hơn Bệnh truyền đi theo đường hô hấp là chủ yếu do hít phải bụi chứa bào tử, khi gia cầm rũ cánh, bay làm cho bào tử nhiễm vào không khí Bệnh cũng có thể nhiễm qua đường tiêu hoá nhưng ít hơn, ăn do thức ăn bảo quản kém nên Aspergillus có điều kiện phát triển, và cũng ít khi qua đường da từ những vết thương

Trong thể cấp tính ở những con ngan, vịt bị bệnh, nhất là ngan, vịt con sau

Trang 21

khi mổ có triệu chứng sốt (43 – 43,5o), rối loạn hô hấp, thở khó, ngáp, ỉa chảy, phân trắng vàng hôi thối, triệu chứng thần kinh có hướng màng não Con vật chết trong 24 – 48h

Trong thể mạn tính, ngan, vịt 3 – 4 tuần lễ hay mắc bệnh, có triệu chứng

hô hấp, thở khó, ngáp, thở ngáy ồn ào, con vật suy nhược, chết sau vài tuần lễ

Bệnh tích chủ yếu cục bộ

Bệnh tích ở phổi thuộc loại hòn nhỏ Các phủ tạng cũng có nhiều hòn nhỏ (gan, thận, óc) Đó là những u hạt, có đường kính từ 1 – 3mm, trắng nhạt và đục cứng, không có giới hạn rõ rệt, và chìm sâu trong tổ chức lành xung quanh, trung tâm trắng nhạt, như kem hoặc khô, có vài chấm màu vàng nhạt, chu vi có thể sợi Làm phẫu đồ tổ chức học cho thấy những bệnh tích này cấu tạo ở phần giữa bằng sợi khuẩn ty thể ngắn, có tế bào hình cầu hoặc hình trứng, phân nhánh nhiều nếu bệnh tích cũ; ở vùng tiếp theo xung quanh có hiện tượng ngấm tế bào, chủ yếu bạch cầu đa nhân xuất hiện trong bệnh tích non, tế bào dạng biểu mô và tế bào khổng lồ xuất hiện trong u hạt già Những hòn nhỏ có thể đính lại với nhau thành mảng, mang làm phẫu đồ có khi thấy hang, có lớp khuẩn ty thể với cuống đính bào tử

Trong phổi có bệnh tích dịch rỉ: viêm phổi rộng rãi, có nhu mô đặc, trắng xám, khi cắt và bóp thì thấy chảy dịch rỉ trong đó có sợi khuẩn ty thể thuần nhất khi soi kính Bệnh tích dịch rỉ hình thành trên mặt các niêm mạc, khí quản, phế quản, túi hơi, ống tiêu hoá Đây là một loại viêm huyết thanh - sợi huyết thanh màng giả quấn lại, hơi dính vào tổ chức bên dưới, có màu vàng bẩn hoặc lục nhạt tuỳ nơi cư trú, màu vàng có dạng kem nơi thiếu oxy (ống tiêu hoá, túi hơi), xám lục nhạt ở nơi thoáng khí Soi kính những màng giả này thấy cấu tạo bằng một dạng lưới sợi huyết chứa những đống bạch cầu, đại thực bào và khuẩn ty thể, và

có cả cuống đính bào tử ở nơi có nhiều không khí

Những bệnh tích dịch rỉ có ở đường hô hấp, và đường hô hấp bên trên (khí quản, phế quản) phủ một lớp khuẩn ty thể lục nhạt có sợi cuống đính bào tử

Thành túi hơi dày ra, túi hơi có màu trắng bẩn, có tính chất như cazien chứa những sợi nấm thuần nhất Một số túi hơi được phủ một lớp cuống đính bào

tử màu lục nhạt Ống tiêu hoá có bệnh tích dịch rỉ, nhất là ở mề, dạ dày tuyến

Gan có thể có bệnh tích u hạt, căng như thận và óc Xương dài bị méo mó,

có những khuẩn lạc nấm phát triển trong tuỷ

Trang 22

a Hình thái và sự biến tính của nấm

Hình thái của nấm thường khác nhau ở trạng thái kí sinh và trạng thái hoại sinh, thỉnh thoảng người ta thấy có những nấm thuộc các loại hoàn toàn khác nhau có hình thái ở trạng thái kí sinh bề ngoài tương tự nhau Có nhiều nấm bệnh

ở trạng thái kí sinh có hình thái của nấm men, nhưng nếu đem nuôi cấy trong phòng thí nghiệm trên môi trường Saburo, chúng có hình thái sợi nấm Dạng sợi này thường được kí hiệu bằng chữ MP, nghĩa là giai đoạn khuẩn ty thể (mycelial phase), người ta có thể tạo ra trên ống nghiệm một dạng tương tự như kí sinh bằng cách cấy nấm trên môi trường giàu protein và ở 37oC

Một số đặc tính sinh hoá chính của nấm kí sinh chung để giám định loài:

* Đặc tính sinh trưởng: Những đặc tính này có liên quan đến khả năng của nấm sử dụng và hấp thu các nguồn cacbon, các loại đường, một số nguồn N, một số yếu tố sinh trưởng

* Đặc tính chuyển hoá, nghiên cứu khả năng

- Lên men các loại đường

- Thuỷ phân ure bằng cách bài tiết một ureaza

- Hình thành polyozit ammyloid từ glucoza

* Đời sống hoại sinh của nấm gây bệnh

Nấm có khả năng gây bệnh bình thường không sống kí sinh mà sống hoại sinh trong ngoại cảnh; đó là hình thức sống ngoại hoại sinh Nấm sống bên trong vật chủ hiếm hơn: đó là nấm nội sinh

* Độc lực và tính kháng nguyên của nấm kí sinh

- Độc lực

Độc lực của một số loại nấm kí sinh phụ thuộc vào sự thích nghi ít hoặc nhiều về mặt hình thái học và sinh học của nấm này với đời sống kí sinh trong tổ chức của động vật

Trang 23

- Khả năng sinh độc tố

Nấm cũng sinh độc tố như vi khuẩn Chúng bài tiết ra những chất độc có tác động cục bộ, có tính chất tiêu protein và gây ra trong ổ nhiễm nấm những bệnh tích hoại tử, đưa đến sự hình thành những mụn loét hoặc hang Nhưng cũng bài tiết những độc tố có tác động toàn thân và nhất là những độc tố có hướng thần kinh

- Tính kháng nguyên

Nấm bệnh có tính kháng nguyên phát hiện bằng sự có mặt của kháng thể ở vật chủ nhiễm bệnh bằng hiện tượng đề kháng tự động và những phản ứng tối mẫn cảm ở vật chủ

Kháng nguyên nấm kích thích cơ thể nhiễm bệnh sinh sản kháng thể lưu động, phát hiện bằng một số phản ứng huyết thanh học dùng trong miễn dịch học như phản ứng ngưng kết, kết hợp bổ thể, phản ứng miễn dịch huỳnh quang Ngoài kháng nguyên hoàn toàn ra, nấm kí sinh còn bài tiết cả bán kháng nguyên (hapten) có khả năng tác động với kháng thể gây những phản ứng tối mẫn cảm trên vật chủ nhiễm bệnh: đó là trường hợp của dị ứng nguyên trichophytin

* Đặc điểm về sinh sản

Nấm nhân lên, phân tán và sinh sản bằng bào tử Bào tử gồm có 2 loại lớn:

- Bào tử hữu tính: bào tử hoàn toàn hình thành do một quá trình sinh sản giảm phân, đó là những bào tử sinh sản kết thúc thời kỳ song bội của chu kỳ, hình thành do gián phân những bào tử này luôn là đơn bội

Bào tử hữu tính của nấm mốc được hình thành do một sự phối hợp nhân,

do một sự giảm phân của một tế bào bào tử mẹ Quá trình này tiến hành theo các bước sau:

Một nhân đơn bội của một tế bào đực xâm nhập vào tế bào chất của một tế bào cái

Nhân đực và nhân cái phối hợp với nhau để hình thành một nhân song bội hợp tử

Bằng giảm phân, nhân song bội cho 4 nhân đơn bội, một số nhân này có thể là những thể tái tổ hợp di truyền

- Bào tử vô tính: bào tử trực tiếp hoặc không hoàn toàn, hoặc bào tử nhân lên, hình thành một vách vô tính

Bào tử vô tính gồm các loại sau đây:

Trang 24

+ Đính bào tử

Đính bào tử có nhiều dạng và kích thước khác nhau, loại lớn (đa nhân) và loại nhỏ (thường đơn nhân) gọi là đính bào tử lớn và đính bào tử nhỏ

+ Bào tử đốt

Bào tử đốt tiết bào tử hình thành trên môi trường cũ khi mới tách ra, bào

tử hình vuông hay hình tròn có màng dày

+ Bào tử bào tử nang

Bào tử bào tử nang là một loại nội tế bào vô tính, hình thành ở đầu mút của sợi nấm mọc thẳng trên khuẩn ty thể; đầu tử nang bính sinh ra vách ngăn cách, nở to dần ra, thành bào tử nang trong đó phát triển bào tử có màng gọi là bào tử bào tử nang, đến khi bào tử chin muồi, bào tử nang trở nên mềm, dễ bị dung giải, bào tử được tung ra ngoài

Sự nảy chồi là quá trình sinh sản vô tính ở nấm men, mặc dầu có một số nấm men phân chia bằng cách tách đôi Trong sự nảy chồi, tế bào con nhỏ hơn tế bào mẹ nhiều khi bắt đầu hình thành Sau khi chồi nổi lên ngoài tế bào mẹ, nhân của tế bào mẹ phân chia và một nhân di chuyển vào trong chồi; nguyên liệu của vách tế bào được đặt giữa chồi và tế bào mẹ, sau đó chồi được giải phóng khỏi tế bào mẹ (Nguyễn Vĩnh Phước, 1976)

b Chẩn đoán

Có rất nhiều phương pháp để nuôi cấy và phân lập nấm

Tất cả nấm gây bệnh đều mọc tốt trên môi trường Saburo Có thể dùng những môi trường khác để phân lập nấm, nhất là những môi trường chứa những chất đặc biệt cần thiết cho việc làm xuất hiện một số đặc tính hình thái có lợi cho việc giám định chúng

Trang 25

Môi trường Saburo:

Môi trường Saburo 100ml

Môi trường Saburo giúp cho nấm bệnh phát triển hoàn toàn để giám định Nhưng trên môi trường này nấm dễ bị thoái hoá Hiện tượng này gọi là sự biến hình bao gồm sự biến mất của những dạng sinh sản và hiện tượng sợi khuẩn ty thể trở nên mỏng Dùng môi trường không có đường để bảo quản sẽ làm chậm đi nhiều sự xuất hiện của hiện tượng này Môi trường PAS rất thuận tiện cho việc phân lập đa số mầm bệnh từ những bệnh phẩm, bằng cách kiềm chế sự phát triển của nhiều nấm mốc và nhiều vi khuẩn phát triển theo

Phương pháp kiểm tra trên kính hiển vi

Lấy một ít tổ chức bị tổn thương hay u cục làm tiêu bản với KOH 10 – 20% Cho 1 – 2 giọt KOH 10 – 20 % lên một phiến kính và cho một ít mẫu bệnh phẩm (tổ chức bị tổn thương hay u cục) vào giọt KOH rồi trộn đều

- Hơ phiến kính qua một ngọn lửa (không được sôi hoặc quá nóng) để làm nhanh quá trình tiêu protein

- Đặt một lam kính lên mẫu rồi ấn nhẹ xuống

- Để 1 – 2 giờ hoặc qua đêm ở nơi có độ ẩm, thời gian để tuỳ thuộc vào độ

Trang 26

dày của mẫu KOH sẽ phần nào làm tiêu các mảnh protein

- Kiểm tra nấm bằng kính hiển vi phản pha hoặc kính hiển vi thường

- Các sợi nấm có vách ngăn cần được chú ý

Có thể làm tiêu bản thường hoặc tiêu bản vi thể từ tổ chức và nhuộm bằng thuốc nhuộm periodic acid-Schiff (PAS) hay silver impregnation (Gomori's methenamine silver stain)

Sợi nấm có vách ngăn có thể thấy trong các mô bị nhiễm

Nhuộm Periodic acid-Shiff stain

Chuẩn bị dung dịch fuchsin cơ bản

Basic fuchsin 0,1 g Ethanol 95% 5 ml Nước cất 95 ml Hoà basic fuchsin với cồn ethanol 95% cho tan hết trước khi hoà với nước cất Giữ trong lọ kín ở nhiệt độ phòng

Chuẩn bị dung dịch a xit picric (picric acid) bão hoà

Cho các tinh thể picric acid từ từ vào 100 ml nước cất trong 1 bình tam giác, vừa cho vừa đun nóng (trong nồi đun cách thuỷ) cho đến khi tinh thể piric acid không thể hoà tan đươc nữa, giữ trong lọ kín ở nhiệt độ phòng

Phương pháp nhuộm

- Chuẩn bị phiến kính bằng cách cho mẫu (chất tiết đường hô hấp, dịch cơ thể, những mẫu có dạng mềm) lên phiến kính rồi dàn đều, để cho khô rồi cố định bằng cách hơ qua ngọn lửa (không được quá nóng)

- Ngâm tiêu bản đã được cố định trong cồn 95 % trong 1 phút

- Nhúng tiêu bản vào periodic acid 5 %

- Nhúng tiêu bản vào dung dịch fuchsin cơ bản trong 2 phút rồi tráng qua nước máy

- Nhỏ dung dịch picric acid lên tiêu bản rồi để 2 phút

- Ngâm tiêu bản vào cồn ethanol 05% trong 10 giây, sau đó cồn ethanol 100% trong 1 phút

Trang 27

Soi kính:

Các thành phần của nấm sẽ bắt màu đỏ tươi hoặc hơi đỏ tía trên nền màu

da cam

Phương pháp phân lập và giám định nấm

Bệnh phẩm cho nuôi cấy là các tổ chức bị tổn thương hoặc u cục

Để nuôi cấy nấm có thể dùng một trong các môi trường sau Sabouraud dextrose agar, Czapek's solution agar hoặc potato dextro agar (mua thương phẩm)

Bệnh phẩm được cắt nhỏ cỡ 3 - 4 mm rồi cho 4 - 5 miếng lên môi trường nuôi cấy nấm, nuôi cấy hiếu khí ở nhiệt độ 37oC, theo dõi trong vòng 5 – 10 ngày

Khuẩn lạc thường xuất hiện sau 2 – 3 ngày nuôi cấy

Kiểm tra đặc điểm hình thái khuẩn lạc nấm, có thể dùng kính lúp để soi Kiểm tra hình thái sợi nấm bằng cách làm tiêu bản từ khuẩn lạc và nhuộm với thuốc nhuộm LPCB (Nguyễn Như Thanh và cs., 2001)

- Cho một giọt thuốc nhuộm lên phiến kính sạch

- Lấy một mẩu thạch (môi trường) có nấm mọc cho vào giọt thuốc nhuộm

- Đậy một lá kính lên rồi ấn nhẹ xuống

- Hơ phiến kính trên ngọn lửa (không được quá nóng) để đẩy bớt bọt khí

ra ngoài nếu có

- Kiểm tra dưới kính hiển vi bằng vật kính dầu hoặc vật kính khô có độ phóng đại cao

Trang 28

2.3.2 Một số nguyên nhân gây bệnh nấm phổi

Nấm Aspergillus có trên 185 loài (khoảng

20 loài gây bệnh trên người), phổ biến nhất là

Aspergillus fumigatus, ngoài ra có thể do nấm A

flavus, A niger A fumigatus là loại nấm sinh sản

đơn tính (asexual) Bào tử của nấm Aspergillus

được tìm thấy trong không khí, nước, đất, cây cỏ

mục nát, phân, chất lót chuồng, thức ăn có nguồn

gốc động vật, thực vật Đặc biệt trong thóc, lúa,

bắp, đậu, rơm rạ, tuy thấy khô nhưng có thể

chứa rất nhiều bào tử nấm

Nấm có thể mọc tốt trong môi trường thông thường dành cho nấm như môi trường Sabouraud, Czapek’s ở 370C hoặc cao hơn Màu khuẩn lạc thay đổi theo loài Aspergillus Ở A fumigatus, khuẩn lạc ban đầu màu xanh lá tới hơi lục sau đó chuyển dần sang lục sẫm hoặc gần như đen Khi thành thục, khuẩn lạc có dạng khối màu nâu sẫm hay đen nhạt, mặt sau

của khuẩn lạc có thể không màu hoặc màu vàng lục Thân nấm dài 300 μm, trên đầu phình ra chia thành các khoang phát sinh bào tử

Người ta có thể chiết xuất độc tố từ những bào tử của nấm Chúng sản sinh ra độc tố aflatoxin gây tổn thương gan có thể dẫn đến ung thư ngay khi với hàm lượng rất thấp 06 aflatoxin độc nhất có độ độc theo thứ tự giảm dần như sau: B1>M1>G1>B2>M2>G2 Hai yếu tố chính ảnh hưởng đến sự hình thành aflatoxin là ẩm độ và nhiệt độ Nhiệt độ ly tưởng cho sự sản sinh độc tố là 24-28oC; ẩm độ giới hạn cho B1 và B2 ở bắp là 17,5% ở nhiệt độ 24oC Độc tố có thể ở dạng gây kích thích nhẹ trên da đến phá hủy nặng nề các tế bào cơ thể (tế bào thần kinh, tế bào máu) gây co giật, liệt, cuối cùng là chết

Thực tế nuôi cấy bệnh phẩm vịt (phổi, gan) cho thấy: trong môi trường Nutrition broth, sau 24 giờ nấm phát triển bên trên môi trường lắp đầy miệng ống nghiệm Khi nuôi cấy mẫu thoc khô hoàn toàn (ẩm độ khoảng 12 – 14%) trong môi trường Sabouraud cũng xuất hiện rất nhiều nấm mốc sau 24 giờ với khuẩn lạc màu trắng và sau 2 – 3 ngày thì chuyển dần sang màu xanh và sau 5 ngày thì chuyển dần sang màu nâu đen

Trang 29

2.3.3 Cơ chế sinh bệnh của bệnh nấm phổi

Qua không khí, các bào tử nấm có thể xâm nhập vào phổi và túi khí của vịt qua bụi hít từ mũi, khí quản Bệnh sẽ nặng hơn khi con vật đang ở trạng thái sức

đề kháng bị giảm Bệnh có thể truyền ngay từ trong máy ấp: có thể từ trứng nhiễm nấm hoặc máy ấp không đảm bảo điều kiện vệ sinh Bệnh có thể lan truyền từ chất độn chuồng có nhiễm nấm hoặc từ thức ăn cũ có nấm Sau khi vào

cơ thể vịt, nấm có thể kí sinh ở khí quản, phổi gây tác động tại chổ, gây viêm phổi cấp tính hay tạo thành các nốt nấm trong nhu mô phổi Dần về sau bào tử nấm phát triển thành nhiều sợi nấm, thúc đẩy quá trình viêm nhanh hơn Dưới phản ứng viêm của cơ thể, bào tử, sợi nấm bị phá hủy và giải phóng nhiều độc tố theo đường dịch thể gây nhiễm độc cho vật chủ (Nguyễn Thị Ánh Tuyết, 2011) 2.3.4 Dịch tễ bệnh

Không có diệp lục, nấm cần tìm nguồn cacbon trong các hợp chất hữu cơ Điểm này đặt điều kiện cho sự sinh sống của nấm, nấm có thể sống hoại sinh hoặc kí sinh hoặc cả hai Nấm thường là hiếu khí, chúng sinh trưởng ở những nhiệt độ rất biến đổi nhưng nhiệt độ từ 20 – 25OC là thích hợp đối với chúng Chúng cũng có thể chịu đựng được sự biến đổi to lớn của pH, độ trung tính rất hợp với chúng Hai tính chất này làm cho nó phát triển dễ dàng ở thủy cầm

- Ngan, vịt ở mọi lứa tuổi đều có khả năng mắc bệnh, chủ yếu ngan, vịt từ

5 -15 ngày tuổi Ngan, vịt sàng nhỏ thì tỷ lệ chết càng cao

- Tỷ lệ chết dao động từ 17,8 – 62% (Nguyễn Hữu Nam và cs., 2014)

- Mùa vụ mắc bệnh: Bệnh có thể xảy ra quanh năm nhưng thường gặp vào mùa có khí hậu ẩm ướt, mưa nhiều, độ ẩm cao, có sự thay đổi đột ngột về thời tiết, thức ăn, nước uống, chuồng nuôi…làm cho hệ miễn dịch của cơ thể không thích nghi kịp thời, cơ thể bị suy yếu nhanh và dễ phát sinh bệnh

2.3.5 Triệu chứng của ngan, vịt mắc nấm phổi

Các triệu chứng có thể không rõ ràng ngay cả trong các ca gây bệnh thử nghiệm Thường thấy các triệu chứng chung như: khó thở, thở hổn hển, thở gấp, bại chân có thể gặp trong bệnh do nấm phổi Khi bệnh kết hợp với các bệnh khác (bại huyết do Riemerella anatipestifer, E.coli, ) thì vịt thường có các triệu chứng thần kinh như quay vòng , run giật, dễ té ngã, bại chân, vịt không thể đi được và sự hít vào khó khăn, thở kháp, âm đục, mở to mũi và mắt với nhiều dịch tiết

Trang 30

- Trường hợp cấp tính thường xảy ra ở vịt từ 4 ngày tuổi với tỷ lệ chết cao, đôi khi cũng xảy ra trên vịt lớn ở 1 – 2 tháng tuổi Triệu chứng đặc trưng vịt khó thở nên phải vương dài cổ và há mồm ra khi thở Giảm ăn, viêm kết mạc mắt, mí mắt sưng, mắt chảy nhiều dịch Bên trong xoang miệng có những bựa trắng bám đầy, xoang mũi cũng có những nốt nấm màu trắng đục Vịt thường không ăn được, khát nước và chết sau 24 -48 giờ

- Thể mãn tính thường xảy ra trên vịt lớn và vịt đẻ Vịt ủ rũ, giảm ăn, uống nhiều nước, có dấu hiệu thở khó, tiêu chảy, phân dính bết vào hậu môn màu hơi xanh, lóng lánh (phân có mỡ) chảy nước mắt, nước mũi, viêm kết mạc mắt Giảm

đẻ hoặc ngừng đẻ, lười bơi, chân bại hoặc không đi được, đói, khát, gầy yếu dần dẫn đến chết Thường tỷ lệ chết thấp, nhưng khi kế phát bệnh bại huyết do Riemerella anatipestifer hay E.coli, thương hàn… thì tỷ lệ chết tăng cao

2.3.6 Bệnh tích của ngan, vịt mắc nấm phổi

- Bên trong xoang miệng có nhiều bựa trắng, xoang mũi có thể có ké nấm

- Các túi khí trở nên dày hơn, có màu mờ đục, các u hạt gia tăng về kích

cỡ và thay đổi về hình dạng từ hạt tròn lồi (1mm) sang phẳng hoặc hình mảng lõm ở giữa (2-5 mm) có xu hướng kết lại thành khối

- Khí quản sần sùi, bám rất nhiều nốt casein màu vàng gây cho vịt khó thở, và khi thở có tiếng rồ rồ (do không khí đi qua các khe hẹp), mệt nhọc

- Phổi có các hạt ké nấm như hạt tấm, màu trắng, xung quanh có dịch viêm vàng, cắt ké thấy có cục casein Phổi bị viêm u hạt, dần mất màu, phù nề tích dịch Nếu bệnh kéo dài phổi trở nên dai cứng và gan hóa dần dần, không còn tính đàn hồi, bỏ vào trong nước phổi chìm

- Các nốt nấm cũng có thể xuất hiện trong xoang ngực, xoang bụng, các

cơ quan nội tạng khác: tim, gan, lách, ruột, cơ, khớp, Gan bị phù, tích nước trên bề mặt gan, rìa gan vàng và một bên gan phì đại, một bên gan bị teo Khi nhiễm lâu và nặng, trên gan xuất hiện các hạt lấm tấm màu trắng ngà khi nuôi cấy trên môi trường Sabouraud thì nấm phát triển rất nhiều Lách hơi sưng, ruột

có thể loét, dạ dày xuất huyết,

- Những nơi bị nấm bám đều gây tác động tại chỗ (viêm, loét, tê, bại, )

Nó còn tạo điều kiện thuận lợi cho các loại mầm bệnh khác nhau xâm nhập vào vịt bệnh Ngoài ra độc

Trang 31

2.3.7 Chẩn đoán của ngan, vịt mắc nấm phổi

- Bệnh có thể thấy ở bất cứ nơi nào có điều kiện thuận lợi cho nấm phát

triển (những nơi có độ ẩm cao, kém thông thoáng)

- Thức ăn hay nền chuồng có nấm mốc hay bào tử nấm mốc

- Trong chuồng nuôi ngan, vịt có chỗ chứa nước và điều kiện thông hơi kém

(+) (-) (-) (+)

Ghi chú

Trang 32

- Bệnh kế phát khi ngan, vịt bị stress hoặc yếu sức

- Tỷ lệ mắc bệnh và tỷ lệ chết cao ở ngan, vit con, những tỷ lệ này thấp ở ngan, vịt lớn và trưởng thành

- Ở thể cấp tính ngan, vịt chất từ 1 – 2 ngày

c Triệu chứng lâm sàng

- Khó thở, thở hổn hển, ngan – vịt vươn cổ và há mỏ để thở

- Khi thở không có tiếng kêu râm ran

- Giảm ăn, gầy mòn, uống nước nhiều và bài thải nước nhiều

- Chảy nhiều dịch từ mỏ, mũi, mắt

- Có con có triệu chứng thần kinh, mất thăng bằng, trẹo cổ

- Mắt sung, có biểu hiện khó nuốt, giảm đẻ

d Bệnh tích đại thể

- Ở phổi hoặc túi khí và đôi khi ở mô não có những nốt màu trắng xám hoặc xanh

- Các túi khí dày và đục

- Ở đường dẫn khí, phổi, túi khí hoặc ở xoang bụng có thể thấy bào tử nấm

e Kiểm tra trên kính kiển vi

- Lấy một ít tổ chức bị tổn thương hay u cục làm tiêu bản với KOH 10 -20%

- Có thể làm tiêu bàn thường hoặc tiêu bản từ vi thể tổ chức và nhuộm bằng thuốc nhuộm periodic acid- Schiff (PAS) hay siller impregnation (Gomori

‘s methenamine silver stain)

- Sợi nấm có vách ngăn có thể thấy trong các mô bị nhiễm

f Bệnh tích vi thể

Kiểm tra tổn thương ở phổi

- Giai đoạn đầu, có sự tích tụ của các bạch cầu lympho, một số đại thực bào và một vài tế bào khổng lồ

- Giai đoạn sau, có các u hạt bị hoại tử ở giữa, được bao quanh bởi các đại thực bào, tế bào khổng lồ, lympho bào và các mô sợi

- Sau 8 tuần nhiễm, có các tổn thương u hạt bị hoại tử ở giữa bao quanh bởi tế bào khổng lồ và một lớp mô sợi dày trong đó có các bạch cầu trung tính nằm rải rác

Ngày đăng: 17/07/2021, 07:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w