TRÍCH YẾU LUẬN VĂN - Đánh giá được thực trạng về tình hình nuôi và công tác quản lý đàn chó nuôi, tỷ lệ tiêm phòng bệnh Dại trên đàn chó nuôi tại tỉnh Phú Thọ; - Hiểu rõ đặc điểm dịch tễ
Vật liệu và phương pháp nghiên cứu
Địa điểm nghiên cứu
Nghiên cứu được thực hiện tại tỉnh Phú Thọ.
Thời gia nghiên cứu
Từ tháng 01 năm 2011 đến tháng 12 năm 2016.
Đối tượng/vật liệu nghiên cứu
- Bệnh Dại trên đàn chó nuôi trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Các mẫu xét nghiệm được thực hiện tại Phòng thí nghiệm của Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Cục Thú y.
Nội dung nghiên cứu
3.4.1 Điều tra tình hình nuôi chó trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011–2016
Số liệu thu thập, xử lý, tổng hợp từ Chi cục Thú y tỉnh Phú Thọ
3.4.2 Điều tra tình hình tiêm phòng bệnh Dại cho chó trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn 2011 – 2016
Số liệu thu thập, xử lý, tổng hợp từ Chi cục Thú y tỉnh Phú Thọ và Trung tâm y tế dự phòng tỉnh Phú Thọ
3.4.3 Điều tra tình hình bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú thọ giai đoạn
- Trong 05 năm giám sát (từ năm 2011 - 2015), thu thập số liệu; phân tích số liệu về bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Trong năm 2016, tiến hành công tác giám sát chủ động bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Hằng ngày theo dõi, tổng hợp các trường hợp người bị chó cắn (chó nghi nhiễm bệnh Dại) trên toàn bộ địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Nhóm giám sát đến gặp trực tiếp người đó hoặc người thân để thu thập thông tin
- Tiến hành điều tra các trường hợp chó nghi bị bệnh Dại
3.4.4 Giám sát bệnh Dại trên địa bàn tỉnh Phú thọ năm 2016
- Hằng ngày giám sát tổng hợp các trường hợp chó nghi nhiễm bệnh Dại trên địa bàn 03 địa phương nêu trên Ghi chép thông tin theo biểu mẫu 1 tại phụ lục
- Tiến hành đến các trường hợp chó nghi nhiễm bệnh Dại để điều tra, thu thập thông tin
- Nếu chó bị ốm hoặc xuất hiện dấu hiệu của bệnh Dại thì tiến hành lấy mẫu để xét nghiệm.
Phương pháp nghiên cứu
- Số liệu tổng đàn chó được tổng hợp từ mạnh lưới thú y cơ sở báo có về Chi cục Thú y tỉnh Phú Thọ
- Số liệu tiêm phòng được mạnh lưới thú y cơ sở ghi chép lại và tổng hợp báo cáo về Chi cục Thú y tỉnh Phú Thọ
- Hằng ngày, trên cơ sở tiếp nhận thông tin về các trường hợp đi điều trị dự phòng, nhóm giám sát tổ chức theo dõi, tổng hợp các trường hợp người bị chó cắn (chó nghi nhiễm bệnh Dại) trên toàn bộ địa bàn tỉnh Phú Thọ
- Tìm kiếm thông tin từ các nguồn báo cáo khác (từ người dân báo, từ thông tin báo đài, từ điểm giết mổ chó…)
- Tổ chức đến gặp trực tiếp người đó hoặc người thân để thu thập thông tin, xác định thêm người bị chó cắn khác và tư vấn phơi nhiễm điều trị dự phòng theo biểu mẫu 1 tại phụ lục
- Xác định được chó nghi mắc bệnh Dại, tổ chức bắt chó lấy mẫu và gửi mẫu về Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương để xét nghiệm chó nghi mắc Dại được tiến hành trong vòng 48 giờ thông tin theo biểu mẫu 2 tại phụ lục
Hình 3.1 Mô hình điều tra
Hình 3.2 Thời gian điều tra giám sát 3.5.2 Phương pháp xét nghiệm
3.5.2.1 Phương pháp xét nghiệm mẫu
- Tiến hành lấy mẫu: Chó nghi mắc bệnh Dại được trợ tử và dùng dao cắt lấy phần đầu, đầu chó được bao gói qua 3 lớp nilon sạch, để trong hộp xốp có đá lạnh, dán kín; khử trùng bề mặt ngoài hộp xốp, sau đó mẫu được chuyển về bảo quản trong tủ âm sâu tại Chi cục Thú y tối đa 48 giờ, sau đó gửi về Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương để lấy mô não làm xét nghiệm
- Xét nghiệm bằng phương pháp DFA (Kháng thể huỳnh quang trực tiếp) để sàng lọc các mẫu dương tính với bệnh Dại tại Trung tâm Chẩn đoán Thú y Trung ương, Cục Thú y
- Gửi mẫu đến Trung tâm Dự phòng và Kiểm soát Bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) để phân tích chuyên sâu - nếu cần thiết
- Viết bút chì lên slide để ký hiệu mẫu gồm mã PTN của mẫu, ngày chuẩn bị, và loại mô não như minh họa dưới đây:
Vị trí làm tiêu bản mô não trong 3 ô tròn 16R3 08/3/16 ĐN
- Tiêu bản có thể được chuẩn bị từ mẫu não tươi vừa mổ hoặc mẫu não được bảo quản nhiệt độ âm
- Cắt mô não ở các phần Đại não (ĐN), Tiểu não (TN), và Cuống não
(CN) thành miếng nhỏ, kích thước khoảng 0.5 x 0.5 cm2
- Áp slide vào mẫu để mô não dính vào tạo thành 1 lớp mỏng Mỗi vị trí mô não tương ứng với 1 ô trên slide
- Để slide khô tự nhiên rồi chuyển vào ống chứa Acetone lạnh ở - 20C Cố định trong 2 -4 h
- Lấy 1 slide đối chứng dương và 1 slide đối chứng âm (đã chuẩn bị và cố định acetone) Lấy slide mẫu ra khỏi dung dịch cố định
- Rửa các slide 1 lần bằng dung dịch PBS, để khô
- Pha kháng thể gắn huỳnh quang thành dung dịch 1/40 trong nước cất
- Nhỏ kháng thể lên slide, mỗi tiêu bản nhỏ 60 – 100 uL
- Ủ trong hộp ẩm ở buồng tối, nhiệt độ 37C/30 phút hoặc nhiệt độ phòng trong 45 phút
- Sau khi ủ, rửa slide 3 lần với PBS, mỗi lần trong 5 phút
- Để khô slide, đậy coverslip bằng dung dịch Mounting medium
- Đọc kết quả dưới kính hiển vi huỳnh quang, bước sóng 450 nm
Đối chứng dương cho thấy sự xuất hiện các hạt phát quang màu xanh lá mạ trong bào tương tế bào Mật độ huỳnh quang và mức độ sáng được đánh giá và cho điểm từ 0 đến 4+, trong đó thang điểm càng cao phản ánh càng nhiều virus Điểm cao hơn đồng nghĩa với tải lượng virus lớn, hỗ trợ việc đánh giá mức độ nhiễm và hiệu quả can thiệp hoặc theo dõi tình trạng bệnh.
- Đối chứng âm: Không thấy hiện tượng phát huỳnh quang
- Mẫu được coi là dương tính khi hiện tượng phát huỳnh quang như đối chứng dương
- Mẫu được coi là âm tính nếu không có phát huỳnh quang như đối chứng âm
3.5.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Số liệu thu thập được nhập và phân tích bằng chương trình Ms Excel
2010 và các phần mềm thống kê sinh học khác
- Sử dụng chương trình Quantum GIS 2.14 để vẽ bản đồ.