Nguyên nhân của việc này là do UBND các xã, thị trấn phối kết hợp với phòng chuyên môn Phòng quản lý đô thị trong công tác hướng dẫn, kiểm tra, xử lý các trường hợp vi phạm trật tự xây d
Cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý nhà nước về trật tự xây dựng
Cơ sở lý luận
2.1.1 Các khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Quản lý nhà nước về trật tự xây dựng a Quản lý
Quản lý là đối tượng nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội Mỗi ngành tiếp cận quản lý từ góc độ riêng của họ và đưa ra những định nghĩa riêng về quản lý, từ đó hình thành các khái niệm và mô hình quản lý đa dạng Sự đa dạng này cho thấy quản lý là một lĩnh vực liên ngành, kết nối lý thuyết với thực tiễn và mở rộng phạm vi nghiên cứu từ cấp độ cá nhân, tổ chức đến hệ thống xã hội.
Với khái niệm trên, quản lý bao gồm: Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý và khách thể quản lý
Chủ thể quản lý là tác nhân tạo ra các tác động quản lý, luôn là con người hoặc tổ chức Chủ thể quản lý tác động lên đối tượng quản lý bằng các công cụ và phương pháp thích hợp theo những nguyên tắc nhất định Đối tượng quản lý tiếp nhận trực tiếp sự tác động của chủ thể quản lý, và tùy theo từng loại đối tượng sẽ được chia thành các dạng quản lý khác nhau.
Khách thể quản lý là sự tác động hay sự điều chỉnh của chủ thể quản lý, đó là các hành vi của con người các quá trình xã hội
Quản lý ra đời nhằm nâng cao năng suất và hiệu quả trong công việc Thực chất của quản lý con người, quản lý xã hội để phát huy cao nhất khả năng của con người, ổn định và phát triển xã hội theo định hướng đã đề ra Mục đích quản lý ở đây là cái đích do chủ thể quản lý đã định trước, đây là căn cứ để chủ thể quản lý lựa chọn các phương pháp và thực hiện các biện pháp tác động quản lý khoa học phù hợp quy luật phát triển khách quan của xã hội (Nguyễn Thị Kim Uyên, 2011) b Quản lý nhà nước
Là hoạt động của Nhà nước trên các lĩnh vực lập pháp, hành pháp và tư pháp nhằm thực hiện các nhiệm vụ, chức năng của Nhà nước
Nói cách khác, quản lý nhà nước là sự tác động bằng pháp luật của các chủ thể quản lý mang quyền lực nhà nước tới các đối tượng quản lý nhằm thực hiện các chức năng đối nội và đối ngoại của Nhà nước Như vậy tất cả các cơ quan nhà nước đều làm chức năng quản lý nhà nước
Quan điểm của G.V.Atamantrruc (2004) cho rằng quản lý nhà nước là một quá trình tác động thực tiễn mang tính tổ chức và điều chỉnh, được thực thi thông qua hệ thống các cơ cấu của nhà nước và nhằm tác động lên đời sống xã hội, cá nhân và tổ chức Mục tiêu của quản lý nhà nước là chấn chỉnh trật tự, duy trì hoặc cải tạo nó dựa trên cơ sở quyền lực của nhà nước.
Theo Phạm Đức Hòa (2012), trong hệ thống các loại hình quản lý, bao gồm quản lý nhà nước, tự quản địa phương, quản trị, quản lý của các tổ chức xã hội, tự điều chỉnh nhóm (tập thể) và hành vi ứng xử hoặc hành động hợp lý của một cá nhân, quản lý nhà nước có vị trí đặc biệt nhờ những thuộc tính riêng biệt của nó.
Trước tiên, sự ảnh hưởng quyết định đối với đặc điểm của các tác động định hướng mục tiêu, tổ chức và điều chỉnh của loại hình quản lý này là do chủ thể của nó—nhà nước—gây nên Dù có nhiều cách diễn giải khác nhau về bản chất của nhà nước và sự đa dạng trong biểu hiện của nó, hầu như mọi người đều đồng ý nhấn mạnh sức mạnh quyền lực lớn được gắn với nhà nước và ảnh hưởng của nó đối với các hoạt động quản lý.
Thực tế, nhà nước khác với các cấu trúc xã hội khác ở chỗ quyền lực nhà nước được tập trung và do nó thực hiện trong xã hội – theo quan hệ với con người Quyền lực là một mối tương giao: trong quá trình tương tác đó, vì các nguyên nhân vật chất, xã hội, trí tuệ, thông tin con người tự nguyện hoặc bị cưỡng bách thừa nhận sự tối thượng của ý chí của người khác và của những quy định có tính quy phạm về mục tiêu, giá trị, từ đó thực hiện những hành vi xây dựng cuộc sống phù hợp với đòi hỏi đó Quyền lực nào đó có thể tồn tại trong gia đình, trong nhóm người, trong tập thể và được gìn giữ bằng truyền thống, tập quán, dư luận xã hội, đạo đức v.v., nhưng tất cả những nguồn lực đó không thể so sánh với quyền lực nhà nước, vì nguồn gốc của quyền lực nhà nước mang tính chế định pháp luật và tính chính thống, còn việc thực hiện thì dựa trên sức mạnh của bộ máy nhà nước nắm trong tay các phương tiện cưỡng chế.
Tính chất đặc thù của quản lý nhà nước là sự phổ biến toàn cộng đồng xã hội, thậm chí vượt ra ngoài giới hạn của nó, lên các cộng đồng xã hội khác của con người trong khuôn khổ chính sách quốc tế do nhà nước thực hiện
Nhà nước vốn là hiện tượng xã hội phức tạp (theo thành phần các yếu tố) và đa diện (theo các chức năng), và với tư cách là chủ thể quản lý, nó cũng tạo cho quản lý nhà nước tính hệ thống Đối với quản lý nhà nước, tính chất hệ thống có ý nghĩa nguyên tắc Chỉ có sự hiện hữu của tính chất này mới tạo cho quản lý nhà nước sự hòa hợp, sự phối hợp, sự trực thuộc cần thiết, tính mục tiêu, tính hợp lý và tính hiệu quả nhất định
Trong xã hội tồn tại nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: Đảng, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, các đoàn thể nhân dân Trong quản lý xã hội, quản lý nhà nước có những đặc điểm khác biệt sau:
Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp Đối tượng của quản lý nhà nước là toàn thể nhân dân (dân cư) sống và làm việc trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Quản lý nhà nước diễn ra trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội; chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội, an ninh quốc phòng, ngoại giao nhằm thoả mãn nhu cầu hợp pháp của nhân dân
Quản lý nhà nước dựa trên quyền lực của nhà nước và được thực thi thông qua hệ thống pháp luật; pháp luật là công cụ chủ yếu để quản lý nhà nước nhằm bảo đảm sự ổn định và phát triển của xã hội.
Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về trật tự xây dựng
2.2.1 Kinh nghiệm về tăng cường quản lý nhà nước đối với trật tự xây dựng các nước trên thế giới
Trung Quốc hiện là nước có tốc độ đô thị hóa lớn nhất thế giới và là quốc gia láng giềng có nhiều nét tương đồng về phát triển với Việt Nam Giống như nhiều nước đã trải qua quá trình đô thị hóa nhanh, Trung Quốc tập trung xây dựng các đô thị lớn để đáp ứng nhu cầu nhà ở do tăng trưởng kinh tế, bùng nổ dân số và di dân từ nông thôn ra thành thị, khiến nước này trở thành nơi tập trung cơ sở hạ tầng kỹ thuật và dân cư lớn nhất trong vài thập kỷ gần đây Tuy vậy, nước này gặp phải khó khăn trong việc kiểm soát phát triển đô thị, trong đó vi phạm trật tự xây dựng đô thị là một thách thức nổi lên Để hạn chế tối đa những vi phạm này, bước đi đầu là tăng cường công tác quy hoạch xây dựng Vì vậy, Luật Quy hoạch đô thị Trung Quốc được ban hành ngày 26/12/1989, gồm 6 chương và 46 điều; đến năm 2008, Trung Quốc đã sửa đổi và ban hành Luật Quy hoạch Đô thị và Nông thôn cơ bản, bổ sung quy hoạch phát triển nông thôn và các mối quan hệ liên quan dựa trên Luật Quy hoạch đô thị 1989.
Nội dung chủ yếu đưa các nguyên tắc quy hoạch và quản lý phát triển đô thị Luật quy hoạch đô thị Trung Quốc quy định một số vấn đề về: Lập, thẩm định, phê duyệt, quản lý, thực hiện quy hoạch; quy định 02 bước lập quy hoạch: quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết; nội dung cơ bản của đồ án quy hoạch chung và quy hoạch chi tiết; một số định hướng, quy định đối với đô thị mới và cải tạo đô thị cũ; thông báo, công bố quy hoạch sau khi được phê duyệt; các yêu cầu về tính thống nhất và ràng buộc giữa đồ án quy hoạch các cấp và dự án; các yêu cầu về chủ đầu tư, giấy phép xây dựng; thời gian trả lời, trách nhiệm của các cơ quan có thẩm quyền về quy hoạch Trong đó chính phủ tập trung quy hoạch các thành phố, khu dân cư theo hướng thân thiện môi trường, tiết kiệm năng lượng, thành phố “xanh”, hạn chế việc quy hoạch các khu dân cư nhỏ lẻ chuyển sang hướng xây dựng nhà ở xã hội, thương mại, từ đó có thể tập trung huy động tài chính đô thị để xây dựng đô thị văn minh, hiện đại, tạo cảnh quan cho đô thị cũng như hạn chế việc vi phạm xây dựng do thiếu quy hoạch và xây dựng tự phát như giai đoạn bắt đầu đô thị hóa của thập niên những năm 80 khi Trung Quốc bắt đầu thời kỳ đối mới kinh tế (Phạm Sỹ Liêm, 2016)
Còn về cấp giấy phép xây dựng, Luật Xây dựng Trung Quốc quy định rất chặt chẽ về điều kiện cấp phép xây dựng, hầu như phải đủ các điều kiện để khởi công thì công trình mới được cấp giấy phép xây dựng như giấy tờ về đất, thiết kế được duyệt, có mặt bằng xây dựng sạch, đã có hợp đồng với nhà thầu, thu xếp được vốn, có các biện pháp bảo đảm an toàn, Do đó ít có tình trạng tiến độ công trình kéo dài, nợ đọng trong đầu tư xây dựng, tranh chấp hợp đồng (Phạm
2.2.1.2 Singapore Đầu những năm 1960, Singapore là đô thị có điều kiện kinh tế - xã hội gần tương đồng với thành phố Hồ Chí Minh hiện nay Một phần tư dân số đô thị chui rúc trong những khu vùng ven lụp xụp ban thỉu, trong khi 250.000 người khác nhồi nhét trong những khu nhà phố kiêm cửa hiệu ọp ẹp ở những khu ở cũ của thành phố, thiếu thốn hệ thống vệ sinh tối thiểu, các tiện ích chung và công trình công cộng Trong khi tình hình xây dựng tự phát, thiếu quy hoạch đồng bộ diễn ra tràn lan (Lê Tùng Lâm, 2008)
Cho đến ngày nay, Singapore đã giải quyết được vấn đề nhà ở và đang trên con đường cải thiện sâu sắc chất lượng khu ở để phục vụ mục tiêu phát triển thành một trong những nền kinh tế hàng đầu thế giới Kinh nghiệm của Singapore rất đáng tìm hiểu để giải quyết đồng thời việc kiểm soát phát đô thị vừa đáp ứng nhu cầu về nhà ở trên quốc đảo đất chật, người đông
Nhà ở xã hội tại Singapore song hành với sự phát triển kinh tế của quốc đảo và phản ánh đời sống của người dân trong các khu nhà ở công cộng Trong bối cảnh tăng trưởng và biến động, Ủy ban Nhà ở và Phát triển (Housing & Development Board - HDB), cơ quan quản lý nhà ở đầu tiên của Singapore, đã từ một tổ chức chỉ cung cấp mái che lên đầu cho cư dân khu dân cư nghèo thành một cơ quan thiết kế và xây dựng những căn hộ đẹp và tiện nghi cho khoảng 85% dân số quốc đảo HDB đã xác định các vấn đề cần giải quyết.
- Tránh việc xây dựng bừa bãi, hao phí quỹ đất
- Tránh sự chia nhỏ manh mún các lô đất
- Giải quyết vấn đề thiếu hụt các không gian mở công cộng để phục vụ nhu cầu giải trí và các tiện ích công cộng cho người dân
- Giải quyết vấn đề bảo trì duy tu các công trình công cộng và tiện ích cộng đồng
Từ đó, họ đặt ra mục tiêu quy hoạch như sau:
1 Khuyến khích sử dụng tiết kiệm quỹ đất
2 Bảo vệ và phát triển những không gian xanh và không gian trống cho họat động giải trí, đặc biệt nằm trong các khu ở
3 Bảo đảm việc duy trì phù hợp những công trình và tiện ích công cộng tại các khu nhà ở, khu chung cư và công trình cao tầng
Ngoài ba mục tiêu chính đã nêu, Ủy ban HDB đặt mục tiêu cung cấp nhà ở giá rẻ cho giới thu nhập trung bình, những người không đủ điều kiện nhận nhà ở xã hội nhưng đồng thời cũng không có khả năng mua đất hay biệt thự riêng.
Từ đó Singapore đã đưa ra định hướng và nguyên tắc quy hoạch:
- Nhằm hạn chế việc chia nhỏ các lô đất, xây dựng đô thị bừa bãi, và nhằm khuyến khích nâng cao hiệu quả khai thác sử dụng đất, nguyên tắc đầu tiên cho thấy có thể tăng mật độ cư trú lên đến tối đa gấp đôi so với mật độ tối đa trong bản Quy hoạch tong thể Đây là nguyên tắc chủ đạo ảnh hưởng tới định hướng phát triển nhà ở tại Singapore
- Để đạt được mục tiêu thứ hai là phát triển không gian xanh, nguyên tắc thứ hai giới hạn mật độ xây dựng nhằm cho phép tạo không gian trống và thiết kế đô thị
- Mục tiêu thứ ba đạt được bằng những quy định để sự phát triển phải phù hợp và thích ứng với các giai tầng cư dân sinh sống trong khu ở, sao cho mỗi đơn vị ở đều có diện tích không gian trống và các công trình tiện ích công cộng thiết yếu (Lê Tùng Lâm, 2008)
Qua tổng hợp kinh nghiệm của một số nước trong khu vực và trên thế giới, quy hoạch đô thị được xem là công cụ quan trọng để quản lý và phát triển đô thị Nhiều nước đã ban hành luật riêng về quy hoạch đô thị nhằm đảm bảo tính đồng bộ và bền vững cho khu vực đô thị Trong số đó, Nhật Bản nổi lên với hệ thống quy định phong phú, phù hợp với điều kiện và hoàn cảnh ở Việt Nam hiện nay, trở thành một mô hình đáng học hỏi và tham khảo để phát triển quy hoạch đô thị tại Việt Nam.
Tại Nhật, quy hoạch được xem là một chương trình quảng bá xúc tiến đầu tư lên sau khi được hoàn chỉnh, sẽ được công bố rộng rãi, đặc biệt về quy hoạch sử dụng đất và quy hoạch hạ tầng cơ sở để các nhà đầu tư và nhân dân tham gia thực hiện Điểm đặc biệt nhất trong luật quy hoạch đô thị Nhật Bản là trong các chương trình đầu tư phát triển đô thị, luật quy định tối thiểu 40% dự án phải ưu tiên cho địa phương quản lý thực hiện (Tâm An, 2016) Để bản quy hoạch được thông qua, quy hoạch cần lấy ý kiến cộng đồng rất nhiều lần, đảm bảo 70% tự nguyện chấp thuận Quy hoạch sau khi nhận được sự đồng thuận sẽ được chuyển tải thành các quy định gọi là chính sách phát triển đô thị được chính quyền đô thị phê duyệt, đây là công cụ pháp lý mang tính bắt buộc, có tính pháp lý cao tương đương một văn bản dưới luật
Bản quy hoạch được phê duyệt trở thành công cụ chính thức để thực hiện quy hoạch và định hướng các dự án phát triển theo mục tiêu đã đề ra; bản quy hoạch này được thông báo rộng rãi tới từng người dân và có hiệu lực kể từ ngày công bố chính thức Sau khi các đồ án quy hoạch được phê duyệt, các dự án liên quan sẽ do chính quyền thành phố và chính quyền địa phương triển khai thực hiện Những dự án được Bộ Xây dựng, Bộ Đất đai, Bộ Giao thông vận tải và Bộ Du lịch phê duyệt hoặc thẩm định và trình Chính phủ phê duyệt sẽ do tỉnh triển khai thực hiện quy hoạch trên địa bàn.
Quy hoạch đô thị của Nhật bản có 3 sản phẩm chính: một là quy hoạch sử dụng đất, hai là quy hoạch hạ tầng và ba là danh mục các dự án phát triển Trong đó, quy hoạch các quận, huyện là tối quan trọng trong quản lý phát triển đô thị Tại đây, quy hoạch được lập có nội dung chủ yếu liên quan đến thiết kế kỹ thuật đô thị, hướng tới việc đưa ra những nguyên tắc và hướng dẫn xây dựng đô thị cũng như giữ gìn đặc trưng cho từng khu vực đô thị
Dự án góp phần chính xác hóa các bản quy hoạch chung đô thị, trên nền tảng các dự án được xác định theo thứ tự ưu tiên, việc lập dự án khả thi được tiến hành Các dự án phát triển đô thị gồm: dự án phát triển các khu vực dân cư đô thị và các dự án xây dựng cơ sở hạ tầng như đường sá, các công trình hạ tầng kỹ thuật tùy theo từng trường hợp cụ thể có thể giao cho các đối tác có đủ tiềm lực về tài chính và chuyên môn khác nhau thực hiện