1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu đặc điểm nông sinh học và ảnh hưởng của một số chế phẩm đến năng suất, chất lượng một số dònggiống nhãn chín sớm trồng tại hưng yên

98 48 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 98
Dung lượng 7,57 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Cấu trúc

  • TRANG BÌA

  • MỤC LỤC

    • TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

    • THESIS ABSTRACT

    • PHẦN 1. MỞ ĐẦU

      • 1.1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

      • 1.2. MỤC ĐÍCH

      • 1.3. Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ Ý NGHĨA THỰC TIỄN

        • 1.3.1. Ý nghĩa khoa học

        • 1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn

    • PHẦN 2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

      • 2.1. NGUỒN GỐC VÀ PHÂN BỐ

      • 2.2. SƠ LƯỢC TÌNH HÌNH SẢN XUẤT VÀ TIÊU THỤ NHÃN TRÊNTHẾ GIỚI VÀ Ở VIỆT NAM

        • 2.2.1. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn trên Thế giới

        • 2.2.2. Tình hình sản xuất và tiêu thụ nhãn ở Việt Nam

      • 2.3. CÁC GIỐNG NHÃN ĐƯỢC TRỒNG PHỔ BIẾN TRÊN THẾ GIỚIVÀ Ở VIỆT NAM

        • 2.3.1. Các giống nhãn được trồng phổ biến trên Thế giới

        • 2.3.2. Các giống nhãn được trồng phổ biến ở Việt Nam

      • 2.4. NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG VÀ PHÁTTRIỂN CỦA CÂY NHÃN

        • 2.4.1. Những nghiên cứu về đặc điểm thực vật học

        • 2.4.2. Nghiên cứu về tập tính ra hoa, đậu quả

        • 2.4.3. Yêu cầu ngoại cảnh của cây nhãn

      • 2.5. NHỮNG NGHIÊN CỨU NHẰM THÚC ĐẨY QUÁ TRÌNH SINHTRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, RA HOA, ĐẬU QUẢ VÀ TĂNG NĂNG SUẤT NHÃN

        • 2.5.1. Nghiên cứu hoá chất điều tiết quá trình ra hoa tạo quả ở nhãn

        • 2.5.2. Nghiên cứu biện pháp bón phân nhằm thúc đẩy quá trình ra hoa vàtạo quả của nhãn.

    • PHẦN 3. NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

      • 3.1. ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

      • 3.2. THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

      • 3.3. ĐỐI TƯỢNG VÀ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

      • 3.4. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

      • 3.5. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    • PHẦN 4. KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

      • 4.1. ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC CỦA CÁC DÒNG/GIỐNG NHÃNCHÍN SỚM

        • 4.1.1. Khả năng sinh trưởng của các dòng/giống nhãn chín sớm

        • 4.1.2. Thời gian xuất hiện, kết thúc và màu sắc các đợt lộc của cácdòng/giống nhãn chín sớm

        • 4.1.3. Các chỉ tiêu về kích thước và đặc điểm lá của các dòng/giống nhãnchín sớm

        • 4.1.4. Đặc điểm về thời gian ra hoa của các dòng/giống nhãn chín sớm

        • 4.1.5. Các chỉ tiêu về đặc điểm hoa và kích thước chùm hoa của các dòng/giống nhãn chín sớm

        • 4.1.6. Khả năng giữ quả của các dòng/giống nhãn chín sớm

        • 4.1.7. Khả năng tăng trưởng quả của các dòng/giống nhãn chín sớm.

        • 4.1.8. Đặc điểm về quả của các dòng/giống nhãn chín sớm

        • 4.1.9. Một số chỉ tiêu về thành phần hoá sinh của các dòng/giống nhãn chín sớm

        • 4.1.10. Thời gian thu hoạch của các dòng/giống nhãn chín sớm

      • 4.2. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA GA3 NỒNG ĐỘ KHÁC NHAUĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG NHÃN CHÍN SỚM PHS-2

        • 4.2.1. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến khả năng giữ quả của nhãn chínsớm PHS-2.

        • 4.2.2. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến động thái tăng trưởng quả của nhãnchín sớm PHS-2

        • 4.2.3. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 đến thành phần cơ giới quả của giốngnhãn PHS-2

        • 4.2.4. Ảnh hưởng của nồng độ GA3 khác nhau đến chất lượng quả giốngnhãn chín sớm PHS-2

      • 4.3. NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ LOẠI PHÂN BÓN LÁĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG GIỐNG NHÃN CHÍN SỚM PHS-2

        • 4.3.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến đến khả nănggiữ quả của giống nhãn chín sớm PHS-2

        • 4.3.2. Ảnh hưởng một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng quả củanhãn chín sớm PHS-2

        • 4.3.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thành phần cơ giới quảcủa giống nhãn PHS-2

        • 4.3.4. Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chất lượng quả của giốngnhãn PHS-2

    • PHẦN 5. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

      • 5.1. KẾT LUẬN

      • 5.2. KIẾN NGHỊ

    • TÀI LIỆU THAM KHẢO

      • I. Tiếng việt:

      • II. Tiếng anh

    • PHỤ LỤC

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM HOÀNG THỊ MINH LÝ NGHIÊN CỨU ĐẶC ĐIỂM NÔNG SINH HỌC VÀ ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CHẾ PHẨM ĐẾN NĂNG SUẤT, CHẤT LƯỢNG MỘT SỐ DÒNG/GIỐNG NHÃN CHÍN SỚM TRỒNG TẠI H

Nội dung và phương pháp nghiên cứu

Địa điểm nghiên cứu

- Tại xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên.

Thời gian nghiên cứu

- Thời gian nghiên cứu: Từ tháng 8 năm 2014 đến tháng 3 năm 2016

Đối tượng và vật liệu nghiên cứu

Gồm 3 dòng/giống nhãn chín sớm PHS-1, PHS-2 và PHS-3 đã được Sở Nông nghiệp và phát triển nông thôn tỉnh Hưng Yên công nhận là cây đầu dòng

Ký hiệu dòng/giống Nguồn gốc dòng/giống

Thời gian bình tuyển (năm)

Cây tham gia thí nghiệm

PHS-1 Xã Đông Kết - Huyện Khoái

PHS-2 Xã Bình Minh - Huyện Khoái

PHS-3 Xã Tiền Phong - Huyện Ân Thi

- Dụng cụ: Thước thẳng, thước dây, thước Plame, máy đo độ brix, bình thuốc sâu, túi bao chùm hoa

- Hóa chất sử dụng gồm:

+ Chất điều hòa sinh trưởng GA 3 (gibberellic acid), dạng bột, gói 1g (sản xuất tại Trung Quốc)

Bước 1: Cho lượng cồn 90 0 ngập vừa đủ lượng bột 1g, quấy tan

Bước 2: Với 1g GA 3 nguyên chất ta bắt đầu pha dung dịch mẹ bằng cách đổ 1 lít nước vào bình đã đựng sẵn GA3 được hòa tan Ta được dung dịch mẹ

+ Các phân bón qua lá:

++ Rong biển-95%: dạng bột, được sản xuất tại Acadian Seaplants Limited (CANADA), đóng gói tại công ty TNHH thương mại Quốc Bảo

++ Master – Grow: dạng nước, đóng gói bạc 10ml của công ty TNHH TM – DV Ấp 5, xã Thạch Đức – Huyện Bến Lúc –Tỉnh Long An

++ Bortrac: dạng nước đóng trong gói bạc 10ml, của Công ty TNHH Hóa nông Hợp Trí

Nội dung nghiên cứu

3.4.1 Nghiên cứu đặc điểm hình thái, khả năng sinh trưởng, phát triển và thời gian thu hoạch của 3 dòng/giống nhãn chín sớm PHS-1, PHS-2, PHS-3

3.4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của GA 3 (gibberellin acid) đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống nhãn chín sớm PHS-2

3.4.3 Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng ra hoa, đậu quả và năng suất của giống nhãn chín sớm PHS-2.

Phương pháp nghiên cứu

Thí nghi ệ m 1: Nghiên c ứ u đặ c đ i ể m nông sinh h ọ c c ủ a 3 dòng/gi ố ng chín s ớ m PHS-1, PHS-2 và PHS-3

- Thí nghiệm được bố trí trên vườn nhãn đã được trồng sẵn, mỗi dòng/giống là một công thức thí nghiệm, mỗi công thức theo dõi 2 cây với 3 lần nhắc lại (tổng số 6 cây/công thức)

Thí nghiệm 2: Nghiên c ứ u ả nh h ưở ng c ủ a GA 3 (gibberellin acid) đế n kh ả n ă ng ra hoa, đậ u qu ả , n ă ng su ấ t, ph ẩ m ch ấ t c ủ a gi ố ng nhãn chín s ớ m PHS-2

Thí nghiệm gồm 5 công thức

CT1: Phun nước lã (Đối chứng)

CT2: Phun GA3 ở nồng độ 20ppm

CT3: Phun GA3 ở nồng độ 30ppm

CT4: Phun GA3 ở nồng độ 40ppm

CT5: Phun GA3 ở nồng độ 50ppm

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên CRD, mỗi công thức theo dõi 2 cây, 3 lần nhắc lại (tổng số 6 cây/ công thức)

Thời điểm xử lý GA3 (4 đợt): lộc thu thành thục, bắt đầu ra giò hoa, sau đậu quả 5-7 ngày, sau đậu quả 15-20 ngày

Phương pháp xử lý: Pha dung dịch mẹ GA 3 với nước lã để được nồng độ thích hợp (20 ppm; 30 ppm; 40 ppm và 50 ppm), pha xong tiến hành phun lên toàn bộ bề mặt tán cây ngay khi trời râm mát, với lượng 5lit/cây

Thí nghi ệ m 3: Nghiên c ứ u ả nh h ưở ng c ủ a m ộ t s ố lo ạ i phân bón lá đế n kh ả n ă ng ra hoa, đậ u qu ả và n ă ng su ấ t c ủ a gi ố ng nhãn chín s ớ m PHS-2

Thí nghiệm gồm 4 công thức

CT1: Nước lã (Đối chứng)

CT2: Rong biển 95% nồng độ 0,5g/lít

CT3: Phân vi lượng Bortrac nồng độ 1,5 ml/lít

CT4: Master– Grow nồng độ 0,8 ml/lít

Thí nghiệm được bố trí theo kiểu hoàn toàn ngẫu nhiên CRD, mỗi công thức theo dõi 2 cây, 3 lần nhắc lại (tổng số 6 cây/ công thức)

Thời điểm phun phân bón lá (4 đợt): lộc thu thành thục, bắt đầu ra giò hoa, sau đậu quả 5-7 ngày, sau đậu quả 15-20 ngày

Phương pháp xử lý: cho lượng phân bón lá đã cân đong vào bình khuấy cho tan hết và phun ướt trên bề mặt tán cây ngay khi trời râm mát với lượng 5lit/cây

*) Các chỉ tiêu theo dõi

*) Chỉ tiêu về thân tán: Mỗi công thức đo 6 cây

- Chiều cao cây (m): đo từ mặt đất lên tới đỉnh ngọn

- Đường kính tán (m): đo hai chiều Đông Tây-Nam Bắc và lấy số trung bình

- Chu vi gốc (cm): đo cách mặt đất 20 cm

*) Các chỉ tiêu về lá: chọn những lá đã thành thục ở tầng giữa của tán cây, mỗi công thức quan sát, đo đếm 30 lá kép và 30 lá chét/giống

- Số lá chét/lá kép (lá): đếm toàn bộ tổng số lá chét/lá kép

- Chiều dài lá kép (cm): đo từ cuống lá kép đến đỉnh của lá chét

- Chiều dài cuống lá kép (cm): đo từ cuống đến điểm đầu của lá chét

- Số đôi gân lá (đôi): đếm tổng số đôi gân chính trên lá chét

- Chiều dài lá chét (cm): đo từ cuống lá chét đến chóp lá

- Chiều rộng lá chét (cm): đo tại điểm rộng nhất của lá

- Chiều dài cuống lá chét (cm): đo từ cuống đến phần thịt của lá

*) Các chỉ tiêu về lộc của các dòng/giống: Quan sát và đo đếm trên 30 cành lộc/giống

- Số đợt lộc/năm: đếm số đợt lộc xuất hiện trong năm

+ Thời gian xuất hiện lộc: được tính khi 10% số cành/cây bật lộc

+ Thời gian kết thúc lộc: được tính khi 90% số cành/cây bật lộc

- Kích thước của các đợt lộc: được đo khi các cành lộc đã thành thục

+ Chiều dài cành lộc (cm): đo từ điểm đầu đến cuối cành

+ Đường kính cành lộc (cm): đo cách vị trí tiếp giáp với lộc cũ 2 cm

- Màu sắc các lộc non

*) Các chỉ tiêu về hoa: Quan sát và đo đếm trên 10 chùm hoa/công thức

- Thời gian bắt đầu nở hoa được tính khi 10% số hoa/cây nở

- Thời gian kết thúc nở hoa: được tính khi có 90% số hoa/cây đã tàn

- Số lượng hoa/chùm: theo dõi 30 chùm/giống

- Số hoa cái + hoa lưỡng tính (hoa)

- Chiều dài chùm hoa (cm): đo từ cuống đến điểm mút cuối của chùm hoa

- Chiều rộng chùm hoa (cm): đo tại điểm rộng nhất của chùm hoa

*) Các chỉ tiêu về thành phần cơ giới của quả

- Các chỉ tiêu về tỷ lệ đậu quả được theo dõi trên 30 chùm/công thức

- Số quả đậu sau tắt hoa: số quả đếm được sau khi kết thúc quá trình nở hoa

Tổng số quả đậu sau tắt hoa

Tỷ lệ đậu quả ban đầu (%) = x 100 Tổng số hoa cái + hoa lưỡng tính

+ Tỉ lệ đậu quả sau tắt hoa: 15, 30, 45, 60 ngày và khi thu hoạnh

Số quả trên chùm khi thu hoạch

+ Tỷ lệ đậu quả sau thu hạch (%)= x 100

Số quả đậu ban đầu

*) Các chỉ tiêu về khối lượng quả: được đo đếm trên 30 quả/giống

- Đường kính quả (cm): Đo ở đoạn giữa theo chiều ngang

- Chiều cao quả (cm): Đo ở đoạn giữa theo chiều dọc từ đỉnh đến trôn quả

Khối lượng quả - Khối lượng (vỏ + hạt)

- Năng suất quả/ cây (kg/cây)

- Các chỉ tiêu về vỏ và hạt:

+ Màu sắc vỏ và hạt

+ Chiều cao hạt (mm): Đo ở đoạn giữa theo chiều dọc

+ Đường kính hạt (mm): Đo ở đoạn giữa theo chiều ngang

- Chỉ tiêu về chất lượng: Phân tích trong phòng thí nghiệm kết hợp với đánh giá bằng cảm quan: Đường tổng số (%), axit tổng số (%), vitamin C (mg/ 100g cùi), độ khô (%), độ Brix (%)

- Xác định hàm lượng đường tổng số theo phương pháp Bectrand

- Vitamin C theo phương pháp Tillman

- Axit tổng số theo phương pháp chuẩn độ

- Chất khô theo phương pháp sấy đến trọng lượng không đổi

- Brix: đo trên máy Refractometer (chiết quang kế)

Tất cả đều được đo tại Phòng kiểm nghiệm chất lượng - Viện nghiên cứu Rau quả - Trâu Quỳ, Gia Lâm, Hà Nội

*) Phương pháp xử lý số liệu

Số liệu được xử lý thống kê bằng chương trình Microsoft Excel 2010 và IRRISTAT 5.0

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Đặc điểm nông sinh học của các dòng/giống nhãn chín sớm

4.1.1 Khả năng sinh trưởng của các dòng/giống nhãn chín sớm

Sinh trưởng là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá khả năng thích nghi với điều kiện ngoại cảnh và chế độ chăm sóc Từ đó ta có thể xây dựng quy trình thâm canh thích hợp cho mỗi giống Kết quả theo dõi khả năng sinh trưởng của 3 dòng/giống nhãn chín sớm được trồng tại huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên được trình bày qua bảng 4.1

Bảng 4.1 Một số đặc điểm về khả năng sinh trưởng và phát triển của các dòng/giống nhãn chín sớm

Chiều cao cây (m) Đường kính tán (m)

Các cây thí nghiệm là cây 5 năm tuổi, được nhân giống bằng phương pháp ghép đoạn cành Các dòng/giống nhãn theo dõi đang trong giai đoạn sinh trưởng rất tốt

Bảng 4.1 cho thấy: cùng tuổi cây nhưng các dòng/giống nhãn ghép có chiều cao cây, đường kính tán và chu vi thân khác nhau Giống nhãn PHS-2 có chiều cao cây đạt cao nhất (3,4 m) Dòng PHS-3 có chiều cao thấp nhất (3,1 m) Mặc dù, chiều cao cây chỉ đạt 3,2 m nhưng giống PHS-1 lại có đường kính tán và chu vi thân cao nhất lần lượt là 3,7 m và 36,6 cm

Hình dạng tán cây của 2 dòng/giống nhãn sớm PHS-1 và PHS-3 có dạng hình tròn Riêng giống PHS-2 có dạng hình bán cầu

4.1.2 Thời gian xuất hiện, kết thúc và màu sắc các đợt lộc của các dòng/giống nhãn chín sớm

Năm 2015 cả 3 dòng/giống nhãn thí nghiệm đều có 5 đợt lộc Trong đó lộc xuân, lộc hè, lộc đông mỗi loại lộc có 1đợt lộc, riêng lộc thu có 2 đợt lộc

Về lộc xuân, dòng PHS-3 xuất hiện lộc sớm nhất ngày 17/2 và kết thúc lộc vào 30/3 Giống PHS-1 xuất hiện lộc muộn nhất là ngày 3/3/2015 và kết thúc vào ngày 18/4

Thời gian xuất hiện lộc hè khá đồng đều giữa các dòng/giống từ 10/5 đến 15/5 và kết thúc lộc vào 17/6 đến 25/6

Lộc thu đợt 1 bắt đầu xuất hiện từ 3-10/8 và kết thúc vào khoảng 30/8- 15/9 Lộc thu đợt 2 xuất hiện trong vòng 10 ngày (từ 22/9 đến 3/10) và kết thúc trong vòng 12 ngày (từ 20/10 đến 31/10)

Thời gian xuất hiện lộc đông từ 28/11 đến 10/12 và kết thúc 15/1/2016 đến 27/1/2016 Như vậy, thời gian xuất hiện lộc đông từ tháng 12 năm trước và kết thúc vào cuối tháng 1 năm sau

Màu sắc lộc của các dòng/giống có sự khác biệt rất rõ, đây là một chỉ tiêu quan trọng để phân biệt các dòng/giống nhãn, giống PHS-1 có lộc màu xanh đỏ, giống PHS–2 lộc non có màu xanh vàng, dòng PHS-3 có lộc non màu xanh tím

Như vậy thời gian từ khi xuất hiện đến kết thúc mỗi đợt lộc của các dòng/giống khoảng hơn 1 tháng

Bảng 4.2 Thời gian xuất hiện và kết thúc lộc xuân, lộc hè, lộ thu, lộc đông của các dòng/giống nhãn chín sớm

Kết thúc Xuất hiện Kết thúc Xuất hiện Kết thúc Xuất hiện Kết thúc Xuất hiện Kết thúc PHS-1 3- 10/3 13-18/4 10 - 15/5 19-25/6 4-10/8 8-18/9 1-3/10 21-31/10 2-10/12 15-27/1/2016 Xanh đỏ

6/12 20-23/1/2016 Xanh vàng PHS-3 17-27/2 20-30/3 12 – 10/5 17-21/6 4-10/8 8-15/9 1-3/10 25-31/10 1-3/12 18-20/1/2016 Xanh tím

Bảng 4.3 Khả năng sinh trưởng lộc xuân, lộc hè, lộc đông của các dòng/giống nhãn chín sớm

Lộc xuân Lộc hè Lộc đông Đường kính

Chiều dài (cm) Đường kính (mm)

Chiều dài (cm) Đường kính (mm)

Kết quả bảng số liệu 4.3 cho thấy:

Về lộc xuân: Đường kính lộc xuân của các dòng/giống có sự sai khác rõ rệt Giống PHS-2 có đường kính đạt cao nhất là 8,5 mm, tiếp đến giống PHS-1 có đường kính đạt 7,5 mm Thấp nhất là dòng PHS-3, với đường kính lộc xuân chỉ đạt

7 mm Cũng giống như đường kính, chiều dài lộc xuân của giống PHS-2 đạt cao nhất với chiều dài lúc này là 24,6 cm Giống PHS-1 và dòng PHS-3 đạt thấp hơn và tương đương nhau, với chiều dài lộc xuân dao động trong khoảng 21,8-22,7 cm

Lộc hè: Chiều dài lộc hè không có sự khác biệt lớn giữa các dòng/giống Chiều dài, đường kính lộc hè của giống PHS-2 lớn nhất, lần lượt là 26,9 cm và 9,2 mm Giống PHS-1 và dòng PHS-3 có đường kính và chiều dài lộc đạt tương đương

Lộc đông: Chiều dài và đường kính lộc đông của 3 dòng/giống nhãn không có sự sai khác và đều thấp hơn so với lộc xuân, lộc hè và lộc thu trong cùng một năm Nguyên nhân là do thời tiết lạnh lại khô hanh nên không thuận lợi cho sinh trưởng lộc Với đường kính và chiều dài lộc đông dao động trong khoảng lần lượt là 5,7-5,9 mm và 18,6-18,8 cm

Bảng 4.4 Khả năng sinh trưởng lộc thu của các dòng/giống nhãn chín sớm

Dòng/Giống Đợt lộc thu thứ nhất Đợt lộc thu thứ hai Đường kính

Nhìn vào bảng số liệu 4.4 ta thấy lộc thu của các dòng/giống nhãn chín sớm sinh trưởng khá đồng đều Đường kính trong đợt lộc thu thứ nhất dao động trong khoảng 5,6-6,2 mm và đường kính đợt lộc thứ hai dao động trong khoảng 5,2-5,9 mm Như vậy đường kính lộc thu ở các dòng/giống nhãn thí nghiệm là tương đương nhau ở mỗi đợt ra lộc

Chiều dài đợt lộc thu thứ 2 có sự sai khác ở các dòng/giống Giống PHS-1 có chiều dài lộc thu ở đợt 1 cao nhất 22,6 cm và giống PHS-2 có chiều dài lộc thu cao nhất ở đợt 2 (20,7 cm)

4.1.3 Các chỉ tiêu về kích thước và đặc điểm lá của các dòng/giống nhãn chín sớm

Cây ăn quả nói chung và cây nhãn nói riêng có khả năng sinh trưởng tốt Cây có bộ rễ khoẻ có khung tán lớn sẽ có khả năng quang hợp mạnh để tích luỹ nhiều chất dinh dưỡng cho cây tạo tiền đề cho năng suất cao và chất lượng quả tốt Kết quả nghiên cứu về kích thước và đặc điểm lá được thể hiện qua bảng 4.5

Nghiên cứu ảnh hưởng của ga 3 nồng độ khác nhau đến năng suất, chất lượng nhãn chín sớm PHS-2

Nhiều nghiên cứu trước đây chỉ rõ sử dụng phân bón dinh dưỡng qua lá, chất điều hoà sinh trưởng NAA, IAA, GA 3, KCIO 3 và các nguyên tố vi lượng đã có kết quả tốt trên cây vải, hồng, nhãn…làm tăng khả năng đậu quả nên năng suất tăng cao Những tác động đó còn ảnh hưởng và thay đổi phẩm chất nông sản thu hoạch

GA 3 ngăn cản quá trình rụng của cơ quan thực vật (lá, hoa, quả) làm chậm quá trình chín, quá trình già hoá của các cơ quan và toàn cây, kích thích sinh trưởng kéo dài thân, lóng, kích thích sự nẩy mầm của hạt, củ Do vậy, GA3 là một trong những chất điều tiết sinh trưởng có ứng dụng hiệu quả trong sản xuất cây nông nghiệp

Khi nghiên cứu ảnh hưởng của GA3 ở các nồng độ 20ppm, 30ppm, 40ppm, 50ppm đến giống nhãn chín sớm PHS-2 tại xã Bình Minh, huyện Khoái Châu, tỉnh Hưng Yên chúng tôi thu được kết quả như sau

4.2.1 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 đến khả năng giữ quả của nhãn chín sớm PHS-2

Quá trình ra hoa đậu quả là giai đoạn quan trọng quyết định năng suất của cây nhãn, tất cả mọi tác động về cơ giới hay hoá học đều nhằm mục đích năng

43 cao yếu tố cấu thành năng suất Qua bảng 4.14 cho ta thấy sau khi tắt hoa số quả non đậu trên chùm có sự sai khác giữa các công thức Trong đó, công thức 4, phun GA 3 nồng độ 40ppm đạt số quả đậu/chùm khi tắt hoa là cao nhất (75,7 quả/chùm), thấp nhất là công thức 1 (đối chứng – phun nước lã) chỉ đạt 56,7 quả/chùm Các công thức phun GA3 ở nồng độ 20ppm, 30ppm và 50ppm có số quả đậu/chùm dao động từ 63,5-66,5 quả/chùm

Sau 15 ngày số quả/chùm ở các công thức giảm đi đáng kể và số quả trên chùm cao nhất vẫn là công thức 4, phun GA3 nồng độ 40ppm (57,5 quả/chùm) Các công thức còn lại có số quả sau 15 ngày dao động trong khoảng 44,4-50,4 quả/chùm Như vậy chỉ sau 15 ngày trung bình mỗi chùm giảm đi 15,4 quả/chùm

Trong cả 5 công thức thì số quả đậu/chùm sau tắt hoa 30,45,60 ngày tiếp tục giảm nhưng ở công thức 4, phun GA 3 nồng độ 40ppm luôn cho kết quả tốt nhất Với số quả đậu trên chùm sau 15, 30, 45, 60 ngày tương ứng với 49,7; 46,8 và 41,5 quả/chùm Công thức 1 (đối chứng) luôn đạt số quả đậu/chùm thấp nhất, sau 30,45,60 ngày tương đương với 37,3; 30,9 và 28,8 quả/chùm

Chỉ tiêu số quả đậu/chùm khi thu hoạch của công thức phun GA3 nồng độ 40ppm đạt cao nhất với 40,8 quả/chùm Công thức phun GA3 nồng độ 20ppm đạt 32,1 quả/chùm Công thức phun GA 3 nồng độ 30ppm đạt 34,5 quả/chùm, công thức phun GA3 nồng độ 50ppm đạt 33 quả/chùm, công thức đối chứng đạt số quả thấp nhất (27,1 quả/chùm) Đến khi thu hoạch, tỷ lệ giữ quả của công thức phun GA 3 nồng độ 40ppm đạt cao nhất là 53,9%, cao hơn 6,1% so với công thức có tỷ lệ giữ quả thấp nhất là công thức đối chứng (47,8%) Các công thức phun GA3 nồng độ 20ppm, 30ppm và 50ppm có tỷ lệ giữ quả so với công thức đối chứng cũng cao hơn với tỷ lệ dao động trong khoảng 50,2-52%

Như vậy, việc phun GA3 đã có tác dụng tích cực đến khả năng giữ quả của cây trong khoảng thời gian từ 15 đến 60 ngày khi đậu quả, đây được xem là giai đoạn rụng quả non nhiều nhất Sau giai đoạn 60 ngày hiện tượng này vẫn còn nhưng ở mức độ nhẹ hơn

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 đến khả năng giữ quả ở các công thức thí nghiệm qua các ngưỡng thời gian khác nhau (số quả/chùm)

Số quả đậu/chùm sau tàn hoa (quả/chùm)

Số quả đậu/chùm (quả) Số quả/chùm trước thu hoạch

Sau 15 ngày Sau 30 ngày Sau 45 ngày Sau 60 ngày Số quả

Tỷ lệ giữ quả so với ban đầu (%)

Hình 4.2 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 đến khả năng giữ quả của nhãn chín sớm PHS-2

4.2.2 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 đến động thái tăng trưởng quả của nhãn chín sớm PHS-2

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 tới động thái tăng trưởng quả của nhãn chín sớm PHS-2 Đơn vị: mm

Sau 15 ngày Sau 30 ngày Sau 45 ngày Sau 60 ngày

Chiều cao quả Đường kính quả

Chiều cao quả Đường kính quả

Chiều cao quả Đường kính quả

Chiều cao quả Đường kính quả

Qua bảng 4.15 cho ta thấy các công thức có phun GA3 có tốc độ phát triển quả mạnh hơn so với công thức đối chứng (phun nước lã) Sau đậu quả 15 ngày chiều cao quả dao động từ 10,7 mm đến 11,2 mm, đường kính quả dao động 6,6-7,0 mm

46 Ở các công thức sau 15 ngày và sau 30 ngày quả nhãn phát triển mạnh về chiều cao, vì vậy chiều cao lớn hơn đường kính khoảng 3-4 mm Sau 60 ngày cùi quả đã dần hình thành và tốc độ phát triển khá đều Công thức 4 phun GA 3 ở nồng độ 40 ppm cho chỉ tiêu về chiều cao và đường kính quả cao nhất, lần lượt là 19,6 mm và 17,5 mm

4.2.3 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 đến thành phần cơ giới quả của giống nhãn PHS-2

Bảng 4.16 Ảnh hưởng của GA 3 tới thành phần cơ giới quả

Chiều cao quả (cm) Đường kính quả (cm)

Cao hạt (cm) Đường kính hạt (cm)

Tỷ lệ phần ăn được (%)

Số liệu bảng 4.16 cho thấy khối lượng quả của CT4 (phun GA 3 nồng độ

40 ppm) đạt cao nhất là 12,4 g Các công thức còn lại có khối lượng quả dao động trong khoảng từ 11,8-12,3 g

Công thức 4 có các chỉ tiêu về đường kính và chiều cao quả đạt cao hơn so với các công thức khác (đường kính quả là 3,0 cm; chiều cao quả là 3,2 cm), công thức 2 (phun GA3 ở nồng độ 20 ppm) cùng công thức đối chứng (phun nước lã) đạt thấp nhất và tương tự nhau (đường kính là 2,8 cm ở cả 2 công thức; chiều cao quả dao động trong khoảng 2,9-3,0 cm)

Về tỷ lệ phần ăn được: cao nhất là CT4 phun GA3 nồng độ 40 ppm với tỷ lệ phần ăn được đạt 66,1% cao hơn 2,5% so với công thức có tỷ lệ phần ăn được thấp nhất là đối chứng (63,6%) Các công thức sử dụng GA3 ở các nồng độ khác

(20 ppm, 30 ppm và 50 ppm) có tỷ lệ cùi dao động trong khoảng 65,3-65,6%

Năng suất kg/cây giữa các công thức có sự sai khác CT4 có năng suất đạt cao nhất 29,4 kg/cây, cao hơn 7,9 kg/cây so với công thức đối chứng (phun nước lã) có năng suất thấp nhất (21,5 kg/cây) Các công thức phun GA 3 ở nồng độ 20 ppm, 30 ppm và 50 ppm đều có năng suất cao hơn công thức đối chứng với năng suất đạt lần lượt là 24,2 kg/cây; 27,3 kg/cây và 28,4 kg/cây

Như vậy khi sử dụng chất điều hòa sinh trưởng GA3 đã làm tăng khối lượng quả và công thức phun GA 3 ở nồng độ 40 ppm đạt cao nhất

4.2.4 Ảnh hưởng của nồng độ GA 3 khác nhau đến chất lượng quả giống nhãn chín sớm PHS-2

Bảng 4.17 Ảnh hưởng của GA 3 tới một số chỉ tiêu chất lượng quả

Qua phân tích thành phần sinh hóa cho thấy hàm lượng chất khô trong quả giữa các công thức thí nghiệm có sự sai khác không nhiều và gần tương đương nhau so với công thức đối chứng Với hàm lượng chất khô dao động trong khoảng 22,30-23,70%

Nghiên cứu ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến năng suất, chất lượng giống nhãn chín sớm PHS-2

Qua bảng 4.18 và hình 4.3 ta thấy số quả đậu/chùm sau tắt hoa ở các công thức có sự sai khác Phun Bortrac có số quả/chùm sau tắt hoa đạt cao nhất 74,7 quả/chùm Phun Master-Grow đạt 72,5 quả/chùm, phun rong biển đạt 66,2 quả/chùm, công thức đối chứng (phun nước lã) có số quả đậu/chùm thấp nhất (56,7 quả/chùm) Số quả rụng nhiều nhất sau giai đoạn tắt hoa là 15 ngày, đây là giai đoạn rụng sinh lý mạnh nhất, do trong quá thụ phấn, thụ tinh không gặp thuận lợi và do yếu tố dinh dưỡng Tại thời điểm 60 ngày sau tắt hoa, số quả/chùm ở công thức Bortrac vẫn đạt cao nhất 43,8 quả/chùm, phun Master- Grow đạt 42,5 quả/chùm Tại thời điểm khi thu hoạch phun Bortrac đạt cao nhất 39,9 quả/chùm với tỷ lệ giữ quả so với ban đầu là 53,4% Phun Master-Grow đạt 37,9 quả/chùm với tỷ lệ giữ quả so với ban đầu là 52,3% Phun rong biển đạt 33,4 quả/chùm với tỷ lệ giữ quả so với ban đầu là 50,5% Công thức đối chứng (phun nước lã) thấp nhất 27,1 quả/chùm với tỷ lệ giữ quả chỉ đạt 47,8%

Như vậy khi sử dụng các loại phân bón lá có tác dụng tốt để giữ quả trên chùm, trong đó sử dụng phân bón lá Bortrac có kết quả tốt nhất

Bảng 4.18 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng giữ quả của giống nhãn chín sớm PHS-2

Công thức Số quả đậu/chùm sau tàn hoa (quả/chùm)

Số quả đậu/chùm (quả) Số quả/chùm trước thu hoạch

Tỷ lệ giữ quả so với ban đầu (%)

Hình 4.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến khả năng giữ quả của giống nhãn chín sớm PHS-2

4.3.2 Ảnh hưởng một số loại phân bón lá đến động thái tăng trưởng quả của nhãn chín sớm PHS-2

Bảng 4.19 Ảnh hưởng của một số loại phân bón tới động thái tăng trưởng quả của nhãn chín sớm PHS-2 Đơn vị: mm

Sau 15 ngày Sau 30 ngày Sau 45 ngày Sau 60 ngày

Chiều cao quả Đường kính quả

Chiều cao quả Đường kính quả

Chiều cao quả Đường kính quả

Chiều cao quả Đường kính quả CT1 (ĐC) 10,7 6,6 12,9 9,5 14,5 13,5 16,9 16,3

Qua bảng 4.19 cho ta thấy các công thức có phun phân bón lá có tốc độ phát triển quả mạnh hơn so với công thức đối chứng Sau 15 ngày rụng hoa, chiều cao quả dao động từ 10,7 mm đến 11 mm Đường kính quả dao động 6,6 mm đến 0,6,8 mm Sau 30 ngày thì ở CT4 phun Master-Grow có tốc độ phát triển quả nhanh hơn so với các công thức khác Tuy nhiên, sau 45 ngày công thức phun Botrac lại có chiều và đường kính quả đạt cao nhất lần lượt là 15,1 mm và 14,2 mm Sau 60 ngày chiều cao và đường kính quả ở các công thức dao động trong khoảng 16,9-17,9 mm và 16,3 -17,0 mm

Như vậy phun phân bón lá làm tốc độ phát triển quả mạnh hơn so với đối chứng

4.3.3 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thành phần cơ giới quả của giống nhãn PHS-2

Qua bảng số liệu 4.20 ta thấy:

Chỉ tiêu về khối lượng quả: khối lượng quả ở tất cả các công thức tương đương nhau, với khối lượng dao động trong khoảng 11,8-12,3g

Chiều cao và đường kính quả ở công thức đối chứng (phun nước lã) và các công thức sử dụng phân bón lá dao động trong các khoảng lần lượt là 2,9-3,1 cm và 2,8-3,0 cm

Chiều cao, đường kính hạt ở các công thức là tương đương nhau CT2, CT3, CT4 đều có chiều cao hạt là 1,3 cm và đường kính hạt dao động trong khoảng 1,2-1,3 cm

Có khối lượng vỏ và hạt nặng hơn các công thức khác (4,3g) nhưng khi phun Bortrac vẫn cho tỷ lệ phần ăn được cao nhất 65,9% cao hơn 1,2% so với công thức có tỷ lệ phần ăn được thấp nhất là đối chứng (64,7%) Khi sử dụng rong biển và Master grow có tỷ lệ phần ăn được lần lượt là 65,0% và 64,8% Năng suất thu được giữa các công thức có sự sai khác rõ rệt, giữa CT1; CT2 với CT3; CT4 Năng suất của CT1 là thấp nhất chỉ đạt 21,5kg/cây thấp hơn 7,6 kg/cây so với công thức có năng suất cao nhất là 29,1 kg/cây(CT3) CT2 và CT4 có năng suất thấp hơn CT3 nhưng vẫn cao hơn so với công thức đối chứng (CT1), với năng suất lần lượt là 25,2 kg/cây và 28,2 kg/cây

Bảng 4.20 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến thành phần cơ giới quả

Công thức Khối lượng quả (g)

Chiều cao quả (cm) Đường kính quả (cm) Cao hạt (cm) Đường kính hạt (cm)

Tỷ lệ phần ăn được (%)

4.3.4 Ảnh hưởng của một số loại phân bón lá đến chất lượng quả của giống nhãn PHS-2

Hàm lượng chất khô ở các công thức phun phân bón lá và công thức đối chứng tương đương nhau dao động trong khoảng 22,30-23,90%

Hàm lượng đường tổng số của công thức phun Bortrac đạt cao nhất (đạt 17,88%), tiếp đó là công thức phun rong biển (đạt 17,84%), công thức phun Master grow đạt 17,79%, công thức đối chứng thấp nhất chỉ đạt 17,50%

Hàm lượng axit tổng số của công thức 3 (phun Bortrac) đạt cao nhất 0,134% Công thức 1, công thức 4 có hàm lượng axit tổng số bằn nhau đều đạt 0,121% Công thức 2 có hàm lượng axit thấp nhất (0,094%)

Hàm lượng vitamin C ở công thức 2 và công thức 4 đạt cao nhất (48,64mg% và 48,63mg%), công thức 3 đạt 47,90mg%, công thức đối chứng đạt thấp nhất 47,72mg% Độ Brix ở tất cả công thức có sự sai khác đáng kể, các công thức phun phân bón lá có độ Brix đạt cao hơn công thức đối chứng và cao nhất là CT2 và CT3 (>21%), công thức đối chứng chỉ đạt 20,5%

Như vậy việc phun phân bón lá tại 4 thời điểm: lộc thu thành thục, bắt đầu ra giò hoa, sau đậu quả 5-7 ngày, sau đậu quả 15-20 ngày sẽ làm cho số quả đậu/chùm, khối lượng quả và chất lượng quả tốt hơn Đặc biệt làm cho chất lượng quả tăng (độ Brix cao hơn và tăng mùi vị)

Bảng 4.21 Ảnh hưởng của phân bón lá đến chất lượng quả

Công thức Chất khô (%) Đường tổng số (%)

(Rong biển) 22,88 17,84 0,094 48,64 21,03 Ngọt đậm, vị thơm

(Bortrac) 23,00 17,88 0,134 47,90 21,25 Ngọt đậm,vị thơm

(Master Grow) 23,90 17,79 0,121 48,63 20,90 Ngọt đậm,vị thơm

Ngày đăng: 17/07/2021, 07:09

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w