Mã số: 60.62.01.12 Mục đích nghiên cứu của luận văn Xác định được thành phần ruồi đục quả giống Bactrocera trên ổi tại Thanh Hà – Hải Dương; nghiên cứu các đặc điểm sinh học của loài r
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
VŨ THỊ THANH HOA
THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC QUẢ ỔI TẠI THANH HÀ, HẢI DƯƠNG NĂM 2016; ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC LOÀI RUỒI ĐỤC QUẢ BACTROCERA DORSALIS HENDEL VÀ BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ BẰNG BẪY BẢ
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng: Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa được sử dụng để bảo vệ một học vị nào Toàn bộ hình ảnh trong luận văn được tác giả chụp vào năm 2016
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn
và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều đã được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Hoa
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam, khoa Nông học, giảng viên hướng dẫn T.S Lê Ngọc Anh cùng các thầy cô trong bộ môn Côn trùng của Học Viện, đã tạo mọi điều kiện thuận lợi cho tôi trong suốt thời gian thực hiện đề tài và hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Bảo Vệ Thực Vật – Bộ Môn Côn Trùng, các đồng nghiệp tại Chi cục Kiểm Dịch Thực Vật vùng 1 nơi tôi đang công tác đã tạo điều kiện, giúp
đỡ trong suốt thời gian thực hiện đề tài
Để hoàn thành luận văn này, tôi còn nhận được sự động viên, khích lệ của gia đình, bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn
Hà Nội, ngày tháng năm 2017
Tác giả luận văn
Vũ Thị Thanh Hoa
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ii
LỜI CẢM ƠN iii
MỤC LỤC iv
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN ix
THESIS ABSTRACT xi
PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI 1
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 3
1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 3
1.4.1 Những đóng góp mới 3
1.4.2 Ý nghĩa khoa học 3
1.4.3 Ý nghĩa thực tiễn 3
PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI 4
2.1.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái học của ruồi đục quả giống Bactrocera 4
2.1.2 Biện pháp phòng trừ bằng bẫy dẫn dụ 10
2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ RUỒI ĐỤC QUẢ TẠI VIỆT NAM 14
2.2.1 Thành phần ruồi đục quả tại Việt Nam 14
2.2.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ruồi đục quả giống Bactrocera 15
2.2.3 Biện pháp phòng trừ 17
PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU 19
3.1.1 Địa điểm 19
Trang 53.1.2 Thời gian nghiên cứu 19
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU 19
3.3 VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU 19
3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU 20
3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 20
3.5.1 Phương pháp xác định thành phần ruồi đục quả (Bộ: Diptera; Họ: Tephritidae; Giống: Bactrocera) trên ổi tại Thanh Hà, Hải Dương 20
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài ruồi đục quả gây hại chính 23
3.5.3 Xác định hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả bằng bẫy 28
3.5.5 Phương Pháp xử lý số liệu 32
PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 33
4.1 THÀNH PHẦN RUỒI ĐỤC QUẢ THU THẬP ĐƯỢC TỪ BẪY ME, CUE, BẪY PB VÀ TRONG QUẢ ỔI TẠI THANH HÀ- HẢI DƯƠNG NĂM 2016 33
4.2 DIỄN BIẾN MẬT ĐỘ RUỒI ĐỤC QUẢ BACTROCERA DORSALIS COMPLEX THU THẬP ĐƯỢC TỪ QUẢ ỔI BỊ HẠI VÀ TRÊN BẪY 39
4.3 ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI HỌC VÀ SINH HỌC CỦA LOÀI BACTROCERA DORSALIS HENDEL 41
4.3.1 Tập tính gây hại của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 42
4.3.2 Đặc điểm hình thái của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 44
4.4 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ PHÒNG TRỪ RUỒI ĐỤC QUẢ BẰNG BẪY 50
4.4.1 So sánh hiệu quả phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel bằng các loại bẫy ME, CUE và PB tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 50
4.4.2 Đánh giá ảnh hưởng của số lượng bẫy ME đến khả năng phòng trừ ruồi đục quả B dorsalis tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 52
4.4.3 Đánh giá ảnh hưởng của các chiều cao treo bẫy ME tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 55
4.4.4 Đánh giá ảnh hưởng của các thời điểm treo bẫy ME 57
PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 59
5.1 KẾT LUẬN 59
5.2 ĐỀ NGHỊ 59
TÀI LIỆU THAM KHẢO 60
Trang 6DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
Trang 7DANH MỤC BẢNG
Bảng 4.1 Thành phần ruồi đục quả thu thập được từ bẫy ME, CUE, bẫy Pb trên
vườn ổi và trong quả ổi tại Thanh Hà – Hải Dương 33
Bảng 4.2 Một số đặc điểm hình thái của 7 loài ruồi đục quả Bactrocera thu được từ 3 loại bẫy ME, CUE, Pb tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 36
Bảng 4.3 Tỷ lệ các loài ruồi đục quả thu được trên 3 loại bẫy ME, CUE và Pb thu được trên vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 38
Bảng 4.4 Diễn biến mật độ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis complex thu thập được từ quả ổi bị hại và trên bẫy ME tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 40
Bảng 4.5 Xu hướng đẻ trứng của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 42
Bảng 4.6 Đặc điểm hình thái học của loài ruồi Bactrocera dorsalis Hendel 45
Bảng 4.7 Thời gian phát dục các pha của loài B dorsalis Hendel 46
Bảng 4.8 Một số đặc điểm của pha trưởng thành cái loài B dorsalis Hendel 48
Bảng 4.9 Nhịp điệu sinh sản của ruồi đục quả B dorsalis Hendel 49
Bảng 4.10 Tỷ lệ ruồi đục quả B dorsalis Hendel vào các bẫy ME, CUE và Pb tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 51
Bảng 4.11 Tỷ lệ ruồi B dorsalis vào bẫy ME ở các mật độ treo tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 53
Bảng 4.12 Tỷ lệ quả bị hại ở các mật độ treo bẫy ME tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 54
Bảng 4.13 Tỷ lệ ruồi B dorsalis vào bẫy ME ở các chiều cao treo khác nhau tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 56
Bảng 4.14 Tỷ lệ ruồi B dorsalis Hendel vào bẫy ME ở các thời điểm treo tại vườn ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 57
Trang 8DANH MỤC HÌNH
Hình 3.1 Sơ đồ đặt bẫy 21
Hình 3.2 Lồng nuôi nguồn ruồi đục quả 28
Hình 3.3 Lồng nuôi cá thể ruồi đục quả 28
Hình 3.4 Phương pháp thu trứng ruồi đục quả 28
Hình 3.5 Bẫy được treo cách mặt đất 1,5m 30
Hình 3.6 Mẫu ruồi đục quả thu được từ bẫy 30
Hình 3.7 Mẫu tiêu bản trưởng thành ruồi đục quả thu từ bẫy 32
Hình 3.8 Mẫu sâu non ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 32
Hình 4.1 Các loài ruồi đục quả giống Bactrocera thu thập từ bẫy dẫn dụ 37
Hình 4.2 Tỷ lệ các loài ruồi đục quả trên các bẫy ME, CUE và Pb thu được tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 38
Hình 4.3 Diễn biến mật độ ruồi đục quả thu thập được từ quả ổi bị hại và trên bẫy Me tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 40
Hình 4.4 Tập tính đẻ trứng cuả trưởng thành cái B dorsalis 43
Hình 4.5 Thời gian đẻ trứng trong ngày của ruồi đục quả B dorsalis 43
Hình 4.6: Ổi bị ruồi đục quả gây hại 44
Hình 4.7 Vết chích do ruồi đục quả để lại trên quả ổi 44
Hình 4.8 Một số hình ảnh các pha phát dục ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel 45
Hình 4.9 Nhịp điệu sinh sản của loài B dorsalis Hendel 49
Hình 4.10 Tỷ lệ ruồi đục quả B dorsalis Hendel vào các bẫy ME, CUE và PB tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 52
Trang 9TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Vũ Thị Thanh Hoa
Tên luận văn: Thành phần ruồi đục quả ổi tại Thanh Hà, Hải Dương năm 2016; đặc điểm sinh học loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel và biện pháp phòng trừ bằng bẫy bả
Chuyên ngành: Bảo vệ thực vật
Cơ sở đào tạo: Học viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mã số: 60.62.01.12
Mục đích nghiên cứu của luận văn
Xác định được thành phần ruồi đục quả giống Bactrocera trên ổi tại Thanh Hà – Hải Dương; nghiên cứu các đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel
và đánh giá hiệu quả của biện pháp phòng trừ ruồi đục quả gây hại chính trên ổi bằng bẫy
bả Trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả gây hại chính trên ổi có hiệu quả nhất
Phương pháp nghiên cứu chính đã được sử dụng
- Điều tra thành phần ruồi và diễn biến các loài ruồi đục quả giống Bactrocera trên cây ổi tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 bằng phương pháp treo bẫy dẫn dụ ME, CUE và Pb của ISPM số 26 (2011) và QCVN 01-38/2010/BNNPTNT
- Nghiên cứu một số đặc điểm sinh học của ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel dựa theo phương pháp nhân nuôi của Walker et al., (1996)
- Xác định hiệu quả của biện pháp phòng trừ ruồi đục quả Bactrocera dorsalis bằng bẫy ME
Kết quả nghiên cứu chính đã đạt được
Thành phần ruồi đục quả tại Thanh Hà – Hải Dương năm 2016 thu được trên vườn ổi từ 3 loại bẫy có 7 loài thành phần ruồi đục quả thu được trên quả có 2 loài thuộc giống Bactrocera, họ Tephritidae, bộ Diptera Trong đó ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel là loài gây hại chính, có độ thường gặp là cao nhất ghi nhận được cả trên bẫy và trong quả
Quần thể ruồi đục quả thu được trên bẫy và trong quả ổi tại Thanh Hà – Hải Dương có tương quan chặt chẽ với điều kiện sinh thái đặc biệt là yếu tố thức ăn Mật độ của ruồi đục quả trưởng thành đực Bactrocera dorsalis trên các bẫy thu được tăng nhanh khi quả bắt đầu chín, đạt đỉnh cao nhất trong các tháng 8- 10 ở mức 31,52 con/bẫy/ ngày và giảm dần khi quả thu hoạch hết Sâu non B.dorrsalis xuất hiện khi quả
Trang 10bắt đầu chín, mật độ sâu non cao nhất ghi nhận được ở mức ở mức 13,07 con/quả vào các tháng 9- 11 khi quả ổi chín rộ và thu hoạch hết
Loài Bactrocera dorsalis Hendel khi nuôi bằng thịt quả ổi ở điều kiện nhiệt độ
1,93 ± 0,18 ngày, sâu non là 8,48 ± 0,42 ngày, nhộng 7,43 ± 0,37 ngày,trưởng thành tiền đẻ trứng là 8,46 ± 0,56 ngày, tuổi thọ trung bình của cá thể đực và cá thể cái là 77,56 ± 6,67 ngày Ruồi cái có khả năng đẻ từ 550,06 ± 93,20 quả/con cái; thời gian đẻ trứng là 52,53 ± 6,54 ngày Trưởng thành cái đẻ nhiều nhất vào ngày 41-50 sau khi vũ hóa trưởng thành
Bẫy Methyl eugenol thu được nhiều trưởng thành đực loài ruồi B doralis Hendel nhất trong 3 loại cùng sử dụng trong thí nghiệm Mật độ treo bẫy ME càng nhiều thì tổng số lượng loài Bactrocera dorsalis thu được càng nhiều đỉnh cao thu được 2264 con/6 bẫy/15 ngày Mật độ bẫy càng cao thì tỷ lệ quả ổi bị hại càng lớn nhiều nhất là ở
treo bẫy ME ở vườn ổi đài loan tại Thanh Hà – Hải Dương là 1,5m, thời điểm treo thích hợp là khi bắt đầu ra quả đối với vùng sản xuất một vụ
Trang 11THESIS ABSTRACT
Research candidate: Vu Thị Thanh Hoa
Thesis title: The surveillance of composition of fruit flies Bactrocera genus on guava in Thanh Ha – Hai Duong in 2016; the study of biological characteristics of Bactrocera dorsalis Hendel and controlling methods by traps and bait
Major: Plant Protection
Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture
Code: 60.62.01.12
Research objectives:
Surveillance of the composition of fruit flies of Bactrocera genus in Thanh Hà – Hai Dương; study on biological characteristics of Bactrocera dorsalis Hendel and assessment the effectiveness of controlling main fruit flies by traps on the guava field Recommending some effective controlling fruit flies methods
The fruit flies population attracted by traps and found in the fruit with ecological factors was collate Male fruit flies population of B dorsalis caught by traps was significantly arise during fruiting and reached the peak from August to October at 31,52 individuals/trap/day and reduced gradually after harvesting The larva B dorslais population appeared from ripping stage, and recorded the highest population at the rate
of 13,07 individuals/fruit when the guava was fully ripen from September to November
Trang 12The life cycle of Bactrocera dorsalis Hendel was 25,3 ± 0,89 days, development time from egg to larva was 1,93 ± 0,18 days, the larva was 8,48 ± 0,42 days, the pupa was 7,43 ± 0,37 days, time of pre – oviposition was 8,46 ± 0,56 days The life span was 77,56 ± 6,67 days The ovipositor capacity average was 550,06 ± 93,2 egg/female in 52,53 ± 6,54 days, concentrated on 41-50 days after adults emerging when reared by guava at the conditions of 26 – 28 0 C and 60 - 80% RT
The male Bactrocera dorsalis Hendel was attracted most by Methyl eugenol trap The more ME traps were used the more Oriental fruit flies were caught at the highest rate was 2264 male individuals/ 6 traps/15 days and the more guava fruits were damaged especially at the density of 6 Me traps/1000 m2 at the average loss rate was 49,66% The height of trapping on guava plant was 1,5 m The best time for trapping was guava fruiting – stage on the short season fields
Trang 13PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, có điều kiện thuận lợi cho việc trồng các loại cây như cây ăn quả, cây thực phẩm Trong những năm gần đây do giá trị về kinh tế mà các loại cây ăn quả mang lại ngày càng cao, thì ngày càng có nhiều diện tích đất nông nghiệp được chuyển đổi sang trồng các loại cây này, để đáp ứng với nhu cầu ngày càng tăng của thị trường thì việc sản xuất thâm canh trên quy mô lớn đang ngày càng mở rộng Một trong các loại cây ăn quả đang được trồng phổ biến ở các tỉnh phía Bắc là cây ổi, một trong những vùng trồng ổi nổi tiếng ở vùng Bắc Bộ là huyện Thanh Hà tỉnh Hải Dương Tại Thanh Hà – Hải Dương, do hiệu quả kinh tế của vải liên tục sụt giảm, huyện Thanh Hà đã tiến hành quy hoạch vùng trồng cây ăn quả với chủ trương chuyển đổi từ 500 ha vải sang trồng ổi gần chục năm trở lại đây Trên thị trường, giống ổi của Thanh Hà rất được ưa chuộng nhờ chất lượng ngon, mẫu mã đẹp, phù hợp với thị hiếu của người tiêu dùng Mỗi năm nguồn thu từ ổi là hơn trăm triệu đồng/ha
Tuy nhiên cùng với những thuận lợi do thiên nhiên mang lại thì người nông dân phải đối mặt với những thách thức trong trồng trọt, một trong những vấn đề nan giải đó là sâu bệnh hại Một trong những loài dịch hại nguy hiểm cho vùng trồng ổi được biết đến trong những năm gần đây là loài ruồi đục quả do việc trồng độc canh gây ra
Ruồi đục quả thuộc bộ Diptera họ Tephritidae giống Bactrocera Ruồi trưởng thành đẻ vào trong quả, trứng và sâu non phát triển trong quả làm cho quả bị thối hỏng, rụng, tạo điều kiện thuận lợi cho nấm bệnh gây hại, gây rụng quả và làm giảm nghiêm trọng năng suất, chất lượng và mẫu mã quả, nhiều ghi nhận cho thấy chúng có khả năng gây thiệt hại 100% sản lượng quả (Cabi, 2016) Không những vậy ruồi đục quả có phổ ký chủ rất rộng, do vậy chúng
có thể duy trì quần thể ngay cả khi không có mặt của cây ký chủ chính Do vậy ruồi đục quả đang là mối quan tâm không chỉ ở các nước đang phát triển
mà ở cả các nước phát triển
Ruồi đục quả là dịch hại khó đạt hiệu quả cao trong phòng trừ vì nguyên nhân sau: phổ ký chủ rộng, khả năng đẻ trứng cao, sâu non gây hại bên trong quả,
Trang 14vòng đời ngắn, dễ bùng phát số lượng và nhóm này có khả năng lây nhiễm cao
do trưởng thành có thể bay trung bình 100km/năm (Cabi, 2016) Ruồi đục quả rất
dễ lan truyền từ vùng này cho đến vùng khác và dễ thiết lập quẩn thể ở một vùng mới xâm nhập Đây là lý do nhiều nước đã đưa các loài ruồi đục quả vào danh sách những loài côn trùng phải kiểm soát và là đối tượng kiểm dịch thực vật quan trọng của nhiều nước
Tuy nhiên, cho đến nay để phòng trừ ruồi đục quả người dân mới chỉ biết đến việc sử dụng các loại thuốc hóa học và bao quả bằng nilon Việc sử dụng các loại thuốc hóa học để phun định kỳ nhiều lần trong một vụ hoặc thu hoạch khi chưa hết thời gian cách ly, làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người tiêu dùng, người sản xuất, ô nhiễm đất, nước, không khí, tiêu diệt nhiều loài thiên địch, phá
vỡ hệ sinh thái đồng ruộng, làm gia tăng các loài sâu bệnh hại khác Việc sử dụng nilon để bao quả làm tăng chi phí sản xuất, tốn thời gian, nilon lâu phân hủy trong môi trường gây ô nhiễm môi trường
Từ thực tiễn trên, để góp phần tìm ra thành phần loài ruồi đục quả, diễn biến phát sinh của loài ruồi đục quả chính và tìm ra biện pháp sinh học trong phòng trừ ruồi đục quả có hiệu quả cao, an toàn với con người, môi trường để đem lại sản phẩm ổi sạch cho huyện Thanh Hà- Hải Dương chúng tối tiến hành thực hiện đề tài: “Thành phần ruồi đục quả ổi tại Thanh Hà, Hải Dương năm 2016; đặc điểm sinh học loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel và biện pháp phòng trừ bằng bẫy bả’’
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu tổng quát
Xác định được thành phần ruồi đục quả chính trên ổi tại Thanh Hà – Hải Dương; đặc điểm sinh học của loài ruồi đục quả Bactrocera dorsalis Hendel và xác định hiệu quả của biện pháp phòng trừ bằng bẫy bả
Trang 15- Cung cấp dữ liệu khoa học về thành phần, diễn biến mật độ ruồi đục quả trên ổi tại huyện Thanh Hà- Hải Dương
Trang 16PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
Ổi (Psidium guajava) là một trong những loại cây ăn quả có giá trị dinh dưỡng cao, bên cạnh đó còn mang lại giá trị kinh tế cao cho người trồng Là một trong những loài cây có giá trị xuất khẩu cao cho các nước, ước tính mỗi năm có khoảng vài trăm nghìn tấn đưa ra thị trường thế giới Trong đó, Hoa Kỳ, Nhật Bản, New Zealand và một số nước Châu Âu là những nước thường xuyên nhập khẩu ổi từ các nước nhiệt đới (The Fruit Republic, 2016)
Ở Việt Nam, vùng trồng ổi lớn nhất ở miền Bắc hiện nay chủ yếu là ở Thanh Hà- Hải Dương và Gia Lâm- Hà Nội Hiện nay, Thanh Hà có 270 ha ổi, sản lượng hàng năm vào khoảng 3.000 tấn với doanh thu hàng chục tỷ đồng Trong những năm tới diện tích được dự đoán ngày càng được mở rộng khi người dân tiếp tục chuyển đổi trồng vải thiều sang trồng ổi, nguyên nhân do ổi mang lại giá trị kinh tế cao hơn so với vải thiều và các loại cây ăn quả khác
Trong khi đó, theo Cabi (2016), trên ổi có hơn 40 loài sâu hại ổi, hơn một nửa trong số thành phần sâu hại ổi này là ruồi đục quả thuộc 3 giống Bactrocera
16 loài, Anastrepha 6 loài và Ceratitis 1 loài Điều này có thể thấy ruồi đục quả giống Bactrocera là một trong những loài gây hại chính cho ổi Trong đó có loài Bactrocera dorsalis, Bactrocera tryoni và Bactrocera correcta là 3 loài gây hại chính và có phân bố rộng nhất ở trên thế giới Trên thế giới loài Bactrocera correcta được gọi là ruồi đục quả ổi, ở Ấn Độ, loài ruồi này hàng năm gây hại cho khoảng 60- 80% sản lượng ổi
Đây cũng là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến sản lượng ổi và chất lượng bị giảm sút, các biện pháp phòng trừ ruồi đục quả dẫn đến mất vệ sinh
an toàn thực phẩm và là rào cản lớn trong việc xuất khẩu Hiện nay, trong thực tiễn sản xuất tại Thanh Hà, Hải Dương hầu như chưa có biện pháp hữu hiệu nào
để phòng trừ ruồi đục quả ngoài việc bao quả, thu quả sớm hay phun thuốc phòng trừ gây ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến sức khỏe con người và tiêu diệt nhiều loài côn trùng có ích khác
2.1.1 Đặc điểm sinh học, sinh thái học của ruồi đục quả giống Bactrocera 2.1.1.1 Ý nghĩa kinh tế của giống Bactrocera
Có khoảng 4500 loài ruồi đục quả trên thế giới Trong số đó, có khoảng 50 loài là dịch hại chính hại cây ăn quả và hoa màu, và có khoảng 30 loài khác là
Trang 17dịch hại thứ yếu Trong số 50 loài dịch hại chủ yếu đó, có khoảng 22 loài có phân
bố ở các nước và các vùng thuộc Thái Bình Dương Trong khi đó, ở vùng Đông Nam Á có khoảng 12 loài trong số 50 loài dịch hại chủ yếu Ở Ấn Độ và các tiểu bang có khoảng 10 loài và ở Châu phi có khoảng 11 loài Có vài loài có phân bố khá rộng rãi ví dụ: Bactrocera dorsalis (Allwood and Drew, 1996) Trong đó chi Bactrocera bao gồm hơn 500 loài, đa số có nguồn gốc ở Nam Thái Bình Dương,
Úc, Ấn Độ, và Đông Nam Á (CABI, 2016)
Ruồi đục quả đã ghi nhận gây hại trên 150 ký chủ bao gồm cả quả và rau ví dụ: mận, bơ, chuối, cam, cafe, quả vả, xoài, ổi, quả chanh leo, đào, hồng, dứa Trong số đó ký chủ bị tấn công nhiều nhất là xoài, ổi, đu đủ
Ở Hawai, sâu non được tìm thấy trên 125 loài ký chủ, bị nhiễm từ 50 – 80%
đã được ghi nhận trên lê, đào, mận và các loài quả khác Chúng cũng là ký chủ nguy hiểm trên cam và các loại quả nhiệt đới ở Nhật Bản, Okinawa và các hòn đảo Amami, Miyako và Bonin ở Nhật Bản trước khi chúng bị tiêu diệt (CABI, 2016) Bên cạnh đó ruồi đục quả Bactrocera được xếp vào loại đầu bảng trong danh sách những loại côn trùng cần được kểm soát và là đối tượng kiểm dịch thực vật quan trọng nhất của nhiều nước như Nhật Bản, Mỹ, Đài Loan, New Zealand… Mức độ gây hại hàng năm của ruồi đục quả là rất lớn, nhiều loài gây hại trên nhiều loại rau quả và gần như quanh năm Ruồi đục quả có ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế, chúng làm mất mùa, giảm xuất khẩu và tăng các yêu cầu nghiêm ngặt trong công tác kiểm dịch thực vật Ruồi gây tổn hại cây trồng khi mà con trưởng thành cái chọc thủng lớp vỏ quả và đẻ trứng vào trong quả, ấu trùng ăn thịt quả, và những tác hại đó khiến cho quả tiếp tục bị thối rữa bởi các loại vi sinh vật Ấu trùng ăn thịt quả là dạng tác hại nghiêm trọng nhất khiến quả
bị thối hỏng nhanh chóng và không thể tiêu thụ được (CABI, 2016) Ở những vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới như Úc, Châu Á, Châu Phi và các hòn đảo ở Thái Bình Dương, sự phá hoại của ruồi đục quả là phổ biến và là trở ngại chính của sản xuất và xuất khẩu rau quả
Theo Allwood and Leblanc (1996), thiệt hại do ruồi đục quả gây ra cho bảy nước ở vùng Thái Bình Dương lớn nhất là ở hòn đảo Solomon và Tonga trên hai loại quả là ớt và quả ổi lên tới 97 – 100%, trung bình trên các loại khác là khoảng 50%
Trong giống Bactrocera loài ruồi đục quả phương Đông Bactrocera dorsalis là một loài dịch hại nghiên trọng có phổ ký chủ rất rộng chúng gây hại
Trang 18trên cả các loại quả và rau, mức độ thiệt hại do ruồi đục quả gây ra có thể lên đến 100% đối với các loại quả không được bao gói Vì chúng có phân bố rộng, khả năng gây hại của chúng đối thị trường tiêu thụ, ruồi đục quả được coi là mối đe dọa với nhiều nước, yêu cầu các biện pháp kiểm dịch thực vật chặt chẽ và các biện pháp loại trừ ruồi đục quả Ở Mauritius, tổng chi phí cho việc tổ chức chiến lược loại trừ đã gần tới 1 triệu USD Ở Nhật Bản, việc loại trừ ruồi đục quả ở đảo Ryukyu đã tiêu tốn hơn 200 triệu bảng Anh Ở California, Mỹ đã tính toán chi phí cho việc loại trừ ruồi đục quả phương đông có thể từ 44 đến 176 triệu USD ngoài ra còn chi phí cho việc sử dụng thuốc trừ sâu và các biện pháp kiểm dịch thực vật cần thiết Chi phí cho việc loại trừ ruồi ở miền Bắc Qeensland ở Úc đã tốn 33 triệu AU, nhưng chi phí hàng năm cho việc phòng trừ loài ruồi đục quả này được ước tính khoảng 7- 8 triệu AU Ở Hawaii, thiệt hại năng suất quả các loại quả chính gây ra bởi B dorsalis có thể vượt quá 13 % hay tương đương với
3 triệu USA (CABI, 2016)
Năm 2015, việc du nhập ruồi đục quả Bactrocera tryoni từ Úc sang New Zealand đã làm đe dọa nền sản xuất nông nghiệp đáng giá 6 tỉ USD này Hàng nghìn bẫy pheromone đã được sử dụng trong chiến dịch tìm và tiêu diệt ruồi đục quả Chính phủ New Zealand đã ước tính việc áp dụng các phương pháp diệt trừ
và xử lý ruồi đục quả có thể có chi phí đến hàng tỷ đô la Mỹ cho việc xuất khẩu quả tươi hàng năm của nước này (Kiwifruit Vine Health, 2014)
Tại vùng Bắc Qeenland của nước Úc, sự gây hại của B papayae đã làm thất thu gần 100 triệu đô la Úc vào gữa năm 1990 Chỉ riêng loài Bactrocera cucurbitae cũng đã làm ảnh hưởng đến quá trình xuất khẩu bí và bí ngô từ Tonga sang Nhật ước tính lên đến 8- 10 triệu đô la Mỹ (CABI, 2016)
2.1.1.2 Đặc điểm sinh thái học của ruồi đục quả Bactrocera
Kiến thức sinh thái về các loài ruồi Bactrocera đã được nghiên cứu ở Úc và Hawai Sự tương tác giữa ruồi đục quả và cây ký chủ cùng với hoa quả sau thu hoạch đã được nhấn mạnh là các nhân tố chính trong đặc tính sinh học và sinh thái học ruồi đục quả (Drew, 2001)
Các loài ruồi đục quả thuộc giống Bactrocera đã được phát hiện đều là loài
ăn tạp, chúng có vòng đời cơ bản giống nhau Ruồi cái đẻ trứng trực tiếp vào các quả đang chín, ấu trùng sống trong quả và trải qua 3 tuổi trước khi hóa nhộng trong đất Sau khi vũ hóa, trưởng thành sẽ trải qua thời kỳ tiền trưởng thành vài ngày với hoạt động phát tán và tìm kiếm thức ăn trước khi thực sự trưởng thành
Trang 19(có khả năng giao phối và sinh sản) Ruồi đục quả thuộc giống Bactrocera trưởng thành dành phần lớn thời gian để tìm kiếm thức ăn trong tự nhiên như là mật ong, mật từ các bao hoa và các phần ngoài hoa, nhựa cây, vi khuẩn, men bia hay là phân của động vật Ruồi trưởng thành cần thường xuyên ăn carbonhygrates và nước để tồn tại, ruồi cái cần môi trường protein để trứng có thể phát triển, ruồi đực có thể phát triển có hoặc không có protein (Papadopoulos et al., 2006) Theo dõi chi tiết của từng con cái loài ruồi B dorsalis và B tryoni qua thời gian trên cây trồng đã phát hiện ra hoạt động tìm kiếm vị trí và đẻ trứng của ruồi đục quả Tephritidae cái có liên quan đến số lượng, chất lượng và sự phân bố của quả ký chủ trên cây, tán lá của cây, tình trạng của các con trưởng thành (tình trạng sinh lý học và tác động trước đó với quả ký chủ) (Prokopy et al., 1990) Quilici and Rivry (1999) cho rằng việc chấp nhận sự đẻ trứng của ruồi cái họ Tephritidae vào quả ký chủ bị ảnh hưởng bởi hình dáng, kích cỡ, màu sắc của quả và một số các đặc điểm vật lý khác của quả bao gồm các chất hóa học trong quả đặc biệt là tính hóa lỏng và các chất hóa học trên bề mặt của quả Việc chấp nhận quả ký chủ cũng phụ thuộc vào các chất dẫn dụ sinh học
đã được đánh dấu trên quả ký chủ phụ thuộc vào các chất xua đuổi tại các vết
đẻ trước đó của con ruồi đục quả khác (Prokopy et al., 1990) Gần như ruồi đục quả Bactrocera spp đều thích đẻ trứng thường xuyên ở các vết mới đục hơn là trên các quả chưa bị đục lỗ (Prokopy et al., 1996) Chúng thường bị thu hút bởi các vết thương của quả do vết chích đẻ trứng của các con cái khác hoặc vết thương tư nhiên (như là do các cành cây va đập vào quả), đặc biệt là các vết thương còn mới từ 2 đến 4 ngày (Liu and Huang, 1990; Stange, 1998), khẳng định rằng con cái ruồi đục quả Queensland thích đẻ trứng vào các vết thương nhỏ có sẵn ở vỏ quả hơn là tạo ra một vết thương mới Sự phá hoại của ruồi đục quả phương Đông có tương quan cao với độ chính của quả và mùi thơm của quả Nghiên cứu về phản ứng của các con ruồi đục quả phương Đông cái đối với mùi thơm của quả vải ở 3 độ chín trong phòng thí nghiệm chỉ ra rằng tốc độ sinh sản và số lượng trứng tăng cùng với mùi thơm và độ chín của quả Các đặc điểm hình thái học của quả giống như bề mặt vỏ và màu sắc tươi có tác động rõ rệt đến sự lựa chọn của các con ruồi đục quả phương Đông cái, trong khi hình dạng của quả không có một chút ảnh hưởng nào (Poramarcom and Baimai, 1996) Liu and Huang (1990), cũng tuyên bố rằng các con ruồi phương Đông cái thích ổi và cam quýt hơn cả Sự ưa thích quả ký chủ thường dẫn đến tỉ lệ tồn tại cao hơn và vòng đời ngắn hơn của loại dịch hại này
Trang 20Các nghiên cứu về hoạt động sinh sản của ruồi đục quả Tephritidae bằng cách quan sát trong tự nhiên với các con ruồi nuôi trong lồng ở phòng thí ngiệm
đã chỉ ra rằng hầu hết chúng giao phối trong điều kiện sánh sáng yếu và sự giao phối diễn ra chủ yếu là trong tán lá cây (Drew, 2001) Các nghiên cứu về mô hình chung của chuỗi hoạt động hàng ngày của ruồi đục quả Tephritidae đã chỉ ra rằng sự thay đổi thất thường hàng ngày trong việc giao phối là do nhịp điệu sinh học, việc giao phối thường bắt đầu vào buổi tối, thường tăng nhanh nhất trong vòng 2 giờ và sau đó giảm dần Nói chung, sự giao phối của ruồi Tephritidae là một con đực giao phối với nhiều con cái Điều này liên quan đến khả năng của con đực trong việc kết đôi riêng với những con cái
Phản ứng của các con ruồi trưởng thành về màu sắc cũng đã được nghiên cứu với mục đích hiểu được cơ quan thị giác của ruồi đục quả trong việc phát hiện các loại quả ký chủ và tạo ra các loại bẫy ruồi (Prokopy et al., 1990) Ruồi Bactrocera spp đã được thấy là có phản ứng mạnh với hình vuông hoặc hình tam giác phẳng với đỉnh phản xạ gần với các lá màu xanh Họ chỉ ra rằng có một sự tương quan nổi trội giữa số lượng ruồi bắt được do màu sắc và mật độ phản xạ ánh sáng đóng vai trò là gợi ý thị giác quan trọng trong quá trình tìm kiếm các loại quả với các dạng hình cầu màu tối đối lại sức hấp dẫn của dạng nền màu sáng Điều này có ý nghĩa quan trọng trong việc thiết kế bẫy dẫn dụ, do vậy hầu hết các bẫy dẫn dụ đều có dạng hình cầu Ruồi đục quả phương Đông đực hấp dẫn mạnh hơn bởi bẫy mày trắng và vàng, trong khi đó màu xanh, đỏ và đen ít hấp dẫn hơn và người ta cho rằng độ thu hút của bẫy chủ yếu là do mức độ phản
xạ ánh sáng (Vargas et al., 2008)
2.1.1.3 Đặc điểm sinh vật học của ruồi đục quả Bactrocera
Một số loài ruồi được nghiên cứu nhiều nhất như ruồi đục quả Qeensland, ruồi đục quả phương đông, hai loài ruồi này có vòng đời cơ bản giống nhau Những nghiên cứu về sự ưu tiên chủ thể quả vòng đời, phần trăm tồn tại của quần thể ruồi phương đông ở Hawaii, Trung Quốc, Ấn Độ, Đài loan, Malaysia, Nhật Bản chỉ ra rằng từng loại quả, độ chín của quả, điều kiện thời tiết trong đó yếu tố quan trọng nhất của môi trường tác động đến mật độ ruồi đục quả trong vùng nhiệt đới là việc có sẵn các loại quả ký chủ và nhiệt độ địa phương, mặc
dù mật độ cũng tương quan với lượng mưa Mật độ ruồi đục quả cũng bị tác động bởi một vài yếu tố sinh học như các sinh vật ký sinh, các sinh vật bắt mồi
ăn thịt và sự cạnh tranh với các loài cùng trong khu vực Độ chín của quả và
Trang 21nhiệt độ tác động đến đặc điểm sinh học của ấu trùng và sự gây hại của ruồi đục quả phương đông (Allwood, 1996)
* Đặc điểm hình thái và sinh học ruồi đục quả B dorsalis (CABI, 2016) Trên thế giới loài B dorsalis này được mô tả lần đầu tiên vào năm 1897 + Pha trứng: Trứng ruồi đục quả hình elip, hơi cong chiều dài khoảng 2
mm, màu trắng tinh khiết, trứng được nở trong vòng 24h, điều kiện 300C
+ Pha sâu non:
Đây là pha gây hại trên quả và gây ra thiệt hại lớn nhất Sâu non tuổi 3 dài 9,0- 11,0 mm, rộng khoảng 1- 2mm, hình trụ dài, phía trước miệng hơi thu hẹp
và hơi cong về phía bụng, thùy lưng hơi lồi
Về hình thái cả 3 tuổi không khác nhau chỉ khác nhau về kích thước và màu sắc, khi mới nở có màu trắng trong, khi tuổi 2 màu dần chuyển sang hơi vàng và chuẩn bị làm nhộng sâu non có màu vàng
+ Pha nhộng: Sự hóa nhộng của các loài ruồi đục quả thuộc giống Bactrocera nói chung và loài ruồi đục quả phương Đông nói riêng đều chủ yếu xảy ra ở dưới đất, thi thoảng có phát hiện nhộng xuất hiện trong quả bị hại Nhộng thuộc loại nhộng bọc mới có màu vàng trắng sau chuyển màu nâu, dài từ 5- 6mm, thời gian phát dục của pha nhộng trung bình là 7- 13 ngày trong điều kiện nhiệt độ từ 27- 290C
+ Vòng đời:
Trong điều kiện nhiệt đới vòng đời trung bình ruồi đục quả là từ 12- 18 ngày, nếu thời tiết mát mẻ, độ ẩm cao thì vòng đời kéo dài hơn
Hiểu biết được các vấn đề sinh lý ruồi đục quả và hoạt động sinh sản để đưa
ra các giải pháp quản lý hiệu quả Ví dụ như các hệ thống bẫy dựa trên các tác
Trang 22nhân kích thích hóa học và thị giác thích hợp đã được sử dụng thành công để quản lý ruồi đục táo, đu đủ Trong số các công trình nghiên cứu, nghiên cứu về hoạt động sinh sản bao gồm hoạt động giao phối và tập tính đẻ trứng được đặc biệt chú ý và là những tiêu điểm chính với sự chú ý đối với những phản ứng định hướng thị giác, thức ăn của ruồi trưởng thành
2.1.2 Biện pháp phòng trừ bằng bẫy dẫn dụ
a Cơ sở khoa học của biện pháp phòng trừ bằng bẫy dẫn dụ
Pheromone là những chất được sử dụng như những tín hiệu hóa học giữa các cá thể cùng loài, những chất này được tiết ra ngoài cơ thể côn trùng và có thể gây ra những phản ứng chuyên biệt cho những cá thể cùng loài Đôi khi chất này còn được gọi là hormone xã hội hay được xem như một hệ thống thông tin hóa học Có loài chỉ sản xuất một số ít pheromone, một số loài khác lại có khả năng sản xuất nhiều hơn Hệ thống pheromone khá phức tạp ở các loài côn trùng sống thành xã hội Thông tin hóa học này khác với cơ quan thị giác hay thính giác Sự truyền bá thông tin bởi pheromone được duy trì lâu, xa và đôi khi đến 2km hay
xa hơn nữa Pheromone giữ vai trò trong nhiều hoạt động của đời sống côn trùng
có thể là pheromone đánh dấu đường đi, pheromone tập hợp, pheromone phân tán, pheromone xua đuổi, pheromone báo động v.v… Trong đó phổ biến và quan trọng nhất là pheromone sinh dục Chính nhờ có loại thông điệp giới tính này mà hàng ngàn, hàng vạn côn trùng đực, cái dù ở cách xa nhau nhiều dặm vẫn tìm đến được bên nhau Pheromone sinh dục của côn trùng được tiết ra chủ yếu từ một số tuyến đặc biệt phân bố cạnh cơ quan sinh dục ngoài của cả con cái và con đực, nằm ở phía mút bụng Do đó khi muốn gửi thông điệp tình yêu ra xung quanh, các con cái thường dương cao phần mút bụng lên phía trên để tạo lợi thế khuyếch tán mùi thơm vào không khí (Baker, 2011)
Dựa vào đặc điểm này người ta đã chế tạo ra các hợp chất có mùi tương tự như pheromone để phòng trừ côn trùng Trong phòng trừ ruồi đục quả người ta
đã chế tạo ra một số hợp chất để dẫn dụ con đực ví dụ như Trimedlure parapheromone (TML) dùng cho các loài thuộc giống Ceratitis (bao gồm cả C capitata và C.rosa) Parapheromone Methyl eugenol (ME) (4- allyl-1,2-dimethoxybenzencacbonxylate) (IAEA, 2003) hấp dẫn một số lượng lớn các loài thuộc giống Bactrocera nhưng không phải các loài thuộc giống phụ Zeugodacus (Paul, 2009) loại hoạt chất này có thể thu hút ruồi đục quả cách bẫy 500m CUE lure parapheromone (CUE) có khả năng thu hút ruồi đục quả cách 300m và bắt
Trang 23một lượng lớn các loài Bactrocera khác, bao gồm B curcubitae và B tryoni (Paul, 2009) Parapheromones nói chung rất dễ bay hơi và có thể được sử dụng với nhiều loại bẫy Đã có dạng hợp chất kiểm soát phân tán cho TML, CUE, ME, đảm bảo chất dẫn dụ sử dụng được lâu hơn trên thực địa Điều quan trọng là cần phải biết rằng một số điều kiện môi trường vốn có thể ảnh hưởng đến tuổi thọ của các chất dẫn dụ pheromone và parapheromone (ISPM 26, 2011) Các nhân tố môi trường như nhiệt độ, lượng mưa và độ chín của quả cũng ảnh hưởng đến độ hấp dẫn của ruồi đục quả phương Đông đối với Methyl eugenol Phương pháp hiện nay đang được sử dụng nhiều nhất là tẩm dung dịch vào mồi bông và đặt trong bẫy, tuy nhiên thường sau khoảng 1 tuần thì hiệu lực của thuốc giảm dần,
do đó cần phải thay thuốc sau từ 1 đến 2 tuần Đối với ruồi đục quả phương Đông, cả con cái đã giao phối và chưa giao phối có ăn protein đều bị hấp dẫn bởi mùi hương của quả hơn mùi hương của protein, và sự kết hợp mùi hương của quả
và protein ít hấp dẫn với những con cái đã ăn protein hơn là chỉ mùi hương của quả Protein có tác dụng thu hút cả con đực và con cái, tuy nhiên con cái có phần
bị thu hút nhiều hơn con đực (Paul, 2009) Protein là một dung dịch pha chế dựa trên dung dịch protein, dung dịch đường lên men, dung dịch hoa quả và dấm đã được sử dụng từ năm 1918 cho việc bắt giữ con cái của một số loài
Bẫy Multilure là bẫy đầu tiên sử dụng protein với một phần bằng nhựa trong suốt phía trên và phía dưới bằng cao su, được treo lên cành cây bằng dây Bẫy này sử dụng một lượng bả thức ăn của ruồi dựa trên hydrozed protein hay Torula Viên Torula có hiệu quả hơn nhiều so với hydrozed protein và pH bền vững ở 9,2 Mức độ của pH trong dung dịch trộn đóng một vai trò quan trọng trong thu hút ruồi đục quả Sẽ có ít ruồi đục quả bị hấp dẫn hơn nếu dung dịch có
độ pH quá axit Do tính tự nhiên của dung dịch này, mà loại bẫy này được coi là bẫy con cái, bẫy này có thể bắt nhiều loại Tephritidae và không phải Tephritidae Bẫy Multilure được sử dụng trong vùng quản lý ruồi đục quả với các loại bẫy khác Trong vùng không nhiễm ruồi đục quả, bẫy Multilure là một phần quan trọng của việc thu hút các loài ruồi đục quả ngoại lai và có tiềm năng để bắt các loài ruồi đục quả là đối tượng kiểm dịch khác cái mà các bẫy khác không bắt được (IAEA, 2003)
Ngoài tiêu diệt con đực bằng bẫy , các nhà khoa học còn tiếp tục nghiên cứu các loại bẫy để thu hút con cái, vì con cái là con mang trứng, chích và đẻ vào quả, các công trình bắt đầu nghiên cứu từ những năm 1960, tuy nhiên sau 50
Trang 24năm các đặc điểm về sinh thái học của ruồi đục quả vẫn còn nhiều điều chưa sáng tỏ Có ý kiến cho rằng con cái có nhiều đặc điểm phức tạp hơn con đực ví
dụ như dinh dưỡng cho chúng đẻ trứng, phát triển phôi, ghép cặp, tìm ký chủ, ngược lại con đực không liên quan đến hoạt động đẻ trứng Những con ruồi cái chưa giao phối có thể bị thu hút bởi pheromone của con đực trong khi đó những con ruồi cái đã giao phối thường bị thu hút bởi mùi vị của quả ký chủ chín Từ những phát hiện về hoạt động của ruồi đục quả cái có thể là chìa khóa hướng đến
sự phát triển của ruồi đục quả cái ví dụ mùi của các cây trồng làm hàng rào chắn gió cho các cánh đồng trồng đu đủ ở Hawaii đã được thấy rằng chúng thu hút các con ruồi đục quả phương Đông cái (Jang, 2000)
Người sử dụng biện pháp này đầu tiên có thể là Payne vào năm 1973 Sử dụng bẫy dẫn dụ có thể xác định được sự hiện diện của ruồi đục quả tại vùng điều tra, hỗ trợ chương trình tròng trừ tổng hợp, triệt sản ruồi đục quả và phát hiện loài ruồi mới xâm nhập Các chất treo trong bẫy dẫn dụ là chất có hoạt tính sinh học cao Các chất dẫn dụ này có sức hấp dẫn hơn cả thức ăn và có thể có hiệu quả phát tán xa hàng trăm mét Các chất có hoạt tính sinh học cao dùng làm mồi của bẫy thường được treo bên trong vỏ bẫy Hiện nay có hai loại chất dẫn dụ được sử dụng phổ biến là Metyl eugenol và CUE eugenol
b Hiệu quả của việc sử dụng bẫy trong phòng trừ ruồi đục quả trên thế giới
Số lượng bẫy treo trên một ha thường tùy thuộc vào loài ruồi đục quả cần tiêu diệt và địa hình vườn Ví dụ, đối với ruồi đục quả loài Anastrepha suspense nên treo 45 bẫy cho một ha Tác giả Allwood (1996), khuyến cáo trên mỗi kilomet có thể đặt 250 mồi và thay mồi 6 – 8 tuần một lần Chiều cao từ mặt đất lên điểm treo bẫy cũng tùy thuộc vào kiểu vườn, khoảng 2 m đối với cây ăn quả hoặc treo dưới tán cây nếu ở khu rừng
Kết quả sử dụng bẫy dẫn dụ khá thành công ở một vài nơi như đảo Rota tại Marianas, ở Califolia năm 1974, ở Nhật Bản năm 1996, ở New Zealand năm 2015… Biện pháp này kết hợp với các biện pháp trừ khác cho hiệu quả khá cao những loài ruồi đục quả thuộc giống Bactrocera Điểm lưu ý khi phối hợp với các biện pháp khác là cần dùng số lượng bẫy nhiều, áp dụng đồng loạt trong vùng trồng Ví dụ, trên diện tích 1 km ở Mauritus đã đặt 1000 bẫy nhằm làm giảm sức
ép quần thể ruồi đục quả phương đông trong chương trình phòng trừ bằng kỹ
Trang 25thuật triệt sản Để làm tăng hiệu quả của việc dùng bẫy dẫn dụ, thường có sự phối hợp giữa các kiểu dáng vỏ bẫy, màu sắc vỏ bẫy, mùi vị của bẫy Ví dụ, bẫy màu xanh da trời hấp dẫn ruồi đục quả loài B tryoni ở Queensland
Tất cả các vùng của Nhật Bản đã tuyên bố không có ruồi đục quả năm 1985 sau một chương trình loại trừ ruồi đục kết hợp giữa sử dụng thuốc trừ sâu và bẫy Methy eugenol Multilure với một lượng Lure và chất độc được sử dụng để điềm tra sự có mặt và phương pháp phòng chống ruồi đục quả
Biện pháp sử dụng bẫy dẫn dụ sử dụng riêng lẻ hiệu quả rất kém Ví dụ, ở Hawaii đã áp dụng biện pháp phòng trừ loài ruồi đục quả phương đông B dorsalis hại quả đu đủ Kết quả nơi sử dụng bẫy dẫn dụ vẫn có tỷ lệ quả bị hại đạt 44 – 48% Do vậy, sử dụng bẫy dẫn dụ thường phải dùng số lượng bẫy nhiều và ở nơi cách ly về địa lý thì mới mong giảm được quần thể ruồi đục quả trên đồng ruộng Hiện nay nhiều nơi trên thế giới, để giảm thiểu chi phí mua bẫy người ta đã
sử dụng các loại chai nhựa màu vàng thay bằng bẫy trong phòng trừ ruồi đục quả, cho kết quả rất tốt như ở Ấn Độ, việc dùng các chai nhựa màu vàng nay sơn màu vàng đã được cơ quan nông nghiệp Ấn Độ và Senegal khuyến cáo sử dụng rộng rãi (NIPHM, 2012)
c Sử dụng bẫy thức ăn
Đối với con cái của ruồi đục quả họ Tephritidae thường bị hấp dẫn bởi thức
ăn chứa protein Lợi dụng đặc tính này đã sử dụng bẫy thức ăn để tiêu diệt ruồi đục quả Năm 1936, Multilure đã phát hiện ra hỗn hợp dung dịch bã bia với đường hấp dẫn nhiều loài ruồi đục quả thuộc giống Anastrepha Multilure là người đầu tiên sử dụng bả Protein hydrolysed trong phòng trừ ruồi đục quả vào năm 1952 Bả Protein hydrolysed đầu tiên được sử dụng có thành phần gồm 3 – 5% dung dịch bả + 2% thuốc trừ sâu (Malathion) và được phun với lượng 100 –
200 ml trên 1m2 tán lá cây
Cơ chế tác động của bả protein là do nhu cầu buộc phải ăn thêm protein của trưởng thành cái để trứng của chúng phát triển Trong bả có thuốc trừ sâu nên khi con cái ăn bả trên bề mặt lá cây và bị nhiễm thuốc trừ sâu và bị chết Bả protein chỉ cần phun ở một điểm bất kỳ trên tán lá cây mà không cần phải phun phủ cả tán lá cây (Allwood and Drew, 1996)
Sử dụng bẫy thức ăn được xếp vào nhóm biện pháp bắt buộc đối với vùng chuyên canh cho xuất khẩu do xuất khẩu do có nhiều tính ưu việt hơn các biện
Trang 26pháp đã đề cập trước đó Tuy nhiên, cũng có một vài hạn chế nhất định khi ứng dụng biện pháp này Thứ nhất, diện tích áp dụng nhỏ so với diện tích xung quanh không được phun sẽ dẫn đến việc vườn được phòng trừ dần dần sẽ bị ruồi đục quả từ vườn lân cận du nhập vào Thứ hai, do khi phun có trộn với thuốc hóa học
vì vậy ít nhiều cũng ảnh hưởng đến nhóm côn trùng có ích
Tuy nhiên, lợi ích của biện pháp này là cho hiệu quả phòng trừ cao, chi phí thấp, ít gây độc hại cho môi trường và giảm thiểu được hiện tượng dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trong sản phẩm Do đó, biện pháp này đang được sử dụng rộng rãi đối với các chương trình ruồi đục quả ở khu vực Nam Thái Bình Dương 2.2 NHỮNG NGHIÊN CỨU VỀ RUỒI ĐỤC QUẢ TẠI VIỆT NAM
2.2.1 Thành phần ruồi đục quả tại Việt Nam
Theo tài liệu cây ăn quả ở Miền Bắc thì ổi thường có có các loại sâu hại: rầy mềm (Aphis sp), rệp sáp, rệp phấn trắng, ruồi đục quả (Bactorcera spp), sâu đục quả (Conogethes punctiferalis), sâu đục cành (Zeuzera cofeae), bọ xít hại quả (Helopeltis bakeri và H collari) (Đỗ Cao Duy, 2014)
Trong đó ruồi đục quả đối tượng gây hại cây ăn quả chính ở các vùng trồng
ổi ở miền Bắc hiện nay Ruồi đục quả họ Bactrocera (hay còn gọi là ruồi vàng), theo Lê Quốc Điền (2016), ruồi đục quả có nhiều loài, đối tượng hiện diện và gây hại nhiều nhất ở Việt Nam là loài Bactrocera dorsalis (ruồi đục quả phương đông), loài ruồi Bactrocera correcta (gây hại chủ yếu trên các lại quả và rau có màu đỏ) và loài Bactrocera curcubitae (gây hại chủ yếu trên bầu, bí, dưa)
Ở Việt Nam, nghiên cứu một cách hệ thống, khá đầy đủ về ruồi đục quả được bắt đầu từ năm 1999 với các dự án do Tổ chức Lương thực và Nông nghiệp của Liên Hợp Quốc (FAO) và Trung tâm Nhiên cứu Nông nghiệp quốc tế Úc (ACIAR) tài trợ Năm 1999- 2000 tổ chức FAO tài trợ dự án “quản lý ruồi đục quả ở Việt Nam”, các nhà khoa học Viện Bảo vệ thực vật đã phát hiện và giám định được 30 loài ruồi đục quả; bước đầu xác định được 7 loài ruồi hại quả quan trọng, trong đó có 4 loài chủ yếu gây hại trên các loài cây ăn quả là B dorsalis,
B correcta, B pyrifoliae, B cambrolae và 3 loài gây hại trên rau ăn quả là B cucurbitae, B tau, B latifrons Trong số các loài ruồi hại quả thu được, có 12 loài ruồi chỉ thu được ở miền Bắc và 8 loài chỉ thu được ở miền Nam Đã xác định được phổ ký chủ ở miền Bắc là 29 loài thực vật, trong đó có 14 loài cây ăn quả, 10 loài rau ăn quả và 5 loài cây dại; phổ cây ký chủ ở miền Nam là 26 loài
Trang 27thực vật với 12 loài cây ăn quả, 9 loài rau ăn quả, 1 loài cây công nghiệp và 4 loài cây dại khác (Drew et al., 2000)
Thành phần ruồi đục quả tại Việt Nam ngày càng được nghiên cứu hoàn thiện hơn Đến năm 2010, theo Lê Đức Khánh và cs thì thành phần ruồi đục quả
ở Việt Nam có đến 36 loài thuộc họ Tephritidae gây hại trên 24 loại cây ăn quả,
14 loại rau ăn quả và 8 loại cây dại Trong đó có 6 loài gây hại nặng nhất trên cây
ăn quả là là B dorsalis, B correcta, B carambolae, B pyrifoliae, B verbascifoliae và B tuneonis; 4 loài gây hại rau ăn quả chủ yếu là B cucurbitae,
B tau, B scutellata, B latifrons
Theo Nguyễn Hữu Đạt (2008), khi thực hiện đặt bẫy ME định kỳ hàng tháng trong 3 năm 2000, 2001, 2002, tại 8 tỉnh thành miền nam đã phát hiện được
5 loài Bactrocera là :B carambolae, B correcta, B dorsalis và B verbascifoliae,
B zonata Loài Bactrocera dorsalis và B correcta có độ thường gặp cao nhất trong bẫy, luôn ở mức 90- 100% ở các tháng trong năm Các tháng nhìn chung có
độ thường gặp ruồi cao là tháng 1, 2, 3, 4, 5, 6 và 10
Ở một số tỉnh của miền Bắc Việt Nam, qua kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Thanh Hiền (2014), đã thu thập được 21 loài ruồi đục quả họ Tephritidae từ
31 ký chủ bằng phương pháp đặt bẫy dẫn dụ, trong đó 19 loài thuộc giống Bactrocera và 2 loài thuộc giống Dacus Theo Nguyễn Hồng Thủy (2006), tại Hải Phòng, đã xác định được 4 loài ruồi đục quả là B dorsalis, B correcta, B curcubitae, B tau thu được từ bẫy dẫn dụ
2.2.2 Đặc điểm sinh vật học, sinh thái học của ruồi đục quả giống Bactrocera 2.2.2.1 Ý nghĩa kinh tế của ruồi đục quả
Tác hại của ruồi đục quả không những gây rụng quả hàng loạt làm giảm năng suất sản lượng ảnh hưởng đến chất lượng quả, gây tâm lý xấu cho người tiêu dùng mà còn không đáp ứng được yêu cầu tiêu dùng trong nước và xuất khẩu New Zealand, Nhật Bản và nhiều nước có nhu cầu tiêu thụ quả nhiệt đới và các loại rau ăn quả rất lớn, nhưng rất lo ngại sự di cư gây hại của ruồi đục quả nên các loại nông sản của Việt Nam rất khó xuất sang thị trường các nước này,
cụ thể là đầu năm 1990 quả thanh long của Việt Nam đã xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản nhưng đến giữa năm 1994 phải ngừng lại vì phát hiện có ruồi đục quả Đến nay cho dù Nhật Bản đã đồng ý cấp phép cho nhập khẩu thanh long
từ Việt Nam, nhưng sản lượng xuất sang thị trường Nhật Bản này là rất thấp chỉ
Trang 28khoảng 3000 tấn thanh long/năm, trong khi đó sản lượng thanh long hàng năm của Việt Nam vào khoảng 550.000 tấn Bên cạnh đó, việc xuất khẩu thanh long sang các nước khó tính gặp rất nhiều khó khăn như yêu cầu sản xuất ở vùng phi dịch hại, xử lý hơi nước nóng hay xử lý chiếu xạ, điều này làm cho phần lớn thanh long nói riêng và hoa quả nhiệt đới của Việt Nam nói chung khó xuất khẩu vào các thị trường có giá trị sản phẩm cao (Vietdragonfruit, 2015)
Trong các loài côn trùng gây hại cây ăn quả, ruồi đục quả là một trong những đối tượng gây hại vào bậc nhất nhì, thảm họa do chúng gây ra trên cây ăn quả là khó lường Mức độ thiệt hại của ruồi phụ thuộc vào thời gian gây hại chính của ruồi trên quả và giống của từng chủng loại cây ăn quả Một cuộc khảo sát đã được tiến hành năm 1999 và 2000 cho thấy năm 1999 tỷ lệ hại của ruồi đục quả trên đào (Sa Pa – Lào Cai) tăng dần từ 6% lên 65% vào cuối vụ quả; trên cam (Cao Phong – Hòa Bình) tỷ lệ quả bị hại rất thấp, cao nhất là 6% vào đầu tháng 8, khi quả chín không có ruồi đục quả gây hại, năm 2000 tỷ lệ quả bị hại trên đào ( Sa Pa – Lào Cai) cao nhất chỉ là 21%, trên ổi ( Thanh Liêm – Hà Nam)
là 12% Giải thích cho vấn đề này, các tác giả cho rằng việc khác biệt về tỉ lệ hại giữa 2 năm có thể là do mùa đông 1999 – 2000 ở miền Bắc rất lạnh, ở Sa Pa nhiệt độ ban đầu xuối dưới 00C kéo dài trong 1 tháng (Drew et al., 2000)
Tại Hải Phòng theo kết quả điều tra của chi cục Bảo vệ thực vật từ năm
2003 – 2004 ruồi gây hại trên táo, ổi trung bình 34,3%, cao tới 72- 80% số quả bị hại, cá biệt có hộ bị hại 100% số quả, gây thất thu nghiêm trọng Năm 2006, theo dõi mức độ gây hại của ruồi đục quả trên một số loại cây ăn quả thì doi, ổi, táo là
bị hại nặng nhất (tỉ lệ bị hại tương ứng là 89; 88,4; 77,7), tiếp đến là xoài (34,2%) (Nguyễn Hồng Thủy, 2006)
Sự thất thu năng suất do ruồi đục quả gây ra ước tính biến động từ 30- 100% Theo Lê Thị Điểu và Nguyễn Văn Huỳnh (2009), trên bốn loại quả xoài,
ổi, mận và khổ qua tại vùng ĐBSCL ghi nhận tỷ lệ quả bị thiệt hại do nhiễm ruồi đục quả rất cao, với tỷ lệ nhiễm trên xoài, ổi, mận và khổ qua lần lượt là 12%, 94%, 76,33% và 30%
2.2.2.2 Những nghiên cứu về đặc điểm sinh học sinh thái học của loài ruồi đục quả Bactrocera tại Việt Nam
Đặc điểm hình thái của các pha phát dục của ruồi đục quả giống Bactrocera khá giống nhau: Trứng có hình hạt gạo dài, kích thước 1x0,2mm Lúc mới đẻ trứng có màu trắng sữa, khi sắp nở chuyển sang màu vàng nhạt Giòi mới nở dài
Trang 29khoảng 1,5 mm, khi phát triển đầy đủ dài 6- 8mm (tùy thuộc điều kiện thức ăn), miệng có móc Móc miệng có độ hóa cứng trung bình Nhộng dài 5 – 7mm, có hình trứng, lúc đầu màu vàng nâu, khi sắp vũ hóa có màu nâu đen Trưởng thành
có cơ thể dài 7 – 9mm Đầu có dạng hình bán cầu Ngực có màu nâu đỏ hoặc màu nâu tối, hai bên ngực có 2 chấm vàng ở gốc trước, tiếp đến là 2 vệt vàng ở cuối ngực Cánh trong suốt ngoài trừ vùng coastal Trưởng thành cái có ống đẻ trứng kéo dài ở cuối bụng (Dương Minh Tú và Tống Mai San, 2001)
Theo Nguyễn Hữu Đạt và Bùi Công Hiển (2004), khi nghiên cứu về đặc điểm sinh học và thức ăn nhân tạo của ruồi đục quả B dorsalis chỉ ra rằng giai đoạn phát triển pha trứng (từ lúc trứng đẻ ra đến khi trứng nở) trong khoảng 32 giờ ± 11 phút và thời gian phôi trứng đạt được phát triển 100% là 36 giờ ± 18 phút Căn cứ vào sự xuất hiện móc răng của ấu trùng, tác giả đã xác định được khoảng thời gian phát triển từ lúc trứng nở đến các tuổi của ấu trùng trung bình (giờ ± phút) là: tuổi 1: 48 ± 22; tuổi 2: 77±115; tuổi 3: 112 ± 155 Thời gian từ nhộng đến vũ hóa trưởng thành trung bình 182 giờ ± 11 giờ Quan sát tập tính giao phối của ruồi trưởng thành, cho thấy một ruồi đực có thể giao phối tối đa tới
36 lần, trung bình là 24 lần trong đời, trong khi đó một con ruồi cái chỉ có khả năng giao phối trug bình 3 lần tối đa là 4 lần trong đời
2.2.3 Biện pháp phòng trừ
a Biện pháp dùng bẫy dẫn dụ
Biện pháp sử dụng bẫy dẫn dụ giới tính trên diện rộng để thu hút ruồi đực bay đến tìm con cái để giao phối được áp dụng để diệt con đực, con cái đẻ trứng không được thụ tinh vì thế mật độ ruồi đục quả của thế hệ sau sẽ giảm dần Ở Việt Nam hiện nay có 3 loại bẫy đang được sử dụng là bẫy Methyl eugenol, Lure eugenol và protein
Theo số liệu điều tra ruồi đục quả ở các huyện Châu Thành gần như là trong suốt vụ với mật số khá cao Vào các thời điểm mà mật số của ruồi đục quả ở bẫy
ME đạt đỉnh cao cũng là giai đoạn của các vườn cây thanh long mang quả chính
rộ Mật độ ruồi đục quả bình quân trên các bẫy CUE thấp hơn trên bẫy ME và các đỉnh cao của bẫy CUE cũng không trùng với đỉnh cao của bẫy CUE là do khả năng dẫn dụ của mỗi loại pheromone có khác Về thành phần ruồi đục quả, bẫy
ME thu được 2 loài ruồi là Bactrocera dorsalis và B correcta Ở đầu vụ, mật số trung bình của loài B correcta cao hơn với đỉnh cao là 35 con/bẫy, tuy nhiên ở cuối vụ thì mật độ B dorsalis cao hơn với đỉnh cao là 41 con/bẫy Tần số xuất
Trang 30hiện của B correcta là 100% tuy nhiên tỉ lệ hiện diện chỉ 31%, còn tần số xuất hiện của B dorsalis là 94% nhưng tỉ lệ hiện diện đến 69% Ngược lại bẫy CUE thu được 4 loài khác là Bactrocera curcubitae, Bactrocera hochii, Bactrocera tau
và Dacus longicornis Loài B curcubitae có mật số trung bình cao nhất là 34 con/bẫy với số lần xuất hiện và tỉ lệ hiện diện là 86 và 90% tương ứng, kế đến là
B hochii với 69 và 6%, B tau với 31 và 4%, thấp nhất là D.longicornis với 13
và 0,12% Song song với việc đặt bẫy pheromone việc điều tra cũng được tiến hành bằng cách thu trái chín trên cây tại 7 vườn có điều kiện canh tác khác nhau Kết quả cho thấy tỷ lệ trái bị nhiễm ruồi thấp 14%, chỉ có 2 loài B dorsalis và B correcta, trong đó B dorsalis chiếm tỉ lệ 82% và B correcta chiếm 18% (Lê Thị Điểu và Nguyễn Văn Huỳnh, 2009) Biện pháp sử dụng bẫy dẫn dụ giới tính có khả năng tiêu diệt ruồi cao, tuy nhiên cần phải áp dụng trên diện rộng mới có thể mang lại hiệu quả tốt
b Biện pháp phòng trừ bằng bả protein
Các nhà khoa học Viện BVTV đã áp dụng biện pháp sử dụng bả Protein (có pha thêm một lượng thuốc trừ sâu) phun điểm trên cây để thu hút ruồi trưởng thành bay đến ăn và bị tiêu diệt, biện pháp này an toàn cho người sản xuất và tiêu dùng đã được thực hiện trên cây đào tại Mộc Châu (Sơn La), trên ổi (Hà Nam)…
và một số địa phương khác cho kết quả tương đối khả quan, mở ra hướng sử dụng trong thời gian tới để phòng trừ ruồi đục quả (Lê Đức Khánh và cs., 2007) Phương pháp sử dụng bẫy bả trong phòng trừ ruồi đục quả đã mang lại những hiệu quả thiết thực trong việc làm giảm mật độ ruồi đục quả tại một số địa phương trên cả nước, đây là biện pháp không gây hại cho sức khỏe của con người và môi trường Hải Dương là một tỉnh có sản lượng ổi cao nhất ở miền Bắc, tuy nhiên vấn đề sâu bệnh hại là một trong những khó khăn của người trồng ổi, đặc biệt là ruồi đục quả Hiện nay chưa có một nghiên cứu nào
về thành phần ruồi và thử nghiệm phòng trừ ruồi đục quả bằng bẫy tại vùng trồng ổi này Do đó, để nâng cao hiệu quả sản xuất và bảo vệ sức khỏe con người và môi trường thì cần phải tiến hành các nghiên cứu, áp dụng các phương pháp phòng trừ theo hướng tổng hợp, tiếp cận các phương pháp mới ở trên thế giới trong phòng trừ sâu bệnh hại, góp phần tiến nhanh hơn trên con đường hội nhập xuất khẩu nông sản
Trang 31PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 ĐỊA ĐIỂM VÀ THỜI GIAN NGHIÊN CỨU
3.1.1 Địa điểm
- Điều tra thành phần ruồi đục quả tại huyện Thanh Hà- Hải Dương
- Thí nghiệm nuôi sinh học tại chi cục Kiểm dịch thực vật vùng 1 – Hải Phòng 3.1.2 Thời gian nghiên cứu
- Đề tài được thực hiện từ tháng 3/2016 – 11/2016
3.2 ĐỐI TƯỢNG NGHIÊN CỨU
- Ruồi đục quả giống Bactrocera (họ Tephritidae bộ Diptera) gây hại chính trên quả ổi đài loan
3.3 VẬT LIỆU VÀ DỤNG CỤ NGHIÊN CỨU
- Cây trồng: Cây ổi giống ổi đài loan (Psidium guajava) 5 năm tuổi
- Thức ăn cho ruồi trưởng thành và ấu trùng:
Thức ăn nuôi ruồi trưởng thành
Thức ăn nuôi trưởng thành trên được trộn đều với nhau, xay nhuyễn bằng máy xay sinh tố, chuyển hỗn hợp vào bảo quản trong ngăn đá tủ lạnh Thay thức
ăn cho trưởng thành 3 ngày/lần
Thức ăn nuôi sâu non
- Phòng nuôi ruồi đục quả có điều hòa nhiệt độ 26- 280C
- Bẫy giới tính Multilure: Có cấu tạo hình trụ (Hình 3.5) có hai phần lắp ghép Phần trên trong suốt và phần đế bên dưới màu vàng, bẫy cao 18 cm có đáy
Trang 32rộng 15 cm Phần bên trên và phần đế có thể tách rời để tiện cho việc vệ sinh và đặt lại mồi nhử Bẫy có 2 cửa nằm đối xứng nhau, mỗi cửa rộng 3 cm, dài 5 cm bên trên cửa bẫy có khung nhựa nhỏ để che mưa Một sợi đây móc được nối vào phần thân trên của bẫy trên cành cây Bẫy được sử dụng cho cả 3 loại chất dẫn dụ
- Chất dẫn dụ giới tính parapheromone:
+ Methyl eugenol: công thức: 4- allyl-1,2- diMEthoxybenzencacbonxylate + CUE Lure eugenol: công thức: [4-(3-Oxobutyl)phenyl] acetate (C12H14O3)
+ Protein thủy phân + 20% Pyrinex 20EC, các chất dẫn dụ được nhập ngoại
- Lồng nuôi ruồi đục quả trưởng thành: khung nhựa PVC, phủ vải màn, kích thước 53 x 53 x 53 cm Lồng nuôi để ghép cặp trưởng thành có hình trụ đường kính là 8cm, bằng nhựa trong, hai đầu gắn vải màn
- Hộp nhựa nhỏ hình vuông với cạnh 25 cm chứa nhộng và sâu non, hộp nhựa nhỏ hình trụ có đường kính là 6m, cao 1,5cm theo dõi cá thể trứng và sâu non, hộp nhựa (kích thước 15 x 20 x 20) nuôi tập thể
+ Xác định hiệu quả của biện pháp phòng trừ ruồi đục quả bằng bẫy ME 3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.5.1.Phương pháp xác định thành phần ruồi đục quả (Bộ: Diptera; Họ: Tephritidae; Giống: Bactrocera) trên ổi tại Thanh Hà, Hải Dương
- Điều tra thành phần ruồi đục quả bằng các loại bẫy:
Phương pháp đặt các chất dẫn dụ vào trong bẫy Multilure:
+ Chất đẫn dụ Methyl eugenol: dùng ống hút sạch lấy 3ml dung dịch chất dẫn dụ tẩm vào miếng bông, đặt miếng bông vào bên trong bẫy Multilure, sau đây gọi tắt là bẫy ME
Trang 33+ Chất dẫn dụ CUE Lure eugenol: dùng ống hút sạch lấy 3 ml dung dịch chất dẫn dụ tẩm vào miếng bông, đặt miếng bông vào trong bẫy Multilure, sau đây gọi tắt là bẫy CUE
+ Protein thủy phân: Tách phần đế dưới của bẫy Multilure, cho 200ml nước sạch vào phần đế vàng, lấy 2 gram Protein hòa vào nước trong đế bẫy, đóng phần trên của bẫy, sau đây gọi tắt là bẫy Pb
Phương pháp treo bẫy
Treo 3 loại bẫy ME, CUE và PB, số lượng: 2 bẫy/ loại trên cùng một vườn ổi đài loan
D: Số ngày trung bình giữa các lần kiểm tra bẫy
Bảo quản mẫu ruồi trưởng thành thu được bằng cách sấy khô để phân loại
và giám định loài Đo kích thước chiều dài cơ thể và chiều dài cánh của từng loài, mô tả đặc điểm hình thái của loài ruồi đục quả thu thập được từ bẫy, số cá thể đo là 30 cá thể/ loài
20mm
Trang 34- Chỉ tiêu điều tra: Tần suất xuất hiện các loài ruồi đục quả để từ đó xác định mức phổ biến của chúng
- Mức độ phổ biến (OD) được tính như sau:
Số lượng từng loài ruồi đục quả
Tỷ lệ từng loài ruồi đục quả (%) = - × 100
Tổng số ruồi đục quả thu được
- Điều tra thu thập thành phần và mức độ phổ biến theo phương pháp ngẫu nhiên theo quy chuẩn QCVN 01- 38/2010/BNNPTNT của Bộ Nông Nghiệp và Phát Triển Nông Thôn không cố định điểm điều tra trong vườn ổi (càng nhiều điểm càng tốt), thu thập các quả ổi bị nhiễm ruồi đục quả từ khi quả bắt đầu còn non bắt đầu từ ngày 02/6/2016 cho vào túi nilon, đem về phòng thí nghiệm Điều tra định kỳ 15 ngày/ lần Quả đem về đặt quả trong hộp thu nhộng dưới có lót mùn cưa khô dày 0,5 cm Khoảng 6- 7 ngày sau tiến hành sàng để thu nhộng, chuyển vào hộp khác để theo dõi vũ hóa trưởng thành
* Xác định thành phần hại trong quả:
Ổi đài loan thu được từ vườn thí nghiệm đem về phòng thí nghiệm cho vào hộp nhựa có lót mùn cưa ẩm Sàng thu nhộng 2 ngày/lần Nhộng thu được chuyển vào hộp nhựa có lót mùn cưa và được giữ ẩm Sau vũ hóa giết ruồi bằng nhiệt độ thấp trong tủ lạnh Giám định thưởng thành ruồi đục quả để xác định thành phần
* Xác định đặc điểm hình thái trưởng thành ruồi đục quả giống Bactrocera thu thập được từ bẫy và quả ổi:
Trưởng thành đực thu thập được từ bẫy đưa vào tủ lạnh ở nhiệt độ thấp để giết trưởng thành Lấy ngẫu nhiên 30 cá thể của mỗi loài ruồi đục quả thu được ở bẫy ở Thanh Hà – Hải Dương đo kích thước cơ thể:
Trang 35+ Chiều dài cơ thể: đo từ đầu đến hết đốt bụng cuối, tính trung bình 30 cá thể được đo
+ Đo chiều dài sải cánh: đo từ mép trong của cánh đến mép ngoài của cánh (hết đỉnh M) tính trung bình 30 cá thể
* Theo dõi diễn biến ruồi đục quả trên ổi đài loan:
Sử dụng 3 loại bẫy ME, CUE và Pb trong vườn ổi để thu thập ruồi trưởng thành, mẫu ruồi đục quả được mang về phòng thí nghiệm phân lập xác định loài ruồi Tính mật độ ruồi trung bình/bẫy/15 ngày để theo dõi diễn biến của ruồi đục quả giống Bactrocera Công thức tính mật độ ruồi trưởng thành thu được
FTD=F/ TD
F: Tổng số ruồi đục quả bắt được;
T: Tổng số bẫy;
D: Số ngày trung bình giữa các lần kiểm tra bẫy
3.5.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm sinh vật học của loài ruồi đục quả gây hại chính
- Nuôi tạo nguồn ban đầu theo phương pháp nuôi ruồi của Walker et al., (1996) và Pritam ; nguồn ruồi ban đầu được thu từ quả bị hại
Thu những quả ổi có triệu chứng bị hại về đặt trong hộp để thu nhộng dưới mùn cưa ẩm mịn dày 0,5 cm Tiến hành thu nhộng cứ 2- 3 ngày/lần bằng cách sàng, nhộng thu được chuyển vào hộp có lót mùn cưa ẩm, đặt hộp vào lồng nuôi ruồi theo dõi trưởng thành vũ hóa Sau đó chuyển trưởng thành vào lồng nuôi cho ruồi ăn thường xuyên bằng hỗn hợp thức ăn đường trộn với yeast pha theo tỷ lệ tương ứng 3 phần đường: 1 phần yeast Tiếp tục nhân nuôi tạo nguồn ban đầu và tiến hành các thí nghiệm Ruồi đục quả B dorsalis Hendel dùng cho nghiên cứu đặc điểm sinh vật học là thế hệ thứ 2 của quần thể loài ruồi thu được từ quả ổi
* Nghiên cứu tập tính đẻ trứng của ruồi đục quả B dorsalis
Thu đồng loạt 100 sâu non vào nhộng loài B dorsalis trong cùng ngày, đặt
100 nhộng vào cùng lồng nuôi trưởng thành, sau khi nhộng vũ hóa trưởng thành, chọn 30 trưởng thành cái và trưởng thành đực vào lồng nuôi riêng có kích thước 30x30x30 cm, bên trong có thức ăn nhân tạo và cấp nước, sau 20 ngày tuổi, thu trưởng thành đực ra khỏi lồng nuôi Chuẩn bị sẵn 10 quả ổi có độ
Trang 36chín tương tự nhau, không bị xây sát, bảo quản trong ngăn mát tủ lạnh Đặt bên trong 2 ống hình trụ để làm giá đỡ ổi, vào ngày 21 sau khi ruồi đục quả vũ hóa, lấy ra 2 quả ổi, để cho hết lạnh, cắt hết vỏ của một quả và một quả để nguyên vẹn Đặt vào lồng thí nghiệm lúc 7h.30, đếm số lần viếng thăm của trưởng thành cái lúc 8h, 10h, 14h, 16h cùng ngày, mỗi lần quan sát là 30 phút Sau 16h lấy cả 2 quả ổi ra khỏi lồng thí nghiệm, quan sát dưới kính lúp soi nổi số lượng trứng thu được trên mỗi quả (quả nguyên vẹn tìm các vết chích của con cái, dùng dao mổ để gẩy nhẹ lớp vỏ và đếm số trứng đẻ dưới lớp vỏ) Vào ngày tiếp theo lấy 2 quả ổi khác và làm tương tự thí nghiệm, thí nghiệm được thực hiện trong 5 ngày (Wigund et al., 2009)
Chỉ tiêu theo dõi:
- Số lần viếng thăm của trưởng thành cái lúc 8h, 10h, 14h, 16h;
- Số trứng thu được trên mỗi quả
* Nghiên cứu thời gian đẻ trứng của ruồi đục quả B dorsalis
Thả 15 cặp trưởng thành (1 cái, 1 đực) ở 20 ngày tuổi vào lồng nuôi (kích thước 53x53x53 cm) ở phòng có nhiệt độ là 26- 280C, ẩm dộ 60- 80% Thu trứng bằng miếng xoài ở 4 khoảng thời gian khác nhau trong ngày:
Công thức 1: thu trứng từ 8- 10h;
Công thức 2: thu trứng từ 10- 12h;
Công thức 3: thu trứng từ 14- 16h;
Công thức 4: thu trứng từ 16- 18h
Đếm số trứng thu được ở mỗi công thức, thí nghiệm được lặp lại trong 5 ngày
* Xác đinh đặc điểm hình thái của các pha phát phát dục
Tiến hành nuôi ruồi đục quả Bactorcera dorslalis Hendel trong phòng thí nghiệm theo mô tả ở trên để đo kích thước lấy 30 cá thể của từng pha phát dục quan sát dưới kính lúp để mô tả đặc điểm và đo kích thước (Prabhakar et al., 2012)
Đo chiều dài của 30 cá thể của các pha phát dục bằng cách đo từ đỉnh đầu đến cuối cơ thể (hậu môn)
* Theo dõi một số đặc điểm sinh học:
- Giai đoạn trứng: dùng miếng xoài để ruồi đẻ trứng và thu trứng đồng loạt một lần/ngày vào sáng sớm, rồi đặt lên miếng vải sau đó rải trứng trên các
Trang 37đĩa thức ăn có thành phần là thịt quả ổi, khối lượng thức ăn là 0,3 gram/đĩa Đặt đĩa trứng vào phòng có điều hòa nuôi ở nhiệt độ là 26- 280C, ẩm độ 60- 80%, để trong bóng tối Sử dụng kính lúp soi nổi kiểm tra vỏ trứng sót lại trên đĩa thực hiện 2 lần/ ngày vào lúc 8 giờ sáng và 18 giờ chiều hàng ngày Theo dõi 30 trứng
Ghi nhận thời gian có quả trứng nở đầu tiên đến quả trứng cuối cùng nở Tỷ
lệ trứng nở được tính theo công thức
nixi
n i
1
xi: Thời gian phát dục của cá thể n trong ngày thứ i;
ni: số cá thể nở trong ngày thứ i;
N: Tổng số cá thể theo dõi
+ Sau 7 ngày thu trứng, đếm tổng số trứng không nở trên đĩa
- Pha sâu non
Dùng bút lông gạt sâu non vừa nở lên đĩa thức ăn có thành phần là thịt quả
ổi, lượng thức ăn là 0,3 gram/đĩa Đặt đĩa có sâu non vào phòng nuôi ở nhiệt độ 26- 280C, ẩm độ 60- 80%, trong bóng tối Quan sát sâu non vào nhộng ngày 2 lần vào 8 giờ sáng và 18 giờ hàng ngày Theo dõi 30 sâu non Ghi nhận thời gian có nhộng đầu tiên xuất hiện và thời gian nhộng cuối cùng xuất hiện
Theo dõi các chỉ tiêu sau:
+ Thời gian phát dục của sâu non: Từ khi sâu non mới nở đến khi sâu non vào nhộng (tính giá trị trung bình của 30 cá thể theo dõi)
Trang 38Số nhộng thu được + Tỷ lệ vào nhộng (%) = - × 100
Tổng số sâu non theo dõi
- Pha nhộng
Dùng bút lông đặt nhộng vào hộp có sẵn mùn cưa sạch, sau đó dùng mùn cưa
ẩm phủ kín nhộng một lớp dày 1,5 cm Đánh dấu từng hộp Để hộp trong phòng nhiệt độ 26- 280C, ẩm độ 60- 80%, bên ngoài hộp phủ nilong đen Quan sát nhộng
vũ hóa trưởng thành mỗi ngày hai lần vào 8 giờ sáng và 18 giờ chiều Xác định giới tính của trưởng thành (đực/cái) Theo dõi 30 nhộng (30 hộp mùn cưa nhỏ)
Theo dõi chỉ tiêu sau:
+ Thời gian phát dục: thời gian bắt đầu vào nhộng đến khi nhộng vũ hóa
nixi
n i
1
Trong đó: X : Thời gian phát dục trung bình;
xi: Thời gian vào nhộng của cá thể n trong ngày thứ i;
ni: Số cá thể vào nhộng trong ngày thứ i;
n i
1
Trong đó: X : Thời gian phát dục trung bình của con đực (cái);
xi: Thời gian vào nhộng của cá thể đực (cái) n trong ngày thứ i; ni: Số cá thể vào nhộng đực (cái) trong ngày thứ i;
N: Tổng số cá thể đực (cái) theo dõi
- Giai đoạn trưởng thành: Tách và ghép cặp trưởng thành ngay sau khi vũ hóa vào lồng nuôi cá thể Nuôi trưởng thành bằng hỗn hợp thức ăn nhân tạo
Trang 39Nước được cung cấp bằng xốp mút nối trên đỉnh lồng tới hộp nước Đặt lồng nuôi vào phòng ở nhiệt độ 26- 280C, ẩm độ 60- 80%, chiếu sáng 12 tiếng/ ngày Quan sát trưởng thành đẻ trứng hàng ngày bằng cách dùng miếng aga để trên đỉnh lồng Kiểm tra mỗi ngày hai lần vào buổi sáng và chiều tối Quan sát 30 ruồi trưởng thành trong lồng nuôi ruồi và theo dõi các chỉ tiêu
+ Thời gian trước đẻ trứng: Từ khi trưởng thành vũ hóa đến khi đẻ lứa trứng đầu tiên
(tính giá trị trung bình của 30 cá thể trưởng thành theo dõi)
+ Tuổi thọ trung bình (ngày):
ni ai
Trong đó: A : Tuổi thọ trung bình;
ai: Tuổi thọ của cá thể n trong ngày thứ i;
ni: Số cá thể chết trong này thứ i;
N: Tổng số cá thể theo dõi
* Nghiên cứu tỷ lệ giới tính ở các pha trưởng thành
Theo dõi 30 nhộng Những nhộng này đặt trong phòng ở mức nhiệt
26-280C, ẩm độ 60- 80%, bên ngoài hộp nhộng có phủ nilon đen Sau khi trưởng thành vũ hóa chuyển vào lồng nuôi ở điều kiện nhiệt độ phòng thí nghiệm (ẩm độ khoảng 60- 80%, nhiệt độ 26- 280C ) với thức ăn nuôi trưởng thành Sau vũ hóa 1 ngày tiến hành đếm số trưởng thành đực và cái
* Phương pháp nghiên cứu sức đẻ trứng của trưởng thành cái
Thí nghiệm được thực hiện ở điều kiện nhiệt độ là 26- 280C, ẩm độ 60- 80% Thu các nhộng có khối lượng tương đương nhau từ các cặp bố mẹ từ thế hệ thứ 2 ở cùng điều kiện nuôi Tách và ghép cặp ngay các trưởng thành vừa vũ hóa
và thả vào lồng nhựa trong suốt (có đường kính 8cm, cao 30cm) mỗi lồng là một cặp trưởng thành (1 đực, 1 cái) Nuôi 15 cặp trưởng thành, nuôi bằng đường nhão
và nước trong 3 ngày đầu, từ ngày thứ tư trở đi nuôi bằng thức ăn cho trưởng thành Thu trứng bằng miếng aga (hình vuông có cạnh dài 3 cm, dày 3 mm); hàng ngày đặt miếng aga lên đỉnh lồng nuôi trưởng thành và đếm số trứng đẻ
Trang 40được vào mỗi buổi sáng Ghi chép số trứng đẻ được hàng ngày trong suốt thời gian sống của 15 cặp trưởng thành
Theo dõi các chỉ tiêu sau:
- Thời gian đẻ trứng của trưởng thành trong suốt thời gian sống
- Số trứng trung bình đẻ được hàng ngày của các cặp trưởng thành
- Tổng số trứng do một trưởng thành cái đẻ trong suốt thời gian sống
Hình 3.2 Lồng nuôi
nguồn ruồi đục quả
Hình 3.3 Lồng nuôi cá thể ruồi đục quả
Hình 3.4 Phương pháp thu trứng ruồi đục quả 3.5.3 Xác định hiệu quả của một số biện pháp phòng trừ ruồi đục quả bằng bẫy
Tiến hành thử nghiệm ba loại bẫy dẫn dụ chứa thuốc là Methy eugenol (ME), CUE lure eugenol (CUE) và protein thủy phân (Pb) ở ba vườn ổi chính, diện tích mỗi vườn là 1000m2 Thực hiện treo bẫy, thu thập và tính toán số liệu theo Tiêu Chuẩn quốc tế về biện pháp kiểm dịch thực vật: ISPM số 26: Thiết lập vùng không nhiễm dịch hại ruồi đục quả Tephritidae (Etablishment
of pest free areas for fruit flies Tephritidae) năm 2011
Quy trình đặt bẫy
- Phân bố không gian của bẫy;
- Số lượng bẫy đặt (theo ISPM số 26, 2011)
Bẫy ME, CUE và Pb, mỗi loại bẫy là 2 bẫy/vườn/1000m2 được đặt tại chung ở cùng một vườn, thí nghiệm được thực hiện trên 3 vườn ổi, các vườn cách nhau khoảng 1km Đặt 3 loại bẫy ở điểm râm mát có đốm nắng và ở phía cây đón gió, đặt ở các hướng đông của cây, phía đón ánh nắng sớm Móc treo bẫy bôi mỡ bò để ngăn kiến ăn mất ruồi đục quả bắt được