Thứ tư, Một số giải pháp được đề xuất nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại huyện Cao Phong thời gian tới như sau: Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý; Thực hiện tốt
Trang 1HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
LÊ THỊ MAI
TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG, LÂM NGHIỆP TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN CAO PHONG, TỈNH HÒA BÌNH
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn
NHÀ XUẤT BẢN HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP - 2018
Trang 2LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết quả nghiên cứu được trình bày trong luận văn là trung thực, khách quan và chưa từng dùng bảo vệ
để lấy bất kỳ học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm
ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Mai
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành đề tài này tôi đã nhận được sự giúp đỡ của nhiều cơ quan, cá nhân, cán bộ quản lý tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình, các thầy, cô giáo và bạn bè Tôi xin chân thành cảm ơn:
Thầy giáo hướng dẫn trực tiếp PGS.TS Nguyễn Tuấn Sơn, Trưởng bộ môn Kế hoạch và Đầu tư - Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn - Học viện Nông nghiệp Việt Nam đã hướng dẫn, giúp đỡ tận tình để tôi có thể hoàn thành đề tài này
Phòng Tài nguyên và Môi trường, Phòng Thống kê, Chi nhánh Văn phòng đăng
ký đất đai huyện Cao Phong đã hỗ trợ và giúp đỡ cung cấp thông tin và điều tra trong quá trình thực hiện đề tài
Xin chân thành cảm ơn đến các thầy, cô giáo trong Khoa Kinh tế và Phát triển nông thôn, đặc biệt là bộ môn Kế hoạch và Đầu tư đã giúp tôi hoàn thành luận văn này Cuối cùng tôi xin chân thành cảm ơn đến bạn bè, gia đình luôn ở bên ủng hộ và giúp đỡ tôi
Một lần nữa xin chân thành cảm ơn đến tất cả mọi người, sự giúp đỡ đóng góp
đó tạo nên sự thành công của đề tài
Hà Nội, ngày tháng năm 2018
Tác giả luận văn
Lê Thị Mai
Trang 4MỤC LỤC
Lời cam đoan i
Lời cảm ơn ii
Mục lục iii
Danh mục chữ viết tắt vi
Danh mục bảng vii
Danh mục biểu đồ viii
Trích yếu luận văn ix
Thesis abstract xi
Phần 1 Mở đầu 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu chung 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu 3
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu 3
1.4 Câu hỏi nghiên cứu 3
1.5 Tính mới của đề tài 4
1.5.1 Về mặt lý luận 4
1.5.2 Về mặt thực tiễn 4
Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn 5
2.1 Cơ sở lý luận về tăng cường quản lý nhà nước đối với đất nông lâm nghiệp 5
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản 5
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa, đặc điểm của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp 8 2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp 17
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp 23
2.2 Cơ sở thực tiễn quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp 28
2.2.1 Thực tiễn quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp ở Việt Nam 28
2.2.2 Kinh nghiệm quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại một số huyện trong tỉnh và ngoài tỉnh 30
Trang 52.2.3 Bài học kinh nghiệm trong việc quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên
địa bàn huyện Cao Phong 33
Phần 3 Phương pháp nghiên cứu 34
3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu 34
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 34
3.1.2 Điều kiện kinh tế - xã hội 37
3.1.3 Về văn hoá - xã hội 40
3.1.4 Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của huyện cao phong trong công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp 42
3.2 Phương pháp nghiên cứu 44
3.2.1 Chọn điểm nghiên cứu 44
3.2.2 Phương pháp thu thập số liệu 45
3.2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu 46
3.2.3.3 Phương pháp so sánh 47
3.2.4 Phương pháp đánh giá, xếp hạng 47
3.2.5 Hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu 48
Phần 4 Kết quả nghiên cứu và thảo luận 50
4.1 Thực trạng quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại huyện Cao Phong 50
4.1.1 Tình hình sử dụng đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong 50
4.1.2 Tình hình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp huyện Cao Phong 54
4.1.3 Thực trạng lập quy hoạch sử dụng đất, quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp 56
4.1.4 Thực trạng giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất nông, lâm nghiệp 60
4.1.5 Thực trạng thu hồi, trưng dụng, bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất nông, lâm nghiệp 64
4.1.6 Thực trạng đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông, lâm nghiệp 66
4.1.7 Thống kê, kiểm kê, lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất 68
4.1.8 Thực trạng giám sát, thanh tra, kiểm tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử lý vi phạm trong sử dụng đất nông, lâm nghiệp 70
Trang 64.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên
địa bàn huyện Cao Phong 75
4.2.1 Năng lực, trình độ, thái độ và đạo đức của cán bộ quản lý nhà nước 75
4.2.2 Nhóm yếu tố về cơ chế chính sách đất đai 78
4.2.3 Công tác tổ chức thực hiện của phòng tài nguyên môi trường huyện Cao Phong 79
4.2.4 Nhóm yếu tố tự nhiên và kỹ thuật ảnh hưởng tới hoạt động quản lý nhà nước về đât nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong 80
4.2.5 Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội 82
4.2.6 Đơn vị quản lý nhà nước có ảnh hưởng như thế nào tới quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong 84
4.3 Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại huyện Cao Phong 88
4.3.1 Tích cực tuyên truyền, giáo dục pháp luật và chủ trương, chính sách về đất đai của huyện đến người dân 88
4.3.2 Thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp 89
4.3.3 Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý đất nông, lâm nghiệp 91
4.3.4 Tăng cường hiệu lực pháp luật, có chế tài xử lý vi phạm pháp luật đất đai nghiêm khắc, triệt để 93
4.3.5 Hoàn thiện công tác lập và quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp 94
Phần 5 Kết luận và kiến nghị 95
5.1 Kết luận 95
5.2 Kiến nghị 96
5.2.1 Đối với sở tài nguyên môi trường tỉnh Hòa Bình 96
5.2.2 Đối với chính quyền tỉnh Hòa Bình 96
Tài liệu tham khảo 103
Trang 7DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
CBCC Cán bộ công chức
CNH-HĐH Công nghiệp hóa - Hiện đại hóa
CN-TTCN Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp CSD DĐĐT Dồn điền đổi thửa
Trang 8DANH MỤC BẢNG
Bảng 3.1 Biến động đất đai huyện Cao Phong qua các năm 2014 - 2017 36
Bảng 3.2 Cơ cấu kinh tế huyện Cao Phong 37
Bảng 3.3 Bảng kết quả sản xuất ngành nông nghiệp huyện Cao Phong 38
Bảng 3.4 Thống kê dân số và lao động 41
Bảng 3.5 Loại mẫu điều tra 44
Bảng 3.6 Thu thập thông tin thứ cấp 45
Bảng 4.1 Hiện trạng sử dụng đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong 51
Bảng 4.2 Cơ cấu diện tích đất nông, lâm nghiệp các xã, thị trấn của huyện Cao Phong năm 2017 52
Bảng 4.3 Biến động đất nông, lâm nghiệp giai đoạn 2014 - 2017 53
Bảng 4.4 Tình hình lập bản đồ địa chính tỷ lệ 1/1000 55
Bảng 4.6 Diện tích đất nông, lâm nghiệp chuyển đổi cơ cấu cây trồng 58
Bảng 4.7 Thống kê số lượng tổ chức, cá nhân sử dụng đất nông, lâm nghiệp 61
Bảng 4.8 hống kê số hộ gia đình cá nhân sử dụng đất nông, lâm nghiệp 61
Bảng 4.9 Biến động đất nông, lâm nghiệp giữa 2 kỳ kiểm kê vừa qua 62
Bảng 4.10 Diện tích đất nông, lâm, ngư nghiệp chuyển sang hình thức sử 63
Bảng 4.11 Đánh giá của người dân về sự công khai, minh bạch đối với công 66
Bảng 4.12 Tình hình cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nông nghiệp 67
Bảng 4.13 Tổng hợp trường hợp vi phạm về đất nông, lâm nghiệp trên địa 71
Bảng 4.14 Bảng tổng hợp kết quả xử lý vi phạm về sử dụng đất nông, lâm 72
Bảng 4.15 Tình hình giải quyết đơn thư khiếu nại của công dân về đất nông, 73
Bảng 4.16 Đánh giá của người dân về năng lực cán bộ quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại địa phương 85
Bảng 4.17 Trình độ các cán bộ quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp 76
Bảng 4.18 Đánh giá của người dân tinh thần, thái độ và đạo đức công vụ 77
Bảng 4.19 Đánh giá của người dân về chính sách quản lý đất nông nghiệp 78
Bảng 4.20 Đánh giá của người dân về thời gian thực hiện các thủ tục quản 80
Bảng 4.21 Kết quả điều tra về nhóm các yếu tố tự nhiên và kỹ thuật 81
Bảng 4.22 Kết quả điều tra về nhóm các yếu tố kinh tế - xã hội 83
Bảng 4.23 Hiều biết của người dân huyện Cao Phong về luật đất đai 83
Trang 9DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 4.1 Cơ cấu diện tích đất đai trên địa bàn huyện Cao Phong năm 2017 50Biểu đồ 4.2 Đánh giá yếu tố ảnh hưởng đến công tác QLNN về đất nông, lâm nghiệp 75
Trang 10TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
Tên tác giả: Lê Thị Mai
Tên luận văn: Tăng cường quản lý nhà nước đối với đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn
huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình
Tên cơ sở đào tạo: Học Viện Nông Nghiệp Việt Nam
Mục tiêu nghiên cứu: Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất
nông, lâm nghiệp của huyện Cao Phong thời gian qua, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện thời gian tới
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tiến hành chọn điểm nghiên cứu 3 xã
Yên Lập, Thung Nai, Bắc Phong thuộc huyện Cao Phong Số liệu thứ cấp được thu thập thông qua báo cáo của các cơ quan chắc năng thuộc huyện Cao Phong Số liệu
sơ cấp được thu thập thông quan điều tra 60 hộ dân và 10 cán bộ quản lý cấp xã và huyện liên quan đến mảng đất đai Nghiên cứu sử dụng phương pháp thống kê mô tả
và phương pháp so sánh nhằm làm rõ quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp ở huyện Cao Phong
Kết quả nghiên cứu chính và kết luận:
Thứ nhất: Qua quá trình nghiên cứu đề tài đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận về quản lý nhà nước đất nông nghiệp, lâm nghiệp, nội dung của quản lý nhà nước đất nông nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp Nghiên cứu đã tổng quan kinh nghiệm về quản lý nhà nước đối với đất nông, lâm nghiệp ở một
số địa phương, từ đó rút ra một số bài học kinh nghiệm cho huyện Cao Phong trong quản lý nhà nước về nông, lâm nghiệp
Thứ hai: Kết quả đánh giá được thực trạng việc quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong cho thấy, hiện nay diện tích đất nông, lâm nghiệp
có xu hướng giảm dần, đến năm 2017 chỉ còn 21.574,49 ha, giảm 62,16 ha so với 2014 Nguyên nhân chủ yếu là do chuyển sang nhóm đất phi nông nghiệp để xây dựng cơ sở
hạ tầng, một số dự án sản xuất, kinh doanh và mở rộng khu dân cư nông thôn, đô thị trên địa bàn huyện Việc thực hiện các thủ tục quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp đã nhanh gọn hơn Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập trong công tác quản lý như quy hoạch chậm, dự án treo vẫn còn, ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân
Thứ ba, Nghiên cứu đã chỉ ra các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất
nông, lâm nghiệp tại huyện Cao Phong gồm có: Năng lực, trình độ của đội ngũ cán bộ
Trang 11quản lý; Cơ cấu và tổ chức bộ quản lý nhà nước về đất đai; Cơ chế, chính sách đất đai; Nhóm yếu tố tự nhiên và kỹ thuật; Ý thức của người dân
Thứ tư, Một số giải pháp được đề xuất nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại huyện Cao Phong thời gian tới như sau: Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản lý; Thực hiện tốt cải cách thủ tục hành chính trong quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp; Bổ sung và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực phục vụ công tác quản lý đất nông, lâm nghiệp; Tăng cường hiệu lực pháp luật, có chế tài xử lý vi phạm pháp luật đất đai nghiêm khắc, triệt để; Hoàn thiện công tác lập, quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp; Tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật và chủ trương, chính sách về đất đai của huyện đến người dân; Đầu tư kinh phí phục vụ công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện
Trang 12THESIS ABSTRACT Author: Le Thi Mai
Thesis Title: Strengthening the state management of agricultural and forestry land in
Cao Phong district, Hoa Binh province
Educational Organization: Vietnam National University of Agriculture
Research Objective: This study aims to assess the state management of
agricultural and forestry land in Cao Phong district in the past, and to propose solutions to strengthen state management of agricultural and forestry land in Cao Phong district in future
Research Methods: This study selected Yen Lap, Thung Nai and Bac Phong
communes of Cao Phong district as study sites Primary data was collected through survey and interview of 60 households and 10 local authorities at commune, district levels Research used descriptive statistics and comparative methods to clarify state management of agro-forestry land in Cao Phong district
Main findings and Conclusions:
Firstly, This study has systematized the theory of state management of agricultural and forestry land, the research content of state management of agricultural and forestry land, factors afecting the state management of agricultural and forestry land The study has provided an overview of the state management of agricultural and forestry land in other localities, and summarized lessons learned for Cao Phong district
in strengthening the state management of agriculture and forestry land
Secondly, the research results show that the area of agricultural and forestry land decreased gradually, was only 21,574.49 ha in 2017, decreased by 62.16 hectares compared to 2014 The main reason for agricultural and forest land reduction is due to shifting to non-agricultural land to building infrastructure, some production and business projects, and expanding rural and urban residential areas in Cao Phong district The implementation of state management procedures for agro-forestry land is faster However, there are still many shortcomings in the state management of agricultural and forestry land in Cao Phong district such as: slow planning, delayed projects affecting to the people’s benefits
Third, The research results show that factors influencing the state management of
agricultural and forestry land in Cao Phong district are as follows: Qualification of
Trang 13managers/government officials; Structure and organization of the state management of land; Mechanisms and policies of land; Natural conditions and technical factors; Perception of local people
Forth, this study proposed solutions to strengthen the state management of agricultural and forestry land in Cao Phong district in the future as follows: Completion
of the state management organization; Reform of administrative procedures in state management of agricultural and forestry land; Supplementing and improving the quality
of human resources for the management of agricultural and forestry land; Strengthening law enforcement, punishment and handling violations of land laws strictly; Improvement of planning, planning managment and land use planning for agriculture and forestry; Strengthening propaganda and education about the land laws as well as guidelines and policies on land to local people; Providing funds for state management of agricultural and forestry land in the district
Trang 14PHẦN 1 MỞ ĐẦU
1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đất đai có vai trò vô cùng quan trọng đối với đời sống kinh tế, chính trị và
xã hội của mỗi đất nước Ở nước ta đất đai được xác định tài nguyên vô cùng quý giá, là tư liệu sản xuất đặc biệt, là nguồn nội lực quan trọng nhất để phát triển kinh tế, là địa bàn để phân bổ các khu dân cư, xây dựng các cơ sở kinh tế, chính trị, văn hóa, quốc phòng an ninh, là bộ phận cơ bản của lãnh thổ quốc gia, là thành phần quan trọng của môi trường sống, là thành quả cách mạng của cả dân tộc Mọi hoạt động sản xuất và kinh doanh cũng như văn hóa xã hội đều gắn liền với đất Do đó, quản lý Nhà nước đối với đất đai là một vấn đề luôn được Đảng
và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm (Minh Nguyệt, 2015)
Trong quá trình quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp, UBND cấp huyện
có vai trò vô cùng quan trọng đối với việc quản lý Nhà nước về đất đai Bởi vì, theo quy định của pháp luật đất đai hiện hành, UBND cấp huyện là cơ quan trực tiếp tiến hành các hoạt động quản lý Nhà nước đối với đất đai, như thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền
sử dụng đất, điều tra khảo sát đo đạc, lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, thanh tra, xử lý vi phạm giải quyết các khiếu nại, tố cáo, tranh chấp về đất đai v.v Cao Phong là một huyện có nền sản xuất nông, lâm nghiệp là chủ yếu, với tổng diện tích tự nhiên năm 2017 là 25.600,25 ha, diện tích đất nông, lâm nghiệp chiếm 84,27%, lao động nông nghiệp chiếm tới 87,85% tổng lao động toàn huyện Trong xu thế chuyển đổi cơ cấu cây trồng, đô thị hoá đang diễn ra mạnh
mẽ, huyện Cao Phong cũng đang thay đổi từng ngày đã tác động lớn đến việc sử
dụng đất đai nói chung và đất nông, lâm nghiệp nói riêng trên địa bàn Trong thời gian qua công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại địa phương đã có những thành tựu đáng khích lệ, nhưng bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, hạn chế nhất định (UBND huyện Cao Phong, 2017)
Tình hình sử dụng đất nông, lâm nghiệp tại địa bàn huyện Cao Phong vẫn còn tồn tại những diễn biến rất phức tạp, như: chưa có sự thống nhất trong việc xác định vị trí, vai trò của ngành nông, lâm nghiệp trong tổng thể nền kinh tế; quy hoạch phân bổ tài nguyên (đất đai, nguồn nước ) phục vụ phát triển nông, lâm nghiệp chưa hợp lý, chưa hướng tới thúc đẩy nâng cao năng lực cạnh tranh
Trang 15của các sản phầm nông, lâm, thủy sản; chính sách của của địa phương trong nông, lâm nghiệp, nông thôn còn chưa hợp lý, chính sách hỗ trợ cho nông, lâm nghiệp, nông dân, nông thôn chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế; tổ chức sản xuất nông, lâm, thủy sản còn phân tán, số lượng tổ chức kinh tế, hợp tác xã thành lập ít và tổ chức sản xuất, kinh doanh chưa mang lại hiệu quả kinh tế cao, chưa đóng góp nhiều cho nền kinh tế của huyện… Vì vậy, yêu cầu đặt ra là làm thế nào để tăng cường quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trong tình hình hiện nay Đây cũng là đòi hỏi cấp thiết của UBND huyện, các ban ngành của huyện Cao Phong, cũng như tỉnh Hoà Bình cần quan tâm giải quyết (UBND huyện Cao
Phong, 2017)
Từ trước đến nay đã có nhiều nghiên cứu liên quan đến vấn đề tăng cường quản lý nhà nước về đất đai như: Tác giả Trần Quốc Khánh (2009) đã nêu ra giải pháp về quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn quận Long Biên, tác giả Trịnh Thành Công (2014) đã nêu ra giải pháp về quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn thành phố Hà Giang, tác giả Phan Huy Cường (2015) đã nêu ra giải pháp về quản lý nhà nước về đất đai trên địa bàn huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An… Nhìn chung có rất nhiều nghiên cứu đến vấn đề quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn cả nước Tuy nhiên các nghiên cứu chủ yếu tập trung liên quan đến quản
lý nhà nước đất đai nói chung, chưa có nghiên cứu nào cụ thể liên quan đến quản
lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong
Xuất phát từ những lý do trên, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Tăng
cường quản lý nhà nước đối với đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong , tỉnh Hoà Bình”
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp của huyện Cao Phong thời gian qua, đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện thời gian tới
Trang 16Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến công tác quản lý Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong;
Đề xuất giải pháp tăng cường quản lý nhà Nước về đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện trong thời gian tới
1.3 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Những vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến công tác quản lý Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
Khách thể nghiên cứu: Cán bộ, công chức, viên chức địa chính huyện, địa chính các xã, thị trấn và hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn huyện Cao Phong
Đề tài tiến hành điều tra nghiên cứu thực trạng vấn đề quản lý nhà nước
về đất nông, lâm nghiệp tại huyện Cao Phong, tỉnh Hoà Bình trong 4 năm từ năm 2014 đến năm 2017 từ đó đưa ra những định hướng, giải pháp cho những năm tới
Số liệu sơ cấp được thu thập qua những người lao động, các phòng ban chức năng liên quan thuộc huyện Cao Phong năm 2017
Thời gian nghiên cứu đề tài: từ ngày 02/5/2017 đến ngày 31/01/2018
1.4 CÂU HỎI NGHIÊN CỨU
- Công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, lâm nghiệp huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình hiện nay đang diễn ra thế nào?
- Những yếu tố nào ảnh hưởng đền công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp huyện Cao Phong tỉnh Hòa Bình?
- Những giải pháp nào cần đề xuất nhằm tăng cường quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp huyện Cao Phong, Hòa Bình?
Trang 171.5 TÍNH MỚI CỦA ĐỀ TÀI
1.5.1 Về mặt lý luận
Luận án đã tập hợp, hệ thống và làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về quản
lý nhà nước đất nông nghiệp, lâm nghiệp: làm rõ khái niệm về quản lý nhà nước, quản lý nhà nước về đất nông nghiệp, lâm nghiệp, vai trò của quản lý nhà nước
về đất nông, lâm nghiệp, đặc điểm quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp, nội dung của quản lý nhà nước đất nông, lâm nghiệp, các yếu tố ảnh hưởng đến quản
lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp và tìm hiểu cơ sở thực tế về quản lý nhà nước đất nông, lâm nghiệp từ đó làm bài học kinh nghiệm cho quản lý nhà nước
về đất đai huyện Cao Phong
1.5.2 Về mặt thực tiễn
Luận án đã trình bày với nhiều dẫn liệu và minh chứng về các nội dung của quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp cũng như thực tiễn trong quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại một số địa phương trên toàn quốc từ đó rút
ra những bài học kinh nghiệm cho quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Cao Phong, tỉnh Hòa Bình Từ những nội dung đó luận án phân tích thực trạng quản lý nhà nước về đất nông nghiệp tại huyện Cao Phong theo nhiều khía cạnh khác nhau như: những thành tựu đạt được, những mặt còn tồn tại, những hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế, các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp tại huyện Cao Phong để từ đó đưa ra những giải pháp giúp công tác quản lý nhà nước về đất đại nói chung và đất nông, lâm nghiệp của huyện Cao Phong được tốt hơn
Trang 18PHẦN 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TĂNG CƯỜNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI ĐẤT NÔNG LÂM NGHIỆP
2.1.1 Một số khái niệm cơ bản
2.1.1.1 Khái niệm về quản lý Nhà nước
Khái niệm về quản lý
Quan niệm chung nhất về quản lý được nhiều người chấp nhận do điều khiển học đưa ra như sau: Quản lý là sự tác động định hướng bất kỳ lên một hệ thống nào đó nhằm trật tự hóa và hướng nó phát triển phù hợp với những quy luật nhất định Quan niệm này không những phù hợp với hệ thống máy móc thiết
bị, cơ thể sống, mà còn phù hợp với một tập thể người, một tổ chức hay một cơ quan nhà nước (Hoàng Anh Đức, 1995)
Hiểu theo góc độ hành động, quản lý là điều khiển và được phân thành 3 loại, các loại hình này giống nhau là đều do con người điều khiển nhưng khác nhau về đối tượng quản lý
Loại hình thứ nhất: là việc con người điều khiển các vật hữu sinh không
phải con người, để bắt chúng phải thực hiện ý đồ của người điều khiển Loại hình này được gọi là quản lý sinh học, quản lý thiên nhiên, quản lý môi trường
Ví dụ con người quản lý vật nuôi, cây trồng
Loại hình thứ hai: là việc con người điều khiển các vật vô tri vô giác để
bắt chúng thực hiện ý đồ của người điều khiển Loại hình này được gọi là quản lý
kỹ thuật Ví dụ, con người điều khiển các loại máy móc
Loại hình thứ ba: là việc con người điều khiển con người Loại hình này
được gọi là quản lý xã hội (hay quản lý con người)
Quản lý xã hội được C Mác coi là chức năng quản lý đặc biệt được sinh ra
từ tính chất xã hội hoá lao động Hiện nay, khi nói đến quản lý, thường người ta chỉ nghĩ đến quản lý xã hội Vì vậy sau đây chúng ta chỉ nghiên cứu loại hình quản lý thứ ba này, tức là quản lý xã hội Từ đó có thể đưa ra khái niệm quản lý theo nghĩa hẹp (tức là quản lý xã hội) như sau: Quản lý là sự tác động chỉ huy, điều khiển các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người để chúng phát triển phù hợp với quy luật, đạt tới mục đích đã đề ra và đúng ý chí của người
Trang 19quản lý (Hoàng Anh Đức, 1995)
Khái niệm về quản lý Nhà nước
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự ra đời của Nhà nước, đó là quản lý toàn xã hội Nội hàm của quản lý nhà nước thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm văn hóa, trình độ phát triển KT-XH của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử Xét về mặt chức năng, quản lý nhà nước bao gồm ba chức năng: thứ nhất, chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai, chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm; thứ ba, chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện (Nguyễn Hữu Hải, 2010)
Trong hệ thống xã hội, có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: tổ chức chính trị, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân, các hiệp hội, So với quản lý của các tổ chức khác thì quản lý nhà nước
có những điểm khác biệt như sau:
Thứ nhất, chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp,
cơ quan tư pháp
Thứ hai, đối tượng quản lý của nhà nước là tất cả các cá nhân tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia, công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia
Thứ ba, quản lý nhà nước là quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh, quốc phòng, ngoại giao
Thứ tư, quản lý nhà nước mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ pháp luật nhà nước, chính sách để quản lý xã hội
Thứ năm, mục tiêu của quản lý nhà nước là phục vụ nhân dân duy trì sự ổn định và phát triển của toàn xã hội
Từ những đặc điểm trên, có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý
xã hội đặc biệt mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật, chính sách
để điều chỉnh hành vi của cá nhân, tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội
do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy
trì sự ổn định và phát triển của xã hội (Nguyễn Hữu Hải, 2010)
Trang 20Khái niệm về quản lý Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
Đất nông, lâm nghiệp
Đất nông, lâm nghiệp là đất sử dụng vào mục đích sản xuất, nghiên cứu, thí nghiệm về nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối và mục đích bảo vệ, phát triển rừng; bao gồm đất sản xuất nông nghiệp, đất lâm nghiệp,
đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác
Nhóm đất nông, lâm nghiệp bao gồm các loại đất sau đây: Đất trồng cây hàng năm, đất trồng cây lâu năm, đất rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ, đất rừng đặc dụng, đất nuôi trồng thủy sản, đất làm muối và đất nông nghiệp khác (Quốc
hội, 2013)
Quản lý nhà nước về đất đai
Bản chất của công tác quản lý nhà nước là sự tác động một cách có tổ chức, hệ thống nhằm mục đích điều chỉnh các hành vi của con người, tổ chức, cá nhân… bằng quyền lực của nhà nước để hướng ý chí và mục đích của họ theo mục đích chung của toàn xã hội
Nhà nước tác động lên các đối tượng thông qua công việc thiết lập các mối quan hệ xã hội, quan hệ giữa con người với con người, giữa các tập thể với nhau, quan hệ giữa cá nhân với tập thể… các mối quan hệ tồn tại trong xã hội là rất nhiều, tất cả các mối quan hệ đó đều cần phải được điều chỉnh để lợi ích của người này không làm xâm phạm lợi ích của người khác, đảm bảo được lợi ích của đất nước
Quản lý nhà nước còn được thể hiện ở quan hệ chủ thể và khách thể và đối tượng quản lý Chủ thể của sự quản lý nhà nước là bộ máy hành chính từ trung ương đến địa phương, cấp tỉnh, cấp huyện, cấp xã và toàn bộ các cán bộ công nhân viên chức của nhà nước làm việc trong công tác quản lý Nhà nước Khách thể quản lý là các công dân, tổ chức, các thành phần kinh tế, xã hội… Đối tượng của công tác quản lý nhà nước là các quá trình kinh tế, các hoạt động, các mối quan hệ có liên quan Riêng trong lĩnh vực quản lý Nhà nước về đất đai chủ thể quản lý nhà nước về đất đai (cụ thể ở đây là đất nông, lâm nghiệp) thì nhà nước đóng vai trò là chủ thể quản lý, khách thể của sự quản lý là các cá nhân, tổ chức, doanh nhân, doanh nghiệp sử dụng đất nông nghiệp, có liên quan đến đất nông nghiệp Và đối tượng của công tác quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là những mối quan hệ phát sinh, những vướng mắc, vấn đề có liên quan đến đất
Trang 21nông, lâm nghiệp xảy ra trong xã hội
Quản lý nhà nước về đất đai là tổng hợp các hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền để thực hiện và bảo vệ quyền sở hữu của Nhà nước đối với đất đai; đó là các hoạt động nắm chắc tình hình sử dụng đất; phân phối và phân phối lại
quỹ đất đai theo quy hoạch, kế hoạch; kiểm tra giám sát quá trình quản lý và sử dụng đất; điều tiết các nguồn lợi từ đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
Như vậy, QLNN về đất nông, lâm nghiệp tại Việt Nam chính là quản lý quỹ đất nông, lâm nghiệp và những quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình quản
lý và sử dụng Quá trình quản lý đất nông nghiệp tại Việt Nam là quá trình tác động một cách có tổ chức và định hướng bằng quyền lực nhà nước đến đất nông, lâm nghiệp và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh hành vi hoạt động của các chủ thể quản lý đất và các đối tượng sử dụng đất nhằm duy trì tính ổn định và
phát triển của xã hội (Đỗ Thị Đức Hạnh, 2013)
2.1.2 Vai trò, ý nghĩa, đặc điểm của công tác quản lý Nhà nước về đất nông nghiệp
2.1.2.1 Vai trò của công tác quản lý Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
Nhà nước quản lý toàn bộ quỹ đất nông nghiệp trên phạm vi cả nước Như
đã nói ở trên nhà nước là người đại diện chủ sở hữu đất nông, lâm nghiệp của cả nước Đồng thời nhà nước là chủ thể quản lý của công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp, chính vì vậy nhà nước phải thống nhất quản lý nhà nước về đất nông nghiệp trên phạm vi cả nước Mục đích của việc này là mang lại lợi ích chung cho xã hội đảm bảo sử dụng đất nông, lâm nghiệp hợp lý và hiệu quả cao nhất, có tầm nhìn xa vì mục đích chung của cộng đồng
Song song với nó Nhà nước luôn có các chế tài để đảm bảo quyền lợi, trách nhiệm của mình và của người sử dụng đất nông nghiệp nói riêng và đất đai nói chung Người sử dụng đất nông, lâm nghiệp phải tuân thủ các quy định đã đặt
ra Nếu không chấp hành các quy định đó thì người sử dụng đất đã vi phạm pháp luật có thể bị phạt, thu hồi đất, tịch thu tài sản… Nhà nước thực hiện công tác quản lý qua những nhiệm vụ sau:
- Nhà nước thông qua quy hoạch, kế hoạch, chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội để định hướng cho quá trình sử dụng đất Nhà nước là người có các quyền tuyệt đối với đất đai: định đoạt, chiếm hữu… Do đó, nhà nước có quyền quyết định mục đích sử dụng, thời hạn sử dụng… của đất nông, lâm nghiệp
Trang 22- Công tác kiểm kê, đánh giá phân hạng đất nông, lâm nghiệp là một việc làm không thể thiếu được của công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp Hàng năm nhà nước phải nắm bắt được cụ thể diện tích, chất lượng, mục đích sử dụng, tình trạng sử dụng của các loại đất nói chung và của đất nông, lâm nghiêp nói riêng, có như thể mới có thể tạo lập được quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp phù hợp, lâu dài, tính dự báo…
- Đất đai là tài sản quý giá của bất kỳ một quốc gia nào, giá trị của đất đai ngày càng lớn trên thị trường cạnh tranh, mối quan hệ đất đai ngày càng phức tạp hơn Con người đã nhìn nhận thấy được tính quan trọng của đất đai đối với đời sống của mình Chính vì vậy, các tranh chấp, mâu thuẫn, khiếu kiện… trong các quan hệ đất đai thường nổ ra mạnh mẽ Trong công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp, cán bộ, công chức, viên chức có thể lợi dụng quyền hạn và trách nhiệm, công cụ nhà nước để vụ lợi cho cá nhân, lợi ích của người này làm xâm hại quyền lợi, lợi ích của người khác, chế tài Nhà nước ban hành ra để điều chỉnh, tác động vào mối quan hệ đất nông, lâm nghiệp đảm bảo công bằng Công tác thanh tra, kiểm tra, phát hiện, xử lý vi phạm trong lĩnh vực đất nông, lâm
nghiệp là rất cần thiết để phát hiện, xử lý sớm các vi phạm (Quốc hội, 2013)
2.1.2.2 Ý nghĩa của công tác quản lý Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
Xã hội ngày càng phát triển nhu cầu đất đai thay đổi theo hướng chuyển dịch của cơ cấu nền kinh tế Vì vậy, trong tổng quỹ đất không đổi thì đất nông nghiệp có chiều hướng giảm dần diện tích do phải chuyển mục đích sử dụng sang các loại đất khác (đất dùng cho công nghiệp, đất dùng vào mục đích thương mại, đất ở…) Nói như vậy nhưng không thể phủ nhận hoàn toàn đất nông, lâm nghiệp trong đời sống của con người ngày nay Để tồn tại con người luôn cần đến thức
ăn, rau quả, củ, sản phẩm của nền nông nghiệp - những nguồn cung cấp này chỉ
có thể thỏa mãn được dựa vào sức mạnh canh tác đất nông, lâm nghiệp Dù gì đi nữa trong tổng quỹ đất của mỗi đất nước phải luôn có một quỹ đất nông, lâm nghiệp cần thiết với mục đích của sự đảm bảo một quỹ đất nông, lâm nghiệp hợp
lý là bảo đảm quỹ lương thực, an ninh lương thực của quốc gia
Đứng trước sức ép của sự phát triển kinh tế, đất nông, lâm nghiệp phải có được sự quản lý và sử dụng hợp lý để không còn việc sử dụng tràn lan, nếu không có thể dẫn đến những hậu quả khôn lường, không những ảnh hưởng đến thế hệ này mà còn ảnh hưởng đến thế hệ sau, dẫn tới nguy cơ phá huỷ sự phát triển bền vững của thế giới
Trang 23Ở nước ta, sau đại hội Đảng lần thứ VI (1986) Đảng và Nhà nước ta đã đề
ra nhiều tư duy, phương hướng phát triển và đổi mới cho đất nước Nước ta xác định phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng nền kinh tế thị trường
có sự quản lý của Nhà nước Sau hơn 30 năm đổi mới đất nước bước đầu đã thu được rất nhiều thắng lợi như: GDP đầu người không ngừng tăng lên, thu nhập bình quân đầu người tăng, tốc độ tăng trưởng kinh tế từ 7% trở lên, thoát khỏi đói nghèo, đói ăn… Từ một đất nước đói nghèo, sống nhờ vào viện trợ của nước ngoài trở thành một đất nước xuất khẩu gạo đứng nhất nhì thế giới, lương thực không những đủ để cung cấp trong nước mà còn thoả mãn nhu cầu xuất khẩu nông sản Đất nông, lâm nghiệp là một tiềm lực to lớn mang lại cho toàn dân tộc
ta nhiều lợi thế phù hợp với truyền thống lao động, phong tục tập quán, trình độ phát triển… nếu biết cách khai thác và sử dụng sẽ là một tài nguyên vô giá cho
sự phát triển của đất nước
Đất nước mở cửa phát triển, trong xu thế giao lưu hợp tác với các nước khác trên thế giới, nước ta đã gia nhập vào tổ chức thương mại thể giới WTO, cơ hội và thách thức đang chờ đón Vấn đề lớn của nước ta trên con đường phát triển là nguồn
vốn, làm sao để thu hút được nhiều nguồn vốn đầu tư từ nước ngoài Nguồn vốn đối ứng để chúng ta đưa ra thu hút đầu tư chính là đất đai, Bản thân đất đã mang lại một nguồn vốn lớn các doanh nghiệp, công ty, tổ chức ngay trên sân nhà, tạo nhiều thuận lợi cho công cuộc hội nhập, hợp tác quốc tế của nước (Quốc hội, 2013)
2.1.2.3 Đặc điểm quản lý Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp của UBND cấp huyện
a Mang tính mệnh lệnh hành chính cao
Quản lý đối với đất nông, lâm nghiệp của UBND cấp huyện, là một hoạt động quản lý hành chính Nhà nước (hoạt động quản lý theo nghĩa hẹp) Vì vậy, trong quá trình hoạt động luôn luôn mang tính mệnh lệnh hành chính, hay nói cách khác tính mệnh lệnh hành chính rất cao Tính mệnh lệnh hành chính được thể hiện trong quan hệ giữa lãnh đạo UBND cấp huyện gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch phụ trách đất đai, Phòng Tài nguyên và Môi trường trong các hoạt động điều tra khảo sát đo đạc đánh giá đất, phân hạng đất, lập quy hoạch kế hoạch sử dụng đất, thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhân quyền sử dụng đất Trong mối quan hệ này lãnh đạo UBND cấp huyện ra các chỉ thị mệnh lệnh, Phòng Tài nguyên và Môi trường, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai và các công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan
đó có ý nghĩa vụ thi hành
Trang 24Tính mệnh lệnh hành chính còn được thể hiện trong mối quan hệ giữa UBND cấp huyện, với UBND cấp xã trong việc lập bản đồ địa chính, đăng ký đất đai, giao đất, cho thuê đất, thanh tra, kiểm tra về đất nông, lâm nghiệp hàng loạt các quan hệ phát sinh trong quá trình quản lý và sử dụng đất của UBND cấp huyện mang tính mệnh lệnh hành chính, như quan hệ xử phạt hành chính đối với các chủ thể không thực hiện các nghĩa vụ trong quá trình sử dụng đất, hoặc vi phạm pháp luật đất nông, lâm nghiệp, hoặc quan hệ về thu đất, trưng dụng đất Trong mối quan hệ này UBND cấp huyện có quyền ra các Chỉ thị mệnh lệnh còn các tổ chức, hộ gia đình cá nhân sử dụng đất có nghĩa vụ chấp hành (Viện Nhà
nước và Pháp luật, 2007)
b Diễn ra trên phạm vi khá hẹp với những đặc thù khác nhau
Nghiên cứu quản lý nhà nước của UBND cấp huyện cho thấy nó diễn ra từng địa bàn như huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh Vì vậy phạm vi hoạt động quản lý nhà nước đối với đất nông, lâm nghiệp của UBND cấp huyện khá hẹp, nó không tính rộng lớn như quản lý nhà nước đối với đất nông, lâm nghiệp của cả nước, hoặc của UBND cấp tỉnh Trong quản lý nhà nước của UBND cấp huyện thì mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh thì đều có những đặc thù riêng Chẳng hạn quản lý nhà nước đối với đất nông, lâm nghiệp ở các huyện đồng bằng tập trung chủ yếu vào quản lý đất nông nghiệp để trồng lúa, trồng cây hàng năm và trồng cây lâu năm Còn quản lý nhà nước về đất đối với các huyện miền núi chủ yếu quản lý đất trồng rừng, đất rừng, đất trồng cây lâu năm, còn quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp đối với các huyện ven biển lại tập trung quản lý đất nuôi trồng thuỷ sản, đất diêm nghiệp, đất trồng rừng ngập mặn
Do sự đặc thù như vậy nên tính phức tạp trong quản lý đất đai của UBND cấp huyện, thì mỗi huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc cấp tỉnh đều có sự khác nhau
(ViệnNnhà nước và Pháp luật, 2007)
c Sự gắn bó chặt chẽ giữa chủ thể quản lý với các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư sử dụng đất
Quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp của UBND cấp huyện có sự gắn bó chặt chẽ giữa chủ thể quản lý giữa UBND cấp huyện với các hộ gia đình,
cá nhân và cộng đồng dân cư sử dụng đất Quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp của UBND cấp huyện bao gồm rất nhiều hoạt động, nhưng trong đó có những hoạt động như thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các hộ gia đình,
Trang 25cá nhân, cộng đồng dân cư sử dụng đất hoặc xử phạt hành chính đối với những chủ thể này khi họ vi phạm pháp luật đất đai hoặc giải quyết các vụ tranh chấp đất đai giữa các hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư với nhau Thực hiện những công việc trên đòi hỏi UBND cấp huyện phải gắn bó rất chặt chẽ với các đối tượng sử dụng đất là hộ gia đình, cá nhân và cộng đồng dân cư Đặc điểm này cho thấy sự khác biệt với hoạt động quản lý nhà nước về đất UBND cấp huyện nghiệp của Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND cấp tỉnh Bởi vì hoạt động Chính phủ, Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ tập trung quản lý những vấn đề chung quan trọng nhất đối với đất nông, lâm nghiệp trên cả nước, còn UBND cấp tỉnh tập trung quản lý những vấn đề về đất nông nghiệp trên địa bàn tỉnh, hoặc có những hoạt động cụ thể như thu hồi đất, giao đất cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì cũng chỉ tiến hành đối với tổ chức kinh tế, chính trị xã hội, xã hội hoặc các cơ quan hành chính Nhà nước mà ít khi thiết lập quan hệ đối với các hộ gia đình, cá nhân (Viện Nhà nước và Pháp luật, 2007)
Nội dung quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
Thực trạng triển khai các văn bản, lập quy hoạch sử dụng đất, quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp
Theo quy định tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 khóa XIII ngày 29/11/2013 thì quản lý Nhà nước về đất đai được quy định bởi 15 nội dung Tuy nhiên để phù hợp với nội dung quản lý đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện có thể nhóm lại thành 7 nhóm
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong việc quản lý nhà nước về đất đai, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí Đồng thời, thông qua quy hoạch,
kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình
Nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp đồng thời quản lý việc lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
Trang 26- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh
- Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã
- Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu
- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
- Dân chủ và công khai
- Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
- Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt (Quốc hội, 2013)
Tình hình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan nhà nước
có thẩm quyền xác nhận Việc đo đạc, lập bản đồ địa chính được thực hiện chi tiết
đến từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (Quốc hội, 2013)
Thông qua các hoạt động: Lập, chỉnh lý bản đồ địa chính; điều tra, đánh giá đất đai; thống kê, kiểm kê, lập bản đồ hiện trạng thì nhà nước nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước biết rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai,
về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai
Cụ thể:
- Về số lượng đất nông, lâm nghiệp: Nhà nước nắm về diện tích đất nông, lâm nghiệp trong toàn quốc gia, trong từng vùng kinh tế, trong từng đơn vị hành chính các địa phương; nắm về diện tích của từng chủ sử dụng và sự phân bố trên
Trang 27bề mặt lãnh thổ
- Về chất lượng đất nông, lâm nghiệp: Nhà nước nắm về đặc điểm lý tính, hoá tính của từng loại đất, độ phì của đất, kết cấu đất, hệ số sử dụng đất v.v , đặc biệt là đối với đất nông, lâm nghiệp
- Về hiện trạng sử dụng đất nông, lâm nghiệp: Nhà nước nắm về thực tế quản lý và sử dụng đất: tính hợp lý, tính hiệu quả trong quản lý Thực hiện theo đúng quy hoạch, kế hoạch hay không Nếu không hợp lý, hiệu quả không đúng quy hoạch, kế hoạch thì xác định phương hướng khắc phục để giải quyết các bất
hợp lý trong sử dụng đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Nhà nước giao quyền sử dụng đất là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất Chuyển mục đích sử dụng đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính cho phép chuyển mục đích sử dụng với những diện tích cụ thể từ mục đích này sang mục đích khác (Quốc hội, 2013) Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch
và kế hoạch chung thống nhất Nhà nước sở hữu toàn bộ quỹ đất đai, nhưng lại không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng Trong quá trình phát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành, các cơ quan, tổ chức cũng khác nhau Nhà nước với vai trò chủ quản
lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Để thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào
kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục
Trang 28đích sử dụng đất trong các trường hợp: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân Trường hợp cho hộ gia đình,
cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông, lâm nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 ha trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định và giao đất đối với
cộng đồng dân cư (Quốc hội, 2013)
Thu hồi, trưng dụng, bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai Nhà nước thực hiện thu hồi, trưng dụng đất nông, lâm nghiệp trong các trường hợp: Phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, tình trạnh khẩn cấp, phòng chống thiên tai; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật về đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người Việc thu hồi, trung dụng đất cần phải đảm bảo đúng nguyên tắc,
căn cứ vào văn bản quyết định của các cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, 2013)
Khi nhà nước thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng để đảm bảo tính công bằng sẽ thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho cá nhân, đơn vị bị thu hồi đất Trong đó, bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất thu hồi cho người sử dụng đất Bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công
khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật
Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
a) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;
b) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông, lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông, lâm nghiệp mà không có đất nông, lâm nghiệp để
Trang 29bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm (Quốc hội, 2013)
Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCN quyền sử dụng đất Đăng ký đất đai là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền
sử dụng đất
Như vậy, đăng ký đất đai là cơ sở quan trọng nhất để hình thành nên hồ sơ địa chính là căn cứ để Nhà nước quản lý chặt chẽ toàn bộ quỹ đất trong phạm vi lãnh thổ của mình Từ đó đảm bảo quản lý và sử dụng đất một cách tiết kiệm, hợp lý mang lại hiệu quả cao
Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất để quản lý; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người có quyền
sử dụng đất và được cấp theo từng thửa đất Trường hợp người sử dụng đất đang
sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó (Quốc hội, 2013)
Thống kê, kiểm kê và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Thống kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính
về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần thống kê Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổ chức điều tra, tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê
Thống kê đất đai nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của đất đai, của việc sử dụng và quản lý đất đai; nghiên cứu biểu hiện bằng
số lượng của các mặt thuộc về bản chất và quy luật của hiện tượng Thống kê đất đai cần nêu lên được bằng con số về số lượng và quan hệ tỷ lệ số lượng của hiện tượng nghiên cứu Số liệu thống kê, kiểm kê sử đất đai được sử dụng vào các mục đích sau:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, làm căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, làm cơ sở để kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Làm tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
Trang 30an ninh của cả nước, của các ngành và các địa phương;
- Đề xuất việc điều chỉnh chính sách, pháp luật, quy hoạch về đất đai;
- Công bố trong niên giám thống kê quốc gia; phục vụ nhu cầu sử dụng dữ liệu đất đai trong nghiên cứu khoa học, đào tạo và các nhu cầu khác (Đỗ Thị Đức Hạnh, 2008)
Giám sát, thanh tra, kiểm tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo và xử
lý vi phạm trong sử dụng đất nông, lâm nghiệp
Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người sử dụng cụ thể thực hiện Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với yêu cầu
và lợi ích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối và sử dụng đất Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi phạm và bất cập trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập đó
Trong quản lý nhà nước, thanh tra đất đai là xem xét một cách khách quan việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, đảm bảo cho các quy định
đó được thực hiện và thực hiện đúng Trong khi đó kiểm tra là xem xét lại những kết quả đã thực hiện theo quy định của pháp luật
Nội dung thanh tra đất đai bao gồm:
- Thanh tra việc quản lý nhà nước về đất đai của UBND các cấp;
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của người sử dụng đất và của các tổ chức, cá nhân khác
Thanh tra đất đai có các nhiệm vụ sau đây:
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan nhà nước, người sử dụng đất trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về đất đai (Đỗ Thị Đức Hạnh, 2008)
2.1.3 Nội dung quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
2.1.3.1 Thực trạng triển khai các văn bản, lập quy hoạch sử dụng đất, quản lý quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp
Theo quy định tại Điều 22 Luật Đất đai năm 2013 được Quốc hội thông qua tại kỳ họp thứ 6 khóa XIII ngày 29/11/2013 thì quản lý Nhà nước về đất đai
Trang 31được quy định bởi 15 nội dung Tuy nhiên để phù hợp với nội dung quản lý đất nông, lâm nghiệp trên địa bàn cấp huyện có thể nhóm lại thành 7 nhóm
Quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đai là một nội dung quan trọng trong việc quản lý nhà nước về đất đai, nó đảm bảo cho sự lãnh đạo, chỉ đạo một cách thống nhất trong quản lý nhà nước về đất đai Thông qua quy hoạch, kế hoạch đã được phê duyệt, việc sử dụng các loại đất được bố trí, sắp xếp một cách hợp lý Nhà nước kiểm soát được mọi diễn biến về tình hình đất đai Từ đó, ngăn chặn được việc sử dụng đất sai mục đích, lãng phí Đồng thời, thông qua quy hoạch,
kế hoạch buộc các đối tượng sử dụng đất chỉ được phép sử dụng trong phạm vi ranh giới của mình
Nhà nước lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp đồng thời quản lý việc lập quy hoạch, kế hoạch và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất Việc lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất nông, lâm nghiệp phải đảm bảo các nguyên tắc sau:
- Phù hợp với chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế -
xã hội, quốc phòng, an ninh
- Được lập từ tổng thể đến chi tiết; quy hoạch sử dụng đất của cấp dưới phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất của cấp trên; kế hoạch sử dụng đất phải phù hợp với quy hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch sử dụng đất cấp quốc gia phải bảo đảm tính đặc thù, liên kết của các vùng kinh tế - xã hội; quy hoạch sử dụng đất cấp huyện phải thể hiện nội dung sử dụng đất của cấp xã
- Sử dụng đất tiết kiệm và có hiệu quả
- Khai thác hợp lý tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường; thích ứng với biến đổi khí hậu
- Bảo vệ, tôn tạo di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh
- Dân chủ và công khai
- Bảo đảm ưu tiên quỹ đất cho mục đích quốc phòng, an ninh, phục vụ lợi ích quốc gia, công cộng, an ninh lương thực và bảo vệ môi trường
- Quy hoạch, kế hoạch của ngành, lĩnh vực, địa phương có sử dụng đất phải bảo đảm phù hợp với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được cơ quan nhà
nước có thẩm quyền quyết định, phê duyệt (Quốc hội, 2013)
Trang 322.1.3.2 Tình hình tổ chức thực hiện quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
- Khảo sát, đo đạc, lập bản đồ địa chính
Bản đồ địa chính là bản đồ thể hiện các thửa đất và các yếu tố địa lý có liên quan, lập theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn, được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận Việc đo đạc, lập bản đồ địa chính được thực hiện chi tiết đến
từng thửa đất theo đơn vị hành chính xã, phường, thị trấn (Quốc hội, 2013)
Thông qua các hoạt động: Lập, chỉnh lý bản đồ địa chính; điều tra, đánh giá đất đai; thống kê, kiểm kê, lập bản đồ hiện trạng thì nhà nước nắm chắc tình hình đất đai, tức là Nhà nước biết rõ các thông tin chính xác về số lượng đất đai,
về chất lượng đất đai, về tình hình hiện trạng của việc quản lý và sử dụng đất đai
Cụ thể:
- Về số lượng đất nông, lâm nghiệp: Nhà nước nắm về diện tích đất nông, lâm nghiệp trong toàn quốc gia, trong từng vùng kinh tế, trong từng đơn vị hành chính các địa phương; nắm về diện tích của từng chủ sử dụng và sự phân bố trên
bề mặt lãnh thổ
- Về chất lượng đất nông, lâm nghiệp: Nhà nước nắm về đặc điểm lý tính, hoá tính của từng loại đất, độ phì của đất, kết cấu đất, hệ số sử dụng đất v.v , đặc biệt là đối với đất nông, lâm nghiệp
- Về hiện trạng sử dụng đất nông, lâm nghiệp: Nhà nước nắm về thực tế quản lý và sử dụng đất: tính hợp lý, tính hiệu quả trong quản lý Thực hiện theo đúng quy hoạch, kế hoạch hay không Nếu không hợp lý, hiệu quả không đúng quy hoạch, kế hoạch thì xác định phương hướng khắc phục để giải quyết các bất
hợp lý trong sử dụng đất đai (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
- Giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
Nhà nước giao quyền sử dụng đất là việc Nhà nước ban hành quyết định giao đất để trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất Nhà nước cho thuê quyền sử dụng đất là việc Nhà nước quyết định trao quyền sử dụng đất cho đối tượng có nhu cầu sử dụng đất thông qua hợp đồng cho thuê quyền sử dụng đất Chuyển mục đích sử dụng đất là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền ra quyết định hành chính cho phép chuyển mục đích sử dụng với
những diện tích cụ thể từ mục đích này sang mục đích khác (Quốc hội, 2013)
Nhà nước thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai theo quy hoạch
và kế hoạch chung thống nhất Nhà nước sở hữu toàn bộ quỹ đất đai, nhưng lại
Trang 33không trực tiếp sử dụng mà giao cho các tổ chức, cá nhân sử dụng Trong quá trình phát triển của đất nước, ở từng giai đoạn cụ thể, nhu cầu sử dụng đất đai của các ngành, các cơ quan, tổ chức cũng khác nhau Nhà nước với vai trò chủ quản
lý đất đai thực hiện phân phối đất đai cho các chủ sử dụng; theo quá trình phát triển của xã hội, Nhà nước còn thực hiện phân phối lại quỹ đất đai cho phù hợp với từng giai đoạn lịch sử cụ thể Để thực hiện việc phân phối và phân phối lại đất đai, Nhà nước đã thực hiện việc chuyển giao quyền sử dụng đất giữa các chủ thể khác nhau, thực hiện việc điều chỉnh giữa các loại đất, giữa các vùng kinh tế (Nguyễn Khắc Thái Sơn, 2007)
Việc giao đất, cho thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất phải căn cứ vào
kế hoạch sử dụng đất hàng năm của cấp huyện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt và nhu cầu sử dụng đất thể hiện trong dự án đầu tư, đơn xin giao đất, thuê đất, chuyển mục đích sử dụng đất
UBND cấp huyện quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trong các trường hợp: Giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất đối với hộ gia đình, cá nhân Trường hợp cho hộ gia đình,
cá nhân thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất nông, lâm nghiệp để sử dụng vào mục đích thương mại, dịch vụ với diện tích từ 0,5 ha trở lên thì phải có văn bản chấp thuận của UBND cấp tỉnh trước khi quyết định và giao đất đối với
cộng đồng dân cư (Quốc hội, 2013)
- Thu hồi, trưng dụng, bồi thường, hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất
Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước quyết định thu lại quyền sử dụng đất của người được Nhà nước trao quyền sử dụng đất hoặc thu lại đất của người
sử dụng đất vi phạm pháp luật về đất đai Nhà nước thực hiện thu hồi, trưng dụng đất nông, lâm nghiệp trong các trường hợp: Phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, tình trạnh khẩn cấp, phòng chống thiên tai; phục vụ phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng; do vi phạm pháp luật về đất đai; do chấm dứt việc sử dụng đất theo pháp luật, tự nguyện trả lại đất, có nguy cơ đe dọa tính mạng con người Việc thu hồi, trung dụng đất cần phải đảm bảo đúng nguyên tắc, căn cứ vào văn bản quyết định của các cơ quan có thẩm quyền (Quốc hội, 2013) Khi nhà nước thu hồi đất để phục vụ mục đích quốc phòng, an ninh, phục
vụ phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng để đảm bảo tính công bằng sẽ thực hiện bồi thường, hỗ trợ cho cá nhân, đơn vị bị thu hồi đất Trong đó, bồi thường về đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện
Trang 34tích đất thu hồi cho người sử dụng đất Bồi thường được thực hiện bằng việc giao đất có cùng mục đích sử dụng với loại đất thu hồi, nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường bằng tiền theo giá đất cụ thể của loại đất thu hồi do UBND cấp tỉnh quyết định tại thời điểm quyết định thu hồi đất Việc bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất phải bảo đảm dân chủ, khách quan, công bằng, công
khai, kịp thời và đúng quy định của pháp luật
Việc hỗ trợ phải bảo đảm khách quan, công bằng, kịp thời, công khai và đúng quy định của pháp luật Các khoản hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất bao gồm:
c) Hỗ trợ ổn định đời sống và sản xuất;
d) Hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề và tìm kiếm việc làm đối với trường hợp thu hồi đất nông, lâm nghiệp của hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông, lâm nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông, lâm nghiệp mà không có đất nông, lâm nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ đào tạo, chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm (Quốc hội, 2013)
- Đăng ký đất đai, lập và quản lý hồ sơ địa chính, cấp GCN quyền sử dụng đất
Đăng ký đất đai là việc kê khai và ghi nhận tình trạng pháp lý về quyền sử dụng đất và quyền quản lý đất đối với một thửa đất vào hồ sơ địa chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là chứng thư pháp lý để Nhà nước xác nhận quyền
Đăng ký đất đai là bắt buộc đối với người sử dụng đất và người được giao đất
để quản lý; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp cho người có quyền sử dụng đất và được cấp theo từng thửa đất Trường hợp người sử dụng đất đang sử dụng nhiều thửa đất nông nghiệp tại cùng một xã, phường, thị trấn mà có yêu cầu thì được cấp một Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất chung cho các thửa đất đó (Quốc hội, 2013)
- Thống kê, kiểm kê và lập bản đồ hiện trạng sử dụng đất
Thống kê đất đai là việc Nhà nước tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính
về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm thống kê và tình hình biến động đất đai
Trang 35giữa hai lần thống kê Kiểm kê đất đai là việc Nhà nước tổ chức điều tra, tổng hợp, đánh giá trên hồ sơ địa chính và trên thực địa về hiện trạng sử dụng đất tại thời điểm kiểm kê và tình hình biến động đất đai giữa hai lần kiểm kê
Thống kê đất đai nghiên cứu mặt lượng trong sự liên hệ mật thiết với mặt chất của đất đai, của việc sử dụng và quản lý đất đai; nghiên cứu biểu hiện bằng
số lượng của các mặt thuộc về bản chất và quy luật của hiện tượng Thống kê đất đai cần nêu lên được bằng con số về số lượng và quan hệ tỷ lệ số lượng của hiện tượng nghiên cứu Số liệu thống kê, kiểm kê sử đất đai được sử dụng vào các mục đích sau:
- Đánh giá hiện trạng sử dụng đất, làm căn cứ để lập quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất, làm cơ sở để kiểm tra việc thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất;
- Làm tài liệu điều tra cơ bản về tài nguyên đất phục vụ cho việc xây dựng chiến lược, quy hoạch tổng thể, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng,
an ninh của cả nước, của các ngành và các địa phương;
- Đề xuất việc điều chỉnh chính sách, pháp luật, quy hoạch về đất đai;
- Công bố trong niên giám thống kê quốc gia; phục vụ nhu cầu sử dụng dữ liệu đất đai trong nghiên cứu khoa học, đào tạo và các nhu cầu khác (Đỗ Thị Đức Hạnh, 2008)
2.1.3.3 Giám sát, thanh tra, kiểm tra giải quyết tranh chấp, khiếu nại tố cáo
và xử lý vi phạm trong sử dụng đất nông, lâm nghiệp
Nhà nước thường xuyên thanh tra, kiểm tra chế độ quản lý và sử dụng đất đai Hoạt động phân phối và sử dụng đất do các cơ quan nhà nước và do người sử dụng cụ thể thực hiện Để việc phân phối và sử dụng được phù hợp với yêu cầu
và lợi ích của Nhà nước, Nhà nước tiến hành kiểm tra giám sát quá trình phân phối và sử dụng đất Trong khi kiểm tra, giám sát, nếu phát hiện các vi phạm và bất cập trong phân phối và sử dụng, Nhà nước sẽ xử lý và giải quyết các vi phạm, bất cập đó
Trong quản lý nhà nước, thanh tra đất đai là xem xét một cách khách quan việc chấp hành các quy định của pháp luật về đất đai, đảm bảo cho các quy định
đó được thực hiện và thực hiện đúng Trong khi đó kiểm tra là xem xét lại những kết quả đã thực hiện theo quy định của pháp luật
Nội dung thanh tra đất đai bao gồm:
Trang 36- Thanh tra việc quản lý nhà nước về đất đai của UBND các cấp;
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật về đất đai của người sử dụng đất và của các tổ chức, cá nhân khác
Thanh tra đất đai có các nhiệm vụ sau đây:
- Thanh tra việc chấp hành pháp luật của cơ quan nhà nước, người sử dụng đất trong việc quản lý và sử dụng đất đai;
- Phát hiện, ngăn chặn và xử lý theo thẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan
nhà nước có thẩm quyền xử lý các vi phạm về đất đai (Đỗ Thị Đức Hạnh, 2008)
2.1.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý Nhà nước về đất nông, lâm nghiệp
Đất nông, lâm nghiệp là một phần quỹ đất của phạm vi lãnh thổ quốc gia
Vì vậy, quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố tác động đến việc sử dụng đất và quản lý đất đai nói chung và một số nhân tố riêng Việc sử dụng đất nông, lâm nghiệp và quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp bị chi phối bởi điều kiện tự nhiên và quy luật sinh thái tự nhiên, quy luật kinh tế- xã hội, yếu tố khoa học công nghệ và tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về đất đai (Bùi Tuấn Anh và cs., 2013)
2.1.4.1 Năng lực, trình độ của cán bộ quản lý nhà nước
Chính quyền cấp huyện, cấp xã có vị trí hết sức quan trọng trong hệ thống chính trị - hành chính Là cầu nối trực tiếp của hệ thống chính quyền nhà nước với nhân dân, thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh trật tự, an toàn xã hội ở địa phương theo thẩm quyền được phân cấp, đảm bảo cho các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước, được triển khai thực hiện trong cuộc sống
Trong khi thi hành công vụ, cán bộ, công chức có nghĩa vụ thực hiện đúng, đầy đủ và chịu trách nhiệm về kết quả thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao;
có ý thức kỷ luật; nghiêm chỉnh chấp hành nội quy, quy chế của cơ quan, tổ chức, đơn vị; báo cáo người có thẩm quyền khi phát hiện hành vi vi phạm pháp luật trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ bí mật nhà nước; chủ động và phối hợp chặt chẽ trong thi hành công vụ; giữ gìn đoàn kết trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; bảo vệ, quản lý và sử dụng hiệu quả, tiết kiệm tài sản nhà nước được giao; chấp hành quyết định của cấp trên Đối với cán bộ, công chức là người đứng đầu thì còn phải thực hiện các nghĩa vụ như: chỉ đạo tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao và chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm
Trang 37tra, đôn đốc, hướng dẫn việc thi hành công vụ của cán bộ, công chức; tổ chức thực hiện các biện pháp phòng, chống tham nhũng, quan liêu, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và chịu trách nhiệm về để xảy ra quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; tổ chức thực hiện các quy định pháp luật
về dân chủ cơ sở, văn hoá công sở trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; xử lý kịp thời, nghiêm minh cán bộ, công chức thuộc quyền quản lý có hành vi vi phạm kỷ luật, pháp luật, có thái độ quan liêu, hách dịch, cửa quyền, gây phiền hà cho công dân (Quốc hội, 2008)
Với việc ban hành Luật cán bộ, công chức, chế định công chức và đạo đức công vụ đã có bước phát triển và hoàn thiện mới, góp phần xác lập các chuẩn mực đạo đức - pháp lý cho cán bộ, công chức Việt Nam trong tiến trình xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức trong sạch, vững mạnh Đảng và Nhà nước ta đã xác định công tác cán bộ là khâu quan trọng nhất, có ý nghĩa quyết định tới chất lượng và hiệu quả công việc, là khâu then chốt trong sự nghiệp cách mạng, là một trong những yếu tố quan trọng góp phần vào những thành công trong sự nghiệp đổi mới đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Lúc sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng khẳng định: “Cán bộ là những người đem chính sách của Đảng, của Chính phủ, giải thích cho dân chúng hiểu và thi hành Đồng thời đem tình hình của dân chúng báo cáo cho Đảng, cho Chính phủ hiểu rõ, để đặt chính sách cho đúng”
Để giải quyết vấn đề quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp thì các cấp chính quyền địa phương đóng vai trò chủ lực và rất quan trọng Người cán bộ có trình độ và năng lực sẽ có những quyết định đúng đắn, đề ra các phương án có tầm chiến lược và phù hợp với địa phương tránh gây thất thoát, lãng phí nguồn lực vô cùng quan trọng trong sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương đó chính là nguồn đất nông, lâm nghiệp (Bùi Tuấn Anh và cs., 2013)
Trang 38trung ương đến địa phương, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý sử dụng đất nông, lâm nghiệp như: Chính sách đất đai, chính sách khuyến nông, chính sách
hỗ trợ cho nông dân, đề án dạy nghề cho lao động nông thôn,…
Có thể chỉ ra rằng, sự chỉ đạo, định hướng của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với chiến lược phát triển của các địa phương trong đó có chỉ đạo, định hướng cụ thể về lĩnh vực quản lý và sử dụng đất nông, lâm nghiệp
là yếu tố quyết định đến toàn bộ chiến lược cũng như các kế hoạch trong quản lý
và sử dụng đất nông, lâm nghiệp Việc chỉ đạo nhất quán, kịp thời của các cơ
quan cấp trên sẽ là kim chỉ nam, đồng thời khuyến khích, hỗ trợ địa phương trong việc quy hoạch lại một cách chi tiết, khoa học các hoạt động quản lý cũng như sử dụng đất đai Ngược lại, nếu các chủ trương không nhất quán, đồng bộ và kịp thời sẽ gây khó khăn không nhỏ cho công tác quản lý quỹ đất được giao của huyện Thực tế trong những năm qua, một số chính sách liên quan đến quản lý và
sử dụng đất còn chưa hợp lý đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quản lý sử dụng đất tại địa phương
Tóm lại, cơ chế chính sách của nhà nước và chính quyền tại địa phương có tác động mạnh mẽ đến công tác quản lý nhà nước về đất nông, lâm nghiệp Vì vậy, với mục tiêu quản lý sử dụng đất hiệu quả thì nhà nước cần có một cơ chế,
chính sách nhất quán, hợp lý hơn nữa (Bùi Tuấn Anh và cs., 2013)
2.1.4.3 Công tác tổ chức thực hiện của cơ quan quản lý nhà nước
Quá trình tổ chức thực hiện bao gồm: nhận định, đưa ra chính sách để các địa phương thực hiện quy hoạch Việc tổ chức thực hiện phải đảm bảo nguyên tắc: Phối hợp hành động giữa các thành viên khác nhau trong từng bộ phận nói riêng và toàn thể bộ máy nói chung; động viên, khích lệ và khen thưởng kịp thời những nhân tố mới, uốn nắn kịp thời những biểu hiện lệch lạc, tiêu cực cản trở công việc chung; tạo dựng bầu không khí tâm lý lành mạnh, cởi mở, phấn khởi, tin tưởng lẫn nhau trong tập thể; phát hiện và đề xuất kịp thời những biện pháp khắc phục những tình huống phức tạp xuất hiện trong quá trình triển khai thực hiện; chỉnh sửa kịp thời những bất hợp lý trong huy động và sử dụng các nguồn lực phục vụ quá trình tổ chức thực hiện; xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá phù hợp với yêu cầu khách quan của quá trình triển quản lý nhà nước
về đất nông nghiệp
Việc tổ chức dựa trên quan điểm quản lý nhà nước về đất nông nghiệp là
Trang 39phải quan tâm đến lợi ích của người nông dân, dựa trên cơ sở kinh tế nông hộ nông trại là con đường cơ bản và lâu dài nhằm khuyến khích các nông hộ khai thác và sử dụng tối đa tiềm năng đất nông, lâm nghiệp, lao động và vốn của chính họ Quản lý và sử dụng đất nông, lâm nghiệp phải đạt được hiệu quả kinh
tế, xã hội, môi trường, sử dụng tối đa diện tích đất hiện có
Quản lý nhà nước gắn liền với chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông, lâm nghiệp, nông thôn theo hướng tập trung đầu tư vào thâm canh, tăng cường áp dụng khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất đảm bảo an toàn và an ninh lương thực Do đó, các chính sách đưa ra yêu cầu có tính chính xác cao, hợp lý để không phải sửa đổi tránh lãng phí Công tác tổ chức thực hiện cần có sự tương tác thường xuyên giữa các cấp để có những điều chỉnh hợp lý trong chính sách (Đặng Hùng Võ, 2012)
2.1.4.4 Nhóm yếu tố tự nhiên và kỹ thuật
Nhóm yếu tố này bao gồm: Điều kiện tự nhiên, tính chất đất, loại và giống cây trồng, cơ cấu mùa vụ, quy mô diện tích canh tác
Tính chất đất bao gồm: thành phần cơ giới của đất; độ chua, độ kiềm của đất; khả năng giữ nước và chất dinh dưỡng của đất, độ phì nhiêu của đất Những yếu tố này chi phối trực tiếp đến quá trình canh tác như khả năng làm đất cày, bừa, xới xáo, làm đất ngoài ra các tính chất trên còn đặc biệt có liên quan và ảnh hưởng đến một số đặc tính lý học khác của đất như chế độ nước, chế độ không khí và khả năng sinh trưởng cũng như phát triển của cây trồng, do đó trong nghiên cứu đất cần xác định và tìm hiểu rõ về chúng để đạt được hiệu quả trong sử dụng đất nông, lâm nghiệp một cách hiệu quả nhất
Với tính chất đất này thì sử dụng loại và giống cây trồng gì, cơ cấu mùa vụ như thế nào, quy mô diện tích canh tác như thế nào là câu hỏi đặt ra cần có sự quan tâm của các cấp các ngành từ trung ương đến địa phương Cần có những nghiên cứu mang tính quy mô để tổng hòa tất cả các yếu tố trong nhóm yếu tố tự nhiên và kỹ thuật để có được một hệ thống, chế độ, loại hình sử dụng đất một cách hợp lý (Bùi Tuấn Anh và cs., 2013)
2.1.4.5 Nhóm yếu tố kinh tế - xã hội
Điều kiện kinh tế - xã hội bao gồm các yếu tố như chế độ xã hội, dân số và lao động, thông tin và quản lý, trình độ hiểu biết của người dân, các điều kiện về công nghiệp, nông nghiệp, thương nghiệp, giao thông vận tải, sự phát triển của khoa
Trang 40học kỹ thuật, trình độ quản lý, sử dụng lao động, điều kiện và trang thiết bị vật chất cho công tác phát triển nguồn nhân lực, đưa khoa học kỹ thuật vào sản xuất
Điều kiện kinh tế - xã hội thường có ý nghĩa quyết định, chủ đạo đối với việc sử dụng đất đai Phương hướng sử dụng đất được quyết định bởi yêu cầu của
xã hội và mục tiêu kinh tế trong từng thời kỳ nhất định Điều kiện tự nhiên của đất đai cho phép xác định khả năng thích ứng về phương thức sử dụng đất Còn
sử dụng đất như thế nào được quyết định bởi sự năng động của con người và các điều kiện kinh tế - xã hội, kỹ thuật hiện có; quyết định bởi tính hợp lý, tính khả thi về kinh tế kỹ thuật và mức độ đáp ứng của chúng; quyết định bởi nhu cầu của thị trường
Có thể nhận thấy, điều kiện tự nhiên của đất đai chỉ là một tồn tại khách quan, khai thác và sử dụng đất đai quyết định vẫn là do con người Dù điều kiện
tự nhiên có nhiều lợi thế, nhưng các điều kiện xã hội, kinh tế, kỹ thuật không tương ứng, thế ưu thế tài nguyên khó có thể trở thành sức sản xuất hiện thực, cũng như chuyển hoá thành ưu thế kinh tế Ngược lại, khi điều kiện kinh tế kỹ thuật được ứng dụng vào khai thác và sử dụng đất, sẽ phát huy mạnh mà tiềm lực sản xuất của đất, góp phần cải tạo môi trường tự nhiên, biến điều kiện tự nhiên từ bất lợi thành có lợi cho phát triển kinh tế - xã hội
Trình độ phát triển xã hội và kinh tế khác nhau dẫn đến trình độ sử dụng đất khác nhau Nền kinh tế và các ngành càng phát triển, yêu cầu về đất đai càng lớn, lực lượng vật chất dành cho việc sử dụng đất càng được tăng cường, năng lực sử dụng đất của con người sẽ được nâng cao
Ảnh hưởng của điều kiện kinh tế đến việc sử dụng đất được đánh giá bằng hiệu quả sử dụng đất Thực trạng sử dụng đất liên quan đến lợi ích kinh tế của người sở hữu, sử dụng và kinh doanh đất đai Trong điều kiện nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đất được dùng cho xây dựng cơ sở hạ tầng đều dựa trên nguyên tắc hạch toán kinh tế, thông qua việc tính toán hiệu quả kinh doanh sản xuất Tuy nhiên, nếu có chính sách ưu đãi sẽ tạo điều kiện cải thiện và hạn chế việc sử dụng theo kiểu bóc lột đất đai Mặt khác, sự quan tâm quá mức đến lợi nhuận tối đa cũng dẫn đến tình trạng đất đai bị sử dụng không hợp lý, thậm chí huỷ hoại đất đai
Từ những vấn đề nêu trên cho thấy, các yếu tố điều kiện tự nhiên và điều kiện kinh tế xã hội tạo ra nhiều tổ hợp ảnh hưởng đến việc sử dụng đất đai Tuy nhiên mỗi yếu tố giữ vị trí và có tác động khác nhau Trong đó, điều kiện tự nhiên