1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng

208 490 8

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - Nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng
Tác giả Đỗ Minh Thụy
Người hướng dẫn PGS. TS. Nguyễn Đình Tài
Trường học Viện Nghiên Cứu Quản Lý Kinh Tế Trung Ương
Chuyên ngành Quản lý kinh tế
Thể loại Luận án tiến sĩ
Năm xuất bản 2012
Thành phố Hà Nội
Định dạng
Số trang 208
Dung lượng 1,9 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Do đó, việc lựa chọn đề tài “Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng” nhằm nghiên cứu năng lực và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT ngàn

Trang 2

ĐỖ MINH THỤY

CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH GIÀY DÉP - NGHIÊN CỨU

ĐỐI VỚI NGÀNH GIÀY DÉP Ở HẢI PHÒNG

Chuyên ngành: Quản lý kinh tế

Mã số: 62 34 04 10

LUẬN ÁN TIẾN SĨ KINH TẾ

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS TS NGUYỄN ĐÌNH TÀI

HÀ NỘI - NĂM 2012

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Qua quá trình học tập và nghiên cứu, được sự tận tình giúp đỡ của các thầy cô giáo, các nhà khoa học, các nhà quản lý, tôi đã hoàn thành chương trình

học tập và nghiên cứu luận án với đề tài “Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép -

nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng”

Tôi xin chân thành cảm ơn Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Trung tâm tư vấn quản lý và đào tạo đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu

Tôi xin chân thành cảm ơn PGS.TS Nguyễn Đình Tài đã tạo mọi điều kiện và tận tình giúp đỡ tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo trong Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương đã góp ý cho tôi hoàn thiện đề tài

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị Phòng Tổng hợp- Cục Thống kê Hải Phòng đã cung cấp tài liệu thống kê, hướng dẫn tôi cách xử lý thông tin

Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị đang công tác tại một số doanh nghiệp nơi tôi đến điều tra, khảo sát đã cung cấp nhiều thông tin quý báu và đóng góp ý kiến cho tôi trong quá trình nghiên cứu đề tài

Nghiên cứu sinh

Đỗ Minh Thụy

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của riêng tôi Các số liệu sử dụng phân tích trong luận án có nguồn gốc rõ ràng, đã công bố theo đúng quy định Các kết quả nghiên cứu trong luận án do tôi tự tìm hiểu, phân tích một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn của Việt Nam Các kết quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác

Nghiên cứu sinh

Đỗ Minh Thụy

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

LỜI CAM ĐOAN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi

DANH MỤC CÁC BẢNG/BIỂU vii

DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ x

LỜI MỞ ĐẦU 1

Chương 1: Cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 12

1.1 Khái quát về công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 12

1.1.1 Khái niệm về công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 12

1.1.2 Vai trò của công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 18

1.1.3 Các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho ngành giày dép 20

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 21

1.2.1 Số lượng doanh nghiệp 21

1.2.2 Quy mô doanh nghiệp 21

1.2.3 Trình độ công nghệ của doanh nghiệp 22

1.2.4 Quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng và nhà cung cấp 22

1.2.5 Tương quan giữa các nguồn cung cấp 23

1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 24

1.3.1 Các đóng góp của yếu tố đầu vào sản xuất 25

1.3.2 Các điều kiện về mức cầu 27

1.3.3 Các ngành liên hệ và hỗ trợ 28

1.3.4 Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh của DN 30

1.3.5 Thời cơ 32

1.3.6 Chính phủ 35

1.4 Các mô hình phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 36

1.4.1 Phát triển CNHT ngành giày dép theo hướng tự phát 36

1.4.2 Phát triển CNHT ngành giày dép theo chiến lược phát triển cầu- cung 37

Trang 6

1.4.3 Phát triển CNHT ngành giày dép theo chiến lược phát triển cung- cầu 37

1.4.4 Phát triển CNHT ngành giày dép theo chiến lược phát triển dựa trên mạng lưới mạng lưới sản xuất toàn cầu 38

1.5 Kinh nghiệm của một số nước trong phát triển công nghiệp hỗ trợ và phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép 41

1.5.1 Kinh nghiệm của Malaysia và Thái Lan về phát triển CNHT 41

1.5.2 Kinh nghiệm của Trung Quốc về phát triển CNHT ngành giày dép 46

1.5.3 Kết luận tham khảo đối với phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam 47

Chương 2: Thực trạng công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng 51

2.1 Tổng quan về thực trạng công nghiệp hỗ trợ tại Việt Nam 51

2.1.1 Thực trạng CNHT tại Việt Nam 51

2.1.2 Đánh giá thực trạng CNHT tại Việt Nam 53

2.2 Thực trạng công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng 55

2.2.1 Thực trạng năng lực phát triển CNHT ngành giày dép 56 2.2.2 Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT ngành giày dép 66 2.2.3 Thực trạng và nhu cầu phát triển CNHT tại các DN giày dép ở Hải Phòng 88

2.3 Đánh giá thực trạng phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam 112

2.3.1 Những kết quả đạt được 112

2.3.2 Những tồn tại và nguyên nhân 114

Chương 3: Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép ở Việt Nam 120 3.1 Quan điểm và phương hướng phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép ở Việt Nam 120

3.1.1 Phân tích SWOT đối với CNHT ngành giày dép ở Việt Nam 120

3.1.2 Quan điểm phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam 128

3.1.3 Phương hướng phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam 130

3.2 Giải pháp phát triển công nghiệp hỗ trợ cho ngành giày dép ở Việt Nam 132

3.2.1 Giải pháp từ phía Nhà nước 133

3.2.2 Giải pháp từ phía doanh nghiệp 142

Trang 7

3.2.2 Giải pháp về phát triển cụm công nghiệp, khu công nghiệp gắn với phát triển

công nghiệp hỗ trợ tạo mạng liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị 154

3.2.4 Các giải pháp khác 156

KẾT LUẬN 158

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ 162

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 163

PHỤ LỤC 171

Trang 8

2 Viết tắt tiếng Anh

Đông Nam Á ASEAN Association of Southeast Asian

Nations

Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á

FDI Foreign Direct Investment Đầu tư trực tiếp nước ngoài

Gia Vào Hệ Thống Phân Phối

JETRO The Japan External Trade

Cơ quan hợp tác quốc tế Nhật Bản

R&D research & development Nghiên cứu và phát triển

SWOT Strengths, Weaknesses, Opport

unities, Threats Ma trận kết hợp phân tích chiến lược bên trong, bên ngoài UNIDO The United Nations Industrial

Development Organization

Tổ chức phát triển công nghiệp của Liên hợp quốc

Commerce and Industry Phòng thương mại và công nghiệp Việt Nam

Trang 9

DANH MỤC CÁC BẢNG/BIỂU

Số

TT

Số

1 Bảng 2.1 Số lượng DN trong các ngành công nghiệp theo

2 Bảng 2.2 Số lượng DN CNHT ngành giày dép theo loại

3 Bảng 2.3 Số lao động trong các DN CNHT ngành giày dép 58

4 Bảng 2.4 Số lao động trung bình trong các DN CNHT 59

6 Bảng 2.6 Nguồn gốc máy móc, thiết bị 60

7 Bảng 2.7 Trình độ máy móc, thiết bị 61

9 Bảng 2.9 Đánh giá những khó khăn trong việc đầu tư

10 Bảng 2.10 Số lượng và doanh thu khách hàng của DN

CNHT ngành giày dép chia theo thời gian 62

11 Bảng 2.11 Số lượng và doanh thu từ khách hàng của DN

CNHT ngành giày dép theo loại hình sở hữu 63

12 Bảng 2.12 Các phương thức hợp đồng của DN với khách

65

Trang 10

15 Bảng 2.15 Số lượng và chi phí trả cho nhà cung ứng của

các DN CNHT theo loại hình sở hữu 66

16 Bảng 2.16 Giá trị sản xuất và tốc độ tăng trưởng của ngành

22 Bảng 2.22 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với da

tổng hợp, nhân tạo các loại (năm 2010) 92

23 Bảng 2.23 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với sản

phẩm vải làm giày dép các loại (năm 2010) 97

24 Bảng 2.24 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với sản

phẩm đế, gót giày dép các loại (năm 2010) 98

25 Bảng 2.25 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với phụ

liệu kim loại làm giày dép (năm 2010) 99

26 Bảng 2.26 Bảng 2.26: Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép

đối với phụ liệu dệt, vải các loại (năm 2010) 100

27 Bảng 2.27 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với vật

liệu giấy và bao bì (năm 2010) 100

Trang 11

28 Bảng 2.28

Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với keo dán, dung môi, hoá chất trau chuốt các loại (năm 2010)

101

29 Bảng 2.29 Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với

phom giày các loại (năm 2010) 102

30 Bảng 2.30 Thực trạng máy móc, thiết bị của ngành giày

31 Bảng 2.31

Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép đối với dụng cụ cơ khí, phụ tùng và thiết bị máy móc (năm 2010)

104

32 Bảng 2.32 Tổng hợp tỷ lệ nội địa hóa các sản phẩm CNHT

cho ngành giày dép của Hải Phòng (năm 2010) 105

33 Bảng 2.33 Những khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn sản

37 Bảng 2.37 Tỷ lệ nội địa hóa dự kiến 3 năm tới 110

38 Bảng 2.38 Giải pháp gia tăng năng lực của các DN hỗ trợ 111

39 Bảng 2.39 Các thông tin cung cấp cho hệ thống CSDL

40 Bảng 3.1 Bảng phân tích SWOT đối với CNHT ngành

41 Biểu đồ 2.1 Số lượng DN công nghiệp giày dép Hải Phòng

Trang 12

1 Hình 1.1 Khái niệm CNHT của Nhật Bản 12

2 Hình 1.2 Khái niệm CNHT của Việt Nam 13

4 Hình 1.4 Chuỗi giá trị ngành giày dép 15

5 Hình 1.5 Sơ đồ quá trình sản xuất giày dép 17

6 Hình 1.6 Mô hình viên kim cương của Porter (Porter

7 Hình 1.7 Mạng lưới ”Người chơi” của Lý thuyết trò chơi 38

8 Hình 1.8 Mạng lưới ”người chơi” trong CNHT 39

9 Hình 1.9 Mạng lưới ”người chơi” mở rộng trong CNHT ở

10 Hình 3.1 Quan điểm và định hướng phát triển CNHT

11 Hình 3.2 Quy trình lựa chọn nhà cung cấp của DN FDI 154

Trang 13

LỜI MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài luận án

Thuật ngữ “Công nghiệp hỗ trợ” hay “Công nghiệp phụ trợ” (Supporting Industry), nhằm chỉ các ngành công nghiệp cung ứng các yếu tố đầu vào cho các ngành công nghiệp chế biến, lắp ráp, đã xuất hiện và được sử dụng rộng rãi ở Việt Nam từ năm 2003 Từ đó đến nay, cụm từ này đã được Nhà nước, các tổ chức và DN quan tâm, bởi lẽ, tỷ lệ nội địa hóa trong các ngành công nghiệp ở nước ta, nhìn chung, còn thấp Chính vì vậy, nhiều năm gần đây, Nhà nước cùng các tổ chức và DN đã có nhiều nỗ lực cho sự phát triển CNHT, tuy nhiên, kết quả vẫn còn nhiều hạn chế Vì vậy, việc nghiên cứu, xác định nguyên nhân của hạn chế, để từ đó, đề xuất phương hướng và giải pháp đúng đắn nhằm phát triển CNHT là nhiệm vụ căn bản và quan trọng góp phần phát triển nền công nghiệp Việt Nam

Trong điều kiện đất nước đang phấn đấu cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại, thì ngành hàng giày dép vẫn được coi là một ngành kinh tế quan trọng đối với nền kinh tế quốc dân Bởi lẽ, ngoài vai trò là đảm bảo nhu cầu của thị trường trong nước và giải quyết việc làm cho một lượng khá lớn người lao động, thì ngành giày dép còn luôn được đánh giá là một trong ba ngành kinh tế có giá trị xuất khẩu cao nhất của nước ta (chỉ sau ngành dầu khí và dệt - may) Kim ngạch xuất khẩu của ngành luôn đạt tốc độ phát triển cao và tỷ lệ cao trong tổng kim ngạch xuất khẩu của quốc gia (luôn chiếm khoảng 10%) Hiện nay, Việt Nam đứng thứ 2 thế giới về xuất khẩu giày dép, chỉ sau Trung Quốc Tuy nhiên, ngành giày dép ở Việt Nam do quá phụ thuộc vào việc tiếp cận các yếu tố đầu vào sản xuất và chủ yếu là thực hiện gia công cho các đối tác nước ngoài, nên mặc dù giá trị sản lượng của ngành cao, nhưng giá trị gia tăng lại rất hạn chế Một trong những nguyên

Trang 14

nhân chính có thể kể đến là do CNHT cho ngành giày dép ở nước ta chưa phát triển

Nhiều năm gần đây, Nhà nước đã có nhiều nỗ lực nhằm khuyến khích thúc đẩy phát triển CNHT cho ngành giày dép, nhưng hiệu quả còn rất thấp Vậy, nguyên nhân thực sự là do đâu? Việt Nam có nên tiếp tục thúc đẩy phát triển CNHT ngành giày dép nhằm gia tăng giá trị cho ngành này hay không?

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay, khi mạng lưới sản xuất của mỗi quốc gia được coi là các mắt xích trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, thì việc lựa chọn thúc đẩy các ngành công nghiệp nhất thiết phải dựa trên cơ

sở phân tích các điều kiện lợi thế của quốc gia so với các nước trong mạng lưới sản xuất toàn cầu, đặc biệt là các nước lân cận Vậy, phải chăng Việt Nam không có triển vọng phát triển CNHT ngành giày dép?

Do đó, việc lựa chọn đề tài “Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng” nhằm nghiên cứu năng lực

và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT ngành giày dép, đồng thời, nghiên cứu sự tác động của CNHT ngành giày dép ở Việt Nam tới ngành giày dép, từ đó, xác định được điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, nguy cơ đối với CNHT ngành giày dép nhằm giải đáp các thắc mắc trên, và đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển CNHT ngành giày dép giúp nâng cao giá trị gia tăng của ngành giày dép trong thu nhập quốc dân là việc rất cấp thiết

2 Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

2.1 Tình hình nghiên cứu trên thế giới

Nghiên cứu lý thuyết và ứng dụng về các yếu tố cấu thành nên lợi thế cạnh tranh của các ngành công nghiệp, cũng như vai trò và mối liên hệ giữa các khâu, các công đoạn trong chuỗi giá trị sản xuất sản phẩm, thực tế, đã được các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu hàng đầu quan tâm từ lâu Trong

Trang 15

đó, từ năm 1990, M Porter đã nhắc đến khái niệm “các ngành hỗ trợ và liên quan” trong ”Lợi thế cạnh tranh của các quốc gia”, và đã được phân tích như

là một trong bốn yếu tố trong “Mô hình viên kim cương của Porter” quyết định đến lợi thế cạnh tranh của mỗi quốc gia

Trong cuốn “Đẩy mạnh công nghiệp hỗ trợ: các kinh nghiệm của châu Á” (Strengthening of supporting Industries: Asian Experiences) của Tổ chức Năng suất châu Á (Asian productivtity Orgnisation) (2002) đã đúc kết kinh nghiệm phát triển CNHT từ các nước châu Á qua các thời kỳ (như: Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan), trong đó, có tập trung vào một số chính sách chính được coi là tiên quyết cho phát triển CNHT, như: thu hút vốn đầu tư nước ngoài, quy định về tỷ lệ nội địa hoá và các hỗ trợ từ phía Chính phủ cho liên kết DN

Trong “TĐĐQG và các nỗ lực công nghệ của DN địa phương: trường hợp nghiên cứu ngành công nghiệp điện và điện tử Malaysia” (Multinational cooperation and technological effort by local firm: a case study of the Malaysian Electronics and Electrical Industry), của Noor, Halim, Clarke, Roger, Driffield và Nigel (2002), đã chỉ ra vai trò quan trọng của hỗ trợ từ phía Chính phủ đối với việc đổi mới và sáng tạo của các DN nội địa trong phát triển cung ứng cho ngành điện tử

Tình hình thuê ngoài và các nhà cung ứng cho các DN sản xuất của Nhật Bản đã được phân tích trong “Chi nhánh các nhà lắp ráp Nhật Bản ở Châu Á” (Japanese - Affiliated Manufatures in Asia), JETRO (2003), và “Báo cáo khảo sát các bộ phận ở nước ngoài của các công ty lắp ráp Nhật Bản” (Survey report on overseas business operations by Japanese manufacturing companies), Ngân hàng hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) (2004), đã cho biết,

có sự hình thành mạnh mẽ các “hệ thống thầu phụ” bởi các DN sản xuất linh

Trang 16

kiện có vốn đầu tư từ Nhật Bản cho các chi nhánh của các tập đoàn lắp ráp của Nhật Bản ở châu Á (đặc biệt là Thái Lan, Malaysia, Indonesia)

2.2 Tình hình nghiên cứu tại Việt Nam

Báo cáo nghiên cứu điều tra “Xây dựng và đẩy mạnh CNHT ở Việt Nam”, JETRO thực hiện tháng 3/2004, được coi là tài liệu đầu tiên đánh giá

về các ngành CNHT ở Việt Nam Nghiên cứu đã khẳng định CNHT ở Việt Nam đã bắt đầu hình thành Mặc dù nhận thức của các cơ quan chính phủ và

DN thời điểm đó còn rất thấp, các DN khu vực tư nhân và khối DN FDI đang vươn lên và khá chủ động trong việc nắm bắt các cơ hội

GS Nguyễn Kế Tuấn (2004), trong bài viết:“Phát triển công nghiệp phụ trợ trong chiến lược phát triển công nghiệp Việt Nam” trên tạp chí Kinh

tế và Phát triển, đã đề cập đến: khái niệm, vai trò, các nhân tố tác động đến phát triển CNHT, và đề xuất một số chính sách chủ yếu về phát triển CNHT

GS Trần Văn Thọ (2005), trong bài viết “Biến động kinh tế Đông Á và con đường công nghiệp hoá Việt Nam”, đã phân tích con đường phát triển công nghiệp ở Việt Nam theo hướng toàn cầu hoá, thông qua phát triển CNHT như là lĩnh vực của hệ thống DNNVV

PGS Phan Đăng Tuất, trong bài tham luận “Trở thành nhà cung cấp cho các DN Nhật Bản - Con đường nào cho Việt Nam” tại Hội thảo về CNHT (2005), và “Kế hoạch hành động về phát triển CNHT Việt Nam” tại Diễn đàn Liên kết hội nhập cùng phát triển (2008), và trong “CNHT, vấn đề trọng đại” tại Báo Công Thương (2009), đã khẳng định các vai trò quan trọng của CNHT đối với nền kinh tế, khuyến khích và hỗ trợ DNNVV ở Việt Nam hợp tác với Nhật Bản trong phát triển CNHT ở Việt Nam

Năm 2007, Chính phủ đã phê duyệt “Quy hoạch phát triển CNHT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn đến 2020”, do Bộ Công nghiệp (nay là Bộ

Trang 17

Công thương) soạn thảo Trong quy hoạch này, khái niệm CNHT lần đầu tiên được chính thức hoá ở Việt Nam, và các kế hoạch, giải pháp phát triển CNHT (như: tạo dựng môi trường đầu tư; phát triển khoa học công nghệ; phát triển

cơ sở hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực; liên kết DN) đã được đề xuất cho 5 ngành công nghiệp ưu tiên, đó là: Điện tử tin học, Dệt - May, Da - Giày, Sản xuất lắp ráp ô tô, Cơ khí chế tạo

GS Kenichi Ohno (2007), chủ biên cuốn “Xây dựng các ngành CNHT

ở Việt Nam”, đã trình bày các kết quả khảo sát về thực trạng các ngành CNHT tại Chương 1 “CNHT Việt Nam dưới góc nhìn của các nhà sản xuất Nhật Bản”; Nguyễn Thị Xuân Thuý đã tổng kết lịch sử ra đời của khái niệm CNHT và đề xuất khái niệm cho Việt Nam tại Chương 2 “CNHT, Tổng quan

về khái niệm và sự phát triển”; Toshiyuki Baba đã phân tích định lượng cấu trúc mua sắm CNHT trong ASEAN 4 và Hàn Quốc, Nhật Bản tại Chương 3;

và Junichi Mori đã đề xuất việc xây dựng cơ sở dữ liệu CNHT tại Chương 4

“Thiết kế cơ sở dữ liệu cho CNHT”

GS Hoàng Văn Châu (2010), chủ nhiệm đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước “Chính sách phát triển CNHT ở Việt Nam đến năm 2020”, đã khái quát hóa toàn cảnh CNHT của các ngành công nghiệp chủ yếu của Việt Nam và tình hình chính sách phát triển CNHT của Việt Nam, đề xuất giải pháp phát triển đến năm 2020

TS Trương Thị Chí Bình - Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công nghiệp (2010), trong luận án Tiến sỹ với đề tài “Phát triển CNHT trong ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam”, đã phân tích rõ nét tình hình CNHT của ngành điện tử nói chung và điện tử gia dụng nói riêng và đề xuất phương hướng, lộ trình và các giải pháp quan trọng trong phát triển CNHT cho ngành điện tử gia dụng ở Việt Nam

Trang 18

Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, cùng với Quỹ Phát triển Cụm DNNVV, tổ chức hai cuộc hội thảo (ở Đà Nẵng và Hà Nội), với chủ đề

“Phát triển cụm ngành công nghiệp, khu công nghiệp gắn với phát triển CNHT, tạo mạng liên kết sản xuất và hình thành chuỗi giá trị”, đã thu hút được nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước đến tham dự với mục đích tháo gỡ các vướng mắc và tìm ra giải pháp phát triển hệ thống cụm ngành công nghiệp, CNHT cho Việt Nam

Có thể nói, nghiên cứu về CNHT ở Việt Nam những năm gần đây có khá nhiều công trình, đã phản ánh được nhiều mặt bức tranh về CNHT và phát triển CNHT ở Việt Nam, trong đó có công nghiệp giày dép Đây đều là các tài liệu có giá trị tham khảo tốt Tuy nhiên, đối với CNHT ngành giày dép, cho đến nay, chưa có một đề tài nghiên cứu độc lập nào, đặc biệt là việc nghiên cứu CNHT gắn liền với sự phát triển của ngành giày dép tại một địa phương cụ thể Dưới góc độ vĩ mô, các nghiên cứu trên cũng chưa đề cập đến bản chất của CNHT, chưa phân tích thấu đáo đến năng lực và các nhân tố tác động đến phát triển CNHT cho ngành giày dép, và chưa chỉ ra các căn cứ để xác định cách thức phát triển CNHT ngành giày dép trước tác động ngày càng gia tăng của toàn cầu hoá Dưới góc độ vi mô, các nghiên cứu đó mới chỉ phân tích CNHT trong nội vi ngành công nghiệp hạ nguồn, mà chưa đặt trong tổng thể các ngành cung ứng khác Chính vì vậy, các đề xuất chính sách và giải pháp phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam vẫn chưa thuyết phục

Trang 19

trạng phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam và đề xuất biện pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam

3.2 Mục tiêu cụ thể

(i) Luận giải cơ sở lý luận và thực tiễn về CNHT, các chỉ tiêu đánh giá

và yếu tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam, từ đó, xác định điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ trong phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam; (ii) Nghiên cứu thực trạng và nhu cầu về CNHT tại các DN giày dép (phạm vi nghiên cứu là các DN giày dép ở Hải Phòng) nhằm xác định ảnh hưởng của phát triển CNHT ngành giày dép đến phát triển ngành giày dép; (iii) Đề xuất quan điểm, phương hướng và giải pháp phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép, các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của CNHT ngành giày dép và sự tác động của CNHT ngành giày dép đến ngành giày dép

4.2 Phạm vi nghiên cứu

CNHT ngành giày dép ở Việt Nam và sự tác động của CNHT ngành giày dép ở Việt Nam đến ngành giày dép ở Hải Phòng, thời gian từ năm 2006 đến 2010

5 Phương pháp nghiên cứu

- Phương pháp kế thừa: Luận án sử dụng kết quả nghiên cứu và số liệu thứ cấp từ các hiệp hội, tổ chức, đơn vị có liên quan và từ các công trình khoa học đã công bố có liên quan đến CNHT và CNHT ngành giày dép ở Việt Nam

- Phương pháp thống kê so sánh và phân tích đánh giá tổng hợp: Luận

Trang 20

án phân tích hệ thống số liệu theo chuỗi thời gian về CNHT của Việt Nam qua các giai đoạn, có so sánh với các quốc gia khác Các hàm thống kê được

sử dụng: tần suất, tỷ trọng, tốc độ tăng trưởng, trị số trung bình,

- Sử dụng một số mô hình lý thuyết: (i) Lý thuyết trò chơi vận dụng trong phân tích vị trí của CNHT Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu, (ii)

Mô hình Viên kim cương của M.Porter, vận dụng trong phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT ngành giày dép; (ii) Ma trận phân tích SWOT, vận dụng trong phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của CNHT ngành giày dép ở Việt Nam

- Phương pháp điều tra, khảo sát và phương pháp chuyên gia: Sử dụng các số liệu sơ cấp từ cuộc khảo sát riêng cho luận án, thông qua phiếu điều tra

và các cuộc phỏng vấn (toàn bộ số liệu khảo sát được xử lý bằng phần mềm SPSS) Cụ thể:

+ Thứ nhất, thông qua khảo sát bằng phiếu hỏi và phỏng vấn về thực trạng năng lực và những thuận lợi - khó khăn tại một số DN CNHT ở Việt Nam (trong đó, chủ yếu là các DN nội địa cung ứng sản phẩm hỗ trợ cho các

DN giày dép ở Hải Phòng)

+ Thứ hai, thông qua khảo sát bằng phiếu hỏi và phỏng vấn về thực trạng và nhu cầu phát triển CNHT tại các DN giày dép ở Hải Phòng (thành phố đứng thứ 4 của Việt Nam về kinh doanh xuất khẩu giày dép) để từ đó có đánh giá chung cho toàn ngành giày dép Việt Nam

6 Những đóng góp mới của luận án

Thứ nhất, hệ thống hóa về lý luận và thực tiễn về CNHT ngành giày dép, xác định các chỉ tiêu đánh giá năng lực và các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT cho ngành giày dép, các mô hình phát triển CNHT ngành giày dép, kinh nghiệm của một số nước về phát triển CNHT nói chung và

Trang 21

CNHT ngành giày dép nói riêng Cụ thể là:

(i) Về hệ thống khái niệm: Tập trung phân tích và so sánh các khái niệm về CNHT của một số nước trên thế giới và Việt Nam, từ đó, đi đến một

sự thống nhất về khái niệm CNHT phù hợp với hoàn cảnh của Việt Nam Về vai trò của CNHT ngành giày dép: giới thiệu một số vai trò chính của CNHT nói chung và CNHT ngành giày dép nói riêng đến sự phát triển kinh tế Về hệ thống hóa các sản phẩm CNHT cho ngành giày dép: hệ thống hóa các nhóm sản phẩm CNHT cho ngành giày dép theo 9 nhóm cơ bản

(ii) Xác định các chỉ tiêu đánh giá năng lực phát triển CNHT ngành giày dép, bao gồm các chỉ tiêu: Số lượng DN CNHT; Quy mô DN CNHT; Trình độ công nghệ của các DN CNHT; Quan hệ giữa các DN CNHT với các nhà cung cấp; Tương quan giữa các nguồn cung cấp

(iii) Xác định các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển CNHT ngành giày dép Sử dụng “Mô hình Viên kim cương” của M Porter để xác định các nhân

tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển CNHT ngành giày dép

Đó là các nhân tố: (1) Điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) Điều kiện cầu, (3) Các ngành hỗ trợ và liên quan, (4) Chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành, (5) Thời cơ, (6) Chính phủ

(iv) Giới thiệu các mô hình phát triển CNHT ngành giày dép, bao gồm: Phát triển CNHT ngành giày dép theo hướng tự phát; Phát triển CNHT ngành giày dép theo chiến lược phát triển cầu - cung; Phát triển CNHT ngành giày dép theo chiến lược phát triển cung - cầu; Phát triển CNHT ngành giày dép theo chiến lược phát triển dựa trên mạng lưới theo “lý thuyết trò chơi”

(v) Phân tích một số kinh nghiệm của một số nước trong phát triển CNHT nói chung (Malaysia, Thái Lan) và CNHT ngành giày dép nói riêng (Trung Quốc), từ đó, rút kinh nghiệm cho Việt Nam

Trang 22

Thứ hai, phân tích thực trạng CNHT ngành giày dép, nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng Cụ thể là:

(i) Phân tích thực trạng một số ngành CNHT tại Việt Nam (như: Điện

tử - tin học; Cơ khí chế tạo; Sản xuất và lắp ráp ô tô, xe máy; Dệt - May), từ

đó, đánh giá tổng quan về thực trạng CNHT tại Việt Nam

(ii) Phân tích thực trạng CNHT ngành giày dép ở Việt Nam Trên cơ sở

số liệu thống kê và kết quả khảo sát, phỏng vấn, tác giả tiến hành phân tích 2 nội dung chính sau:

- Thực trạng năng lực phát triển CNHT ngành giày dép, với 5 tiêu chí:

Số lượng DN; Quy mô DN; Công nghệ; Mối quan hệ với nhà cung ứng và khách hàng; Tương quan giữa các nguồn cung ứng

- Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển CNHT ngành giày dép, nghiên cứu các nhân tố theo Mô hình Kim cương của M.Porter

(iii) Thực trạng và nhu cầu phát triển CNHT tại các DN giày dép ở Hải Phòng Tác giả thực hiện nghiên cứu, khảo sát, phỏng vấn về các vấn đề: tỷ trọng các sản phẩm hỗ trợ tại DN giày dép, tỷ lệ nội địa hóa nguồn cung ứng, những khó khăn trong việc tìm kiếm nguồn cung ứng, cách thức tiếp cận nguồn cung ứng, tiêu chí lựa chọn nguồn cung ứng Trên cơ sở kết quả nghiên cứu, vận dụng vào các khu vực khác của nước ta

Thứ ba, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ đối với CNHT ngành giày dép ở Việt Nam, từ đó, khẳng định được Việt Nam có đầy

đủ các điều kiện và năng lực cho phát triển CNHT ngành giày dép

Thứ tư, đề xuất quan điểm, phương hướng và một số giải pháp phát triển CNHT ngành giày dép của Việt Nam:

(i) Nêu quan điểm và phương hướng phát triển CNHT cho ngành giày dép

Trang 23

ở Việt Nam trên cơ sở phân tích điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và nguy cơ của ngành giày dép ở Việt Nam

(ii) Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy sự phát triển các ngành CNHT cho ngành giày dép ở Việt Nam dưới góc độ quản lý nhà nước và quản

lý DN CNHT

7 Kết cấu của luận án:

Để phù hợp với mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu nêu trên, ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, hình vẽ và bảng biểu minh họa, nội dung luận án kết cấu thành ba chương:

Chương 1: Cơ sở lý luận về công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép

Chương 2: Thực trạng công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép - nghiên cứu đối với ngành giày dép ở Hải Phòng

Chương 3: Phương hướng và giải pháp nhằm gia tăng giá trị cho ngành giày dép ở Việt Nam

Trang 24

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ NGÀNH GIÀY DÉP

1.1 Khái quát về công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép

1.1.1 Khái niệm về CNHT ngành giày dép

1.1.1.1 Khái niệm về CNHT

Theo định nghĩa của Bộ Kinh tế Thương mại và Công nghiệp Nhật Bản thì CNHT (supporting industry) là ngành công nghiệp cung cấp các yếu tố cần thiết như nguyên vật liệu thô, linh kiện, phụ kiện, chi tiết và vốn, …cho các ngành công nghiệp lắp ráp (ô tô, xe máy, điện, điện tử,…) [32] Theo Cơ quan Phát triển CNHT Thái Lan, CNHT là các ngành cung cấp linh kiện, phụ kiện, máy móc, dịch vụ đóng gói và dịch vụ kiểm tra cho các sản phẩm cuối cùng Theo đó, các ngành cơ khí, máy móc, linh kiện cho ô tô, điện - điện tử là những ngành CNHT quan trọng Năm sản phẩm chính của CNHT là gia công khuôn mẫu, gia công áp lực, đúc, cán và gia công nhiệt [29]

Hình 1.1 Khái niệm CNHT của Nhật (Nguồn: Xây dựng dựa theo [32])

Trang 25

Ở Việt Nam, tận đến năm 2007, khi Bộ Công nghiệp (nay là Bộ Công

thương) cho ban hành “Quy hoạch tổng thể phát triển các ngành CNHT Việt Nam đến năm 2010, tầm nhìn 2020”, cụm từ “CNHT” mới được chính thức hóa Theo đó, CNHT được hiểu là: “hệ thống CNHT là hệ thống các nhà sản

xuất (sản phẩm) và công nghệ sản xuất có khả năng tích hợp theo chiều ngang, cung cấp nguyên vật liệu, linh kiện, phụ tùng, cho khâu lắp ráp cuối cùng” [8, tr.8] Ngày 24/2/2011, Thủ tướng Chính phủ Việt Nam đã ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg về chính sách phát triển một số ngành CNHT, theo đó, CNHT được hiểu là “các ngành công nghiệp sản xuất vật liệu, phụ tùng, phụ kiện, linh kiện, bán thành phẩm để cung cấp cho ngành sản xuất, lắp ráp các sản phẩm hoàn chỉnh là tư liệu sản xuất hoặc sản phẩm tiêu dùng” [46, tr.2] Đồng thời, Chính phủ cũng đã chỉ định danh mục các sản phẩm ưu tiên phát triển đối với 5 nhóm ngành: ô tô, cơ khí chế tạo, dệt - may, da - giày, điện tử [47] Có thể mô tả khái niệm của Việt Nam theo mô hình sau:

Hình 1.2 Khái niệm CNHT của Việt Nam

(Nguồn: Xây dựng dựa theo [46],[47]) Theo các định nghĩa trên, CNHT nằm giữa của quá trình sản xuất, từ thượng nguồn xuống đến hạ nguồn Đặc biệt là, CNHT nên dựa vào một số

Trang 26

công đoạn sản xuất nhất định, phục vụ một số ngành công nghiệp nhất định tương đối tương đồng nhau CNHT gắn liền với ngành công nghiệp lắp ráp Sản phẩm cuối cùng bao gồm rất nhiều linh, phụ kiện khác nhau, được sản xuất bằng nhiều công nghệ khác nhau; sản phẩm của ngành CNHT là đầu vào cho các ngành công nghiệp khác kế tiếp Khi đó, CNHT có những đặc điểm sau: (i) Là ngành có liên quan đến nhiều ngành sản xuất khác nhau; (ii) Có yêu cầu cao về chất lượng, độ chính xác và tính tiêu chuẩn hóa của sản phẩm; (iii) Cần vốn lớn vì đầu tư cho trang thiết bị, máy móc rất cao; (iv) Đòi hỏi công nhân có trình độ tay nghề cao và trình độ quản lý tốt

Có thể nhận thấy khái niệm của Chính phủ ban hành Quyết định số 12/2011/QĐ-TTg là tương đối cụ thể và có phạm vi hẹp hơn so với các khái niệm trước đó ở trong và ngoài nước

Tuy nhiên, nếu xét trên phương diện công nghệ, thì khái niệm trên vẫn rộng và cần thiết được xác định cụ thể hơn, đó là: CNHT là công nghiệp tạo

ra các yếu tố đầu vào phục vụ cho công nghiệp chế tạo

Hình 1.3 Khái niệm về CNHT (Nguồn: Tác giả tự xây dựng)

Khi đó, bất cứ ngành công nghiệp chế tạo nào cũng có thể gắn liền với

Trang 27

các ngành CNHT Mặt khác, việc tạo ra máy móc - thiết bị, phương tiện phục

vụ trong sản xuất trong công nghiệp chế tạo sẽ không thuộc phạm vi điều chỉnh của CNHT Chúng không được coi là yếu tố đầu vào mà là các yếu tố thuộc công nghệ - thứ dùng để biến đổi đầu vào thành đầu ra

1.1.1.2 Khái niệm về CNHT ngành giày dép

Trên cơ sở khái niệm về CNHT, ta có thể hiểu CNHT ngành giày dép

là công nghiệp tạo ra các yếu tố đầu vào phục vụ cho công nghiệp chế tạo giày dép

Bất cứ một ngành công nghiệp nào muốn phát triển mạnh mẽ đều phải dựa trên một nền tảng vững chắc, cũng như có một mối quan hệ chặt chẽ, hỗ trợ lẫn nhau giữa các ngành công nghiệp cả theo chiều dọc và chiều ngang Đối với ngành giày dép, quan hệ theo chiều dọc của ngành này được biểu hiện dưới dạng chuỗi giá trị như sau:

Hình 1.4 Chuỗi giá trị ngành giày dép (Nguồn: Tác giả tự xây dựng)

Thông qua chuỗi giá trị trên, ta hiểu rõ hơn các hoạt động sẽ ảnh hưởng

Trang 28

đến năng lực cạnh tranh tiềm năng, giúp xác định những khâu giá trị được tạo

ra lớn hơn so với chi phí sản xuất và dịch vụ, những điểm có thể đạt được sự tối ưu hóa cũng như điều hoà được các liên kết hoạt động

Những hoạt động chính trong chuỗi giá trị sẽ được tiến hành thuận lợi hơn khi được hỗ trợ bởi các hoạt động như: cơ sở hạ tầng, quản trị nhân sự, nghiên cứu và phát triển, mua sắm Mặc dù được mô tả như những yếu tố về chi phí, nhưng những hoạt động bổ trợ cũng có nhiều đóng góp trong việc tìm hiểu năng lực cạnh tranh của ngành và của DN, chẳng hạn như việc áp dụng

hệ thống thông tin trong sản xuất và quản lý, lao động có chuyên môn và phát triển sản phẩm và dịch vụ có tính sáng tạo

Cũng cần lưu ý, chuỗi giá trị của ngành giày dép có thể thay đổi tùy thuộc vào mức độ sử dụng công nghệ sản xuất và việc sử dụng nguồn lực đầu vào trong nước như nguyên liệu thô, máy móc sản xuất và dịch vụ hỗ trợ Mặt khác, chất liệu giày dép quyết định chất lượng và đẳng cấp sản phẩm Hiện nay chất liệu da vẫn được đánh giá là cao cấp nhất, tiếp theo là chất dẻo và cao su và các chất liệu khác Các tính năng đặc thù của giày dép cũng được đánh giá cao, ví dụ như giày dép không thấm nước, giày thể thao có bánh xe, giày dép thời trang hoặc giày dép có chất liệu hoàn toàn từ tự nhiên (không dùng da và không sử dụng keo dán có nguồn gốc từ động vật)

Nghiên cứu quá trình sản xuất giày vải, có thể mô hình hóa bằng sơ đồ tại Hình 1.5 Qua đó có thể thấy, để sản xuất một sản phẩm giày dép hoàn chỉnh cần phải trải qua nhiều công đoạn phức tạp, như:

+ Quá trình bồi dính vải: Nguyên vật liệu đầu vào của quá trình bồi vải

là vải bạt, vải lót, visa, mút xốp, cao suflo, keo xăng, keo talex có pha thêm PVA, xút

+ Quá trình chặt, cắt: Được thực hiện trên các thiết bị cắt đập thủy lực,

Trang 29

máy lạng, máy cuốn chéo, máy cắt viền, máy kim khâu và nguyên vật liệu đầu vào của quá trình này là vải đã được bồi, đã tráng keo, pho cao su đã tráng

+ Quá trình may ráp mũ giày: Được thực hiện bởi công nhân qua các thao tác trên máy may một kim, hai kim, nền trụ đính chỉ Nguyên vật liệu đầu vào của quá trình này là các chi tiết của mũ giày

+ Quá trình hình thành đế giày: Sơ luyện, hỗn luyện và ra hình

Sau 4 giai đoạn trên, bán thành phẩm thu được là mũ giày và đế giày

Để tạo thành chiếc giày, mũ giày cần được kết hợp với đế giày, với việc thực hiện các công đoạn sau:

+ Quá trình gò, dán, ép, lắp ráp: Nguyên vật liệu đầu vào của quá trình này là mũ giày đã bao hoàn chỉnh, mũ đã in, và đế giày

+ Quá trình lưu hóa và thu hóa giày (quá trình hấp giày): Giày sấy đã được treo trên giá ở xe lưu hóa đầy vào lò lưu hóa sau khi đã được phủ vải

+ Quá trình đóng gói: Đây là giai đoạn cuối cùng để hoàn thành sản phẩm Sau đó sản phẩm được lưu kho để xuất hàng

Hình 1.5 Sơ đồ quá trình sản xuất giày dép (Nguồn: Tác giả tự xây dựng)

Trang 30

Ngoài các quá trình chính trên, chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc vào các quá trình phụ khác như: quá trình thiết kế sản phẩm, quá trình nghiên cứu thị trường, các dịch vụ hỗ trợ sản xuất cung ứng đầu vào, đầu ra

Cũng có thể phân loại các hoạt động thành các công đoạn như: Gia công nguyên liệu; Pha cắt nguyên liệu; Lắp ráp mũ giày; Tiền chế đế giày; Gò ráp đế và hoàn thiện giày; KCS, đóng gói và lưu kho

Các loại sản phẩm khác nhau sẽ có một số công đoạn sản xuất khác nhau,

ví dụ dép đi trong nhà hoặc xăng đan thì không qua khâu gò đế bằng máy

Mức độ gia tăng giá trị là khác nhau ở từng công đoạn sản xuất và đối với từng loại sản phẩm Đối với giày thể thao và giày vải, công đoạn gia công nguyên liệu bồi vải và cán luyện cao su mang tính quyết định trong khi đó đối với giày nữ, công đoạn pha cắt nguyên liệu có thể gia tăng nhiều giá trị với việc trang trí bán thành phẩm pha cắt như in, thêu Tương tự, công đoạn lắp ráp với nhiều hình thức may ráp mũ giày nữ phong phú tạo ra các sản phẩm hợp thời trang

Nếu tạo ra được mối liên hệ hữu cơ giữa các khâu trong những điều kiện sẵn có thì sẽ có tác động lớn lao vào việc đảm bảo tính chủ động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng sức cạnh tranh của sản phẩm trên thị trường trong nước và thế giới

1.1.2 Vai trò của CNHT ngành giày dép

CNHT ngành giày dép có vai trò đặc biệt quan trọng trong phát triển ngành giày dép Vai trò ấy thể hiện trên những mặt chủ yếu sau:

- Thứ nhất, CNHT ngành giày dép là điều kiện quan trọng đảm bảo tính chủ động và nâng cao giá trị gia tăng của ngành giày dép CNHT ngành giày dép nếu không phát triển sẽ làm cho các DN giày dép phụ thuộc nhiều vào

Trang 31

nhập khẩu Dù những sản phẩm này có thể được cung cấp với giá rẻ ở nước ngoài nhưng vì chủng loại quá nhiều, phí chuyên chở, bảo hiểm, sẽ tăng lên làm tăng chi phí đầu vào Đó là chưa kể đến sự rủi ro về tiến độ, thời gian nhận hàng nhập khẩu Vì vậy, CNHT ngành giày dép thiếu sẽ làm giá trị gia tăng thấp đi, ngành giày dép sẽ thiếu sức cạnh tranh, giảm khả năng xuất khẩu sản phẩm

- Thứ hai, góp phần khai thác các nguồn lực trong nước, giải quyết công ăn việc làm cho một lượng lớn lao động phổ thông, giảm xuất khẩu các sản phẩm thô và nhập khẩu nguyên phụ liệu, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm giày dép trong nước và đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá theo hướng vừa mở rộng vừa chuyên sâu

- Thứ ba, phát huy ảnh hưởng của tác động “lan toả” trong MLSX giày dép Mạng lưới này có thể liên kết theo chiều dọc hoặc chiều ngang, tạo thành các CLKN, có mối quan hệ hữu cơ mật thiết với nhau Do vậy, sự phát triển của ngành công nghiệp này sẽ có tác động mạnh mẽ đến các ngành công nghiệp khác, kích thích các ngành cùng phát triển theo hướng đáp ứng được yêu cầu của thời kì mới Từ đó, giúp phát triển nền kinh tế theo chiều sâu và giảm thâm hụt tài khoản vãng lai

- Thứ tư, mở rộng khả năng thu hút FDI vào phát triển ngành giày dép CNHT ngành giày dép và FDI có mối quan hệ tương hỗ hai chiều, CNHT ngành giày dép phải phát triển mới thu hút FDI cho ngành giày dép Mặc dù ngành giày dép có hàm lượng chi phí lao động cao, nhưng chi phí cho CNHT của ngành giày dép, nhìn chung, vẫn cao hơn nhiều so với chi phí lao động

Vì vậy, một nước dù có ưu thế về lao động nhưng CNHT không phát triển sẽ làm cho môi trường đầu tư kém hấp dẫn Tuy nhiên, cũng không phải CNHT phát triển đồng bộ rồi mới có FDI Có nhiều trường hợp FDI đi trước và kéo

Trang 32

theo các DN khác (kể cả DN trong và ngoài nước) đầu tư phát triển CNHT,

do đó có sự quan hệ tương hỗ 2 chiều giữa FDI và CNHT

Như vậy, CNHT ngành giày dép có vai trò rất quan trọng đối với sự phát triển của ngành giày dép Nếu được phát triển một cách hợp lý, nó sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sự phát triển của ngành giày dép, tạo nên sự phát triển theo chiều sâu cho ngành giày dép Ngược lại, nếu nó kém phát triển, thì sẽ là một rào cản rất lớn, ảnh hưởng trực tiếp sự phát triển của ngành giày dép

1.1.3 Các sản phẩm CNHT cho ngành giày dép

Các sản phẩm CNHT cho ngành giày dép có thể kể đến 9 nhóm: Da tổng hợp, nhân tạo các loại; Vải làm giày dép các loại; Đế, gót giày dép các loại; Phụ liệu kim loại làm giày dép; Phụ liệu dệt, vải các loại; Vật liệu giấy

và bao bì; Keo dán, dung môi, hoá chất trau chuốt các loại; Phom giày các loại; Dụng cụ cơ khí, phụ tùng, thiết bị máy móc

(i) Da tổng hợp, nhân tạo các loại, một số loại da tổng hợp, nhân tạo cao cấp như da tổng hợp có lót lông, có chi tiết trang trí…

(ii) Vải làm giày dép các loại, một số chủng loại vải cao cấp như loại

có in và đính các chi tiết trang trí…

(iii) Đế, gót giày dép các loại, đế giữa, đế ngoài, đế mặt, pho hậu và pho mũi cho mũi giày, gót, đế, đế đúc liền gót và đế giày thể thao, các sản phẩm đế cao cấp, đế trong có trang trí nhãn mác, đế có túi khí,

(iv) Phụ liệu kim loại làm giày dép: khuy khoá, ô dê, đinh vít, nhãn mác, khoá kéo, độn sắt, pho sắt, ống thép cho gót giày…

(v) Phụ liệu dệt, vải các loại: chỉ may, chỉ khâu đế, dây giày, băng viền, dây tăng cường, nơ trang trí, chun, nhãn mác…

(vi) Vật liệu giấy và bao bì: các loại như bì Texon, cát tông, hộp,

Trang 33

thùng, túi ni lông, nhãn mác, que chống, giấy độn, bìa giữ hình mũi giày, hạt chống ấm, vật liệu in…

(vii) Keo dán, dung môi, hoá chất trau chuốt các loại: keo dán, một số hoá chất trau chuốt giày dép, đồ da như: xi, chất bóng, chất màu…

(viii) Phom giày các loại: phom nhựa, phom nhôm, phom gỗ…

(ix) Dụng cụ cơ khí, phụ tùng, thiết bị máy móc: các loại khuôn mẫu, dao chặt, cữ may, ống viền, đục các loại, giá kệ, xe chuyển và các sản phẩm

cơ khí chế tạo phục vụ sản xuất

1.2 Các chỉ tiêu đánh giá năng lực phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép

Để đánh giá năng lực phát triển của CNHT ngành giày dép, ta có thể thông qua một số chỉ tiêu sau:

1.2.1 Số lượng doanh nghiệp

CNHT ngành giày dép sẽ chỉ phát triển được nếu có nhiều DN sản xuất tham gia CNHT ngành giày dép Tuy nhiên, để có thể sử dụng chỉ tiêu này, cần xác định rõ ràng phạm vi của CNHT và tiêu chí DN CNHT Bởi vì, thực

tế có nhiều DN đa ngành, vừa thực hiện hoạt động thương mại, vừa sản xuất nhiều loại sản phẩm khác nhau

Ngoài tiêu chí về số lượng DN tuyệt đối, cần xem xét đến cả tiêu chí tương đối trong tương quan so sánh với số lượng DN giày dép Một DN giày dép cần có nhiều DN CNHT tham gia cung cấp đầu vào và nằm ở nhiều lớp khác nhau Khi tỷ lệ số DN CNHT ngành giày dép trên số DN giày dép lớn thì ngành CNHT ngành giày dép mới có thể được coi là phát triển

1.2.2 Quy mô doanh nghiệp

DN CNHT ngành giày dép có quy mô khác nhau và chủ yếu là các DN

Trang 34

vừa và nhỏ Khi xem xét mức độ phát triển của CNHT, cần tính đến cả quy

mô DN, bao gồm: Số lượng lao động trung bình của DN; Số vốn trung bình của DN; Doanh thu trung bình của DN

Cũng cần lưu ý rằng, đối với lĩnh vực CNHT ngành giày dép, các DN vừa và nhỏ có những ưu điểm riêng, và thích hợp với lĩnh vực này Vì vậy, không phải quy mô các DN CNHT ngành giày dép lớn là hàm ý sự phát triển cao của lĩnh vực này

1.2.3 Trình độ công nghệ của doanh nghiệp

CNHT ngành giày dép phát triển không chỉ phản ánh ở sự tồn tại của các DN, mà quan trọng hơn, phải đáp ứng được yêu cầu của ngành công nghiệp giày dép Trong đó, yếu tố trình độ công nghệ giữ vai trò quan trọng Với trình độ công nghệ hiện đại, các DN CNHT ngành giày dép không chỉ đáp ứng được yêu cầu của các DN giày dép hiện tại mà còn có thể linh hoạt, sẵn sàng đáp ứng yêu cầu khi có sự thay đổi Đặc biệt, trong bối cảnh toàn cầu hóa, trình độ công nghệ sẽ tạo điều kiện cho DN CNHT có thể xuất khẩu được sản phẩm của mình, phục vụ các DN giày dép ở nước ngoài

1.2.4 Quan hệ của doanh nghiệp với khách hàng và nhà cung cấp

Các DN CNHT ngành giày dép cần có mối quan hệ tốt với khách hàng (là các DN giày dép) và với nhà các cung ứng (là các DN CNHT lớp dưới hay gọi là các DN thượng nguồn) Mối liên hệ này càng chặt chẽ thì càng thể hiện

sự phát triển cao của CNHT, vì nó tạo điều kiện cho các hiệu ứng lan tỏa theo chiều dọc xuôi chiều và ngược chiều

Để đánh giá quan hệ này, có thể sử dụng một số tiêu chí sau:

- Hình thức hợp đồng giữa khách hàng và nhà cung cấp: Quan hệ kinh doanh có thể thực hiện thông qua hợp đồng dài hạn với các điều kiện, điều

Trang 35

khoản được xác định ổn định trong khoảng thời gian tương đối hoặc hợp đồng đặt hàng với các điều kiện, điều khoản được đàm phán và thống nhất theo từng lần Hợp đồng dài hạn sẽ tạo điều kiện cho các DN có thể đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng sản xuất để đáp ứng yêu cầu mà không lo ngại nhiều về biến động của thị trường

- Mức độ chủ động trong việc sử dụng các công cụ marketing: Nếu các

DN nâng cao tính chủ động thì sẽ nắm bắt tốt hơn nhu cầu thị trường, đa dạng hóa khách hàng và nhà cung cấp Ngược lại, nếu các DN thụ động, không sử dụng các công cụ marketing mà chỉ ngồi đợi khách hàng, nhà cung cấp tìm đến mình thì sẽ không thể phát triển

1.2.5 Tương quan giữa các nguồn cung cấp

Tương quan giữa các nguồn cung cấp cũng là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của lĩnh vực CNHT ngành giày dép Trong hoạt động của mình, các DN có thể sử dụng đầu vào từ các nguồn cung cấp khác nhau:

- Nguồn nội bộ: Bao gồm các đầu vào mà DN có thể tự sản xuất Chỉ tiêu này cao thể hiện năng lực sản xuất của DN, nhưng nếu quá cao thì lại thể hiện sự thiếu chuyên môn hóa ở mức độ cao của DN

- Nguồn nhập khẩu: Bao gồm các đầu vào mà DN phải nhập khẩu từ nước ngoài Trong xu thế toàn cầu hóa, rõ ràng, mỗi DN, mỗi quốc gia không thể tự mình sản xuất mọi loại sản phẩm hay linh kiện Mặt khác, các quốc gia cần tham gia vào MLSX toàn cầu, nhập khẩu những yếu tố đầu vào mà mình không có lợi thế và xuất khẩu những đầu vào mà mình có lợi thế Nhưng, nếu

tỷ lệ nhập khẩu cao sẽ thể hiện sự yếu kém của lĩnh vực CNHT trong nước

- Nguồn cung cấp trong nước: Bao gồm các đầu vào mà DN mua của những nhà cung cấp trong nước Nguồn cung cấp trong nước có thể được chia nhỏ thành 2 loại: từ các DN FDI và từ các DN trong nước Nếu tỷ lệ đầu vào

Trang 36

mua từ các DN FDI lớn sẽ thể hiện một sự phụ thuộc vào FDI của lĩnh vực CNHT Chỉ khi nào có sự tác động giữa DN FDI với DN trong nước, tiến tới nâng cao năng lực của các DN trong nước, giảm tỷ trọng mua từ các DN FDI

và tăng dần tỷ trọng mua của các DN trong nước thì lĩnh vực CNHT mới phát triển

1.3 Các nhân tố chủ yếu ảnh hưởng đến phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép

Việc phát triển CNHT ngành giày dép là một vấn đề rất phức tạp trong quá trình hoạch định chiến lược phát triển công nghiệp của mỗi quốc gia Với các nước đang trong quá trình công nghiệp hoá, khi các nguồn lực còn hẹp, qui mô các ngành kinh tế còn nhỏ bé, việc giải quyết bài toán quan hệ giữa phát triển CNHT ngành giày dép và ngành giày dép lại càng khó khăn và phức tạp hơn Do đó, phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển CNHT ngành giày dép sẽ tạo lập luận cứ khoa học nhằm lựa chọn chiến lược phát triển công nghiệp thích hợp

Phát triển CNHT ngành giày dép chịu sự tác động của nhiều nhân tố ở các mức độ khác nhau Chúng ta có thể sử dụng “Mô hình kim cương Porter”

để xác định các nhân tố và mức độ ảnh hưởng của chúng đến sự phát triển CNHT ngành giày dép

Theo [74], Michael E Porter (1990) quan niệm rằng: Khả năng cạnh tranh của một ngành công nghiệp là khả năng sáng tạo và đổi mới của ngành

đó Khả năng này được hình thành bởi 4 yếu tố, bao gồm: (1) điều kiện các yếu tố sản xuất, (2) điều kiện cầu, (3) các ngành CNHT và các ngành liên quan, (4) chiến lược, cơ cấu và cạnh tranh nội bộ ngành Cả 4 yếu tố này tác động qua lại lẫn nhau tạo thành “Mô hình kim cương Porter” nhằm để chỉ khả năng chịu “va đập” của một ngành công nghiệp ở mỗi quốc gia trước môi

Trang 37

trường cạnh tranh gay gắt Ông lý luận rằng các DN thành công nhất trong các ngành hay các phân khúc ngành nơi mà Mô hình Viên kim cương thích hợp nhất Ngoài ra, Porter cũng lý luận rằng Mô hình Viên kim cương là một

hệ thống tác động tăng cường lẫn nhau Hiệu quả của một thuộc tính này lệ thuộc vào tình trạng của các thuộc tính khác, chúng không phải hoàn toàn độc lập mà là tương trợ lẫn nhau Porter cũng cho rằng hai biến số bổ sung sau có thể ảnh hưởng đến mô hình viên kim cương của quốc gia bằng các phương thức quan trọng: đó là (5) Thời cơ và (6) Chính phủ Mối quan hệ 2 chiều giữa các yếu tố được thể hiện qua mô hình sau:

Theo Hình 1.6, chúng ta đi phân tích một số nội dung chủ yếu của từng nhân tố ảnh hưởng tới sự phát triển CNHT ngành giày dép tạo lợi thế cạnh tranh như sau:

1.3.1 Các đóng góp của yếu tố đầu vào sản xuất

Các yếu tố đầu vào thường bao gồm nguồn nhân lực, nguồn tài nguyên,

Trang 38

nguồn tri thức, nguồn vốn, kết cấu hạ tầng Tỷ lệ sử dụng các yếu tố đầu vào của các ngành khác nhau là khác nhau, vì vậy mỗi quốc gia có thể khai thác lợi thế cạnh tranh thông qua việc xây dựng chiến lược phát triển các ngành công nghiệp với tỷ lệ sử dụng yếu tố đầu vào thích hợp

Các yếu tố đầu vào của CNHT ngành giày dép cũng có đầy đủ đầu vào của các ngành công nghiệp khác Trong đó, các yếu tố đầu vào cơ bản lại chiếm tỷ trọng lớn, đóng vai trò quyết định như lao động, da, vải, cao su, giấy, cơ sở hạ tầng hành chính - thông tin - khoa học công nghệ, tài nguyên thiên nhiên, thổ nhưỡng khí hậu

Tuy vậy, khi khoa học công nghệ phát triển thì lợi thế cạnh tranh lại thuộc về các nước có nhiều yếu tố đầu vào cao cấp Các nước này sản xuất ra được các nguyên liệu đầu vào nhân tạo hoặc nâng cao chất lượng, nâng cao năng suất của các sản phẩm đầu vào có nguồn gốc từ tự nhiên Các nước có trình độ lao động cao, công nghệ cao sẽ sản xuất ra các yếu tố đầu vào cao cấp như vật liệu cao cấp, keo dán, dung môi, hóa chất trau chuốt,

Đối với CNHT ngành giày dép ở nước ta thì yếu tố đầu vào là một bất lợi Các yếu tố đầu vào cao cấp hầu như phải nhập khẩu hoàn toàn Các yếu tố đầu vào cơ bản trong nước tuy có truyền thống phát triển lâu đời như da, vải, giấy, cao su thì đang trong tình trạng phát triển yếu, chất lượng không đảm bảo yêu cầu cho sản xuất sản phẩm hỗ trợ cho ngành giày dép Hàng năm, Việt Nam vẫn phải nhập khẩu rất nhiều các nhân tố trên phục vụ cho ngành giày dép Với những lợi thế riêng biệt như vốn đầu tư vừa phải, thời gian thu hồi vốn nhanh, thu hút nhiều lao động, giải quyết khối lượng lớn việc làm, có điều kiện mở rộng thị trường nhanh, dễ tham gia sản xuất kinh doanh cho nhiều thành phần kinh tế, ngành giày dép hay hỗ trợ cho ngành giày dép là các ngành công nghiệp phát triển thuận lợi trong thời kỳ đầu của quá trình

Trang 39

công nghiệp hóa của nhiều nước trên thế giới Đối với Việt Nam hiện nay thì ngành giày dép, đặc biệt là phục vụ xuất khẩu được xem là ngành công nghiệp mũi nhọn phát triển khá hiệu quả Trong điều kiện hội nhập và quốc tế hóa các hoạt động kinh tế diễn ra nhanh chóng, cạnh tranh ngày càng khốc liệt

để phát triển mạnh mẽ hơn nữa ngành giày dép thì cần phải nhận thức các lợi thế này sẽ mất dần đi nếu không khai thác được các yếu tố về khoa học công nghệ, con người để phát triển sản xuất các yếu tố đầu vào

1.3.2 Các điều kiện về mức cầu

Các nhân tố về cầu thị trường bao gồm: các yếu tố cấu thành cầu thị trường, quy mô và sự tăng trưởng của cầu và phương thức chuyển ra thị trường nước ngoài Các nhân tố thuộc nhóm này có ý nghĩa là căn cứ quan trọng nhất trong sự phát triển CNHT ngành giày dép cả về quy mô, cơ cấu sản phẩm cũng như về tốc độ

- Cấu thành cầu thị trường: yếu tố này quyết định phương thức tiếp cận, đánh giá và phản ứng của DN trong nước đối với nhu cầu của người tiêu dùng nội địa Một quốc gia hay một ngành công nghiệp có khả năng cạnh tranh cao khi cầu thị trường nội địa cung cấp một bức tranh toàn cảnh và rõ ràng tạo định hướng xác định nhu cầu thế giới, hoặc khi cầu nội địa đòi hỏi liên tục đổi mới cải tiến mẫu mã, công nghệ

- Quy mô và tốc độ tăng trưởng của cầu: quy mô cầu thị trường lớn cho phép DN khai thác lợi thế theo quy mô, đồng thời, khuyến khích các DN đầu

tư vào thiết bị, cải tiến công nghệ nâng cao năng suất lao động, nâng cao năng lực cạnh tranh khi tham gia thị trường quốc tế Quy mô thị trường nội địa có vai trò quan trọng trong các ngành công nghiệp đòi hỏi lượng vốn đầu tư về công nghệ, nghiên cứu phát triển có quy mô sản xuất và công nghệ cao Tất nhiên, quy mô thị trường sẽ tạo ra lợi thế cạnh tranh khi thị trường thế giới

Trang 40

cũng có nhu cầu về loại hàng hóa mà các DN trong nước cung cấp

Đối với cầu về sản phẩm CNHT ngành giày dép, thị trường nội địa của Việt Nam, có thể nhận định trên các khía cạnh sau:

+ Sản phẩm CNHT ngành giày dép là sản phẩm đầu vào cho ngành giày dép, ngành sản xuất sản phẩm thiết yếu của xã hội, không thể thiếu đối với mọi thời đại, mọi quốc gia, mọi người trên thế giới Cầu thị trường nội địa Việt Nam cũng rất lớn Mấy năm gần đây, Việt Nam liên tục đứng thứ 2 của thế giới về xuất khẩu giày dép chỉ sau Trung Quốc

+ Về xu hướng phát triển: với xu hướng phát triển mạnh của ngành giày dép trong tương lai, cũng như tốc độ phát triển ngày càng nhanh thì nhu cầu về CNHT ngành giày dép trên thị trường nội địa cũng tăng với tốc độ tương ứng Tốc độ tăng ngày một nhanh, sẽ là cơ hội, lợi thế rất lớn để các

DN trong nước nâng cao khả năng cạnh tranh và phát triển

+ Yêu cầu về chất lượng sản phẩm CNHT ngành giày dép cũng rất cao,

đa dạng hóa, phức tạp Sản phẩm CNHT ngành chịu ảnh hưởng rất lớn về tính thời trang, tính đa dạng, phong phú của sản phẩm giày dép, với tỷ trọng giá trị lớn là xuất khẩu luôn phải đáp ứng theo yêu cầu và sự biến động không ngừng

về kiểu dáng, mẫu mã, tính thời trang của rất nhiều nước trên thế giới Thế giới ngày càng phát triển thì nhu cầu về sản phẩm cũng ngày càng đa dạng, phức tạp

Yếu tố cầu đang mở ra cơ hội để ngành sản xuất sản phẩm hỗ trợ cho ngành giày dép ở Việt Nam phát triển

1.3.3 Các ngành liên hệ và hỗ trợ

Các ngành CNHT ngành giày dép luôn chịu ảnh hưởng của các ngành công nghiệp liên quan, bao gồm:

Ngày đăng: 19/12/2013, 16:51

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

26.    Bảng 2.26  Bảng 2.26: Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
26. Bảng 2.26 Bảng 2.26: Tỷ lệ nội địa hóa của ngành giày dép (Trang 10)
Hình vẽ  Tên Hình vẽ  Trang - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình v ẽ Tên Hình vẽ Trang (Trang 12)
Hình 1.1. Khái niệm CNHT của Nhật   (Nguồn: Xây dựng dựa theo [32]) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 1.1. Khái niệm CNHT của Nhật (Nguồn: Xây dựng dựa theo [32]) (Trang 24)
Hình 1.2. Khái niệm CNHT của Việt Nam - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 1.2. Khái niệm CNHT của Việt Nam (Trang 25)
Hình 1.3. Khái niệm về CNHT    (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 1.3. Khái niệm về CNHT (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) (Trang 26)
Hình 1.4. Chuỗi giá trị ngành giày dép    (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 1.4. Chuỗi giá trị ngành giày dép (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) (Trang 27)
Hình 1.5. Sơ đồ quá trình sản xuất giày dép  (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 1.5. Sơ đồ quá trình sản xuất giày dép (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) (Trang 29)
Hình 1.6: Mô hình Viên kim cương của Porter     (Nguồn: Theo [74]) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 1.6 Mô hình Viên kim cương của Porter (Nguồn: Theo [74]) (Trang 37)
Hình 1.8. Mạng lưới “người chơi” trong CNHT  (Nguồn: Theo [4]) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 1.8. Mạng lưới “người chơi” trong CNHT (Nguồn: Theo [4]) (Trang 51)
Bảng 2.19: Giá trị sản xuất ngành hàng giày dép Hải Phòng (2000-2010) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Bảng 2.19 Giá trị sản xuất ngành hàng giày dép Hải Phòng (2000-2010) (Trang 101)
Bảng 2.21: Số lượng sản phẩm giày dép các loại phân theo loại hình DN - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Bảng 2.21 Số lượng sản phẩm giày dép các loại phân theo loại hình DN (Trang 103)
Bảng 2.36: Sự hỗ trợ của DN giày dép đối với các DN CNHT - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Bảng 2.36 Sự hỗ trợ của DN giày dép đối với các DN CNHT (Trang 121)
Hình 3.1: Định hướng phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam    (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 3.1 Định hướng phát triển CNHT ngành giày dép ở Việt Nam (Nguồn: Tác giả tự xây dựng) (Trang 144)
Hình 3.2. Quy trình lựa chọn nhà cung cấp của DN FDI - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình 3.2. Quy trình lựa chọn nhà cung cấp của DN FDI (Trang 166)
Hình thức  5  4  3  2  1 - Công nghiệp hỗ trợ ngành giày dép   nghiên cứu đối với ngành giày dép ở hải phòng
Hình th ức 5 4 3 2 1 (Trang 186)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w