1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Cơ chế hỗ trợ tài chính doanh nghiệp nhỏ & vừa hiện nay tại việt nam

26 254 0
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ chế hỗ trợ tài chính doanh nghiệp nhỏ & vừa hiện nay tại Việt Nam
Định dạng
Số trang 26
Dung lượng 147 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Một số hỗ trợ từ phía chính phủ, các tổ chức quốc tế...09  Phê chuẩn khoản vay 40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ  Dự án SMEFP do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua NH Hợp t

Trang 1

MỤC LỤC

Lời mở đầu 02

Chương I: Tổng quan doanh nghiệp nhỏ & vừa và cơ chế hỗ trợ 03

I Tổng quan doanh nghiệp nhỏ & vừa 03

1 Khái niệm 03

2 Vai trò 04

3 Đặc điểm 05

II Chính sách hỗ trợ cho các SME tại Việt Nam hiện nay 06

Chương II: Cơ chế hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay 08

I Cơ chế hỗ trợ về thuế 08

1 Thuế thu nhập doanh nghiệp 08

2 Thuế giá trị gia tăng 08

II Hỗ trợ SME tiếp cận nguồn vốn tín dụng 09

1 Một số hỗ trợ từ phía chính phủ, các tổ chức quốc tế 09

 Phê chuẩn khoản vay 40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ  Dự án SMEFP do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua NH Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC)  Cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn tín dụng dài hạn từ Quỹ đầu tư SEAF Blue Waters Growth Fund (SEAF BWGF)  Chương trình kích cầu của Chính Phủ thông qua bù lãi suất cho các khoản vay lưu động  Bảo lãnh tín dụng cho SME tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam  Quỹ phát triển SME 2 Từ phía các ngân hàng 13

 VIB tích cực hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ nhập khẩu qua chương trình TFP của ADB  165 triệu USD hỗ trợ vốn cho doanh nghiệp vừa và nhỏ qua Sacombank  Chương trình hỗ trợ tín dụng - dịch vụ cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa của BIDV III Khó khăn SME gặp phải khi tiếp cận cơ chế hỗ trợ tài chính 19

Chương III: Một số kiến nghị để tăng cường hỗ trợ tài chính cho SME 21

1 Đối với giải pháp từ phía chính phủ 21

2 Đối với các giải pháp từ phía các tổ chức tín dụng 22

3 Đối với các giải pháp từ phía các doanh nghiệp vừa và nhỏ 23

Trang 2

Hơn nữa Việt Nam là một nước đang phát triển, các doanh nghiệp nhỏ và vừa ở nước ta chiếm

tỷ trọng lớn trong tổng số doanh nghiệp và có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc tăng trưởngkinh tế, tạo việc làm, thu hút vốn, làm cho nền kinh tế năng động hiệu quả lớn, góp phần chuyểndịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hoá - hiện đại hoá đất nước trong giai đoạnhiện nay

Nhưng thực tế cho thấy, doanh nghiệp nhỏ và vừa đang còn nhiều hạn chế và yếu kém nhất là

về tiềm lực tài chính, năng lực quản lý, kinh nghiệm thương trường và khả năng tiếp cận cácnguồn lực đầu tư Do đó, việc xây dựng một cơ chế hỗ trợ tài chính cho Doanh nghiệp nhỏ và vừa

là việc làm có ý nghĩa rất quan trọng Chính phủ cũng đã tạo nhiều điều kiện cho các Doanh nghiệpnhỏ và vừa tiếp cận các nguồn vốn đầu tư, quan tâm đến những lĩnh vực hoạt động của Doanhnghiệp và có nhiều chính sách ưu đãi hỗ trợ vốn Tuy nhiên, trong giai đoạn hiện nay, hầu hết cácdoanh nghiệp đang gặp nhiều khó khăn về tài chính, hoạt động của Doanh nghiệp phụ thuộc rấtnhiều vào nguồn vốn từ các tổ chức tín dụng, và từ các nguồn vốn tài trợ của chính phủ vì vậy mà

nhóm chúng tôi chọn đề tài : “Cơ chế hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa hiện nay tại Việt Nam”.

II MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

 Tổng quan về doanh nghiệp nhỏ và vừa, đặc điểm và vai trò trong nền kinh tế Việt Nam

 Khảo sát thực trạng các cơ chế, chính sách đang áp dụng để hỗ trợ về mặt tài chính tài trợcho Doanh Nghiệp nhỏ và vừa

 Từ thực trạng khó khăn của SME khi tiếp cận cơ chế hỗ trợ tài chính, bài nghiên cứu đưa

ra một số kiến nghị

Trang 3

CHƯƠNG I

TỔNG QUAN DOANH NGHIỆP NHỎ & VỪA

VÀ CƠ CHẾ HỖ TRỢ CHO DOANH NGHIỆP NHỎ & VỪA

I TỔNG QUAN DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA

1 Khái niệm

Có nhiều quan niệm khác nhau về DN nhỏ và vừa (small and medium enterprise - SME), tuynhiên đa phần các định nghĩa về SME đều sử dụng số lượng lao động thường xuyên như một tiêuchí ưu tiên, ngoài ra còn sử dụng quy mô vốn, quy mô doanh thu

Đối với các quốc gia phát triển như Mỹ, Pháp, Nhật thì những doanh nghiệp có số lao động từ

500 người trở xuống thì được xem là có quy mô nhỏ và vừa, trong số đó những DN có số lao động

từ 200 người trở xuống được xem là doanh nghiệp nhỏ

Ở Việt Nam hiện nay, theo Điều 3 chương 1 của Nghị định 56/2009/NĐ-CP của Thủ tướngChính Phủ ban hành ngày 30/06/ 2009 về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa:

Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật,được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ, vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tươngđương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao độngbình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:

20 tỷ đồngtrở xuống

Trên 10 đến

200 người

Trên 20 tỷđồng đến

20 tỷ đồngtrở xuống

Trên 10 đến

200 người

Trên 20 tỷđồng đến

10 tỷ đồngtrở xuống

Trên 10 đến

50 người

Trên 10 tỷđồng đến 50

tỷ đồng

Trên 50 đến

100 người

Trang 4

2 Vai trò

Theo thông tin của Tổng cục thống kê về Doanh nghiệp VN trong giai đoạn 2000-2008:

 Theo quy mô lao động

 Theo quy mô nguồn vốn

Trang 5

 Điều này cho thấy hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam đang hoạt động hiện nay đều là cácSME Với tỷ trọng chiếm khoảng 96% các doanh nghiệp đang hoạt động nên các SME giữvai trò rất quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam Có thể nêu một số vai trò cốt lõi sau:

Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế: với tỷ trọng áp đảo trong tổng số doanh nghiệp (Ở Việt

Nam chỉ xét các doanh nghiệp có đăng ký thì tỷ lệ này khoảng 96%) nên SME đóng góp to lớnvào tổng sản lượng của quốc gia cao, vào việc tăng trưởng kinh tế và tăng giá trị xuất khẩu của

cả nước Ngoài ra, còn góp phần giải quyết việc làm, tăng thu nhập, thực hiện chiến lược xóađói giảm nghèo… Là khu vực thu hút tích cực và có khả năng huy động các nguồn vốn, nguồnlực của xã hội cho đầu tư phát triển Ở nhiều nước trên thế giới, SME đã có mức đóng góp tới50% GDP Ở Việt Nam hiện nay, với số lượng 300.000 doanh nghiệp (2010), chiếm trên 90%tổng số doanh nghiệp của nền kinh tế, các SME đã đóng góp trên 40% GDP hàng năm và tạoviệc làm cho khoảng 2,7 triệu lao động của cả nước

Giữ vai trò ổn định nền kinh tế: ở phần lớn các nền kinh tế, các SME là những nhà thầu phụ cho

các doanh nghiệp lớn Sự điều chỉnh hợp đồng thầu phụ tại các thời điểm cho phép nền kinh tế

có được sự ổn định Vì thế, SME được ví là thanh giảm sốc cho nền kinh tế Là bộ phận cầnthiết trong quá trình liên kết sản xuất của doanh nghiệp lớn, tập đoàn lớn

Làm cho nền kinh tế năng động: vì SME có quy mô nhỏ, nên dễ điều chỉnh (xét về mặt lý thuyết)

hoạt động Góp phần thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hóa, hiệnđại hóa

Tạo nên ngành công nghiệp và dịch vụ phụ trợ quan trọng: SME thường chuyên môn hóa vào

sản xuất một vài chi tiết được dùng để lắp ráp thành một sản phẩm hoàn chỉnh Góp phần đápứng nhu cầu về hàng tiêu dùng cho xã hội, sản xuất các sản phẩm hàng công nghiệp, thủ công

mỹ nghệ và duy trì, phát huy ngành nghề truyền thống

Là trụ cột của kinh tế địa phương: nếu như doanh nghiệp lớn thường đặt cơ sở ở những trung

tâm kinh tế của đất nước, thì SME lại có mặt ở khắp các địa phương và là người đóng gópquan trọng vào thu ngân sách, vào sản lượng và tạo công ăn việc làm ở địa phương

Góp phần đào tạo, bỗi dưỡng doanh nhân nguồn nhân lực quan trọng cho phát triển kinh tế

-xã hội

3 Đặc điểm

 Kinh tế tư nhân tuy rộng lớn nhưng về cơ bản là kinh tế hộ gia đình, hộ cá thể với quy mô nhỏ

và đang phải đối mặt với nhiều khó khăn, thách thức

 Trình độ công nghệ, kỹ thuật lạc hậu so với mức trung bình của thế giới, hơn nữa tốc độ đổimới lại quá chậm Hạn chế về năng lực cán bộ và công tác nghiên cứu trong doanh nghiệp,nghiên cứu để ứng dụng trong sản xuất – kinh doanh

Trang 6

 Trình độ quản lý và tay nghề của người lao động còn hạn chế, chủ yếu là lao động làm việcgiản đơn, tỷ lệ lao động đã qua đào tạo nghề thấp, sức khỏe hạn chế, năng suất lao độngkhông cao

 Sức cạnh tranh của doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ thấp:

 Sức cạnh tranh của sản phẩm, dịch vụ: yếu tố tư bản cấu thành trong sản phẩm thấp, hàmlượng tri thức và công nghệ trong sản phẩm không cao, tính độc đáo không cao, giá trị giatăng trong tổng giá trị sản phẩm nói chung thấp

 Khả năng hạn chế về vốn, khả năng tiếp cận nguồn thông tin … của các SME, sự bảo hộcủa Nhà nước đối với khu vực doanh nghiệp nhà nước đã hạn chế năng lực cạnh tranhcủa các SME

 Quản trị nội bộ của SME còn yếu, nhất là quản trị tài chính, ý thức chấp hành các chế độchính sách chưa cao, còn lúng túng trong việc liên kết, nhất là liên kết trong cùng một hộingành nghề

II CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHO CÁC SME TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong bối cảnh cạnh tranh ngày càng gay gắt và xu hướng hội nhập kinh tế quốc tế, việc tạođiều kiện để các SME phát triển là cần thiết Theo Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30/06/2009 của

CP về trợ giúp phát triển DNN&V và Nghị quyết số 22/NQ-CP ngày 05/05/2010 của CP về triểnkhai thực hiện nghị định 56, cho thấy Nhà nước đánh giá vai trò rất quan trọng của khu vựcDNN&V hiện nay

8 nhóm biện pháp chủ yếu để triển khai thực hiện hỗ trợ các SME nhằm phát huy mọi khả năng

và nguồn lực đẩy mạnh hoạt động SXKD

1 Trợ giúp tài chính

 Thành lập quỹ bảo lãnh tín dụng doanh nghiệp nhỏ và vừa

 Hỗ trợ tăng cường năng lực cho các tổ chức tài chính để

 mở rộng tín dụng cho SME

 đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ phù hợp với SME

 cung cấp các dịch vụ hỗ trợ về tư vấn tài chính, quản lý đầu tư,… cho đối tượng kháchhàng là SME

 Thông qua các chương trình trợ giúp đào tạo, Nhà nước hỗ trợ các SME nâng cao năng lực lập

dự án, phương án kinh doanh nhằm đáp ứng yêu cầu của TCTD khi thẩm định hồ sơ vay vốn

 Thành lập Quỹ phát triển SME, với hoạt động

Trang 7

 Tiếp nhận, quản lý và sử dụng các nguồn tài chính trong và ngoài nước để thực hiện cáchoạt động hỗ trợ phát triển SME

 Tài trợ kinh phí cho các chương trình, các dự án trợ giúp nâng cao năng lực cạnh tranh,năng lực kỹ thuật, công nghệ, năng lực quản trị doanh nghiệp cho SME

 Ủy thác cho các tổ chức tín dụng cho vay ưu đãi các SME có dự án đầu tư khả thi thuộclĩnh vực ưu tiên, khuyến khích của nhà nước

2 Mặt bằng sản xuất

Chủ trương dành quỹ đất và thực hiện các biện pháp khuyến khích xây dựng các khu, cụm côngnghiệp cho SME thuê làm mặt bằng sản xuất, kinh doanh hoặc di dời ra khỏi nội thành, nội thị đểđảm bảo cảnh quan môi trường

3 Hỗ trợ đổi mới, nâng cao năng lực công nghệ, trình độ kỹ thuật thông qua các chương trình

trợ giúp, Quỹ phát triển khoa học công nghệ quốc gia,

4 Xúc tiến mở rộng thị trường

5 Cơ chế khuyến khích SME tham gia cung ứng các sản phẩm, dịch vụ công

6 Về thông tin và tư vấn

Thông qua Cổng thông tin điện tử, các SME được cập nhật những thông tin mới nhất về văn bảnpháp luật, các chính sách, các chương trình trợ giúp, Các tổ chức cung cấp dịch vụ tư vấn choSME được khuyến khích hoạt động

7 Trợ giúp phát triển nguồn nhân lực

8 Vườn ươm doanh nghiệp, nhằm hỗ trợ các doanh nghiệp trong thời gian khởi sự để hiện thực

hóa các ý tưởng kinh doanh

Trong khuôn khổ của bài nghiên cứu này, chỉ đề cập sâu 1 nhóm biện pháp trợ giúp cho SME là cơ chế trợ giúp tài chính.

Trang 8

CHƯƠNG II

CƠ CHẾ HỖ TRỢ TÀI CHÍNH CHO DOANH NGHIỆP NHỎ VÀ VỪA HIỆN NAY

Hạn chế lớn nhất của các DNNVV là vốn ít, từ đó hạn chế đến việc trang bị máy móc, thiết bị

và công nghệ tiên tiến, đồng thời cũng rất khó khăn trong việc mở rộng hoạt động sản xuất kinhdoanh Do đó, việc hỗ trợ về mặt tài chính thông qua các cơ chế tài chính của Nhà nước và Chínhphủ đóng vai trò rất quan trọng trong việc giúp các DNNVV đáp ứng nhu cầu về vốn để phục vụhoạt động SXKD

I CƠ CHẾ HỖ TRỢ VỀ THUẾ

Thuế là một trong những công cụ quản lý và điều tiết vĩ mô quan trọng, sắc bén của Nhà nướcđối với mọi cơ sở sản xuất kinh doanh trong toàn bộ nền kinh tế Thông qua công cụ tài chính này,Nhà nước có thể hỗ trợ cho khu vực SME:

1 Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp

Năm 2009, để đối phó với lạm phát, khủng hoảng, Chính phủ thực hiện việc gia hạn nộp thuếthu nhập doanh nghiệp cho một số ngành hàng, dịch vụ Tổng số thuế ước giãn cho cả đợt vàokhoảng 10.000 tỷ đồng

Ngày 06/04/2011, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định 21/2011/QĐ-TTg về việc Giahạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệp của doanh nghiệp nhỏ và vừa nhằm tháo gỡ khó khăn, gópphần thúc đẩy phát triển kinh tế năm 2011

Theo Quyết định, các SME có nguồn thu không từ hoạt động kinh doanh bất động sản, tàichính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán, và những ngành không khuyến khích đầu tư, sẽ đượcgia hạn nộp thuế trong thời gian 1 năm kể từ ngày đến thời hạn nộp thuế theo quy định

Theo ước tính của Bộ Tài chính, số tiền dành cho đợt gia hạn nộp thuế thu nhập doanh nghiệpnày vào khoảng 7.000 tỷ đồng Số đơn vị nằm trong diện có thể được gia hạn nộp thuế vào khoảng200.000 trên tổng số hơn 300.000 SME đang hoạt động tại Việt Nam

2 Thuế giá trị gia tăng

Trước quý I/2011, tất cả các doanh nghiệp bất kể quy mô đang phải thực hiện thủ tục kê khaithuế GTGT hằng tháng Điều này là không cần thiết, tạo gánh nặng tuân thủ lên đa số các SME,khi đại đa số các SME có mức phát sinh thuế hàng tháng thấp

Trang 9

Sự thông qua Nghị quyết 68/NQ-CP về thủ tục Khai thuế giá trị gia tăng (GTGT) hàng năm đãđơn giản hóa thủ tục khai thuế cho SME Theo đó thay vì mỗi tháng kê khai một lần, kể từ quý I/

2011 doanh nghiệp nhỏ và vừa sẽ kê khai thuế GTGT 3 tháng /lần; hộ kinh doanh là 6 tháng/lần.Với tần suất này, cơ quan thuế vẫn kiểm soát được việc nộp thuế, vẫn bảo đảm được an toàn vềnguồn thu ngân sách nhưng lại giảm đáng kể gánh nặng về tuân thủ Ngoài ra, theo tính toán củaTổng cục Thuế, việc giảm tần suất kê khai này sẽ tiết kiệm trên 600 tỷ đồng/năm cho các doanhnghiệp

II HỖ TRỢ SME TIẾP CẬN NGUỒN VỐN TÍN DỤNG

1 Một số hỗ trợ từ phía chính phủ, các tổ chức quốc tế

 Phê chuẩn khoản vay 40 triệu USD hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ

Nhà tài trợ Chương trình: ADB (Ngân hàng Phát triển Châu Á)

Thời gian ký kết khoản tín dụng: 24/12/2010

Khoản tín dụng ưu đãi trị giá 40 triệu USD, với thời hạn là 24 năm trong đó có 8 năm ân hạn,với lãi suất là 1,0%/năm trong thời gian ân hạn và 1,5% trong những năm tiếp theo

Cơ quan điều hành Chương trình: Bộ Kế hoạch và Đầu tư

Khoản vay sẽ hỗ trợ trực tiếp ngân sách nhà nước nhằm tài trợ cho chương trình cải cách vàphát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa với 3 nội dung chính:

 Tăng cường khuôn khổ hỗ trợ phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ;

 Đẩy mạnh khung chính sách cạnh tranh;

 Tăng cường khả năng tiếp cận tài chính của các doanh nghiệp vừa và nhỏ

 Dự án SMEFP do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua NH Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC)

Dự án SMEFP do Chính phủ Nhật Bản tài trợ thông qua NH Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC),

là dự án truyền thống đã triển khai từ năm 1999 qua hai giai đoạn với số vốn trung và dài hạntương đương trên 9 tỉ yen

+ Giai đoạn I: vốn cam kết tài trợ là 4 tỷ yên Nhật, bắt đầu giải ngân từ 2002, kết thúc năm2005

+ Giai đoạn II: với số vốn cam kết là 6,1 tỷ yên, giải ngân chính thức từ năm 2007 và kết thúcvào khoảng cuối năm 2009

 Qua 02 giai đoạn I&II: giải ngân được # 5.800 tỷ đồng cho khoảng 1.000 SME trên cảnước

Trang 10

Dự án đã đem lại nhiều điểm tích cực cho nền kinh tế Việt Nam:

 Thứ nhất: Về phía các doanh nghiệp nhỏ và vừa, không những chủ động được nguồn vốndài hạn để đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh, mà còn nhận được các hỗ trợ phi tài chính

để nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, giúp nâng cao năng lực cạnh tranh Còn các ngânhàng thương mại tham gia dự án cũng có thêm nguồn lực tài chính dài hạn với chi phí vốnthấp, có thể quay vòng để cho vay nhiều doanh nghiệp hơn

 Thứ hai, nếu so sánh với nguồn vốn huy động từ cổ phần hóa hoặc phát hành cổ phiếu thìnguồn vốn tín dụng này không bị áp lực lớn từ các cổ đông

 Thứ ba, nguồn vốn tín dụng mở rộng phạm vi sử dụng đến nhiều đối tượng như ngân hàngthương mại, doanh nghiệp và đơn vị sản xuất kinh doanh có nhu cầu vay vốn để phục vụmục đích phát triển kinh tế

Hiện nay, Chính phủ Nhật Bản tiếp tục tài trợ giai đoạn 3 với số vốn lớn hơn, trị giá 15 tỉ yen(khoảng 170 triệu USD) và số ngân hàng tham gia cho vay lại tăng từ 9 tăng lên 17 Thỏa thuậnkhung về cho vay lại dự án tài trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ giai đoạn 3 (SMEFP 3) được ký kếtngày 17/03/2010 giữa Ban quản lý các dự án tín dụng quốc tế viện trợ phát triển (ODA), Ngânhàng Nhà nước, 17 NH thương mại nhà nước và NH cổ phần

Mục tiêu chính của dự án là cung cấp vốn vay trung và dài hạn cho SME, tạo điều kiện thuậnlợi cho các doanh nghiệp này dễ dàng tiếp cận nguồn vốn Đồng thời sẽ giúp các ngân hàng tăngcường năng lực tài trợ cho SME

 Cơ hội cho doanh nghiệp nhỏ và vừa tiếp cận nguồn vốn tín dụng dài hạn từ Quỹ đầu tư SEAF Blue Waters Growth Fund (SEAF BWGF)

Quỹ SEAF BWGF thành lập năm 2007 với mục tiêu đầu tư tài chính tại Việt Nam với vốn camkết 25 triệu USD Hình thức đầu tư của quỹ là cho vay dài hạn với lãi suất cố định trong 5 năm vớikhoản đầu tư từ 300.000-600.000 USD Cho vay dài hạn có chia sẻ một phần giá trị tăng thêm củadoanh nghiệp vào cuối kỳ hạn vay đối với khoản đầu tư từ 600.000-2,5 triệu USD Cuối cùng làhình thức mua trái phiếu chuyển đổi với khoản đầu tư từ 1-2,5 triệu USD vào doanh nghiệp cổphần, có kế hoạch niêm yết

Tiêu chí xác định SME của Quỹ: doanh nghiệp có doanh thu từ 15 - 300 tỷ đồng/năm, có lịch

sử dòng tiền dương và tiềm năng tăng trưởng cao, DN phải có báo cáo tài chính minh bạch, có kếhoạch kinh doanh rõ ràng

Nội dung hỗ trợ: SME được vay vốn không cần thế chấp bằng bất động sản, chỉ phụ thuộc vàodòng tiền tương lai thu về của doanh nghiệp theo dự án sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, chủdoanh nghiệp phải cam kết bảo lãnh trả nợ thay cho doanh nghiệp bằng tài sản thuộc sở hữu củamình

Trang 11

Các bước thực hiện cụ thể để SME tiếp cận nguồn vốn: Trước khi quyết định bất cứ khoản đầu

tư nào, SEAF đều tiến hành nhiều bước cơ bản:

 Đầu tiên là tiếp xúc để trao đổi về tình hình kinh doanh hiện tại và kế hoạch phát triển củadoanh nghiệp Nếu xét thấy đủ điều kiện hợp tác, SEAF sẽ thẩm định chi tiết, toàn diện vềtài chính và các mặt khác của họ

 Tiếp đến, các điều kiện và điều khoản đầu tư cụ thể sẽ được thống nhất dựa trên cơ sởtrao đổi, xem xét nhu cầu của doanh nghiệp cùng những cơ hội và rủi ro xác định đượctrong quá trình thẩm định

 Sau đó là các thủ tục pháp lý cần thiết và giải ngân theo lịch đã thống nhất

Hiện nay, SEAF đã đầu tư vào 12 SME Việt Nam thuộc nhiều ngành nghề từ sản xuất, phânphối hàng hoá đến dịch vụ Hiệu quả của doanh nghiệp không chỉ thể hiện bằng con số tăngtrưởng doanh thu, lợi nhuận sau đầu tư mà còn ở sự chuyển biến tích cực về tính chuyên nghiệp,mức độ minh bạch và vị trí cạnh tranh trên thương trường Nhìn chung, những doanh nghiệp SEAFđầu tư đều tăng trưởng tốt

 Chương trình kích cầu của Chính Phủ thông qua bù lãi suất cho các khoản vay lưu động

Mặc dù chương trình hỗ trợ này của Chính Phủ đã kết thúc, nhưng đó là một chương trình hỗtrợ mạnh mẽ đối với nền kinh tế, nên nhóm quyết định đưa vào bài nghiên cứu này để minh họacho các hành động cụ thể hỗ trợ SME từ phía Nhà nước

Từ tháng 02/2009 Chính phủ thông qua kế hoạch sử dụng 1.700 tỷ đồng để kích cầu đầu tưthông qua việc bù lãi suất khi doanh nghiệp vay vốn lưu động đến 31/12/2009 và đối với trung dàihạn kéo dài tối đa 24 tháng Qua chương trình hỗ trợ lãi suất này đã mang lại nhiều tín hiệu tíchcực:

 Thứ nhất, sự hỗ trợ của Nhà nước thông qua kích cầu đã làm cho tình hình tài chính củamột bộ phận của cộng đồng SME bớt căng thẳng Việc vay được vốn lưu động với lãi suất

ưu đãi thực sự là liều thuốc trị đúng bệnh Những doanh nghiệp vay được vốn từ kế hoạchkích cầu này đã không chỉ bớt căng thẳng về tài chính mà còn có thêm thời gian để tìmcách xoay sở phục hồi kinh doanh

 Thứ hai, sức mua của thị trường đã được cải thiện từng bước mặc dù còn rất chậm vàkhác nhau ở những ngành kinh doanh khác nhau

 Thứ ba, những tín hiệu của sự hồi phục kinh tế, đặc biệt trong các lĩnh vực kinh doanhnhạy cảm như chứng khoán, ngân hàng, bất động sản vv…cùng với các giải pháp quyếtliệt của Chính phủ trong việc thực hiện kế hoạch kích cầu đã tạo ra tâm lý lạc quan hơn đốivới cộng đồng doanh nghiệp

Trang 12

Tuy nhiên bên cạnh những dấu hiện đáng tích cực trên thì chính sách hỗ trợ lãi suất này cũng

có những mặt trái:

 Thứ nhất, không phải tất cả các khoản tín dụng từ phía ngân hàng được Nhà nước hỗ trợlãi suất đều đến được đúng đối tượng doanh nghiệp cần vay Thực tế cho thấy nhiềudoanh nghiệp đáng được vay lại không vay được, trong số đó các doanh nghiệp vừa vànhỏ chịu nhiều thiệt thòi nhất Qua kiểm tra, số tiền lãi hỗ trợ lãi suất phải truy thu từ nhữngdoanh nghiệp không phù hợp đối tượng quy định trong quyết định số 131//QĐ-TTg vàthông tư số 02/2009/TT-NHNN lên đến hàng chục tỷ đồng

 Thứ hai, dù cho những quy định về điều kiện cho vay ưu đãi khá nghiêm ngặt vì các khoản

hỗ trợ lãi suất là kinh phí từ ngân sách, đã xảy ra không ít hiện tượng lợi dụng mức lãi suất

hỗ trợ thấp để trục lợi bằng cách vận động để được vay ưu đãi với lãi suất thấp và cho vaylại hay gửi tiền tại ngân hàng thương mại với lãi suất cao hơn để hưởng chênh lệch, đặcbiệt trong tình hình các ngân hàng thương mại thiếu thanh khoản nghiêm trọng và phải huyđộng nguồn tiền gửi với lãi suất cao như cuối năm 2009 và đầu năm 2010

 Thứ ba, việc doanh nghiệp sử dụng nguồn vốn cho vay hỗ trợ lãi suất không đúng mụcđích là khá phổ biến Tại hầu hết các ngân hàng thương mại được kiểm tra, cơ quan chứcnăng phát hiện nhiều khoản vay hỗ trợ lãi suất đã bị sử dụng sai mục đích hoặc không đủgiấy tờ hợp lệ để được giải ngân

 Nhược điểm cũng cần được nói đến là tuy việc hỗ trợ lãi suất sử dụng nguồn tiền từ ngânsách Nhà nước, nhưng cơ chế giám sát, kiểm tra việc sử dụng nguồn tiền hỗ trợ còn lỏnglẻo và có nhiều bất cập, có thể vì đây là một chủ trương chưa có tiền lệ, hoặc vì việc triểnkhai gói kích cầu chống khủng hoảng quá gấp rút, hoặc vì các nhà hoạch định chính sáchchưa "bao quát hết tất cả những trường hợp cho vay, xử lý hết các vấn đề phức tạp trongthực tiễn cho vay của các tổ chức tín dụng"

 Bảo lãnh tín dụng cho SME tại Ngân hàng Phát triển Việt Nam

Quỹ bảo lãnh tín dụng cho SME do Chính phủ thành lập và giao cho Ngân hàng Phát triển thựchiện bảo lãnh theo Quy chế bảo lãnh tín dụng hiện hành (Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg ngày20/12/2001, số 115/2004/QĐ-TTg ngày 25/6/2004 sửa đổi, bổ sung Quyết định số 193/2001/QĐ-TTg) và Công văn số 2081/TTg-KTTH của Thủ tướng Chính phủ ngày 28/11/2008 Nguồn hìnhthành quỹ là từ vốn ngân sách và sự tài trợ, đóng góp của các tổ chức tài chính, tín dụng trongnước và quốc tế

Quỹ bảo lãnh tín dụng góp phần tạo điều kiện thuận lợi cho các SME trong việc tiếp cận nguồnvốn tín dụng ngân hàng do thực tế SME gặp những khó khăn như:

Trang 13

 Vốn chủ sở hữu của các SME thường ít, các ngân hàng thương mại và các tổ chức tíndụng rất nghi ngờ khả năng trả nợ của các doanh nghiệp này.

 Một trong những điều kiện bắt buộc để vay vốn là phải có tài sản thế chấp, trong khi đóphần lớn các SME không có tài sản thế chấp

 Quỹ phát triển SME

Trước yêu cầu bức xúc về phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế, việc thành lập Quỹ phát triểnDNNVV Việt Nam đang là yêu cầu cấp thiết, chín muồi Sự ra đời của Quỹ phát triển DNNVV lúcnày đã có đầy đủ cơ sở pháp lý, đó là Nghị định 56/2009/NĐ-CP ngày 30-6-2009 và Nghị quyết22/2010/NQ-CP ngày 5-5-2010 của Chính phủ về trợ giúp phát triển DNNVV, cùng các quy định vềthành lập Quỹ phát triển DNNVV Việt Nam, phù hợp với thông lệ quốc tế khi thực hiện chính sáchphát triển DNNVV

Nhìn ra nước ngoài, chúng ta thấy ở Nhật Bản có công ty tài chính cho DNNVV (JFC), là công

ty 100% vốn nhà nước với 2 bộ phận trực tiếp hỗ trợ cho cá nhân và doanh nghiệp siêu nhỏ ỞThái Lan có ngân hàng phát triển DNNVV, với chức năng chính là hỗ trợ, tăng cường năng lựccạnh tranh của các DNNVV làm nền tảng phát triển vững chắc cho nền kinh tế Hàn Quốc có công

ty quản lý DNNVV (SBC) - một tổ chức phi lợi nhuận - được Chính phủ thành lập từ năm 1979,đảm nhận trách nhiệm cung cấp tài chính và các chương trình phi tài chính cho DNNVV, nhằmphát triển mở rộng sản xuất, đa dạng hóa sản phẩm, hợp tác toàn cầu… Ngoài ra, theo lộ trình hợptác phát triển DNNVV trong ASEAN, “Bản hành động cộng đồng kinh tế” được thông qua tại Hộinghị thượng đỉnh ASEAN 13 (diễn ra từ ngày 18 đến 22-11-2007 tại Singapore), giai đoạn 2014-

2015 sẽ thành lập Quỹ phát triển DNNVV cấp khu vực nhằm tài trợ cho các chương trình nâng caonăng lực cạnh tranh, thân thiện với môi trường của cộng đồng DNNVV

Hiện nay ở Việt Nam, các điều kiện và cơ hội thành lập Quỹ phát triển DNNVV Việt Nam đãđầy đủ và đang cận kề Đề án xây dựng và cơ chế quản lý điều hành Quỹ đã được các bộ, ngànhchức năng xem xét lần cuối, trình Chính phủ để quyết định thực hiện Kỳ vọng động lực phát triểnmới sẽ sớm đến với cộng đồng DNNVV Việt Nam Theo đó, quỹ này sẽ huy động và tiếp nhận cácnguồn tài chính trong nước và quốc tế để tài trợ cho DNNVV, ưu tiên tài trợ kinh phí cho việc nângcao năng lực cạnh tranh, đầu tư đổi mới trang thiết bị kỹ thuật, nâng cao năng lực quản lý và đàotạo nguồn nhân lực Đồng thời cũng tài trợ cho các chương trình, sự kiện có khả năng tạo được sựgắn kết, liên kết mạnh mẽ các DNNVV với nhau theo ngành hàng, theo vùng miền

2 Từ phía các ngân hàng

Các ngân hàng thương mại, đặc biệt là ngân hàng thương mại cổ phần hiện nay tại Việt Nam

có tỷ trọng cho vay SME trung bình trong cơ cấu vốn cho vay là khoảng 60% – 65% Dịch vụ ngân

Ngày đăng: 19/12/2013, 16:48

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w