1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

CƠ CHẾ GIÁM sát hệ THỐNG NGÂN HÀNG và NHỮNG QUY ĐỊNH TRỌNG yếu của BASEL

33 392 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Cơ chế giám sát hệ thống ngân hàng và những quy định trọng yếu của basel
Tác giả Bùi Thị Hồng Hoa, Đoàn Ngọc Minh Hiếu, Dương Thị Thùy Dung, Trần Ngọc Dung, Nguyễn Dương Xuân Hồng
Trường học Đại Học Quốc Gia TP.HCM
Chuyên ngành Kinh Tế Tài Chính Ngân Hàng
Thể loại Tiểu luận
Năm xuất bản 2010
Thành phố TP.HCM
Định dạng
Số trang 33
Dung lượng 728,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

do sự biến động của kinh tế gây ra vì thế cần thiết phải có một tổ chức có chức năng quản lýđối với các Ngân hàng thương mại đó chính là Ngân hàng nhà nước.Với các chức năngthanh tra, gi

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM

2 ĐOÀN NGỌC MINH HIẾU

3 DƯƠNG THỊ THÙY DUNG

4 TRẦN NGỌC DUNG

5 NGUYỄN DƯƠNG XUÂN HỒNG

LỚP : CAO HỌC KHÓA 9CHUYÊN NGÀNH : KINH TẾ TÀI CHÍNH NGÂN HÀNG

Trang 2

TP.HCM, NĂM 2010

Chúng tôi gồm những thành viên ký tên dưới đây là học viên lớp cao học khóa 9 chuyên ngành Kinh tế Tài chính – Ngân hàng cùng cam kết:

Tất cả các thành viên đều tham gia viết tiểu luận này Mức

độ tham gia đóng góp của các thành viên là ngang nhau, từng thành viên thực hiện công việc theo sự phân công được tất cả các thành viên thông qua

Điểm số của tiểu luận cũng chính là điểm số của từng thành viên:

BÙI THỊ HỒNG HOA

ĐOÀN NGỌC MINH HIẾU

DƯƠNG THỊ THÙY DUNG

TRẦN NGỌC DUNG

NGUYỄN DƯƠNG XUÂN HỒNG

Trang 3

do sự biến động của kinh tế gây ra vì thế cần thiết phải có một tổ chức có chức năng quản lýđối với các Ngân hàng thương mại đó chính là Ngân hàng nhà nước.Với các chức năngthanh tra, giám sát Ngân hàng Nhà Nước áp dụng các biện pháp ngăn chặn và xử lý theothẩm quyền hoặc kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền xử lý theo quy định của phápluật.

Hội nhập quốc tế là xu hướng tất yếu của nền kinh tế thế giới, là điều kiện tiền đề cầnthiết để phát triển kinh tế quốc gia trong đó đẩy mạnh hội nhập Ngân hàng, xây dựng hệthống Ngân hàng vững mạnh để thu hút vốn cho nền kinh tế đang cần vốn như Việt Nam làmột trong những vấn đề được quan tâm nhất Vấn đề quan trọng đặt ra phải chuẩn bị một lộtrình hội nhập hợp lý vì thế vai trò giám sát điều hành của Ngân hàng Nhà Nước đối với cácNgân hàng thương mại cần phải phù hợp với bối cảnh Việt Nam và đòi hỏi phải hoà mìnhvới quốc tế khi chúng ta đã hội nhập vì thế nhóm chúng tôi chọn đề tài “Cơ chế giám sát hệthống Ngân hàng và những qui định trọng yếu của Basel 2”

2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

Như đã đề cập ở trên, Cơ chế giám sát hệ thống Ngân hàng và những qui định trọngyếu của Basel 2 là vấn đề đang đựơc quan tâm trong bối cảnh hiện nay Vấn đề nghiên cứu ởđây là nghiên cứu thực trạng cơ chế giám sát hệ thống Ngân hàng của Ngân hàng nhà nước

và những qui định trọng yếu của Basel 2 như thế nào Đề tài gồm 4 chương:

Trang 4

 CHƯƠNG 1: TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁM SÁT HỆ THỐNG NGÂNHÀNG

 CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH TRỌNG YẾU CỦA HIỆP ĐỊNH BASEL 2

 CHƯƠNG 3: CƠ CHẾ GIÁM SÁT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG CÁC NƯỚC

 CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG GIÁM SÁT CỦA NGÂN HÀNG NHÀ NƯỚC VIỆTNAM ĐỐI VỚI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

3 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Thu thập tài liệu về sự giám sát của Ngân hàng Nhà Nước đối với các Ngân hàngthương mại, các công cụ mà Ngân hàng Nhà nước đã sử dụng cùng với những bài viết,những thông tin mà báo chí và các nhà nghiên cứu đưa ra

Phân tích các sự kiện các bài viết qua cái nhìn của các chuyên gia và cánh báo chí từ

đó phân tích, tổng hợp để viết đề tài

4 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

Tính đến nay, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về nội dung “Cơ chế giám sát của hệthống Ngân hàng Nhà nước với Ngân hàng thương mại và những qui định trọng yếu củaBasel 2”,chúng tôi cũng xin góp phần khái quát những gì mà báo chí đã đề cập qua đó cũng

cố gắng cung cấp một số thông tin cần thiết cho vấn đề này

5 Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI

Nhóm chúng tôi hy vọng đề tài này sẽ mang lại những đóng góp nhỏ cho các bạn

tham khảo và nghiên cứu để hiểu rõ hơn về cơ chế giám sát và vai trò cuả Ngân hàng nhànước với các Ngân hàng thương mại cùng với những công cụ của mình trong vai trò giámsát, quản lý

CHƯƠNG 1:

Trang 5

TẦM QUAN TRỌNG CỦA VIỆC GIÁM SÁT HỆ

THỐNG NGÂN HÀNG

1.1 TẠI SAO PHẢI GIÁM SÁT HỆ THỐNG NGÂN HÀNG?

1.1.1 Góp phần bảo đảm cho hệ thống tổ chức tín dụng hạn chế rủi ro, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người gửi tiền

 Hoạt động của các tổ chức tín dụng là kinh doanh tiền tệ, tín dụng và cung ứngcác dịch vu Ngân hàng nhằm đạt được lợi nhuận, ít rủi ro, giữ vững được lòng tin của ngườigửi tiền để hệ thống Ngân hàng thương mại hoạt động phát triển bền vững Để đạt được cácmục tiêu trên, các tổ chức tín dụng phải quản lý tốt tài sản Có và tài sản Nợ của mình Thanhtra Ngân hàng có tác dụng rất quan trọng trong quá trình quản lý hoạt động của các tổ chứctín dụng

 Bảo đảm cho các tổ chức tín dụng có đủ khả năng chi trả thường xuyên cho ngườigửi tiền, kể cả khi khách hàng rút tiền ồ ạt Biện pháp để thỏa mãn yêu cầu này là các Ngânhàng phải luôn luôn có một lượng vốn đáp ứng được yêu cầu rút tiền của người gửi tiền Vìvậy, Ngân hàng phải quản lý tốt tiền dự trữ nhằm bảo đảm khả năng chi trả thường xuyêncho khách hàng Điều đó không chỉ giữ vững lòng tin đối với khách hàng mà còn là nghệthuật trong điều hành hoạt động kinh doanh của người quản lý các tổ chức tín dụng trongnền kinh tế thị trường Quá trình theo dõi khả năng chi trả, các nhà quản lý điều hành hoạtđộng Ngân hàng phải theo dõi hàng ngày sự biến động của tiền gửi, để quản lý tài sản Cótrong trạng thái động, nhằm đáp ứng khả năng chi trả thường xuyên cho khách hàng Mặtkhác, việc theo dõi, báo động khả năng chi trả của các tổ chức tín dụng cũng là trách nhiệmcủa Ngân hàng Nhà nước trong vai trò quản lý vĩ mô thông qua hoạt động của thanh traNgân hàng

 Bảo đảm quản lý tài sản Có của các tổ chức tín dụng để nâng cao chất lượng kinhdoanh của Ngân hàng

Trang 6

o Hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng chủ yếu là huy động vốnnhàn rỗi trong xã hội và sử dụng để cho vay để thu lợi nhuận.

o Hoạt động kinh doanh Ngân hàng có các đặc điểm

 Chất lượng và kết quả cho vay phụ thuộc vào chất lượng người sử dụngvốn vay Vì thế, cần phải có biện pháp điều tra chất lượng của người vay vốn, theo dõi quátrình sử dụng vốn vay để có biện pháp thu hồi vốn và lãi vay một cách thuận lợi, an toàn

 Sản phẩm kinh doanh của các tổ chức tín dụng thường là sản phẩm dởdang, khi hết thời hạn vay, thu hồi vốn và lãi vay mới hoàn thành chu kỳ kinh doanh, nên rấtkhó tính giá thành và hiệu quả kinh doanh Do đó, yêu cầu về chế độ hạch toán tài chính phải

rõ ràng, nghiêm túc và thuận lợi

o Kinh doanh Ngân hàng có nhiều rủi ro, vì thế cho vay phải có biện phápphòng ngừa đề phòng rủi ro

Từ những đặc điểm kinh doanh cho vay của các tổ chức tín dụng, muốn bảo đảm chấtlượng cho vay an toàn, hiệu quả Các tổ chức tín dụng phải thiết lập được quan hệ làm ăn lâudài với những khách hàng có uy tín, thường xuyên giám sát chặt chẽ, kiểm tra bảo đảm nợvay của khách hàng vay vốn để có biện pháp hạn chế rủi ro thấp nhất Mặt khác, Ngân hàngNhà nước phải có biện pháp tăng cường kiểm tra, thanh tra việc quản lý tài sản Có của các tổchức tín dụng, thực hiện nghiêm túc các quy chế hoạt động Ngân hàng, bắt buộc các Ngânhàng thương mại phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, lập quỹ dự trữ bắt buộc…

1.1.2 Góp phần ổn định nền kinh tế, tài chính, tiền tệ của đất nước

Hoạt động của Ngân hàng ảnh hưởng đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốcdân Nó là cầu nối giữa người gửi tiền và người vay vốn để sản xuất kinh doanh, đáp ứngnhu cầu tiêu dùng cho đời sống, làm nảy sinh những quan hệ phức tạp, rất quan trọng giốngnhư hệ thần kinh trong cơ thể con người

 Về phương diện tài chính quốc gia, tín dụng là một khâu quan trọng trong hệ thống

đó Vì vậy, một khi tín dụng bị chao đảo sẽ ảnh hưởng đến các khâu khác, làm cho toàn bộ

hệ thống tài chính quốc gia lung lay theo

Trang 7

 Về phương diện kinh doanh, kinh doanh Ngân hàng là một nghề có nhiều rủi ro.Ngân hàng huy động được vốn nhàn rỗi mới có nguồn để cho vay, nếu người đi vay khôngtrả được nợ sẽ dẫn đến rủi ro làm cho Ngân hàng mất khả năng thanh toán và nguy cơ vỡ nợ,phá sản là hiển nhiên Một tổ chức tín dụng bị vỡ nợ dễ dẫn đến mất ổn định về kinh tế, tàichính, tiền tệ trong nền kinh tế.

Thanh tra Ngân hàng với chức năng, nhiệm vụ của mình thường xuyên giám sát, kiểmtra, thanh tra mọi hoạt động kinh doanh của các tổ chức tín dụng, góp phần thực hiện nghiêmtúc các chính sách, pháp luật về tiền tệ, tín dụng và hoạt động Ngân hàng, thực hiện các biệnpháp an toàn tài sản cho khách hàng, lợi ích của cổ đông, phát triển nền kinh tế

 Gia tăng hiệu quả và khả năng cạnh tranh của hệ thống tài chính:

o Năng lực cạnh tranh của Ngân hàng được đo bằng khả năng duy trì và mở rộng thịphần, thu lợi nhuận của ngân hàng trong môi trường cạnh tranh trong và ngoài nước Vì vậy,năng lực cạnh tranh Ngân hàng thương mại là sự tổng hợp của các yếu tố từ công tác chỉ đạo

và điều hành, chất lượng đội ngũ cán bộ, uy tín và thương hiệu của Ngân hàng thương mại

o VIệc thanh tra, giám sát thường xuyên sẽ giúp nâng cao hiệu quả điều hành vĩ mô,nhất là trong việc thiết lập, điều hành chính sách tiền tệ quốc gia và trong việc quản lý, giámsát hoạt động của các trung gian tài chính; phối hợp cùng Bộ Tài chính tham gia xây dựng vàphát triển đa dạng thị trường vốn, tạo điều kiện san sẻ bớt gánh nặng cung cấp vốn hiện nay

mà các Ngân hàng thương mại đang phải gánh vác; giúp đẩy nhanh thực hiện cổ phần hóacác Ngân hàng thương mại Nhà nước, tạo điều kiện cho các Ngân hàng này hoạt động antoàn và hiệu quả hơn; nâng cao chất lượng cán bộ, năng lực quản trị, khả năng cạnh tranhcủa hệ thống tài chính

1.2.1 CÁC HÌNH THỨC GIÁM SÁT TIÊU BIỂU: Giám sát Ngân hàng là các hoạt động

của cơ quan chức năng nhằm bảo vệ hệ thống Ngân hàng hoạt động an toàn, lành mạnhthông qua việc:

 Thiết lập cơ chế giám sát

 Cấp phép, giám sát từ xa: Được thực hiện thông qua việc thu thập và xử lý các số liệubáo cáo của tổ chức tín dụng để đánh giá việc thực hiện các chỉ tiêu an toàn cơ bản trong

Trang 8

hoạt động Ngân hàng; đồng thời tổng hợp đánh giá chung hoạt động của cả hệ thống các tổchức tín dụng phục vụ cho sự chỉ đạo, điều hành toàn ngành của Thống đốc Ngân hàng Nhànước Hiện nay, hoạt động giám sát từ xa được tiến hành hàng tháng và được thực hiện quamạng máy tính, kết quả hoạt động giám sát từ xa còn có tác dụng hỗ trợ tốt để Thanh traNgân hàng thực hiện công tác thanh tra tại chỗ

 Thanh tra tại chỗ: Đây là hoạt động kiểm tra trực tiếp của Thanh tra Ngân hàng tạicác tổ chức tín dụng thông qua các đoàn thanh tra Hàng năm, Thanh tra Ngân hàng xâydựng chương trình kế hoạch thanh tra trình Thống đốc phê duyệt và xây dựng Đề cương chitiết chỉ đạo toàn hệ thống triển khai thực hiện

 Cưỡng chế thi hành kết luận thanh tra: Qua thanh tra, Thanh tra Ngân hàng phát hiệnsai phạm của các tổ chức tín dụng trên nhiều lĩnh vực: quản trị điều hành, kiểm tra, kiểmtoán nội bộ, hoạt động tín dụng, an toàn kho quỹ, kinh doanh ngoại hối… trên cơ sở đó đưa

ra kiến nghị chấn chỉnh, khắc phục và áp dụng theo thẩm quyền hoặc phối hợp các biện pháp

xử lý (xử lý tài sản thu hồi nợ, xử lý cán bộ liên quan có vi phạm, trách nhiệm bồi thườngthiệt hại, xử phạt vi phạm hành chính…); góp phần đảm bảo việc tuân thủ pháp luật tronghoạt động ngân hàng và tham mưu cho ban lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước có chính sách vàbiện pháp quản lý phù hợp đối với từng tổ chức tín dụng nói riêng và hệ thống các tổ chứctín dụng nói chung

Trang 9

CHƯƠNG II: NHỮNG QUY ĐỊNH TRỌNG YẾU CỦA

HIỆP ĐỊNH BASEL II

2.1 VÀI NÉT VỀ ỦY BAN BASEL

Uỷ ban Basel về giám sát nghiệp vụ Ngân hàng là một Uỷ ban bao gồm các chuyêngia giám sát hoạt động Ngân hàng được thành lập bởi các Thống đốc Ngân hàng Trung ươngcủa nhóm G10, năm 1975 Uỷ ban này bao gồm đại diện cao cấp của các cơ quan giám sátnghiệp vụ Ngân hàng và bản thân Ngân hàng Trung Ương của các nước Bỉ, Canda, Pháp,Đức, Italia, Nhật bản, Hà Lan, Thuỵ điển, Vương quốc Anh và Hoa Kỳ Uỷ ban tổ chức họpthường niên tại trụ sở Ngân hàng thanh toán quốc tế tại Washington hoặc tại Thành PhốBasel - Thuỵ Sỹ Ban thư ký thường trực của Uỷ ban này cũng có trụ sở làm việc tại Thủ ĐôWashington – Hoa Kỳ

Quan điểm của Uỷ Ban này là sự yếu kém trong hệ thống Ngân hàng của một quốcgia, dù là quốc gia phát triển hay đang phát triển, có thể đe doạ đến sự ổn định về tài chínhtrong cả nội bộ quốc gia đó và trên trường quốc tế Nhu cầu cần nâng cao sức mạnh của hệthống tài chính nhất thiết phải được nhiều quốc gia, tổ chức trên thế giới nói chung và Uỷban Basel về Giám sát Nghiệp vụ Ngân hàng nói riêng đặc biệt quan tâm

2.2 SƠ LƯỢC VỀ BASEL I VÀ NHỮNG HẠN CHẾ

Năm 1988, Uỷ ban này đã phê duyệt một văn bản đầu tiên lấy tên là Hiệp ước về vốncủa Basel (Basel I), yêu cầu các Ngân hàng hoạt động quốc tế phải nắm giữ một mức vốn tốithiểu để có thể đối phó với những rủi ro có thể xảy ra Mức vốn tối thiểu này là một tỷ lệphần trăm nhất định trong tổng vốn của Ngân hàng, do đó mức vốn này cũng được hiểu làmức vốn tối thiểu tính theo trọng số rủi ro của Ngân hàng đó Mục đích của Basel I nhằm:

 Củng cố sự ổn định của toàn bộ hệ thống Ngân hàng quốc tế

 Thiết lập một hệ thống Ngân hàng quốc tế thống nhất, bình đẳng nhằm giảm cạnhtranh không lành mạnh giữa các Ngân hàng quốc tế

Trang 10

Thành tựu cơ bản của Basel I là đã đưa ra được định nghĩa mang tính quốc tế chungnhất về vốn của Ngân hàng và một cái gọi là tỷ lệ vốn an toàn của Ngân hàng Theo đó, vốncủa Ngân hàng được chia làm 2 loại:

dự phòng được công bố, như là khoản dự phòng cho các khoản vay

nhuận trên tài sản đầu tư, nợ dài hạn với kỳ hạn lớn hơn 5 năm và các khoản dựphòng ẩn (như trợ cấp cho các khoản vay và trợ cấp cho các khoản cho thuê) Tuynhiên, các khoản nợ ngắn hạn không có bảo đảm không bao gồm trong định nghĩa vềvốn này Tổng vốn sẽ bằng tổng của vốn cấp 1 và vốn cấp 2

Theo quy định của Basel I, các Ngân hàng cần xác định được tỷ lệ vốn tối thiểu cần

có để bù đắp cho rủi ro Các nhà hoạch định chính sách của Ngân hàng Trung Ương và cơquan giám sát của 10 nước mới chỉ nhìn nhận ra các nguy cơ từ rủi ro tín dụng, vì vậy, mứcrủi ro tín dụng mà Ngân hàng đối mặt được xác định là tài sản điều chỉnh theo rủi ro củaNgân hàng Theo Basel I, tổng vốn của một Ngân hàng cần ít nhất bằng 8% rủi ro tín dụngcủa Ngân hàng đó

Tỷ lệ vốn tối thiểu = (Tổng vốn/tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro) > 8%

Chúng ta hãy xem xét các bước tính dưới đây để hiểu hơn về tài sản điều chỉnh theorủi ro và yêu cầu về vốn theo Basel I Bảng 1 chỉ ra các hạng mục đã được định trước vềmức độ nhạy cảm với rủi ro trên bảng cân đối kế toán, như là độ nhạy cảm với các sự kiệnngoài dự kiến gây ra tổn thất, được tính theo 4 loại trọng số rủi ro (0%, 20%, 50% và 100%)

Trang 11

Bảng 1 Trọng số rủi ro theo loại tài sản

Trọng số rủi ro Phân loại tài sản

0% Tiền mặt và vàng nằm trong ngân hàng.

Các nghĩa vụ trả nợ của Chính phủ và Bộ Tài chính

20% Các khoản trả nợ của ngân hàng có quy mô lớn

Chứng khoán phát hành bởi các cơ quan Nhà nước

50% Các khoản vay thế chấp nhà ở,…

100%

Tất cả các khoản vay khác như trái phiếu của doanh nghiệp, cáckhoản nợ từ các nước kém phát triển, các khoản vay thế cấp cổphiếu, bất động sản,…

Bảng 2.

Loại tài sản Trọng số

rủi ro Tỷ lệ vốn Số tiền

Tài sản điều chỉnh theo trọng số rủi ro

Yêu cầu về vốn tối thiểu

Trái phiếu Chính phủ 0% 8% 1.000 USD 0 USD 0 USD

Trái phiếu đô thị 20% 8% 1.000 USD 200 USD 16 USD

Thế chấp nhà ở 50% 8% 1.000 USD 500 USD 40 USD

Vay không bảo đảm 100% 8% 1.000 USD 1.000 USD 80 USD Theo biến đổi của thị trường, năm 1996, Hiệp ước Basel I được sửa đổi có tính đến rủi

ro thị trường Theo đó, rủi ro thị trường bao gồm cả rủi ro thị trường chung và rủi ro thịtrường cụ thể Rủi ro thị trường chung đề cập đến những thay đổi về giá trị thị trường do có

sự biến động lớn trên thị trường Rủi ro thị trường cụ thể là những thay đổi về giá trị của một

Trang 12

loại tài sản nhất định Có 4 loại biến số kinh tế làm phát sinh rủi ro thị trường, đó là tỷ giá lãisuất, ngoại hối, chứng khoán và hàng hóa Rủi ro thị trường có thể được tính theo 2 phươngthức hoặc là bằng mô hình Basel tiêu chuẩn hoặc là bằng các mô hình giá trị chịu rủi ro nội

bộ của các ngân hàng Những mô hình nội bộ này chỉ có thể được sử dụng nếu Ngân hàngthoả mãn các tiêu chuẩn định tính và định lượng được quy định trong Basel Mặc dù có rấtnhiều điểm mới nhưng Hiệp ước Basel I với bản sửa đổi năm 1996 vẫn có khá nhiều điểmhạn chế:

 Một khoản nợ đối với tổ chức xếp hạng AA được coi như một khoản nợ đốivới tổ chức xếp hạng B

 Một khoản nợ cho một Ngân hàng Thổ Nhĩ Kỳ chỉ cần một lượng vốn bằng1/5 khoản nợ cho General Electric (GE-một công ty xếp hạng AAA) → Việcgiữ các tài sản có độ rủi ro thấp ít sinh lợi hơn tài sản có độ rủi ro cao

 Một khoản nợ riêng lẻ yêu cầu một lượng vốn giống như một danh mục đầu tưđược đa dạng hóa, với cùng một giá trị

 Không có sự khác biệt nào giữa một khoản vay $100 và 100 khoản vay $1

2.3 NHỮNG QUY ĐỊNH TRỌNG YẾU CỦA BASEL 2

Từ những hạn chế của Basel 1, từ năm 1999 Uỷ ban Basel đã nỗ lực đưa ra một Hiệpước mới thay thế cho Basel I, và cho đến năm 2004, bản Hiệp ước quốc tế về vốn của Basel(Basel II) đã chính thức được ban hành Với cách tiếp cận mới dựa trên 3 cột trụ chính,Basel II đã buộc các ngân hàng quốc tế phải tuân thủ theo 3 nguyên tắc cơ bản:

Nguyên tắc thứ nhất: Các Ngân hàng cần phải duy trì một lượng vốn đủ lớn để trang

trải cho các hoạt động chịu rủi ro của mình, bao gồm rủi ro tín dụng, rủi ro thị trường và rủi

ro tác nghiệp (Cột trụ 1) Theo đó, cách tính chi phí vốn đối với rủi ro tín dụng có sự sửa đổi

Trang 13

lớn, thay đổi nhỏ với rủi ro thị trường nhưng hoàn toàn là phiên bản mới đối với rủi ro tácnghiệp.

Nguyên tắc thứ hai: Các Ngân hàng cần phải đánh giá một cách đúng đắn về những

loại rủi ro mà họ đang phải đối mặt và đảm bảo rằng những giám sát viên sẽ có thể đánh giáđược tính đầy đủ của những biện pháp đánh giá này (Cột trụ 2) Với cột trụ này, Basel IInhấn mạnh 4 nguyên tắc của công tác rà soát giám sát:

 Các Ngân hàng cần phải có một quy trình đánh giá được mức độ đầy đủ vốn của họtheo danh mục rủi ro và phải có được một chiến lược đúng đắn nhằm duy trì mức vốn đó

 Các giám sát viên nên rà soát và đánh giá lại quy trình đánh giá về mức vốn nội bộcũng như về các chiến lược của Ngân hàng Họ cũng phải có khả năng giám sát và đảm bảotuân thủ tỷ lệ vốn tối thiểu Theo đó, giám sát viên nên thực hiện một số hành động giám sátphù hợp nếu họ không hài lòng với kết quả của quy trình này

 Giám sát viên khuyến nghị các Ngân hàng duy trì mức vốn cao hơn mức tối thiểutheo quy định

 Giám sát viên nên can thiệp ở giai đoạn đầu để đảm bảo mức vốn của Ngân hàngkhông giảm dưới mức tối thiểu theo quy định và có thể yêu cầu sửa đổi ngay lập tức nếumức vốn không được duy trì trên mức tối thiểu

Trong cột trụ 2, Uỷ Ban Basel đưa ra 25 nguyên tắc cơ bản cần thiết đảm bảo cho hệthống giám sát hoạt động có hiệu quả Nội dung chính của các nguyên tắc này xin được tómtắt như sau (theo các cụm chủ đề):

2.3.1 Các Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về điều kiện tiên quyết cho việc giám sát nghiệp vụ Ngân hàng hiệu quả: Cụm này chính là nguyên tắc số 1 qui định rõ: Một hệ

thống giám sát nghiệp vụ Ngân hàng có hiệu quả phải là một hệ thống phân định trách nhiệm

và mục tiêu rõ ràng đối với từng cơ quan tham gia trong quá trình giám sát các Ngân hàng.Mỗi cơ quan đó phải có nguồn lực hoạt động độc lập và phù hợp, phải có một khung pháp lýphù hợp cho việc giám sát nghiệp vụ Ngân hàng, bao gồm cả các điều khoản liên quan đếnquyền hạn của các tổ chức Ngân hàng và công tác giám sát hiện nay của chính họ; quyềngiải quyết những vấn đề liên quan đến việc tuân thủ luật pháp, các vấn đề về an toàn hoạt

Trang 14

động của các Ngân hàng, và quyền được bảo vệ hợp pháp đối với các chuyên gia giám sát.

Có các quy định cần thiết về việc chia sẻ thông giữa các chuyên gia giám sát và việc bảo mậtcác thông tin đó

2.3.2 Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề cấp phép và cơ cấu: Cụm này bao gồm 4

nguyên tắc từ nguyên tắc số 2 đến nguyên tắc số 5, với các nội dung chính được qui địnhnhư sau:

 Xác định rõ ràng các hoạt động tổ chức tài chính được phép làm và chịu sự giámsát Việc được hoạt động dưới bất cứ hình thức nào dưới danh nghĩa hoặc sử dụng “cụm từngân hàng” cần phải được kiểm soát chặt chẽ

 Cơ quan cấp phép phải được trao quyền đưa ra các tiêu chí và bác bỏ đơn xin thànhlập nếu không đạt yêu cầu Tối thiểu quá trình cấp phép phải thực hiện các công đoạn làđánh giá cơ cấu sở hữu tổ chức của nghiệp vụ Ngân hàng, Ban giám đốc và các cán bộ quản

lý chủ chốt, kế hoạch kinh doanh và kiểm soát nội tại, dự báo tình hình tài chính tương lai,bao gồm cả vốn cơ bản Nếu chủ sở hữu hoặc cơ quan mẹ đề xuất là một Ngân hàng nướcngoài, cần phải có sự cho phép trước của chuyên gia giám sát nước chủ nhà

 Chuyên gia giám sát nghiệp vụ Ngân hàng phải được có quyền rà soát và từ chối bất

kỳ một đề xuất nào đối với việc chuyển quyền sở hữu hoặc quyền kiểm soát Ngân hàng hiệntại cho các bên khác; có quyền thiết lập các tiêu chí để rà soát việc bổ sung và đầu tư lớn củaNgân hàng, đảm bảo là các chi nhánh hoặc cơ cấu của Ngân hàng không bị chịu rủi ro hoặclàm cản trở đến hiệu quả hoạt động công tác giám sát

2.3.3 Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về các quy định và yêu cầu thận trọng:

Cụm chủ đề quan trọng này gồm 10 nguyên tắc từ số 6 đến số 15 với những nội dung chính

là đưa ra các chuẩn mực mà các chuyên gia giám sát nghiệp vụ Ngân hàng được làm và nhấtthiết phải biết xử lý trong hoạt động của mình như sau:

 Đưa ra các yêu cầu về vốn an toàn và phù hợp cho tất cả các Ngân hàng; xác định rõnhững khu vực nào của vốn ngân hàng chịu rủi ro; tối thiểu đối với một Ngân hàng quốc tếthì những yêu cầu đó không được thấp hơn những yêu cầu đã đưa ra trong Hiệp định vốnBasel và các tài liệu sửa đổi sau đó

Trang 15

 Đánh giá các chính sách, thực tiễn hoạt động, các thủ tục cho vay vốn, đầu tư, việckiểm soát vốn vay hiện tại và hồ sơ đầu tư của Ngân hàng đó

 Đánh giá chất lượng tài sản và tính thích hợp của các điều khoản chống thất thoát vàquĩ dự trữ thất thoát khoản vay

 Phải phải biết chắc là các Ngân hàng có (hoặc) buộc phải có hệ thống quản lý thôngtin cho việc ban quản lý xác định các đối tượng vay và gồm những hạn chế nghiêm ngặttránh để hiện tượng Ngân hàng chỉ tập trung cho một số bên vay hoặc nhóm bên vay nhấtđịnh

 Phải đưa ra các yêu cầu đối với việc cho vay một số công ty và cá nhân nào đó là dựatrên điều kiện tự do "trong tầm tay", và việc kéo dài thời hạn vay phải được giám sát chặtchẽ

 Phải biết chắc là các Ngân hàng có các chính sách, biện pháp phù hợp xác định, giámsát và kiểm soát rủi ro quốc gia và rủi ro chuyển dịch trong các hoạt động cho vay và đầu tưquốc tế và việc duy trì khoản dự trữ phù hợp cho các rủi ro nói trên

 Phải biết chắc là các Ngân hàng đã có một hệ thống đo lường, giám sát và kiểm soátchính xác những rủi ro thị trường, biết áp đặt những biện pháp hạn chế và (hoặc) phí đối vớikhoản vốn cụ thể khi tiếp cận với thị trường nhiều rủi ro ngay cả nếu đã được bảo lãnh

 Phải biết chắc là các Ngân hàng đã thiết lập qui trình quản lý rủi ro tổng thể (bao gồmBan quản lý và cán bộ phù hợp) phục vụ cho việc xác định, đo lường, giám sát và kiểm soátcác rủi ro vật chất, và nắm giữ vốn để ngăn ngừa các rủi ro có thể xảy ra

 Biết chắc là các Ngân hàng có (hoặc) buộc có hệ thống kiểm soát nội bộ hiện tại phùhợp đối với tính chất và quy mô hoạt động của họ Hệ thống kiểm soát này bao gồm việcphân bổ quyền hạn, trách nhiệm, phân định chức năng tham gia vào các hoạt động của Ngânhàng, hoạt động quỹ, kiểm toán tài sản và thế chấp, đảm bảo tính an toàn cho các tài sản củangân hàng, hệ thống kiểm toán nội bộ độc lập phù hợp, và các biện pháp thích hợp đảm bảo

sự tuân thủ những biện pháp kiểm soát nói trên cùng các quy định, luật lệ hên quan khác

 Biết chắc là các Ngân hàng có chính sách, thực tiễn và cơ chế hoạt động phù hợp, baogồm cả các quy định nghiêm ngặt về “Hiểu rõ khách hàng của bạn", nhằm thúc đẩy các tiêu

Trang 16

chuẩn về đạo đức nghề nghiệp, trình độ chuyên môn trong ngành tài chính và ngăn ngừa các hiện tượng phạm pháp có thể xảy ra (dù là cố tình hay vô tình).

2.3.4 Các nguyên tắc thuộc cụm chủ đề về giám sát nghiệp vụ Ngân hàng hiện

nay: Cụm chủ đề này gồm 5 nguyên tắc từ số 16 đến số 20 với những nội dung chính là:

Một hệ thống giám sát nghiệp vụ Ngân hàng hiệu quả cần phải:

 Bao gồm cả các hình thức giám sát không tại chỗ và tại chỗ

 Thường xuyên liên hệ với Ban giám đốc Ngân hàng và hiểu rõ về hoạt động củaNgân hàng

 Xây dựng các biện pháp thu thập, rà soát và phân tích các báo cáo, thống kê của Ngânhàng theo hình thức đơn lẻ và tổng hợp

 Có biện pháp thẩm định độc lập các thông tin giám sát thông qua kiểm tra trực tiếp tạichỗ, hoặc sử dụng các kiểm toán viên độc lập

 Liên tục tăng cường yếu tố năng lực của chuyên gia giám sát trong việc giám sát hoạtđộng của nhóm các Ngân hàng một cách tổng quát

2.3.5 Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề yêu cầu về thông tin: Cụm chủ đề này có 1

nguyên tắc số 21 chỉ rõ: Chuyên gia giám sát nghiệp vụ Ngân hàng phải biết chắc là mỗiNgân hàng có hệ thống lưu trữ tài liệu phù hợp theo yêu cầu của các chính sách kế toán vàtheo một phương thức nào đó cho phép chuyên gia giám sát có thể tiếp cận và thấy được tìnhhình tài chính thực tế của Ngân hàng và khả năng sinh lời của các nghiệp vụ Ngân hàng.Ngoài ra, Ngân hàng phải thường xuyên đưa ra các bản kê tài chính phản ảnh trung thực tìnhhình tài chính của mình với cơ quan Thanh tra - giám sát

2.3.6 Nguyên tắc thuộc cụm chủ đề quyền hạn hợp pháp của chuyên gia giám sát: Cụm chủ đề này có 1 nguyên tắc số 22 chỉ rõ: Chuyên gia giám sát nghiệp vụ Ngân

hàng phải luôn có các biện pháp giám sát bắt buộc để có thể đưa ra được hành động can thiệp kịp thời khi Ngân hàng không đáp ứng được những yêu cầu cơ bản (ví dụ: tỷ lệ vốn tối thiểu phù hợp, năng lực người đứng đầu ), khi có hiện tượng vi phạm về thể chế, hoặc khi người gửi tiền có thể gặp rủi ro dưới bất kỳ hình thức nào Trong trường hợp khẩn cấp, hoạt động can thiệp này bao gồm cả việc thu hồi giấy phép lập tức hoặc đề nghị thu hồi giấy phép

Ngày đăng: 19/12/2013, 16:44

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Trọng số rủi ro theo loại tài sản - CƠ CHẾ GIÁM sát hệ THỐNG NGÂN HÀNG và NHỮNG QUY ĐỊNH TRỌNG yếu của BASEL
Bảng 1. Trọng số rủi ro theo loại tài sản (Trang 11)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w